TIN NHÂN  QUẢ - TẠO PHƯỚC ĐỨC -  SỐNG CHÂN THƯỜNG

    tuthi.net                                                                                                                         TRỞ VỀ

 
 

Đến Như Vậy

Joshu Sasaki Roshi

(Đă đăng trên nguyệt san Giác Ngộ)

 

Sống trong giờ hiện tại

Ai hay năm tháng xưa.

                Thiền Lăo (1)

Đức Phật c̣n được gọi là Như Lai, có nghĩa là “Đến như vậy.” Đó là tên đầu tiên trong mười hiệu của ngài (2). Ngài đến thế gian mà nói là chưa từng đến, ngài ra khỏi thế gian mà nói là chưa từng đi, (3) mở bày cho thế gian cái như như bất động, cái “như vậy.” Do đó sự ra đời của đức Phật là một sự thị hiện, một sự mở ra cho chúng sanh được thấy, không phải thấy một con người phi thường, một vị Thánh hay một nhà tiên tri…, mà là thấy cái “đến như vậy” và “đi như vậy,” cái “như thị” hay Tri Kiến Phật.

V́ chúng ta sống trong sự tách rời với thời gian, mơ hồ trong sự gắn bó giữa chúng ta với mỗi khoảnh khắc của sự sống, chúng ta thấy có sự đến, sự đi biệt lập và ngăn ngại nhau. Và sự phân ly đó là khởi đầu của mọi sự khổ, sự chạy đuổi không ngừng theo mồi theo bóng. Chúng ta tạo ra quá khứ, hiện tại và tương lai. Nhưng quá khứ không thể nắm được, hiện tại không thể nắm được, tương lai không thể nắm được. (4) Và sự đến đi với chúng ta trở thành xa lạ, như một triết gia nào đó đă nói rằng chúng ta bị ném vào trong thế giới nầy.

Đức Phật, với ḷng Từ bi, ra đời v́ một nhân duyên lớn là khai mở Tri Kiến Phật cho chúng sanh. Tri Kiến đó là Phật Tánh, là cảnh giới đến đi không có dấu vết, và Từ Bi đó là ḷng thương không có nơi chốn. Đó là Như Lai, như thị lai, như thị khứ, đến như vậy và đi như vậy. Đó là con đường Phật Giáo, con đường cho tất cả chúng ta: Dừng lại mọi chia chẻ, phân biệt ở chỗ nền tảng nhất, chỗ mà sơ tâm, cái tâm đơn thuần nhất, có thể hiển bày.

Không những Như Lai “đến như vậy” và “đi như vậy” mà mọi sự việc, mọi pháp, đều “đến như vậy” và “đi như vậy.” Đó cũng là “nhân quả” trong toàn bộ vận hành của nó, hay “duyên khởi.” Đó cũng là Trung đạo. (5) Cũng là cái “tức thời,” cái đương thể mà các Thiền sư luôn luôn nhắm đến để khai thị cho học tṛ.

Trong đạo Phật, và dường như chỉ trong đạo Phật, thông điệp của một em bé sơ sinh cũng quan trọng không kém của người trưởng thành. Ở đó, tính thời gian không c̣n, và tính không gian cũng không c̣n. Sự ra đời của đức Phật chứa đựng trọn vẹn giáo pháp của ngài, trọn vẹn chân lư cứu cánh mà ngài để suốt đời hay nhiều đời mở chỉ cho chúng sanh. (6) Do đó, ngày Đản sinh của đức Phật cũng là ngày thành tựu của giáo pháp, của con đường thoát khổ.

Sự đến với thế gian của đức Phật đó là “như thị lai,” “đến như vậy.” Và để hiểu phần nào sự “đến như vậy” của đức Phật, chúng ta hăy đọc một đoạn nói chuyện của Lăo sư Joshu Sasaki khi ngài đề cập đến Như Lai Thiền (Tathagatha Zen). Ư nghĩa của sự “đến như vậy” cũng là ư nghĩa sự thị hiện của đức Phật trong thế gian này, ngay bây giờ hay 2500 năm trước.

Thị Giới

Lăo Sư Joshu Sasaki Nói Về “Đến Như Vậy”

Lăo sư Joshu Sasaki sinh ra trong một gia đ́nh nông dân tại quận Miyagi, Nhật Bản vào năm 1907. Năm 14 tuổi, ngài xuất gia với Lăo sư Joten Soko Miura thuộc phái Thiền Lâm Tế.

Đến năm 40 tuổi (1947), ngài Joshu Sasaki được tấn phong Lăo sư, và về trụ tŕ một ngôi chùa trên núi Shju-an, một ngôi chùa cổ được xây dựng do ngài Shoju Ronin, thầy của Huikin, một vị Thiền sư lớn của thế kỷ thứ 18. Năm 1962, ngài Daiko Furukawa, người kế thừa của Lăo sư Joten, trụ tŕ chùa Myoshin-ji, thỉnh ngài sang dạy ở Hoa kỳ.

