TIN NHÂN  QUẢ - TẠO PHƯỚC ĐỨC -  SỐNG CHÂN THƯỜNG

 searchvn.net                                                                                                                     TRỞ VỀ

 
 

Phật Giáo Có Thể Cứu Văn Quả Địa Cầu?

David R. Loy và John Stanley

Thị Giới dịch

(Đă đăng trên nguyệt san Giác Ngộ)

 

Cành mai của Thiền sư Măn Giác vẫn nở trước sân dù mùa Xuân đă tàn hay mùa Xuân chưa đến.(1) Vua Trần Nhân Tông ngồi trên bồ đoàn lặng ngắm hoa rơi khi khám phá ra khuôn mặt chúa Xuân. (2) Đó là những biểu hiện trong đời sống nền tảng của sự kết nối. Sự kết nối đó là sự kết nối của mọi sự mọi vật trong mọi không gian và thời gian. Chẳng những Thiền sư Măn Giác nh́n thấy một cành mai đêm trước, vua Trần Nhân Tông tràn ngập trong cánh hồng đang rơi, mà cành mai, cánh hồng cũng như vạn pháp cũng đang nh́n thấy và tràn ngập trong chính ḿnh, đang nh́n thấy và tràn ngập trong mỗi và mọi sự vật, trong một vũ trụ luôn luôn biến dịch nhưng luôn luôn kết nối. Đó là cái thấy không phân ly, một là tất cả và tất cả là một, ngay ở đây và bây giờ. Đó là cái thấy không ta, không người, không chúng sanh, không người thọ, đồng thời cũng là cảnh giới Thường, Lạc, Ngă, Tịnh. Đó là Tâm, Tâm Phật cũng là Tâm của tất cả chúng sanh.

Cái thấy đó là niềm hy vọng giải thoát khỏi khổ mà Phật giáo đi t́m. Chúng ta khổ v́ chúng ta phân ly, một sự phân ly không có thật. Và con đường thoát khổ là trở về với sự kết nối nguyên thủy, trở về với tánh tương dung của vạn pháp.

Người Phật tử là người nh́n thấy khổ và t́m ra nguyên nhân khổ để diệt trừ nguyên nhân đó. Đó là cốt tủy bài pháp đầu tiên của đức Phật, nền tảng cũng là chiếc xương sống của Phật giáo.

T́nh trạng phân ly của chúng ta đă làm cho mọi loài trên Địa cầu ch́m ngập trong khổ và đối diện với nguy cơ diệt vong. Trong bài dưới đây, David R. Loy và John Stanley cho chúng ta biết t́nh trạng của thế giới mà chúng ta đang sống và kêu gọi giải pháp của Phật giáo để cứu văn t́nh trạng đó. Phật giáo với cái thấy kết nối có thể là niềm hy vọng duy nhất cho t́nh trạng khủng hoảng sinh thái hiện tại của hành tinh chúng ta.

Thị Giới.

 

Nếu chúng ta cứ tiếp tục hành hạ quả đất cách nầy, chắc chắn nền văn minh của chúng ta sẽ bị hủy diệt. Cuộc quay đầu nầy đ̣i hỏi sự giác ngộ, thức tỉnh. Sự giác ngộ của đức Phật có tính cách cá nhân. Chúng ta cần một sự giác ngộ tập thể để làm chậm lại ḍng hủy diệt nầy. Nền văn minh sẽ đi đến chỗ chấm dứt nếu chúng ta tiếp tục ch́m đắm trong sự tranh đua về sức mạnh, tiếng tăm, t́nh dục, và lợi nhuận.

Thích Nhất Hạnh, The Art of Power.

 

Chúng ta đang sống trong một cuộc khủng hoảng lớn, sự thách thức nghiêm trọng nhất mà nhân loại đang đối diện: những hậu quả về sinh thái do cộng nghiệp của chúng ta gây ra. Các nhà khoa học ngày nay đă không c̣n nghi ngờ rằng chính sinh hoạt của con người đang gây ra sự sụp đỗ về môi trường trong phạm vi toàn cầu. Đối với người Phật tử, sự quan tâm đến t́nh trạng nguy ngập về sinh thái và suy nghĩ việc áp dụng những nguồn tài nguyên truyền thống lớn lao của chúng ta trong việc cứu nguy cho địa cầu là một nhu cầu cấp bách.

