TIN NHÂN  QUẢ - TẠO PHƯỚC ĐỨC -  SỐNG CHÂN THƯỜNG

 searchvn.net                                                                                                                            TRỞ VỀ

 
 

 

NHỮNG NGƯỜI MẸ GIẢI THOÁT TỪ KHỔ ĐAU

Thị Giới

Đạo Phật đi vào thế gian, dùng những sức mạnh của thế gian làm phương tiện cho sự thăng hoa và giải thoát.  Một trong những sức mạnh thế gian đó là t́nh mẹ con. T́nh mẹ con đă nuôi dưỡng nhân loại cũng như đă nuôi dưỡng vạn vật trong thế gian. Va t́nh mẹ con cũng đă làm cho chúng sanh khổ đau không ít. Trong Phật Giáo, t́nh mẹ con được chứng thực là một trong những tác nhân của sự thăng hoa. Và ngày lễ Vu Lan đă trở thành một trong những ngày lễ lớn của Phật Giáo.

Ngày Vu Lan là ngày báo hiếu mà cũng là ngày cứu rỗi những chúng sanh đang chịu cảnh khổ đau.  Từ t́nh thương khởi lên ái chấp là nguyên nhân của những khổ đau. Cũng từ t́nh thương, niềm lân mẫn được khơi dậy, một tác nhân cho sự vượt thoát những khổ đau. T́nh mẹ con bao hàm hai khía cạnh nầy. V́ vậy, trong Phật Giáo, chúng ta thấy sự đề cao t́nh mẹ trong nền văn hóa cổ của Ấn Độ tiếp tục được tôn trọng. T́nh mẹ cũng được Đức Phật dùng làm khí cụ giảng dạy giáo pháp của Ngài trong nhiều trường hợp. Ví dụ trong kinh điển nguyên thủy, việc tu tập đức Từ của người tu sĩ Phật Giáo được diễn tả như sau:

Giống như người mẹ trong khổ nạn của cuộc đời,

Thương yêu và bảo vệ con trai duy nhất của ḿnh.

Cũng vậy, vị Tỳ Kheo tu tập t́nh thương rộng lớn!

Đối với tất cả chúng sinh...

Khi vị tỳ kheo sống đời sống hoàn toàn tỉnh thức,

Vị ấy không c̣n trở lại trong bào thai.

Trong đoạn Kinh trên, chúng ta thấy hai khía cạnh trong cái nh́n về t́nh mẹ của Phật Giáo. Chấp nhận sức mạnh của t́nh mẹ, nhưng không chấp nhận giới hạn của t́nh thương đó. Người tu sĩ Phật Giáo cố gắng tạo một t́nh thương có sức mạnh như t́nh thương mẹ con, nhưng  phải vượt qua những giới hạn tương quan, để t́nh thương được trải khắp cho mọi chúng sanh, để không c̣n trở lại tái sinh trong bào thai. 

Trong thực tế, t́nh mẹ con đă là những khí cụ đưa đến cho Phật Giáo những vị Thánh Ni trong hàng ngũ Ni Giới đầu tiên. Những khổ đau của sự mất con, sự khổ đau cùng cực của những người mẹ, đă đưa nhiều người đàn bà đi theo con đường thoát khổ do Đức Phật chỉ dạy, và họ đă vĩnh viễn thoát mọi khổ đau của vô thường trắc trở. Sau đây là cuộc đời của một số người Mẹ,  những vị Thánh Ni, trong hàng ngũ đệ tử đầu tiên của Đức Phật.

Có ít người mẹ nào không đau khổ v́ con. Có những người mẹ đă đổ lệ v́ những đứa con hàng ngàn kiếp. V́ t́nh thương và v́ nghiệp chướng. Như bà Gotami:

Một người mẹ khốn khổ

Nỗi khổ đau vượt ngoài mọi đo lường

Những giọt nước mắt của bà đă đổ xuống

Trong hàng ngàn kiếp sống.

(Therigatha)

Và từ t́nh mẹ con, từ sự đau khổ v́ con, những người đàn bà có năng lực đă ngoi lên từ đó để t́m được sự an b́nh.  Nói một cách khác, người đàn bà sống nặng về t́nh cảm, sự trưởng thành của họ thường bằng t́nh cảm, và sự vượt qua tính hạn hẹp của bản ngă cũng thường bằng con đường t́nh cảm. V́ yếu đuối và nhạy cảm, họ cảm nhận sự vô vọng của thế gian sớm hơn người đàn ông. Chỉ có điều t́nh cảm, như con dao hai lưỡi, cũng đă làm cho họ bám chặc vào thế gian hơn đàn ông.

