TIN NHÂN  QUẢ - TẠO PHƯỚC ĐỨC -  SỐNG CHÂN THƯỜNG

 searchvn.net                                                                                                                     TRỞ VỀ

 
 

Phật Giáo Và Sinh Thái

David R. Loy

Thị Giới lược dịch

(Đă đăng trên Văn Hóa Phật Giáo)

 

Chúng ta ở đây để tỉnh thức khỏi ảo tưởng về sự riêng rẽ của chúng ta. (Thích Nhất Hạnh)

Tôi nhận chân rơ ràng rằng tâm không khác với núi và sông và đại địa, mặt trời, mặt trăng và tinh tú.(Dogen)

 

Phật giáo có thể cống hiến ǵ cho sự khủng hoảng sinh thái? Là một truyền thông tôn giáo đa dạng, hay có thể nói là một tập hợp gồm nhiều truyền thống, Phật giáo có nhiều điều để nói về thế giới tự nhiên. Các văn bản Phật Giáo cho chúng ta thấy sự nhạy cảm của Phật giáo đối với cái đẹp của thiên nhiên và sự tôn trong đối với các loài chúng sanh ở trong đó. Một thí dụ rơ ràng là những câu chuyện tiền thân của đức Phật (Jataka), kể về những cuộc đời của đức Phật trước khi ngài thành Phật. Trong nhiều câu chuyện, ngài sanh làm loài thú, và trong một số chuyện, ngài hy sinh mạng sống cho “loài thấp hơn,” như hiến thân cho cọp đế nuôi sống những cọp con đang đói. Những câu chuyện đó thách thức ư thức nhị nguyên thường áp đặt giữa con người và “thiên nhiên” – coi như chúng ta không phải là một phần tử của thế giới tự nhiên! Những câu chuyện nầy khuyên chúng ta rằng hạnh phúc của mọi chúng sanh, dù nhỏ nhoi đến mức nào, đều quan trong và đáng được quan tâm. Mọi chúng sanh trong Jataka đều có khả năng mở ḷng từ bi đối với chúng sanh khác và hành động một cách vô ngă để giúp giảm bớt sự đau khổ của chúng sanh khác. Trái với thuyết tiến hóa của Darwin thường được dùng để biện hộ sự lạm dụng của chúng ta đối với những loài khác, những câu chuyện đó cho chúng ta một tầm nh́n về cuộc sống trong đó tất cả chúng ta đều liên đới kết nối nhau, những bộ phận của cùng một cuộc sống, và do đó có trách nhiệm liên đới, trách nhiệm đối với nhau.

Ḷng từ bi nầy không giới hạn đối với thế giới loài vật. Theo tiểu sử truyền thống, đức Phật sinh ra dưới bóng cây, tham thiền dưới bóng cây, chứng ngộ dưới bóng cây, thường thuyết pháp dưới bóng cây và nhập diệt dưới bóng cây. Ngài thường bày tỏ ḷng biết ơn đối với cây cối. Một số bản văn Phật giáo về sau phủ nhận việc cho rằng cây cối có tri giác, kinh tạng Pali th́ không nói rơ ràng. Trong một bài kinh, một vị thần cây hiện ra trong giấc mơ của đức Phật phàn nàn về việc một vị tăng chặt cây của ông. Sáng hôm sau, đức Phật cấm tăng chúng không được chặt cây. Các vi tăng và ni ngay cả c̣n bị cấm không được chặt nhánh cây, hái hoa, cả việc bứt lá trên cây. Đức Phật sẽ nói ǵ về việc chúng ta hủy hoại bừa băi toàn bộ hệ thống sinh thái như hiện nay?

Sự nhạy cảm lớn lao đối với thiên nhiên là điều chỉ thấy duy nhất ở Phật giáo. Nói chung, những truyền thống Ấn độ có sự cảm nhận đối với thiên nhiên hơn những truyền thống Abraham (Do Thái giáo, Thiên chúa giáo và Hồi giáo). Những truyền thống sau nầy nhấn mạnh sự độc tôn của con người và sự thống trị của con người trên phần c̣n lại của tạo vật. Mọi truyền thống đều bảo “đừng giết hại,” nhưng điều răn trong truyền thống Abraham là bảo vệ con người, trong khi truyền thống Ấn độ nhấn mạnh vào tính thiêng liêng của mọi sự sống. Trong thời buổi nguy kịch trong lịch sử nhân loại như hiện nay, lúc mà con người đang hết sức tàn phá sinh quyển, cái nh́n của Phật giáo cung cấp cho chúng ta sự hiểu biết ǵ về sinh quyển, và sự liên hệ của chúng ta với nó?

