TIN NHÂN  QUẢ - TẠO PHƯỚC ĐỨC -  SỐNG CHÂN THƯỜNG

 searchvn.net                                                                                                                            TRỞ VỀ

 
 

TƯ TƯỞNG BÁT NHĂ VÀ MẬT TÔNG

Nguyên Hảo soạn dịch

(Theo các tài liệu Bát Nhă Tâm Kinh Tư Tưởng Đích H́nh Thành của Trương Tác Lâm, The First Mileage of Buddhism của Daisaka Ikeda, Tổ Đường Tập, Mahayana Buddhist Mediatation của nhiều tác giả do Minoru Kiyota ấn hành, Bát Nhă Cương Yếu của TKN Hồng Ẩn, v.v…) 

 

SỰ H̀NH THÀNH MẬT GIÁO VÀ TƯ TƯỞNG BÁT NHĂ

 

Bát Nhă Kinh được coi như cơ sở thành lập Phật Giáo Đại Thừa. Có thể nói như vậy là v́ Phật Giáo Đại Thừa được thành lập trên tư tưởng Không, lấy tư tưởng Không làm nền tảng tối hậu. Cũng như hầu hết các tông phái Đại Thừa khác, kinh điển Mật Tông cũng phát xuất từ tư tưởng Bát Nhă. Các kinh điển chính của Mật Giáo như Đại Nhật Kinh và Kim Cang Đảnh Kinh, về phương diện giáo nghĩa và phương diện tu chứng, đều đặt cơ sở trên tư tưởng Bát Nhă của Đại Thừa. Như Phẩm Trụ Tâm trong Đại Nhật Kinh có nói rằng: Lấy Bồ Đề Tâm làm trung tâm cầu Trí Nhứt Thiết Trí (tức Phật Trí), bản tánh của Tâm đồng với Bồ Đề, là tâm thanh tịnh, ĺa hết thảy các phân biệt, là không, là vô tướng. Tư tưởng "Tức thân thành Phật" của Hoằng Pháp Đại Sư Không Hải cũng căn cứ trên hai Kinh Đại Nhật và Kim Cang Đảnh. Tư tưởng "Tức thân thành Phật" đặt cơ sở trên ư niệm "phàm Thánh không hai" (phàm Thánh bất nhị). Tư tuởng Không Hai là một trong những tư tưởng được nêu ra trong Bát Nhă Kinh. Trong Đại Thừa thuần túy, "phiền năo tức Bồ đề, sinh tử tức Niết Bàn," th́ đối với Mật Giáo, Tam Mật thân khẩu ư (ấn, chân ngôn, mạn đà la) tương quan một cách thực tiễn.

 

TAM MUỘI VÀ ĐÀ LA NI

 

Tam Muội và Đà la Ni bắt đầu từ Đại Phẩm Bát Nhă Kinh, được nêu ra trong rất nhiều Kinh điển Đại Thừa, do đó có thể đoán định rằng giữa Tam Muội và Đà La Ni có sự quan hệ mật thiết. Trong Bát Nhă Kinh thuộc Tiểu Phẩm hệ, giáo thuyết về Tam Muội không thường thấy. Tiểu Phẩm Bát Nhă Kinh và Đạo Hạnh Bát Nhă Kinh, chỉ nói một lần về Đà La Ni, c̣n các Kinh khác th́ hoàn toàn không thấy nói đến. Chỉ đến Bát Nhă Kinh thuộc Đại Phẩm hệ, Tam Muội Phẩm và Đà La Ni Phẩm mới thành phẩm kinh riêng nói về Tam Muội và Đà La Ni. Lư do là đến Bát Nhă Kinh điển thuộc Đại Phẩm hệ, Tam Muội và Đà La Ni chuyên chở Chân lư Bát Nhă Ba La Mật được đẩy lên bề mặt, Chân lư đó là tính phổ biến và vĩnh hằng của Bát Nhă Ba La Mật Đa.

 

Với Bát Nhă Kinh thuộc Tiểu Phẩm hệ, về Tam Muội và Đà La Ni, có thể khảo sát các phẩm Tát Đà Ba Luân Bồ Tát và Đàm Vô Kiệt Bồ Tát.

 

Với sự nhứt tâm chí thành cầu Bát Nhă Ba La Mật Đa, Bồ Tát Tát Đà Ba Luân được Bồ Tát Đàm Vô Kiệt thủ hộ, làm thiện hữu, và nhờ vậy đắc được Bát Nhă Ba La Mật Đa.