Báo động toàn cầu xảy ra nhanh hơn những dự đoán của chỉ vài năm trước, đặc biệt là ở các Cực địa cầu. Năm 2007, cơ quan Intergovernmental Panel on Climate Change (IPCC) dự đoán Bắc cực có thể không c̣n băng mùa hè vào khoảng năm 2100. Ngày nay người ta lại thấy rằng tuyết mùa hè ở Bắc cực sẽ không c̣n chỉ trong ṿng năm năm. Theo cùng bản báo cáo của IPCC, băng ở Hy mă lạp sơn sẽ hoàn toàn tan hết trước năm 2035. Riêng người Tây tạng rất nhạy cảm đối với vấn đề nầy. Đức Đạt Lai Lạt ma đă từng lưu ư: “Những người già nói rằng những rặng núi nầy đươc phủ với lớp tuyết dày khi họ c̣n trẻ và tuyết đang trở nên mỏng hơn, đó có thể là một dấu hiệu của ngày tàn của thế giới.”

Sự thay đổi khí hậu, phần lớn là do hậu quả của sự khủng hoảng sinh thái, đóng một vai tṛ chính trong nhiều thứ khác, trong đó có sự tuyệt chủng của một số loài chia sẻ sự sống với chúng ta trên địa cầu nầy. Edward O. Wilson, một trong những nhà sinh vật học khả kính nhất thế giới, là một trong những người dự đoán rằng một nửa cây cối và thú vật trên trái đất có thể sẽ bị tiêu diệt vào cuối thế kỷ nầy. Điều nầy có nghĩa ǵ đối với những vị Bồ tát, những người nguyện cứu vớt tất cả chúng sanh?

Chúng ta không muốn nghĩ về cuộc khủng hoảng sinh thái, cũng như không muốn nghĩ đến cái chết của chúng ta. Nhưng càng ngày càng có nhiều khoa học gia tin rằng sự sống c̣n của nền văn minh nhân loại, và có thể sự sống c̣n của loài người, hiện đang bị đe dọa.

Nói như triết gia về sinh thái và học giả Phật giáo Joanna Macy, phủ nhận điều đang xảy ra là mối nguy hiểm lớn nhất mà chúng ta đối diện. Trấn áp đem đến một giá cao phải trả: theo nhiều nhà tâm lư, con người trong những xă hội kỹ nghệ phát triển cao bị chứng tê liệt tâm lư, kết quả của sự tách rời khỏi thiên nhiên, không c̣n khả năng cảm nhận cái đẹp của thế giới – hoặc khả năng đáp ứng trước nỗi đau của nó. Điều đó tạo ra khoảng trống trong tâm thức con người. Và họ chạy theo quảng cáo, bỏ ra nhiều thời gian chạy theo những cái thay thế để lấp đầy khoảng trống đó. Nhưng họ không bao giờ cảm thấy thỏa măn v́ con người không bao giờ có thể có được đầy đủ về cái mà họ không thật sự mong muốn. Họ sống trong những nỗi lo sợ mơ hồ, từ đó bị ám ảnh chạy theo cuộc tranh đua về sức mạnh, danh tiếng, t́nh dục và lợi nhuận.

Tin tức sai lạc về báo động toàn cầu cho chúng ta thấy rằng vấn đề trực tiếp nhất của chúng ta là thiếu sự tỉnh thức. Điều nầy đưa chúng ta trở về với Phật giáo. Con đường Phật giáo là tỉnh thức trước vọng tưởng. Nói như thầy Thích Nhất Hạnh, chúng ta cần một sự tỉnh thức tập thể trước vọng tưởng tập thể - đặc biệt đối với vọng tưởng gây nên do những mánh khóe thiện nghệ của các tập đoàn nhiên liệu hóa thạch. Chúng ta không thể chỉ dựa vào những hệ thống kinh tế và chính trị hiện tại để giải quyết vấn đề, bởi v́ trong phạm vi lớn, chính chúng là vấn đề. Thay v́ vậy, chúng ta cần có những chọn lựa có ư thức đặt nền tảng trên sự thức tỉnh nhiều hơn nữa về t́nh trạng thực sự của chúng ta.

Sự khủng hoảng sinh thái cho chúng ta thấy rơ rằng loại xă hội tiêu dùng của chúng ta ngày nay là nguồn độc hại cho môi trường. Tiếp tục như vậy sẽ là một mối đe dọa lớn cho sự sống c̣n của chúng ta. Để nói lên nỗi ám ảnh của chúng ta đối với chủ nghĩa tiêu dùng, chúng ta cần những cái nh́n khác nhau về t́nh trạng nguy ngập và tiềm năng của điều kiện con người. Những kỹ thuật mới không thể cứu văn chúng ta trừ phi chúng được kết hợp với một thế giới quan mới. Chúng ta cần chuyển sự quan tâm của chúng ta từ ḷng mong muốn phát triển không ngừng về kinh tế và kỹ thuật sang việc hàn gắng mối liên hệ giữa chúng ta với Địa cầu.