Để trả lời, chúng ta cần trở lại với câu hỏi nền tảng hơn: Điểm đặc trưng của Phật giáo là ǵ? Bốn Thánh Đế chỉ nói về khổ (dukkha), và đức Phật nhấn mạnh rằng ngài chỉ quan tâm đến việc chấm dứt khổ. Tuy nhiên, để chấm dứt khổ, chúng ta cần phải chứng nghiệm tánh vô ngă (anatta), sự vắng bóng của cái ta cá thể. Và sự vắng bóng của cái ta cá thể nầy nh́n từ một mặt khác là sự tương quan duyên khởi giữa chúng ta với tất cả mọi sự vật.

Có nhiều cách giải thích từ vô ngă (anatta), nhưng căn bản là nó phủ nhận sự phân ly giữa chúng ta với người khác cũng như với tất cả những ǵ c̣n lại trong thế giới tự nhiên. Sự xây dựng một cái ngă biệt lập ở đây cũng là cùng lúc xây dựng một “cái khác” ở chỗ kia, cái khác với tôi. Điều đặc biệt trong cái nh́n của Phật giáo là thấy rằng khổ được xây dựng trong khung cảnh nầy. Ngă khổ.

Cảm giác về ngă luôn luôn bất an, v́ nó không có nền tảng. Nó không bao giờ bảo đảm cho chính nó v́ không có cái ǵ được bảo đảm. Ngă giống như một tiến tŕnh hay một chức năng. Vấn đề của những tiến tŕnh là luôn luôn có tính thời gian, v́ vậy là vô thường – nhưng chúng ta không muốn là vô thường, không muốn luôn luôn thay đổi theo thời gian. Chúng ta muốn là thật. Do đó chúng ta cứ tiếp tục cố gắng t́m kiếm nền tảng cho chúng ta, thường là bằng những cách làm cho sự thể tồi tệ hơn. Đối với Phật giáo, chỉ một cách giải quyết chân thật duy nhất là thể nghiệm “tính không hai” đối với “những sự vật khác” và hiểu rằng sự tốt đẹp của chúng ta không thể tách rời với sự tốt đẹp của những sự vật khác đó.

Điều đó dẫn chúng ta tới một vấn đề thú vị thuộc phạm vi sinh thái. Cái thấy nền tảng về sự kết nối giữa cảm giác về ngă và khổ phải chăng cũng được áp dụng cho cảm giác về sự phân ly giữa chúng tachúng nó? Vấn đề ở đây là “cái ngă phân ly = khổ” cũng là sự thật đối với cảm giác tập thể của chúng ta về ngă: sự phân biệt nhị nguyên giữa chúng ta như là một chủng loại riêng, Homo sapiens sapiens, với phần c̣n lại của sinh quyển.

Nếu có sự tương đồng giữa cái ngă cá nhân và tập thể, có hai gợi ư quan trong. Thứ nhất, cảm giác tập thể của chúng ta về sự phân ly khỏi thế giới tự nhiên cũng phải là một nguồn gốc của sự khốn khổ tập thể của chúng ta. Thứ hai, những sự đáp ứng của chúng ta đối với sự phân ly đó, cố gắng làm cho cái ngă tập thể của chúng ta thật hơn – trong trường hợp nầy là cố gắng tạo sự an toàn hoặc “tạo nền tảng” cho chúng ta bằng kỹ thuật và kinh tế - thật sự làm cho sự việc tồi tệ hơn.