 

Vững tin Bát Nhă Ba La Mật Đa là chân lư tối cao duy nhất, đồng thờI tin chắc rằng người t́m cầu chân lư đó đuợc chư Phật, Bồ Tát quá khứ, hiện tại và tương lai ủng hộ, niềm tin đó là từ trong Tam Muội thấy Phật mà có được. Đạo Hạnh Tam Muội Kinh gọi Tam Muội này là Tất Kiến Thập Phương Chư Phật Tam Muội (Tam Muội Thấy Rơ Chư Phật Mười Phương.)

  

TẤT KIẾN THẬP PHƯƠNG CHƯ PHẬT TAM MUỘI VÀ BÁT NHĂ TAM MUỘI

 

Tam Muội Thấy Chư Phật Trong Mười Phương (Kiến Thập Phương Chư Phật Tam Muội) tương đương với sáu mươi hai loạI Tam Muội trong Bát Thiên Tụng. Trong Bát Thiên Tụng, Tam Muội thứ mười bốn và thứ mười lăm gốm có Tam Muội Hiển Xuất Kính Diện Ánh Tượng và Tam Muội Kiến Nhứt Thiết Như Lai. Ngoài ra c̣n có các Tam Muội Tán Hoa Xưng Tán Chư Phật Thuyết Pháp, Trang Nghiêm Liên Hoa, và Thần Thông Vô Úy Du Bộ Chư Phật Quốc Độ. Theo đây khảo sát, chúng ta thấy rằng sáu mươi hai Tam Muội là Phật trên ṭa liên hoa ở trong cơi Phật nói về những tâm niệm của chư Phật. Do đó, điểm then chốt của các Tam Muội đó là lấy sự thấy Phật nghe Pháp làm nội dung niệm Phật (Tam Muội), đó là Bát Nhă Tam Muội.

 

Dù có những điểm khác nhau, các Tam Muội đều nhứt trí về việc chư Phật hiện ra trong thực tế để thuyết Pháp. Trong Thực Tướng Tam Muội, tính vĩnh hằng, tính vô ngại của Bát Nhă Ba La Mật Đa được soi thấy và tŕ giữ.

Trong Kiến Thập Phương Chư Phật Tam Muội, nhờ vào sự hiển hiện của Phật Đà, tin nhận, tŕ giữ tính phổ biến của chân lư Không. Với sự quy y vào Phật Đà, mong muốn một lần thấy lại Đức Phật của Phật Giáo đồ Đại thừa

kỳ khi nghĩ đến Đức Phật với đầy đủ ba mươi hai tướng tốt, miệng đang thuyết Bát Nhă Tánh Không, do đó, trong Niệm Phật Tam Muội, tưởng nghĩ tướng hảo của Phật, khai triển sự chứng đắc Vô Tướng Tam Muội về

tánh Không, tức Không Tam Muội. Chứng đắc Không tức thực hiện Vô Thượng Chánh Đẳng Giác. Như Tát Đà Ba Luân Bồ Tát, vị Bồ tát thực tiễn trong Bát Nhă Ba La Mật, thấy Phật trong Niệm Phật Tam Muội, nhận lănh sự giáo hóa và tin chắc, khi chứng ngộ tánh Không Bát Nhă, được Phật thọ kư - thấu hiểu Bát Nhă Ba La Mật Đa - thực hiện Vô Thượng Chính Giác, tương lai thành Phật.

 

ĐÀ LA NI VÀ BÁT NHĂ BA LA MẬT ĐA

 

Theo Bát Nhă Kinh thuộc Tiểu Phẩm hệ, Đà La Ni và Tam Muội tương ưng, quan hệ mật thiết trong quá tŕnh triển khai.