Lăo sư Joshu đến Hoa kỳ vào tháng Bảy năm 1962 và ở lại truyền dạy giáo pháp cho đến ngày nay. Rinzai-ji (Lâm Tế Tự), ngôi chùa chính của ngài trong thành phố, được xây dựng vào năm 1968 ở Los Angeles, và sau đó là hai trung tâm tu Thiền được thành lập: Mount Baldy Zen Center ở San Gabriel Mountains, Nam California, được thành lập vào năm 1972 và Bodhi Manda Zen Center ở New Mexico được thành lập vào năm 1973. Học tṛ của ngài cũng mở những trung tâm tu Thiền ở Hoa kỳ, Puerto Rico, Canada, Áo và Đức.

Hiện tại, ở tuổi trên 100, ngài vẫn giữ đều đặn chương tŕnh dạy dỗ. Có thể nói ngài là người đại diện cuối cùng của thế hệ những vị thầy tiên phong truyền bá giáo pháp vào phương Tây.

 

Sự chuyển động bao gồm hai tính chất: sai biệt và phân biệt. “Đi” hàm chứa “đến,” và “đến” hàm chứa “đi.” Đến và đi được hoàn thành trong sự b́nh đẳng.

Toàn thể vũ trụ là một: Sự b́nh đẳng chứa đựng sai biệt và phân biệt. Nó bao hàm cộng và trừ. Do đó nó là số không.

Chúng ta chỉ có thể kinh nghiệm về trạng thái b́nh đẳng; chúng ta không thể diễn tả nó. Nếu có người yêu cầu giải thích, điều duy nhất tôi có thể làm là ôm hôn người đó, hoặc cho người đó một cú đấm. Có hiểu điều đó không? Có lănh hội ǵ không?

Thường người ta nói “Chúng tôi yêu sự b́nh đẳng.” Thay v́ chỉ nói ở đầu môi, chúng ta cần phải hiểu nguyên lư nầy. Khi trạng thái b́nh đẳng được biểu lộ, nó là trạng thái zero. Đó là trạng thái khi chúng ta không c̣n khẳng định hay bám vào cái ngă. Nếu hiểu điểm then chốt nầy, thế là đủ. Không c̣n cần phải để tâm vào thứ ǵ nữa.

Khi một đứa trẻ gọi “cha ơi!,” nếu người cha không đáp, đứa trẻ sẽ có thể hích tay vào người cha và nhắc “nh́n con nầy.” Khi người cha nh́n, nó sẽ nói: ”con thương cha.” Người Ấn độ xưa gọi những sự liên hệ như vậy là karma (nghiệp.)

Chúng ta không biết người Ấn độ trước thời đức Phật có hiểu khái niệm karma theo cách của đức Phật hay không. Họ chỉ dùng chữ “karma” mà không định nghĩa hoạt động của karma. Trong khi đó, đức Phật nói rơ ràng rằng karma là hoạt động “đến như vậy” và “đi như vậy.” Ngài định nghĩa một cách rơ ràng và thấy rằng không một ai trong chúng ta có thể thoát ra khỏi phạm vi của karma.

Tiếng Trung hoa dịch hai từ “đến như vậy” và “đi như vậy” là như thị lainhư thị khứ. Như thị lai cũng bao hàm ư nghĩa pháp giới (dharmakaya.) Như thị là như vậy. Như thị là như thị. Sự vật là như chúng là, trong bản thể của chúng. Nhưng một khi chúng ta đề cập đến cái toàn thể nầy như là một đối tượng, sự hợp nhất bị phá vỡ và sự phân ly hiện ra. Trong trạng thái hợp nhất, sự tĩnh lặng hoàn toàn trú ngự, ở đó không c̣n sự hiện hữu của cái ngă. Chúng ta không cần phải nói điều ǵ.

Khi người con và người cha hoàn toàn riêng rẽ, giữa họ không có điều ǵ cần phải nói. Người con ở trong một trạng thái riêng rẽ rơ ràng với người cha, người con không cần phải gọi người cha. Người con đang thể hiện sự vô ngă của ḿnh, đơn độc, tự tại. Khi người con riêng rẽ một cách rơ ràng với người cha, nó không cần gọi người cha. Nó đang hiển lộ sự trọn vẹn của ḿnh nơi chính ḿnh. Người cha cũng có thể nhận biết người con không thật sự cần ǵ đến ḿnh, và ông có thể ở trong trạng thái “dừng nghỉ.”