Bà Ubbiri xuất thân từ một gia đ́nh giàu có ở Savatthi. Bà là một người con gái rất đẹp, và khi trưởng thành được gă cho vua Pasenadi nước Kosala. Bà sanh một người con gái tên là Jiva, có nghĩa là "sống c̣n". Nhưng không lâu sau đó, Jiva qua đời, và người mẹ ngày qua ngày chỉ biết lang thang đau buồn ở những nơi hỏa táng. Rồi một hôm, khi Đức Phật đi qua thành phố, một đám đông tụ tập lại để nghe Ngài thuyết Pháp. Ubbiri dừng lại một chặp bên cạnh đám đông, rồi đến đứng khóc trên bờ sông Achiravathi. Thấy vậy, Đức Phật lại gần và hỏi tại sao bà khóc.

"Con gái tôi đă chết rồi! Con gái tôi đă chết rồi!" Bà khóc kể.

"Này!" Đức Phật nói. "Tám vạn bốn ngàn người người con gái của bà đă chết chôn ở nơi nầy. Bà buồn khóc cho người con gái nào?"

Nghe những lời của Đức Phật, bà Ubbiri bừng tỉnh. Và theo Therigatha, bà kể lại sự giác ngộ của ḿnh như sau:

Tôi bị một mũi tên đâm thẳng vào tim

Và Ngài đă rút mũi tên ấy ra khỏi tim tôi

Mũi tên đau buồn về cái chết của người con gái.

Mũi tên đă được rút ra

Quả tim đă được chữa lành

Không c̣n nữa những khát khao.

Tôi quy y Phật Đà,

Pháp Bảo và Tăng Bảo.

Patacara là một người đệ tử khác của Đức Phật, đă quy quy Tam Bảo, và chứng Thánh quả từ những đau khổ của một người mẹ mất con. Sau đây là những đoạn kệ giác ngộ tính vô thường và vô ngă của bà:

Ngươi khóc than, "Con ôi!"

Ngươi không biết nó đến từ đâu và đi về đâu.

Ngươi khổ đau,

Nhưng có ai biết nó đa đến từ đâu?

Tất cả mọi thứ đều như vậy,

Ngươi sẽ không c̣n khổ đau

về sự đến và đi của nó

Nếu ngươi thấu hiểu.

Nó đến không không yêu cầu.

Nó ra đi,

ngươi không có quyền chủ động;

nó đa đến từ một nơi nào đó

và đă sống một số ngày.

Nó đến bằng một con đường,

Và ra đi bằng một con đường khác;

nó đa ra khỏi thế giới loài người,

và nó tiếp tục cuộc hành trÍnh của nó.

Nó đến. Nó đi.

Có ǵ phải khóc than?

Thầy đă nhổ mũi tên

Cắm sâu trong tim tôi,

Nỗi khổ đau mất con.

Tôi đă khổ đau cùng cực.

Thầy đa làm khô nỗi khổ đau đó."

Ngày nay tất cả đều chấm dứt;

Tôi tự do và không c̣n mong muốn.

Tôi quy y Phật Đà,

Pháp Bảo và Tăng Bảo.

Sau đây là câu chuyện về cuộc đời của bà Vasethi. Bà Vasethi sinh trưởng tại Vesali và đa có một cuộc nhân duyên hạnh phúc. Với cuộc nhân duyên nầy, bà sinh được một người con trai. Khi người con trai mất, bà quá khổ đau, không muốn nh́n lại ngôi nhà, đi lang thang, cho đến khi bà gặp được Đức Phật, trở thành đệ tử Ngài, rồi chứng quả A la hán.

Đau khổ v́ thương nhớ con

tôi điên khùng, mất trí,

Thân thể trần truồng, đầu tóc rối bời

Tôi lang thang khắp chốn.

Tôi sống trên những đống rác

trong các nghĩa trang

và trên những con đường.

Ba năm tôi làm kẻ lang thang,

Đói và khát.

Rồi nơi thành Mithila!