 

Sự phát triển của Đà La Ni (dhàrań, tổng tŕ), trong Bát Nhă Kinh thuộc Đại Phẩm hệ chứa đựng nội dung phức tạp. Trong Tiểu Phẩm chỉ thấy một vài iển h́nh. Một trong những điển h́nh đó là chương thứ ba mươi của Bát Thiên Tụng Bát Nhă Kinh, Bồ tát Tát Đà Ba Luân khi tu hành Bát Nhă Ba La Mật Đa, theo âm thanh của Như Lai truyền đi trong không trung, dạy đến bái phỏng Bồ tát Đàm Vô Kiệt. Lúc bấy giờ, Ngài biết Bồ tát này " năm là Trong đoạn trên, ta không thấy Như Lai xuất hiện một cách hiện thật trong Tam Muội dạy Bát Nhă Ba La Mật Đa. Từ Tam Muội, Bồ Tát Tát Đà Ba Luân, do nghe âm thanh Như Lai dạy mà hướng về vị Bồ tát có đầy đủ công đức là Đàm Vô Kiệt. Bồ tát Tát Đà Ba Luân trải qua nhiều khốn khổ, cuối cùng gặp được sự xuất hiện chân thật trong thực tế, được dạy giáo lư về Không "Như Lai đến đi không biết". Ở đây sự cầu học Bát Nhă Ba La Mật Đa được lấy làm chủ đề. Điểm chúng ta lưu ư là: Không thấy Như Lai xuất hiện một cách hiện thật trong Tam Muội, thực chứng chân lư Không Sinh Không Diệt.

 

Đà La Ni của Bồ tát Đàm Vô Kiệt, trong Bát Thiên Tụng cũng xuất hiện một lần. Bồ Tát Tát Đà Ba Luân sau bao nhiêu gian nan, gặp được "bậc Thánh Đàm Vô Kiệt Bồ Tát Đại sĩ, ngài đă hoạch đắc được Đà La Ni, có đủ năm thần thông, phụng sự các bậc Thánh trong thời quá khứ, trồng các căn lành, học rành Bát Nhă Ba La Mật Đa và Phương Tiện tối cao." Trong đây, ngài Tát Đà Ba Luân không thấy Như Lai. Trong Phẩm Đàm Vô Ánh Bồ Tát trong Đạo Hạnh Bát Nhă Kinh, khi Bồ tát Đàm Vô Kiệt, từ trong Phật Thân Duyên Khởi Không, nói với Bồ tát Tát Đà Ba Luân lư do Như Lai không đến không đi, dạy về Bách Ức Bồ Tát Tật Đắc Đà Lân Ni Pháp:

"Lúc bấy giờ Bồ tát Đàm Vô Ánh nói về Thân Phật. Bốn vạn tám ngàn Bồ tát đều đắc hạnh Tận Tín. Trăm ức Bồ Tát đều đắc các pháp Đà Lân Ni. Hai trăm ức Bồ Tát đắc vô sở quái ngại vấn giai năng chấp. Bốn trăm ức Bồ Tát đều đắc A Duy Việt Trí Bồ Tát. Tám vạn ức Bồ Tát đều đắc A Xà Tịnh Hạnh Trụ Pháp."

(Thị thời Đàm Vô Ánh Bồ Tát thuyết Phật Thân thời. Tứ vạn bát thiên Bồ Tát tức giải đắc Tận Tín chi hạnh. Bách ức Bồ Tát tất đắc chư Đà Lân Ni pháp. Nhị bách ức Bồ Tát đắc vô sở quái ngại vấn giai năng chấp. Tứ bách ức Bồ Tát giai đắc A Duy Việt Trí Bồ tát. Bát vạn ức Bồ tát giai đắc A Xà Tịnh Hạnh Trụ Pháp.)(Đại chính, quyển 8, trang 477.)

 

Lại, trong Bát Thiên Tụng, có đoạn như sau: "Đàm Vô Ánh Bồ Tát đáp: Khi ông hỏi ta về giáo lư Như Lai không đến không đi, trong khi ta thuyết, có tám ngàn hữu sinh được Vô Sanh Pháp Nhẫn, tám mươi na do tha hữu sinh phát tâm hướng Vô Thượng Chính Đẳng Giác, sáu vạn bốn ngàn hữu sinh đối với sự vật được pháp nhăn thanh tịnh không trần không cấu." Theo đó, ta thấy rằng Đà Lân Ni trong Đạo Hạnh Bát Nhă Kinh quan hệ mật thiết với Vô Sanh Pháp Nhẫn.

 

CHÂN NGÔN VÀ ĐÀ LA NI

 

 Về tính chất phổ biến của Đà La Ni, trong toàn bộ kinh điển do Ngài Chi Lâu Ca Sấm dịch, sự quan hệ giữa Đà La Ni và Không của Bát Nhă như là nói về cùng một sự.