Ở trước tôi có đề cập đến việc các tôn giáo thuộc truyền thống Abraham gán cho con người một vị trí và chức năng đặc biệt, ở trên tất cả những tạo vật khác. Nền văn minh Tây phương phát triển từ sự tác động hổ tương giữa văn hóa Do thái–Cơ đốc và văn hóa Hy lạp (kế thừa từ La mă). Người Hy lạp nhấn mạnh lên sự độc tôn của loài người theo một cách riêng: phân biệt những quy ước của xă hội loài người (văn hóa, kỹ thuật v.v…) với những tiết điệu của thế giới tự nhiên. Điều quan trong trong sự phân biệt nầy là nhận thức rằng cái ǵ thuộc về quy ước xă hội th́ có thể thay đổi: chúng ta có thể xây dưng lại những xă hội của chúng ta và bằng cách đó quyết định số phận tập thể của chúng ta.

Ngày nay, chúng ta thừa hưởng cái nh́n đó, nhưng không phải cái mà hầu hết các xă hội tiền hiện đại, bảo thủ vào truyền thống đă hiểu. Không hiểu biết về sự phát triển lịch sử như chúng ta, những xă hội đó thường chấp nhận những quy ước xă hội riêng là việc không thể tránh. Tuy nhiên có một lợi ích thuộc tâm lư trong cách suy nghĩ của họ: những xă hội đó chia sẻ một ư thức tập thể về ư nghĩa cuộc sống mà ngày nay chúng ta không c̣n tin tưởng. Đối với họ, ư nghĩa của cuộc sống được xây dựng trong vũ trụ (cosmos) và thể hiện qua tôn giáo mà họ được ban cho. Trong khi đối với chúng ta ngày nay, ư nghĩa đời sống và xă hội của chúng ta đă trở thành một thứ mà chúng ta phải tự quyết định trong một thế giới mà ư nghĩa của nó (nếu có) không được rơ ràng. Ngay cả nếu chúng ta lựa chọn để trở thành người có tôn giáo, chúng ta cũng phải tự quyết định giữa nhiều tôn giáo khác nhau, điều đó làm giảm đi cảm giác an toàn về tâm linh mà những tôn giáo đó trước kia cung cấp. Trong khi chúng ta có sự tự do mà những xă hội tiền hiện đại không có, chúng ta mất đi loại “an toàn xă hội” của họ, là sự an ổn tâm lư có được từ niềm tin rằng ḿnh hiểu biết về vị trí và vai tṛ của con người trong vũ trụ.

Nói cách khác, một phần gia sản văn hóa phong phú mà người Hy lạp để lại cho Tây phương là sự khắc khoải về những vấn đề chúng ta là ai và ư nghĩa làm người là như thế nào. Có một sự dằn co giữa tự do (chúng ta tự quyết định điều ǵ có giá trị và nên làm điều ǵ) và sự an toàn (nương tựa vào một cái ǵ lớn hơn lo lắng cho chúng ta), và chúng ta muốn cả hai. Khi mà một trong hai cái đó nổi trội, chúng ta lại muốn cái kia nhiều hơn. Một cách tổng quát, lịch sử hiện đại của Tây phương là câu chuyện về sự phát triển tự do với giá phải trả là giảm đi sự an toàn trong ư nghĩa là mất đi ḷng tin vào Thượng đế. Cảm ơn những kỹ thuật mạnh mẽ chưa từng có trong lịch sử loài người, dường như chúng ta có thể thực hiện hầu hết những thứ chúng ta muốn. Nhưng chúng ta lại không biết vai tṛ của chúng ta là ǵ và chúng ta nên thực hiện điều ǵ. Cái đó tiếp tục là nguồn gốc của nỗi băn khoăn lớn lao không chỉ đối với cá nhân mà c̣n đối với tập thể. Loại thế giới nào chúng ta muốn sống trong đó? Lọai xă hội nào chúng ta nên có? Nếu chúng ta không thể dựa vào một vị Thượng đế nào đó để chỉ bảo cho chúng ta, chúng ta phải trở về với chính bản thân, và sự thiếu vắng một chỗ dựa lớn hơn chúng ta là một nguồn gốc sâu xa của khổ.