Sự phá hoại thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên là kết quả của sự vô minh, tâm tham lam, và thiếu ḷng tôn trọng đối với những sự vật sống trên Địa cầu. Sự thiếu ḷng tôn trọng nầy c̣n mở rộng cho đến những hậu duệ loài người của Địa cầu, những thế hệ tương lai, những thế hệ sẽ thừa hưởng một hành tinh xuống cấp trầm trọng nếu nền ḥa b́nh của thế giới không trở thành hiện thực và sự phá hoại môi trường thiên nhiên tiếp tục ở mức độ hiện nay… Rơ ràng đây là một thế hệ then chốt.

Đạt Lai Lạt ma thứ Mười bốn, Collected Statements on the Environment, 2007.

Giải pháp Phật giáo đưa ra cho sự khủng hoảng môi trường không dễ thực hiện. Tuy nhiên, giáo lư về vô thường, tương duyên và vô ngă cung cấp một cái nh́n sâu sắc có giá trị vào bản chất của t́nh trạng nguy ngập về sinh thái của chúng ta. Thêm vào đó, việc thấy rằng ḷng tham lam, ư chí bịnh hoạn, và vọng tưởng về một cái ngă tách biệt là nguồn gốc của khổ giúp chúng ta t́m thấy phương hướng cứu chữa. Về tập thể, chúng ta khổ sở với cảm giác về ngă, nó làm cho chúng ta cảm thấy không chỉ mất sự kết nối với những con người khác mà c̣n với quả Địa cầu.

Theo cách nói hiện đại, ư nghĩa của ngă là một cấu trúc tâm lư và xă hội, không có một sự hiện hữu tự hữu hay thực tại của riêng nó. Vấn đề nền tảng của cái ngă đó là ảo tưởng về tính chất nhị nguyên. Khi chúng ta tạo dựng một cái ngă riêng biệt bên trong, th́ cùng lúc, chúng ta tạo dựng một thế giới bên ngoài khác với cái “tôi.” Phật giáo dạy rằng cảm giác phân ly nầy là khổ (dukkha), bởi v́ một cái ngă đánh lừa, không có thực thể, rơ ràng là không vững chăi. Để chống lại cảm giác đó, chúng ta bị ám ảnh với việc t́m cách kiểm soát hoàn cảnh của chúng ta, đưa đến những cạnh tranh về sức mạnh, tiếng tăm, t́nh dục và lợi nhuận. Tuy nhiên, những cố gắng đó thường chỉ làm lớn mạnh thêm cảm giác phân ly.

Giải pháp của Phật giáo cho t́nh trạng đó không phải là loại trừ cái ngă. Điều đó không thể được v́ thật sự chưa từng có một cái ngă. Thay v́ vậy, nói như thầy Thích Nhất Hạnh, “Chúng ta ở đây để tỉnh thức khỏi ảo tưởng về sự riêng rẽ của chúng ta.” Khi nhận ra rằng “Tôi” là cái mà toàn bộ thế giới đang hoạt động, ngay tại đây và bây giờ, th́ việc chăm sóc “người khác” sẽ trở nên tự nhiên như chăm sóc đôi chân của tôi. Nhận thức nầy là điểm nối sống động giữa trí tuệ và từ bi. Sự tốt đẹp của tôi trong cứu cánh không thể tách rời với sự tốt đẹp của những người khác.

T́nh trạng của mỗi cá nhân chúng ta tương ứng một cách rơ ràng với t́nh trạng sinh thái hiện nay của địa cầu. Nền văn minh nhân loại là một cấu trúc tập thể, nó đă dẫn đến sự phân ly tập thể với thế giới thiên nhiên, một sự phân ly tạo nên đau khổ. Đứng trước sự phân ly đó, chúng ta bị chi phối bởi một ám ảnh tập thể về sự an toàn, cố gắng “tạo chỗ đứng” cho chúng ta bằng kỹ thuật và kinh tế. Nhưng cho dù chúng ta có tàn phá hoặc chế ngự thiên nhiên bao nhiêu, chúng ta cũng không bao giờ thấy đủ, v́ vấn đề nền tảng không phải là không đủ giàu hay đủ mạnh, nhưng là sự phân ly mà chúng ta cảm thấy đối với quả Địa cầu. Chúng ta không thể “trở về với thiên nhiên” v́ chúng ta chưa bao giờ thật sự rời khỏi nó. Chúng ta cần tỉnh dậy và nhận ra rằng Địa cầu là Mẹ và cũng là nhà của chúng ta – và chúng ta thấy rằng sợi dây rốn nối liền chúng ta với Địa cầu không bao giờ có thể bị cắt đứt.