 

Tuy nhiên trong Bát Nhă Kinh thuộc Tiểu Phẩm hệ, chỉ thấy xuất hiện một ít Đà La Ni, tập trung chung quanh việc Bồ Tát Tát Đà Ba Luân cầu học Bát Nhă Ba La Mật Đa, những Đà La Ni này mang tính chất vĩnh hằng. Như đă thấy, nơi Bồ Tát Đàm Vô Kiệt, Đà La Ni được trang nghiêm như đứng đầu các công đức, nhờ đó làm người thủ hộ, người bạn lành của Bồ Tát Tát Đà Ba Luân. Đà La Ni được coi như đức mục đứng đầu của người thủ hộ Bát Nhă Ba La Mật Đa. Người thủ hộ, Bồ Tát Đàm Vô Kiệt, vượt thời gian mà xuất hiện, do đó Ngài cũng tượng trưng cho tính phổ biến.

 

Như vậy, Đà La Ni từ khởi thủy đă có tính vĩnh hằng của Bát Nhă Ba La Mật Đa, tức là tính chân lư. Đà La Ni về sau cùng với Biện Tài và Chân Ngôn kết hợp trong một sự triển khai phức tạp. Tuy nhiên, nếu Đà La Ni

từ căn để, với cái nh́n từ Bát Nhă Ba La Mật Đa, dù đă trải qua một quá tŕnh diễn biến triển khai phức tạp, không thể không thừa nhận rằng toàn bộ đă triển khai theo sát Bát Nhă Ba La Mật Đa.

 

Nói về Đà La Ni và Chân Ngôn, trong giai đoạn mới phát triển của Đại thừa, sự quan hệ giữa Đà La Ni và Chân Ngôn, Minh Chú không mấy mật thiết. Nếu có quan hệ th́ Đà La Ni được coi là mục đích, c̣n Chân Ngôn là phương pháp. Ư nghĩa của Chân Ngôn không khác ǵ hơn là những chú thủ hộ làm cho ác quỉ, la sát, năo hại tránh xa. Đến thời trung kỳ, tức thời kỳ kinh điển Đại thừa với Tạp Mật, Chân Ngôn vượt qua ư nghĩa chỉ là những chú thủ hộ, mà trở nên nhờ tụng đọc Chân ngôn, có thể đạt đến mục đích tối cao là Vô Thượng Chính Đẳng Giác. Từ ư nghĩa chỉ là những chú thủ hộ, Chân Ngôn phát triển thành mục đích thành Phật. Đến đây th́ Chân Ngôn và Đà La Ni đồng hóa.

 

Một lư do là: Chư Phật hiện tiền trong Tam Muội, đồng thời trong khi nhờ Đà La Ni mà xác nhận được Chân Lư Bát Nhă Ba la Mật Đa, tự nơi Bát Nhă Ba La Mật Đa khởi ra sự thủ hộ. Bát Nhă Ba La Mật Đa trở thành thủ hộ chú, tiếp nhận bốn vị thần thủ hộ là bốn Thiên Vương bảo hộ người tín phụng Bát Nhă Kinh, làm cho không bị ác quỉ, la sát hại. Trong thực tế, Bát Nhă Kinh lúc bấy giờ không thuyết các thần chú về bốn vị Thiên Vương. Bát Nhă Ba La Mật Đa thành thủ hộ chú, thủ hộ Pháp Sư tụng đọc Bát Nhă Ba La Mật Đa Kinh. Các Kinh điển khác ngoài Bát Nhă Kinh không trực tiếp thuyết Bát Nhă Ba La Mật Đa, do đó, để ủng hộ Pháp Sư cần có thủ hộ chú về Bát Nhă Ba La Mật Đa.

 