Từ đó chúng ta có thể hiểu gợi ư thứ nhất nêu ra ở trên: Ư thức tập thể của chúng ta về sự phân ly khỏi thế giới tự nhiên là một nguồn gốc của sự khốn khổ. Sự phân ly khỏi thế giới tự nhiên càng lớn th́ nỗi lo âu của chúng ta càng nhiều. Phải chăng chủ nghĩa yêu ḿnh và chủ nghĩa hư vô trở thành quá phổ biến ngày nay là biểu hiện của nỗi lo âu đó? Nó cũng giống như vấn đề cá nhân của chúng ta: cảm giác về sự cách biệt của một cá thể với những cá thể khác càng mạnh th́ nỗi lo âu và phiền muộn càng lớn. Gần đây các nhà tâm lư học nhận thấy rằng một khi mức sống căn bản về thực phẩm và nơi ở đạt được, tác nhân quan trọng nhất quyết định hạnh phúc của một người là sự liên hệ với những người khác. Phải chăng điều đó cũng đúng với tập thể? Và điều đó có ư nghĩa ǵ về sự tách ĺa chủng loại của chúng ta ra khỏi phần c̣n lại của sinh quyển?

Đến đây chúng ta khảo sát đến gợi ư thứ hai: Cách đáp ứng tập thể của chúng ta đối với sự khổ tập thể đó chỉ làm cho sự thể tồi tệ hơn.

Trước tiên, như đă đề cập qua, chúng ta thường đáp ứng với ảo tưởng về một cái ngă biệt lập bằng cách cố gắng làm cho cảm giác về ngă thật hơn – điều không có tác dụng và không thể thực hiện, bởi v́ không có một cái ngă có thể biệt lập ngoài những mối tương quan với những cái khác. V́ chúng ta không nhận ra điều nầy, chúng ta có khuynh hướng chụp bắt trong những ṿng lẩn quẩn. Tôi không bao giờ có đủ tiền, đủ thế lực, tôi không bao giờ có đủ danh tiếng, đủ sự hấp dẫn… Và phải chăng tập thể cũng nằm trong sự chi phối của những loại thôi thúc đó?

Hăy xem thái độ của chúng ta đối với sự tăng trưởng kinh tế và phát triển kỹ thuật. Điều ǵ thúc đẩy chúng? Rơ ràng, chúng ta hưởng thụ sự tiện nghi và sung túc. Nhưng khi nào th́ chúng ta thấy là đủ? Khi nào th́ tổng sản lượng quốc gia của chúng ta đầy đủ? Khi nào th́ chúng ta có đủ kỹ thuật chúng ta cần? Có thể chúng ta bị đánh lừa bởi từ “tiến bộ,” bởi v́ một người không bao giờ có thể có đủ tiến bộ nếu thật sự là tiến bộ. (Đặc tính của “tiến bộ” là đi theo đường thẳng; chúng ta kỳ vọng rằng tương lai sẽ khá hơn hiện tại. Và nói như Pracha Hutanuwatr và Jane Rabsh, đó là một câu chuyện hoang tưởng v́ nó hứa hẹn một điều không bao giờ hoàn tất.*)

Khi chúng ta suy nghĩ về sự đáp ứng tập thể của chúng ta từ quan điểm nầy, tôi nghĩ động cơ thúc đẩy đă trở nên rơ ràng. Đánh mất cảm giác an toàn có từ niềm tin rằng ḿnh biết vị trí và vai tṛ của con người trong vũ trụ, chúng ta đă cố gằng tạo ra cảm giác an toàn riêng cho chúng ta. Kỹ thuật chủ yếu là nỗ lực tập thể của chúng ta để làm chủ những điều kiện cho cuộc sống của chúng ta trên trái đất nầy. Chúng ta đă cố gắng uốn nắn quả địa cầu để cho nó hoàn toàn thích nghi trong việc phục vụ những mục tiêu của chúng ta, cho đến khi mọi thứ đều trở thành đối tượng cho ư muốn của chúng ta, một “tài nguyên” mà chúng ta có thể sử dụng. Mỉa mai thay, điều nầy đă không cung cấp cho chúng ta cảm giác an toàn và ư nghĩa cuộc sống mà chúng ta đi t́m. Chúng ta càng trở nên lo âu hơn. Lư do là kỹ thuật là một phương tiện tốt nhưng lại là một mục tiêu nghèo nàn.