Trong trạng thái không tùy thuộc nầy, mặc dầu họ là hai cái khác nhau, họ không đối lập nhau, họ hiện hữu trong cùng một không gian. Nhưng nh́n từ một điểm nh́n rộng hơn, chúng ta cũng có thể coi đó là sự đối lập. Mặc dù có vẻ đối lập, họ không thật sự đối lập. Đó là trạng thái trong đó không có người nào c̣n cần thiết t́m cách khẳng định cái ngă của ḿnh.

Ở đó, cha và con hiện hữu riêng rẽ trong một trạng thái, và họ không quấy rầy nhau. Mỗi người đều tự trọn vẹn nơi chính ḿnh. Trạng thái đó xuất hiện một cách chắc chắn, và khi xuất hiện, nó sẽ xuyên thủng và biểu lộ sự hợp nhất. Và rồi mọi thứ sẽ biến mất. Trạng thái mà trong đó chúng ta không c̣n dính mắc vào cái ngă chắc chắn sẽ xuất hiện. Phật giáo coi đó là cái ngă chân thật, t́nh yêu chân thật, là chân lư cứu cánh. Với Thiền, ngôn ngữ không thể hiển bày chân lư cứu cánh. Chân lư đó hoàn toàn là con số zero.

Trạng thái như thị lai – đến như vậy – là trạng thái mà một người thoát khỏi sự ràng buộc con người. Đó là sự biểu lộ hoàn toàn của “đến như vậy.” Chúng ta không c̣n là mẹ, cha hay con. Toàn thể vũ trụ trở thành một. Khi chúng ta kinh nghiệm trực tiếp được hoạt động “đến như vậy,” chúng ta sẽ được “dừng nghỉ” và tĩnh lặng. Dù nói bao nhiêu cũng không đem lại sự thỏa măn và hạnh phúc chân thật. Chỉ khi nào chúng ta có được trạng thái siêu thoát, trạng thái “đến như vậy,” chúng ta mới có thể thỏa măn và “dừng nghỉ.” Đó là t́nh yêu chân thật, là chân lư cứu cánh. Người cha được thỏa măn. Người mẹ được thỏa măn. Người con được thỏa măn. Họ không thỏa măn một cách riêng rẽ, nhưng toàn thể vũ trụ thỏa măn. Đó là trạng thái hoàn toàn tĩnh lặng, trạng thái zero.

Trong Thiền, sự biểu lộ trực tiếp, sự chỉ thẳng là điều quan trọng. Nếu không thể trả lời lập tức cho người thầy, một người không thể gọi là đang thực hành thiền. Khi nh́n lên bầu trời, loại chỉ thẳng nào sẽ hiện ra? Có sự biểu lộ trực tiếp nào khi nh́n thẳng lên bầu trời?

Joshu Sasaki Roshi

Thị Giới lược dịch (từ Shambala Sun)

 

Chú thích:

(1) Một hôm Lư Thái Tông đến thăm, hỏi Thiền sư Thiền Lăo trụ tŕ ở chùa được bao lâu và hàng ngày làm việc ǵ, Thiền Lăo trả lời bằng hai câu kệ:

          Đản tri kim nhật nguyệt

          Hà thức cựu Xuân Thu.

(2) Mười hiệu của đức Phật: Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trương Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật Thế Tôn.

(3) Kinh Kim Cang: “Tu Bồ Đề! Nhược hữu nhân ngôn: Như Lai nhược lai, nhược khứ, nhược tọa, nhược ngọa, thị nhơn bất giải ngă sở thuyết nghĩa. Hà dĩ cố? Như Lai giả, vô sở tùng lai, diệc vô sở khứ, cố danh Như Lai.” (Nếu có người nói rằng: Như Lai có đến, có đi, có ngồi, có nằm, người đó không hiểu giáo pháp của Như lai. Như lai, không từ đâu đến, cũng không về đâu, nên gọi là Như Lai.)

(4) Kinh Kim Cang: “Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc”

(5) Bát Bất: Bất sinh diệc bất diệt, bất thường diệt bất đoạn, bất nhứt diệc bất dị, bất lai diệc bất xuất. (Không sinh cũng không diệt, không thường cũng không đoạn, không cùng cũng không khác, không đến cũng không đi.)

(6) Khi đản sinh, đức Phật buớc bảy bước trên bảy hoa sen, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, nói: “Thiên thượng thiên hạ, duy ngă độc tôn.” Đó là sự hiển bày thế giới hoa sen, trong đó, mỗi sự vật là một đóa hoa, mỗi động tác, mỗi bước đi là sự nở ra của một đóa hoa. Trên trời, dưới trời, chỉ có bậc bước đi và dừng nghỉ đều trọn vẹn trong thế giới hoa sen, thế giới được trang nghiêm bằng hoa với pháp Hoa Sen vi diệu, mới là bậc tôn quí nhất.

 

©  searchvn.net - Liên lạc:  admin@searchvn.net