Tôi gặp một người thuần phục

điều khó được thuần phục

và đi trên con đường hạnh phúc,

giác ngộ, không sợ hăi.

Cảm tính được phục hồi,

Tâm tràn đầy tôn kính,

Tôi ngồi xuống nghe Người.

Đầy ḷng từ mẫn

Đức Cù Đàm dạy tôi con đường sống.

Khi tôi nghe những lời Người

Tôi rời bỏ đời sống thế tục.

Thực hành những lời Người dạy,

Tôi đạt được niềm an vui lớn.

Mọi khổ đau bị chặc đứt,

dừng lại, và chấm dứt,

V́ tôi đă hiểu được nền tảng

mà từ đó mọi đau khổ phát sinh.

Có một vị nữ ni tiêu biểu khác cũng giải thoát từ sự khổ đau của một người mẹ. Đó là nữ ni Kisagotami. Kisagotami xuất thân từ một gia đ́nh nghèo ở Savathi. Lớn lên, bà được gă cho một gia đ́nh giàu có. Sau khi sinh được một người con trai, bà được gia đ́nh nhà chồng nâng niu và quí  trọng. Nhưng cậu con trai qua đời khi mới vừa chập chững biết đi. Kisagotami  quá đau buồn sinh mất trí. Bà ẳm thây người con trai đi đến từng nhà xin thuốc cứu con. Rồi một người chỉ bà t́m đến Đức Phật.

Khi bà cầu xin Đức Phật cứu sống con ḿnh, Ngài bảo bà hay đi t́m một hạt cải trắng từ một nhà chưa từng có người chết. Bà lập tức đi đến từng nhà để hỏi và xin hạt cải trắng. Nhưng tất cả mọi nhà bà ghé qua không nhà nào chưa từng có người chết. Bà tỉnh ngộ, nói với xác người con trai trên tay:

"Này con, mẹ tưởng rằng cái chết chỉ đến với một ḿnh con; nhưng không phải vậy. Nó đến với tất cả mọi người."

Rồi bà ẳm thây người con, nhẹ nhàng mang đặt trong rừng sâu, rồi trở lại chỗ Đức Phật, xin Phật cho bà được xuất gia. Với sự khổ tu, bà trở thành một trong những nữ ni cầm đầu ni chúng, và cuối cùng, chứng quả A La hán.

Đoạn kệ sau đây từ Samyutta Nikaya về sự xuất gia và t́m được an lạc cứu cánh của bà Kisagotami có thể lấy làm tiệu biểu cho sự thăng hoa từ khổ đau của những bà mẹ trong Đạo Phật:

Chính tôi được nghe. Một thuở nọ, khi Đức Thế Tôn trụ ở tịnh xá Kỳ Thọ Cập Cô Độc. Một buổi sáng,Tỳ Kheo Ni Kisagotami, khoát áo chỉnh tề, ôm bát ra phố khất thực. Sau buổi khất thực, vị tỳ kheo ni trở về, dùng bữa, rồi đi vào rừng. Khi vào trong rừng, bà ngồi xuống dưới một gốc cây.

Ma Vương, muốn làm cho bà sợ hai để không thể thiền định, cũng đến chỗ đó. Đến nơi, ma vương nói:

Việc ǵ đang xảy ra?"

Trông như khi con bà qua đời.

Ngồi một ḿnh,

Nước mắt tràn đầy trên mặt.

Bà vào rừng một ḿnh

Có phải đang đi t́m một người đàn ông?

Nhưng Kisagotami nghĩ, "Đây có phải là người hay không phải là người. Nó chắc là ma vương. Nó nói những lời nầy v́ nó muốn làm ta sợ hai và phá hoại ta thiền định." Khi bà chắc chắn như vậy, rằng kẻ kia không ai khác hơn là Ma vương, bà nói như sau:

Ta đa không c̣n ǵ với cái chết của con ta,

và đàn đàn ông đa thuộc về quá khứ.

Ta không đau buồn.

Ta không than khóc.

Ta không sợ hăi ngươi, hỡi người bạn.

Nơi nào sự ái dục bị tiêu diệt,

bóng tối dày đặc bị xé tan,

và Sự Chết,

ngươi cũng bị tiêu diệt.

Thị Giới.

Copyright ©2005 FITEC & SearchVN. All rights reserved.