Sự tăng trưởng kỹ thuật và kinh tế trong tự thân chúng không thể giải quyết vấn đế căn bản của con người về ư nghĩa cuộc sống. V́ chúng ta không chắc chắn có cách nào khác để giải quyết vấn đề, hai thứ nầy trở thành những cái thay thế, những h́nh thức cứu rỗi muôn thuở mà con người đi t́m nhưng không bao giờ t́m thấy. Và phương tiện đă trở thành mục đích. V́ chúng ta không thật sự biết nơi nào chúng ta muốn đến, điều ǵ chúng ta cho là có giá trị, chúng ta bị ám ảnh với ư muốn thống trị. Đó là lư do chúng ta không bao giờ có thể thấy đủ về sự phát triển kỹ thuật và kinh tế.

Nếu hai điều tŕnh bày ở trên là sự thật, sự việc như khủng hoảng môi sinh là việc không thể tránh. Nhưng không có nghĩa rằng không có cách giải quyết. Chúng ta cần hiểu biết sâu xa hơn về gốc rễ của vấn đề, và t́m cách nhắm đến những gốc rễ đó một cách trực tiếp hơn. V́ niềm tin vào kỹ thuật của chúng ta - coi nó như giải pháp cho những vấn đề của cuộc sống - là một bộ phận lớn trong nguyên nhân tạo nên vấn đề, giải quyết sự khủng hoảng môi sinh sẽ không t́m đến một sự đáp ứng chính yếu kỹ thuật (mặc dù những thay đổi kỹ thuật chắc chắn là cần thiết). Sự nương tựa vào những kỹ thuật tinh vi và mạnh mẽ làm cho sự ngăn cách giữa chúng ta với thế giới tự nhiên trở nên nặng nề hơn, trong khi bất cứ một sự giải quyết nào muốn có kết quả đều đ̣i hỏi việc chấp nhận rằng chúng ta là một bộ phận của thế giới tự nhiên đó. Và điều đó cũng có nghĩa là chúng ta có trách nhiệm đối với sự tốt đẹp của sinh quyển, v́ sự tốt đẹp của sinh quyển không tách rời với sự tốt đẹp của chúng ta. Chúng ta chăm sóc những khu rừng nhiệt đới không khác với việc chúng ta chăm sóc đôi chân của chúng ta.

Như vậy phải chăng giải pháp là “trở về với thế giới tự nhiên” bằng một cách nào đó? - Chúng ta không thể trở về với thế giới tự nhiên v́ chúng ta không bao giờ rời xa nó. Môi trường không thật sự là một môi trường. Danh từ “môi trường” theo nghĩa đen là những điều kiện mà con người hay sự vật cư trú trong đó. Diễn tả thế giới tự nhiên như vậy là lối diễn tả nhị nguyên, phân đôi chúng ta với nơi chốn mà chúng ta ở trong đó. Môi trường không chỉ thuần túy là nơi chốn chúng ta sống và sinh hoạt, bởi v́ sinh quyển là cơ sở mà từ đó và trong đó chúng ta xuất hiện. Quả đất không chỉ là nhà của chúng ta mà c̣n là mẹ của chúng ta. Trong thực tế, mối liên quan của chúng ta c̣n sâu xa hơn. Chúng ta không bao giờ có thể cắt đứt được sợi dây kết nối đó. Không khí trong buồng phổi của tôi, cũng như nước và thức ăn đi qua miệng tôi đều là phần tử của một hệ thống lớn không dừng nghỉ, liên tục vận hành khắp trong tôi. Cuộc sống của tôi là một tiến tŕnh tiêu tán tùy thuộc vào và cống hiến cho sự vận hành không dứt đó. Và tôi cũng sẽ là thực phẩm cho những con gịi con bọ.

Hiểu như vậy, vấn đề của chúng ta không phải ở kỹ thuật mà chính là những sự ám ảnh thúc đẩy chúng ta khai thác nó. Không bị chi phối bởi những động năng thúc đầy đó, chúng ta sẽ đánh giá kỹ thuật một cách đúng đắn hơn trong ánh sáng của những vấn đề môi sinh mà kỹ thuật cung cấp cho chúng ta. Như về sự nguy hiểm lâu dài của nguyên tử, chúng ta không thấy điều ǵ khác ngoài việc con người muốn giải quyết ngắn hạn nhu cầu năng lượng. Thay thế cho nhiên liệu hóa thạch (than mỏ, dầu…) có thể là (hoặc phải là) những nguồn năng lượng như ánh sáng mặt trời, sức gió, v.v. cộng với sự giảm bớt nhu cầu về năng lượng. Một sự hiểu biết mới về t́nh trạng của chúng ta sẽ mở ra cho chúng ta những triển vọng.