Về sự đồng hóa giữa Đà La Ni và Chân Ngôn, đối với Pháp Sư, người mà qua đó Đà La Ni thể hiện, Biện Tài và Thủ Hộ Chú trở nên tất yếu, Đà La Ni cùng với Chân Ngôn Thủ Hộ Chú bắt đầu đồng hóa. Điểm chú ư là Đà La Ni và Biện Tài đều chỉ là một mặt thực tiễn của Bát Nhă Ba La Mật Đa, do đó gắn liền. Chân lư Bát Nhă Ba La Mật Đa là bất biến, khởi ra sự bảo hộ. Pháp Sư là người thể hiện Đà La Ni, do đó, v́ bảo hộ Pháp Sư mà tạo ra Chân Ngôn, giống như xưa, để bảo hộ Đà La Ni nên có Chân Ngôn. Bảo hộ Pháp sư có nghĩa làm cho tài hùng biện liên tục không dứt. Bát Nhă Kinh mở bày Tánh Không Bát Nhă. Các kinh điển Đại Thừa khác tuyên thuyết Chân Ngôn, Thần Chú, trên thực tế là làm cho sự thuyết Pháp, biện tài kế tục không dừng. Nhờ Đà La Ni làm cho Chân Ngôn cùng thuyết Pháp, biện tài vô ngại, tức, với mục tiêu bảo hộ Pháp sư, cả hai tương liên không thể tách rời, và cuối cùng Đà La Ni và Chân Ngôn đồng hóa.

 

Như trên đă nói, đọc tụng Chân Ngôn, với sự đồng hóa giữa Đà La Ni vớI Chân Ngôn, có mục đích là thành Phật tức Chính Đẳng Giác. Tuy nhiên về mục đích thành Phật của việc đọc tụng Chân Ngôn, trong các Kinh điển Đại Thừa và Kinh điển thuần Mật có hai loại khác nhau là tiệm và đốn: Đại Thừa thành Phật là a tăng kỳ thành Phật, tại Tín Giải Hành Địa và Thập Địa trở lên, nếu không qua ba a tăng kỳ kiếp (ba vô lượng kiếp)

chứa góp các công đức lành, th́ không thể thành Chánh Giác. Nhưng theo Đại Nhựt Kinh, th́ khi phát tâm tức liền đến (phát tâm tức đáo), cho rằng có thể thành Phật ngay trong hiện đời.

 

BỐN LOẠI TR̀

 

Theo Tổng Thích Đà La Ni Nghĩa Tán của Bất Không, đầu tiên, Như Lai trong trăm ngàn cu chi a tăng kỳ kiếp, tích chứa tư lương bồ đề, gia tŕ Đà La Ni Chân Ngôn văn tự có khả năng làm cho Bồ Tát đốn ngộ, nhờ đó tương ưng mà tích chứa tư lương phước đức cùng trí tuệ. Lại lúc tu đạo, Bồ Tát Đại Thừa dùng hai thứ tu hành để tu đạo Vô Thượng Bồ Đề. Đó là: nhờ Ba La Mật tu hành thành Phật, và nhờ ba Mật Môn Chơn Ngôn Đà

La Ni tu hành thành Phật. Chân Ngôn và Đà La Ni phân ra làm bốn loại tổng tŕ: Pháp Tŕ, Nghĩa Tŕ, Tam Ma Địa Tŕ và Văn Tŕ.

 

Pháp Tŕ: Do được Tŕ này nên diệt được mọi pháp tạp nhiễm, chứng được pháp giới thanh tịnh.

 

Nghĩa Tŕ: do được Tŕ này nên nơi nghĩa một chữ ngộ được trăm ngàn vô lượng Kinh điển, khi diễn thuyết nghịch thuận tự tại.

 

Tam Ma Địa Tŕ: Nhờ Tŕ này được không tán động Tam Muội hiện tiền, ngộ vô lượng trăm ngàn Tam Muội, do đó tăng tâm Bi của Bồ tát, theo nguyện thọ sinh sáu nẻo không bị phiền năo, nương theo phiền năo phá hoại Tam Muội, nhờ Tam Muội này chứng năm thần thông, thành tựu lợi lạc vô số hữu t́nh.

 

Văn Tŕ: Nhờ Tŕ này mà thọ tŕ Đà La Ni, thành tựu sự nghe hết thảy Khế Kinh, nơi hết thảy chư Như Lai và Bồ Tát, nghe trăm ngàn vô lượng kinh điển không bao giờ quên.

 

Bốn loại Tŕ này nương vào Đà La Ni thọ giữ Kinh Luận lưu thông trong pháp giới không bao giờ quên, nói giáo pháp thọ tŕ không cùng tận, làm lợi hữu t́nh, tạo các công đức. Pháp Tŕ biểu thị khả năng năng tŕ năng

độ của Đà la ni; Nghĩa Tŕ biểu thị biện tài; Tam Ma Địa Tŕ biểu thị sự giao tiếp bí mật không rời giữa Đà La Ni và Tam Muội của Tâm Địa Quán Môn; Văn Tŕ là không bỏ mất đa văn. Những điều này đối với Đà La Ni Hiển Giáo trong Đại Trí Độ Luận, Đại Tập Kinh không khác.