Đối với những vấn đề toàn cầu như hậu quả nhà kiếng, các tổ chức cá nhân và những quốc gia riêng lẻ sẽ không làm được việc ǵ. Ngoại trừ chúng ta cùng chung sức làm việc với nhau, chúng ta sẽ không t́m ra giải pháp nào. Mẹ Đất dạy cho chúng ta một bài học về tinh thần trách nhiệm chung.

- Đạt Lai Lạt ma thứ Mười bốn, Collected Statements on the Environment, 2007.

Nh́n thấy sự thất bại của những hệ thống kinh tế và chính trị của chúng ta, các tôn giáo ngày nay có một trách nhiệm đặc biệt về việc cổ vũ cho một thế giới quan tập thể mới. Đây là một cơ hội để các tôn giáo đứng lên bước vào cuộc phấn đấu mà không một tổ chức nào có vẻ có khả năng thực hiện. Để hoàn thành việc nầy, các tôn giáo cần học hỏi thêm việc trao đổi và học hỏi lẫn nhau. Những tôn giáo khác nhau chỉ có thể thực hiện được việc đó khi nào những nhóm trong cùng tôn giáo đối thoại với nhau có hiệu quả. Cuộc khủng hoảng sinh thái toàn cầu đ̣i hỏi chúng ta, những người Phật tử, làm việc và học hỏi với nhau để đáp ứng một cách thỏa đáng.

Bằng cách làm sáng tỏ giáo lư nền tảng của đức Phật, tiềm tàng trong những h́nh thức văn hóa khác nhau, chúng ta có thể củng cố thông điệp căn bản sống động của giáo pháp đó cho thời đại then chốt hiện nay. Mặc dầu những tổ chức Phật giáo – giống như những tổ chức của những tôn giáo khác – có khuynh hướng bảo thủ, sự nhấn mạnh của Phật giáo vào tính chất vô thường và không có bản thể cho chúng ta sự cởi mở và chấp nhận đối với những trách nhiệm mới mà chắc chắn chúng ta cần thiết hiện nay. Nếu những truyền thống Phật giáo khác nhau tập hợp lại để phát thảo một đáp ứng chung cho t́nh trạng khẩn cấp về khí hậu, th́ đó thật sự là một điển h́nh gây cảm hứng mà Phật giáo có thể cung cấp cho những tôn giáo khác trên thế giới.

Chúng tôi tin rằng cuộc khủng lớn lao hiện nay kêu gọi các nhà lănh đạo của mọi truyền thống Phật giáo một cuộc hội thảo quốc tế để t́m một sự đáp ứng chung. T́nh trạng cấp bách của chúng ta ngày nay cũng nói lên sự cần thiết của một cuộc Kết Tập Phật Giáo – điều đă chỉ xảy ra sáu lần từ trước trong lịch sử Phật giáo. Cuộc Kết tập lần thứ nhất diễn ra tại Rajagaha ngay sau khi đức Phật nhập Niết bàn theo truyền thống Pali; cuộc Kết tập lần thứ sáu diễn ra ở Rangoon (Yangon) vào năm 1954.

V́ có ít nhà lănh đạo Phật giáo là những người chuyên môn về khí hậu học, cuộc họp được đề nghị mở đầu bằng việc thông qua những số liệu mới nhất và ư nghĩa của chúng do các nhà khoa học khả kính đưa ra. Thời gian c̣n lại có thể được dùng cho những cuộc thảo luận tập trung giữa những người tham dự, chia sẻ cái nh́n Phật giáo về thời điểm quan trọng nầy, làm việc để đi đến một nhận thức với những nhắn gởi chung cho cộng đồng Phật tử toàn thế giới về cách ứng phó với cuộc khủng hoảng hiện nay. Sự hợp nhất của chúng ta sẽ cung cấp một điển h́nh có sức mạnh cho những truyền thống tôn giáo khác. Có thể tất cả chúng ta sẽ tham gia vào một cố gắng tạo thế cân bằng với những sức mạnh kinh tế đă kiềm chế và đánh lạc hướng cuộc tranh luận trong thời gian qua cho đến hiện tại.