Nhưng làm cách nào để giải quyết vấn đế căn bản nêu ra ở trên là sự lo âu đang quấy rầy chúng ta ngày nay v́ chúng ta phải tạo ra ư nghĩa riêng của chúng ta về cuộc sống trong một thế giới mà Thượng đế đă chết? Muốn hay không, ư thức ngă cá nhân và tập thể của chúng ta đă tách chúng ta ra khỏi thế giới quan tiền hiện đại và ư nghĩa “bẩm sinh” của cuốc sống mà thế giới quan đó cung cấp. Chúng ta không muốn trở lại với thế giới quan đó – một thế giới quan bị áp đặt và được duy tŕ bằng bạo lực – ngay cả nếu chúng ta có thể. Nhưng có lựa chọn nào khác mà chúng ta có thể? Hay là chúng ta phải chịu đựng số phận phải sống trong sự khốn khổ nầy?

Đến đây chúng ta thấy rằng việc giải quyết chân thật cho vấn đề khủng hoảng môi sinh phải cần cái ǵ đó khác hơn là sự cải tiến kỹ thuật. Nếu gốc rễ của vấn đề thuộc về tinh thần, sự giải quyết cũng phải trong chiều hướng tinh thần. Và điều nầy cũng không có nghĩa là trở lại với niềm tin tôn giáo tiền hiện đại, điều bất khả với chúng ta ngày nay. Về vấn đề nầy, Phật giáo đưa ra một đường lối không giáo điều và không nghi lễ. Con đường của Phật giáo là con đường thực tiễn và mục tiêu của con đường nầy là dùng trí tuệ để chuyển hóa con người và xă hội. Nhưng con đường nầy hoàn toàn khác với con đường “hợp lư tính” của các nhà tư tưởng Hy lạp. Trí tuệ mà Phật giáo đề cập đó chúng ta có thể có đước bằng thiền quán. Khi tham thiền, chúng ta không làm biến đổi chúng ta, mà chúng ta đang biến đổi. Trong tĩnh lặng và tập trung, một cái ǵ đó khác hơn là bản ngă thường ngày của chúng ta hoạt động. Nó mở rộng chúng ta và khai phóng một sự hiểu biết nền tảng sâu xa nơi chúng ta. Và vô ngă là điều kiện để tiến tŕnh nầy xảy ra.

Cái ǵ khác đó giải phóng chúng ta ra khỏi những lo âu thôi thúc về việc giữ an toàn cho chúng ta trong thế giới. Chúng ta không cần trở nên thật hơn bằng sự giàu có, nổi danh, quyền lực hay sắc đẹp. Không phải v́ chúng ta đồng hóa với một thực tại tâm linh nào đó ở bên ngoài thế giới. Nhưng chúng ta thể nhận tính không hai của chúng ta với thế giới nhờ thoát khỏi mọi bám víu.

Điều đó ảnh hưởng ǵ đến ư nghĩa đời sống của một người? Dù số lượng chúng sinh là vô cùng, vị bồ tát nguyện cứu độ tất cả. Ngài nhận lănh một vai tṛ lớn lao nhất có thể, trên một con đường không bao giờ cùng tận. Sự hứa hẹn đó không bắt buộc, nó đến một cách tự nhiên từ việc thể nghiệm rằng không có một chúng sanh nào biệt lập.

Chúng ta t́m ư nghĩa cuộc sống bằng việc hàn gắn lại sự phân ly giữa chúng ta và mẹ đất, nền tảng ban sơ của chúng ta. Sự hàn gắn nầy sẽ chuyển hóa chúng ta cũng như chuyển hóa sinh quyển của chúng ta.

* Chú thích của người dịch.

(Trích dịch từ “Money, Sex, War, Karma” của David R. Loy)

 

©  searchvn.net - Liên lạc:  admin@searchvn.net