 

Đối với sự phân làm bốn loại của Đà La Ni, chúng ta có thể nghĩ đến bốn loại Đà La Ni trong Bồ Tát Địa. Trong Bồ Tát Địa, Đà La Ni phân thành Pháp, Nghĩa, Chân Ngôn, Năng Đắc Bồ Tát Nhẫn. Trong đó, Pháp Đà La Ni và Nghĩa Đà La Ni, như tên gọi, tương ứng với nghĩa ở trên. Chân Ngôn Đà La Ni và Năng Đắc Bồ Tát Nhẫn Đà La Ni là nói về tính hữu hiệu của Đà La Ni, trong Tam Muội quán chiếu về ư nghĩa của Đà La Ni đó (trên thực tế là thể nhận được tính vô nghĩa, Không của Chân ngôn), trong ư nghĩa này, hai loại Đà La Ni đó liên quan với Tam Ma Địa Tŕ ở trên.

 

BỐN NGHĨA CỦA CHÂN NGÔN VÀ BỐN NGHĨA CỦA MẬT NGÔN

 

Ở trên Đà La Ni phân thành bốn loại Tŕ. Về Tam Mật Môn của Chân Ngôn phân làm Chân Ngôn, Mật Ngôn, Minh. Mỗi loại lại gồm có bốn nghĩa: Pháp, Nghĩa, Tam Ma Địa, Văn. Chân Ngôn, Chân là tương ưng với Chân Như, Ngôn là nghĩa đầy đủ chân thật, đều có bốn nghĩa như sau:

 

Pháp Chân Ngôn: lấy pháp giới thanh tịnh làm Chân Ngôn.

 

Nghĩa Chân Ngôn: tương ưng với Thắng Nghĩa. Trong mỗi mỗi chữ đều có ư nghĩa của Thật Tướng.

 

Tam Ma Địa Chân Ngôn: Người tu theo hạnh Du Già dùng Chân Ngôn này, chí tâm nơi Nguyệt Luân Kính Trí, dàn bố các chữ Chân ngôn, chuyên tâm không tán loạn, chóng chứng Tam Ma Địa, cho nên gọi là Tam Ma Địa Chân Ngôn.

 

Văn Tŕ Chân Ngôn: Từ chữ OM đến Ta-Bà-Ha (svàhà), văn tự trong khoảng giữa, mỗi chữ đều gọi là Chân Ngôn.

 

Ở đây, Pháp Chân Ngôn là Thanh tịnh Pháp giới, Nghĩa Chân Ngôn khiến cho hiểu rơ thắng nghĩa thực tướng, Chân Ngôn được coi là Chân Như, hiện tướng của Chân Tế (chân lư). Chân Ngôn ở đây đựợc coi là thắng nghĩa, là Chân tế, không phải là phương tiện. Do đó, như nói về Tam Ma Địa Chân Ngôn, người tu hạnh Du Già nương vào nguyệt luân kính trí của tự tâm, bố trí Chân Ngôn này, nhập vào Tam Muội, chứng Tam Ma Địa của Như Lai.

 

Thứ đến, nêu ra bốn nghĩa của Mật Ngôn là Pháp Tŕ, Nghĩa Tŕ, Tam Ma Địa Tŕ, Văn Tŕ. Nói về Pháp Mật Ngôn, Mật Ngôn trong Tam Mật Môn không phải là chỗ của hàng ngoại đạo phi pháp và Nhị Thừa, mà là quỹ

tắc, ấn khế, mạn đà la của hành giả tu Mật Ngôn nghe và tu tŕ. Tam Mật Pháp môn chỉ có Thầy tṛ truyền bảo, người ngoài không biết được.

 

Như vậy, Văn Tŕ Mật Ngôn xuất phát từ Văn Tŕ Đà La Ni (dhàrana-dhàrani) trong Bát Nhă Kinh thuộc Đại Phẩm hệ. Văn Tŕ biểu thị tính chất nhớ giữ không mất vốn đầy đủ của Đà La Ni, rồi từ đó chuyển thành ư chỉ

đệ tử do Thày truyền dạy pháp môn Chân Ngôn.

 

Copyright ©2005 FITEC & SearchVN. All rights reserved.