TIN NHÂN  QUẢ - TẠO PHƯỚC ĐỨC -  SỐNG CHÂN THƯỜNG

    tuthi.net                                                                                                                         TRỞ VỀ

 
 

Nước Từ Bi

Tsoknyi Rinpoche

 

Cái thấy đúng đắn, chân thật là cái thấy về sự hợp nhất không phân ly giữa tánh không và từ bi. Sự điên đảo khởi lên khi lầm lẫn một sợi dây thừng với một con rắn. Đó là một sự lầm lẫn rơ ràng v́ hiển nhiên sợi dây thừng không phải là con rắn.

Làm sao để có được cái thấy đó? Chúng ta có vô số niệm tưởng, cái nầy tiếp nối cái kia, vận hành trong tính chất nhị nguyên chủ thể và đối tượng. Khi chủ thể chạy theo nắm bắt đối tượng, chúng ta gọi là tâm hay tâm thức. Khi có sự liên hệ chủ-khách nầy th́ nghiệp phát sinh. Khi nghiệp phát sinh th́ liền có điên đảo.

Cái luôn luôn t́m bắt đối tượng đó là cái chúng ta cần khám phá. Thật sự nó là cái ǵ? Hăy nhận diện một cách rơ ràng và trực tiếp cái ǵ đang khởi lên. Hăy đơn giản và trực tiếp như bật sáng một ngọn đèn. Thay v́ chạy theo niệm tưởng cái nầy tiếp nối cái kia, hăy để một khoảnh khắc cho phép tâm nhận ra chính nó. Khi đó, không c̣n cái ǵ để nh́n thấy ngoài một sự mở toang. Bản chất của tâm là rỗng không, rộng mở và tự do.

Cái tâm bận rộn, chấp trước nầy,

Luôn luôn khóa ḿnh vào sự việc bên ngoài,

Hăy cho nó một phút nghỉ ngơi để nh́n ra chính nó.

Trong phút giây nhận ra đó,

Tâm nầy sẽ trở nên rộng mở,

Tự do, và không giới hạn.

Cái đó được gọi là tánh không.

 

Đồng thời, có một sự nhận biết chắc chắn rằng nó là rỗng không.

Cái đó được gọi là tánh biết.

Tánh không và tánh biết của tâm vận hành cùng lúc.

Chúng không phải là hai thứ riêng rẽ.

Trong thực tế, chúng không thể phân ly.

Cái đó được gọi là vô ngại.

Biết ba thứ nầy cùng một lúc –

Tánh không, tánh biết, và tánh vô ngại –

Đó được gọi là thấy.

Theo đó, có được cái thấy (kiến) là biết rằng tâm cùng một lúc rỗng không trong bản thể và thức giác trong bản tánh.

Bản thể ví như mặt trời. Tánh của mặt trời là sáng, tạo sức ấm và chiếu ánh sáng. Cũng vậy, chúng ta cần phân biệt giữa tâm và bản thể của tâm. Bản thể của tâm có đủ ba tính chất. Thể của nó là rỗng không, tánh của nó thức giác, và luợng của nó là vô biên hay vô ngại.

Phật tánh là tính chất cơ bản của mọi sự vật. Đó là trạng thái tự nhiên, không do đức Phật hay chúng sanh nào tạo ra. Đó là chân lư cứu cánh. Dù đức Phật có xuất hiện hay không xuất hiện, bản tánh của sự vật vẫn là bản tánh của sự vật. Đức Phật là người nhận ra điều chân thật, điều thật sự hiện hữu. Nếu muốn giác ngộ, chúng ta cũng chỉ cần nhận ra điều chân thật đó.

Nền tảng cơ bản đó có thể được nhận ra qua sự tu tập. Chúng ta tiếp xúc với cái đă sẵn có để khởi đầu. Khi c̣n bị đánh lừa và c̣n đang trên con đường tu tập, chúng ta không thấy cái đó như chính nó. Chúng ta lầm nó với một thứ ǵ khác, như dây thừng mà nh́n ra con rắn. Chúng ta cần vuợt qua sự điên đảo tạm thời đó.

Để vượt qua những trạng thái điên đảo trên con đường tu tập, chúng ta cần có nhận thức, thiền quán và giới luật. Khi thấy được cái tâm tự nhiên, chúng ta bắt đầu thấy được một mảng nền. Càng làm quen với cái thấy đó, chúng ta càng thấy rơ hơn, cho đến khi chúng ta thấy được toàn thể cái nền.