Trong việc đề nghị một cuộc họp mặt Phật giáo toàn cầu, chúng tôi đă có những cuộc thảo luận khởi sự với các vị giữ những vài tṛ trọng yếu trong các truyền thống Phật giáo Tây tạng như Trangu Rinpoche, Dzigar Kongtrul Rinpoche, Ringu Tulku Rinpoche, Chokyi Nyima Rinpoche, và Tsoknyi Rinpoche. Sự đáp ứng của các vị nầy rất tích cực. Chúng tôi cũng tiếp xúc những vị Thầy của các tông phái Theravada, Zen, và Tịnh độ tông và những tổ chức thuộc các tông phái nầy ở Á châu và Tây phương. Chúng tôi đề nghị một một cuộc họp vào năm tới, chuẩn bị cho Hội Nghị Về Sự Thay Đổi Khí Hậu Của Liên Hiêp Quốc (United Nations Climate Change Conference) diễn ra vào tháng mười hai năm 2009.

Cuộc họp nầy dù được coi là một hội thảo quốc tế hay một cuộc Kết Tập, tầm quan trọng của nó là nhiều truyền thống Phật giáo sẽ có cơ hội gặp gỡ và xem xét t́nh trạng chung của chúng ta một cách kỹ lưỡng. Tất cà những kỳ Kết Tập trước kia là để chuẩn định và duy tŕ Giáo pháp và Giới luật, nhưng cuộc khủng hoảng ngày nay kêu gọi một nền tảng khác hơn. Thay v́ hướng vào bên trong và tập trung vào việc làm sáng tỏ Giáo pháp của đức Phật, các vị Thầy Phật giáo cần nh́n ra bên ngoài và đặt vấn đề làm thế nào để giáo pháp của đức Phật có thể giúp chúng ta hiểu và đáp ứng cho vấn đề cấp bách của hành tinh chúng ta.

Cuộc khủng hoảng môi trường cũng là cuộc khủng hoảng đối với Phật giáo, không phải v́ Phật giáo sẽ chịu thiệt hại nếu nền văn minh nhân loại thiệt hại, nhưng bởi v́ Phật giáo là một tôn giáo quan tâm trực tiếp đến việc làm giảm sự đau khổ của mọi chúng sanh. Phật giáo có những điều đặc biệt có thể đóng góp cho cơn nguy ngập nầy, khi loài người cần sử dụng những điều tốt nhất cho một giai đoạn lịch sử của họ. Chúng ta cần những vị Bồ tát nguyện cứu độ không chỉ những chúng sanh đơn lẻ, mà c̣n cứu độ những hệ thống giúp cho sự sống và những loại đau khổ của một sinh quyển đang bị đe dọa.

(Buddhadharma số Mùa Đông 2008)

 

(1)

Thiền sư Măn Giác thuộc thế hệ thứ chín ḍng Thiền Vô Ngôn Thông. Vào tháng Mười Một, mùa Đông năm 1096, ngài ngồi kiết già thị tịch. Ngài c̣n để lại một bài kệ sau đây:

Cáo Tật Thị Chúng

Xuân khứ bách hoa lạc

Xuân đáo bách hoa khai

Sự trục nhăn tiền quá

Lăo tùng đầu thượng lai

Mạc vị Xuân tàn hoa lạc tận

Đ́nh tiền tạc dạ nhất chi mai.

Dịch:

Khi Bịnh Bảo Chúng

Xuân đi trăm hoa rụng

Xuân đến trăm hoa tươi

Việc đời qua trước mắt

Trên đầu già đến rồi.

Đừng bảo Xuân tàn hoa rụng hết

Đêm qua sân trước một cành mai.

 

(2)

Trần Nhân Tông làm vua từ năm 1279 đến năm 1293. Năm 1294, ngài lên núi Yên tử xuất gia, lập ra phái Thiền Trúc Lâm. Ngoài công ơn giữ nước, xây dựng một đất nước cường thịnh thanh b́nh, xiển dương rộng răi giáo lư Từ bi và Trí tuệ của đức Phật trong quảng đại quần chúng, ngài c̣n để lại cho hậu thế nhiều thơ văn. Dưới đây là một bài thơ của ngài:

Xuân Văn

Niên thiếu hà tằng liễu sắc không

Nhất Xuân tâm tại bách hoa trung

Như kim khám phá Đông hoàng diện

Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng.

Dịch:

Xuân Muộn

Niên thiếu chưa từng rơ sắc không

Xuân sang ḷng gởi vạn đào hồng

Khuôn mặt chúa Xuân nay khám phá

Sàn gỗ đệm thiền ngắm rụng hồng.

 

©  searchvn.net - Liên lạc:  admin@searchvn.net