Do đó, nội dung sự tu tập gồm có ba phương diện: thấy, hoàn thiện cái thấy, và ổn định trong cái thấy đó. Chúng ta cần làm cho sự điên đảo không c̣n nữa. Khi tiếp xúc bằng mắt, hăy làm cho sự điên đảo không c̣n. Khi tham thiền, hăy làm cho sự điên đảo không c̣n. Khi thực hành giới luật, hăy làm cho sự điên đảo không c̣n. Khi mọi sự điên đảo hoàn toàn được dọn sạch, chúng ta có thể gọi đó là kết quả.

Khi chưa biết hay chưa thể nghiệm được sự không phân ly giữa tánh không và từ bi, chúng ta khó đi hết cuộc đời một cách êm thắm.

H́nh dung một cặp vợ chồng chung sống trong hạnh phúc và thương yêu. Rồi một ngày, người vợ nghe được giáo pháp, yêu mến giáo pháp và có một sự hiểu biết về tánh không. Người vợ nhận ra rằng không có ǵ trên đời nầy có bản chất vững bền, mọi sự vật đều không có nền tảng chân thật, đều không có bản thể. Đối với cô, mọi sinh hoạt trước kia - những tiệc tùng, sắm sửa v.v…  không c̣n ư nghĩa ǵ nữa. Và cô bắt đầu sống khép ḿnh, ngưng mọi sinh hoạt đó.

Từ một một điểm nh́n, điều mà người vợ suy nghĩ là sự thật. Mọi sự vật trong thực tế đều không có bản thể.

Trong khi đó, người chồng lại nghĩ: “Vợ ḿnh đă thay đổi. Có thể ḿnh làm điều ǵ sai chăng? Có thể nàng có một t́nh nhân mới chăng?” Và khi người chồng đề nghị những cuộc đi chơi, người vợ đều từ chối … Người chồng bắt đầu cảm thấy không vui, hai người bắt đầu mâu thuẩn và rồi đưa đến đổ vỡ…

Vấn đề ở đây là tuy người vợ có một mức độ hiểu biết nào đó về tánh không nhưng không có đủ tâm từ bi. Nếu có tâm từ bi hơn, cô sẽ nhận ra rằng mặc dù có những sự việc có thể không có ư nghĩa, nhưng không cần thiết phải bị loại trừ. Chúng có thể không có ư nghĩa đối với ḿnh, nhưng có thể quan trọng đối với người khác. Nếu biết mở ḷng và có tâm từ bi, nguời vợ sẽ cảm thấy vui vẻ khi tạo niềm vui cho người khác dù những việc đó đối với cô là không có ư nghĩa. Có thể cô sẽ c̣n tích cực hơn trước kia khi thực hiện những việc đó. Đó là phong cách của Đại Thừa.

Sự không phân ly giữa tánh không và từ bi có nghĩa là hai cái đó chỉ là một. Chỉ hiểu về tánh không và về sự không ư nghĩa của sự vật một cách tổng quát cũng chưa đủ. Điều đó có thể làm cho chúng ta trở nên ích kỷ và lănh đạm. Nếu chỉ hiểu tánh không một chiều, nghĩ rằng “Các sự vật đều không có ư nghĩa và không có ǵ liên quan đến ḿnh,” chúng ta cũng sẽ bị dẫn đến thái độ không quan tâm đến những điều có liên quan đến người khác. Chúng ta có thể nói rằng “Tôi sẽ chỉ ngồi đây và tham thiền bởi v́ như thế tôi sẽ có niềm vui. Tôi không quan tâm đến việc ǵ khác.”

Từ bi mà không có sự hiểu biết về tánh không th́ dễ trở thành chấp trước. Ngược lại, hiểu về tánh không mà không có từ bi th́ trở nên ích kỷ, một chiều và hạn hẹp. Để tránh những mối nguy đó, điều rất quan trọng là hiểu về sự duy nhất giữa tánh không và từ bi. Cái tâm trần truồng, hiện thời trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta là cánh cửa cho sự hợp nhất của tánh không và từ bi.

Cánh cửa nầy bị khóa kín do sự chiếm ngự của ḍng niệm tưởng chảy qua không ngừng. Nhưng nếu chúng ta bắt được chỉ một khoảng cách giữa một niệm với niệm kế tiếp, chúng ta liền có thể nh́n thấy cái tâm trần truồng hàng ngày, sự tỉnh thức tự tại. Khi đó cánh cửa mở ra ngay ở đó, để từ bi và tánh không hiển lộ trong sự hợp nhất. Đó là khoảnh khắc vô tận.

Những tính chất trí tuệ của tâm giác ngộ – trí tuệ thấy được bản tánh bên trong một cách như thật và trí tuệ phân biện mọi sự vật – hầu như không ngớt bị ngăn chận do những niệm tưởng mà chúng ta tạo ra. Những niệm tưởng nầy trong thực tế chỉ có nền tảng tạm thời; trong bản chất chúng là thời gian. Khi chúng ta nhận ra được những khoảng cách trong ḍng niệm tưởng nầy, những tính chất nội tại của trạng thái giác ngộ sẽ chiếu qua.

Khi ngă không c̣n bám víu vào niệm tưởng, từ bi sẽ hiện ra trong sự thể nghiệm đó. Từ bi chân thật không bị hướng dẫn và không nương tựa trên ư niệm. Từ bi chân thật chỉ có được khi thể nghiệm tánh không.

Dĩ nhiên, chúng ta cũng có thể cảm thấy từ bi ngay bây giờ. Tuy nhiên, từ bi đó không phải là từ bi chân thật, nó luôn luôn pha trộn với những khung niệm tưởng. Trong cái từ bi pha trộn đó, thường chúng ta cảm thấy một khoảng cách nào đó giữa chúng ta và người khác. “Tôi ở đây, và chúng sanh ở chỗ kia. Tôi cao cả hơn họ. Họ là những kẻ đáng thương. Họ cần sự giúp đỡ, v́ vậy tôi phải giúp họ.” Đó không phải là từ bi chân thật.

Tánh chất của Tâm là tỏ rơ, một tính chất giác ngộ tự nhiên. Từ bi xuất hiện từ đó. Từ bi nầy không nhắm đến một người hay một số người đặc biệt nào. Trong từ bi đó không có ư niệm về “chúng sanh khác,” nhưng vẫn ân cần hướng đến những chúng sanh khác chưa nhận ra bản tánh của tâm. Từ bi ở đây là ḷng thương xót những chúng sanh không nhận biết rằng bản tánh của ḿnh vốn là hoàn toàn giác ngộ, và v́ không nhận biết nên bị đánh lừa tự giam hăm trong luân hồi. Cách vươn ra bên ngoài nầy có thể được gọi là từ bi vô niệm, từ bi chân thật. Từ bi đó không nhất thiết phải giống như trạng thái giác ngộ hoàn toàn của đức Phật. Nhưng nó là dấu hiệu của một hành giả đi trên con đường tu tập, một hành giả thực thụ.

Tuy nhiên, chưa nhận ra bản tánh của tâm, không có nghĩa là không thể có từ bi chân thật. C̣n có một con đường từ bi hữu niệm. Đó là cái khung của tâm thức trong đó người Phật tử coi người khác quan trọng hơn ḿnh. Thông thường chúng ta coi ḿnh quan trọng hơn kẻ khác. Khi chúng ta bắt đầu có cái nh́n cho rằng người khác là quan trọng hơn ḿnh, khi đó chúng ta có ḷng từ bi chân thật mặc dù vẫn c̣n ư niệm.

Khi nhận ra bản thể của tâm, một cảm nhận về sự tỉnh thức và tự do lớn lao xuất hiện, khi đó chúng ta có kinh nghiệm về ḷng từ bi chân thật. Có một sự nhạy cảm tự tại, không tùy thuộc vào điều kiện, một sự nhạy cảm sâu xa. Sự buồn phiền theo nghĩa bị đè nén không c̣n, nhưng có thể có một trạng thái buồn do nhạy cảm, đồng thời với chút niềm vui. Không phải buồn cho bản thân. Cũng không phải buồn cho một người đặc biệt nào đó. Cái đó giống như sự thấm đẫm của nước trái cây, như một trái táo thấm đẫm với nước táo.

Cũng vậy, sự mở ra của tánh không được thấm đẫm với nước ngọt từ bi. Nhận biết bản tánh rỗng không nầy một cách rơ ràng liền mở ra một niềm tin vững chắc. Niềm tin nầy nầy có một mùi vị.

Khi mặt trời lặn ở phương tây, nếu chúng ta bước ra bên ngoài và ngồi xuống, hướng về phía mặt trời đang lặn, một cảm giác từ bi sẽ khởi lên một cách dễ dàng, tự phát. Đó là thứ tự do với một chút vui, một chút nhạy cảm, một chút buồn. Tất cả đều tự đến. Nếu chúng ta không hoàn toàn mở rộng và tâm không được giải phóng khỏi những điên đảo, nỗi buồn nhẹ nhàng nầy sẽ không được cảm nhận một cách chân thật, ngay cả không được nhận biết.

Từ bi mà không có tánh không dễ trở thành bám víu ích kỷ. Ngược lại, hiểu về tánh không mà không có từ bi sẽ trở nên ích kỷ, một chiều, và hạn hẹp.

Khi không c̣n dính mắc vào ư niệm về ngă, thể nghiệm về cái đó đồng thời là sự hiển lộ của từ bi.

Thị Giới dịch (từ Tricycle)

 

©  searchvn.net - Liên lạc:  admin@searchvn.net