TIN NHÂN  QUẢ - TẠO PHƯỚC ĐỨC -  SỐNG CHÂN THƯỜNG

 searchvn.net                                                                                                                           TRỞ VỀ

 
 

BỘ PHÁI PHẬT GIÁO

(Trích: Từ Điển Phật Học - Nguyên Hảo, Nxb Về Nguồn)

Phật Giáo do đức Thích Ca Mâu Ni thành lập tại Ấn Độ vào thế kỷ thứ 6 trước Tây lịch. Sau đó vào khoảng năm 250 trước Tây lịch, được Vua Asoka (A Dục vương) tôn làm Quốc Giáo. Phật Giáo Phát triển mạnh vào thời đại các vị Vua Milinda (Di Lan Đà) vào năm 100 trước Tây lịch, Vua Kanishka (Ca Nhị Sắc Ca) vào khoảng thế kỷ thứ nhứt và Vua Harsha (Giới Nhật Vương) từ năm 606-647. Hai vị Vua sau nầy theo Phật Giáo Đại Thừa (Mahàyàna). Phật Giáo suy yếu từ khi quân Hồi Giáo xâm lăng Sindt vào năm 712, và cuối cùng ngưng hoạt động do sự đàn áp của người Hồi Giáo vào năm 1,200. Ngày nay, có nhiều dấu hiệu cho thấy sự phục sinh của Phật Giáo tại Ấn Độ. Sau khi Phật nhập diệt khoảng 100 năm, Phật Giáo Ấn Độ bắt đầu phân phái để cuối cùng chia làm 20 bộ phái, gồm chín bộ Đại chúng (Mahăsanghikăh) và mười một bộ Thượng tọa, như sau: (a).chín bộ đại chúng: (1) Bộ Đại Chúng (Mahăsanghika): Bộ Đại chúng là một bộ phái phát triển ở Nam Ấn dưới thời vua A Dục, chủ trương coi trọng tinh thần căn bản của đức Phật là dựa trên tư tưởng tự do và đáp ứng đ̣i hỏi thực tế của đời sống nhân gian. Chính từ bộ Đại Chúng mà tư tưởng Đại thừa lớn mạnh. Về hiện tượng luận, Đại Chúng Bộ chủ trương"hiện tại hữu thể, quá khứ, vị lai vô thể." Chỉ hiện tại mới có thực thể, c̣n quá khứ và vị lai không có thực thể. Quá khứ đă qua, vị lai chưa đến cho nên chỉ là những quy kết của hiện tại chủ quan. Tuy nhiên hiện tại cũng không dừng lại mà đang biến thành, nên cũng chỉ là tạm trú nên gọi là "sắc pháp tạm trú." Về bản thể, Bộ Đại Chúng chủ trương rằng vô vi là năng lực sinh ra vạn pháp, do đó vô vi pháp của Đại Chúng Bộ có tính cách tích cực, khẳng định. Về tâm luận, Đại Chúng Bộ chủ trương "tâm vốn thanh tịnh." Tâm của mọi chúng sanh vốn là trong sạch, thanh tịnh, chỉ do bụi nhơ phiền năo nhiễm vào nên trở thành bất tịnh. Về tu tập, trong Tam Học, Đại Chúng Bộ tuy cũng tu tập Giới, Định, Huệ nhưng thiên trọng về Huệ học. Bộ nầy lấy đối tượng là Đức Phật làm cứu cánh nên coi quả vị Phật là mục đích cuối cùng của sự tu tập. (2) Bộ Nhất Thuyết (Ekavgavahàrika): Bộ nầy chủ trương rằng các pháp thế gian và pháp xuất thế gian đều không có thực thể, chỉ là giả danh (tên mượn). Tư tưởng của bộ nầy tương tự tư tưởng Bát nhă của Đại Thừa. (3) Bộ Thuyết Xuất Thế (Lokittaravàdina): Bộ nầy chủ trương rằng pháp thế gian là pháp điên đảo nên sinh ra phiền năo, do đó tạo nghiệp mà chịu quả báo, tức khổ; trái lại pháp xuất thế gian là pháp sinh ra từ đạo, do tu đạo nên được quả niết bàn. (4) Bộ Kê Dẫn (Kaukkutikà): Bộ nầy cho rằng Luận Tạng (A Tỳ Đạt ma) là giáo lư chân thật, c̣n Kinh và Luật là giáo lư phương tiện, cho rằng điều mà Phật mong muốn nhất chỉ là chóng diệt trừ phiền năo, do đó chủ trương tùy nghi ăn uống, tùy nghi trú ngụ, tùy nghi che thân. (5) Bộ Đa Văn (Băhus'rutiyà). (6) Bộ Thuyết Giả (Prajnaptivàdinà): Giáo pháp của bộ nầy cho rằng thế giới hiện thực (hiện tại) có hai mặt: giả và chân. Đó là khởi nguyên của tư tưởng chân vọng của Đại Thừa về sau, được giới thiệu trong luận Đại Thừa Khởi Tín. Ngoài ra, theo ngài Khuy Cơ, bộ nầy c̣n nêu ra tư tưởng hữu phân thức, thức nầy vĩnh viễn không dứt, biến khắp ba cơi, là nhân của ba loài. Đây là khởi nguồn của tư tưởng A lợi da thức của phái Duy Thức. (7) Bộ Chế Đa Sơn (Caityas'ailà). (8) Bộ Tây Sơn Trụ (Aparas'ailà). (9) Bộ Bắc Sơn Trụ (Uttaras'ailà). (b) mười một bộ thượng tọa: (1) Bộ Tuyết Sơn (Haimavatà): Giáo pháp có nhiều điểm gần với giáo pháp Đại Chúng Bộ, chấp nhận năm việc của Đại Thiên (Đại Thiên Ngũ Sự), không chấp nhận có trung hữu (trung ấm). (2) Bộ Thuyết Nhất Thiết Hữu (Sarvàstivàda): chủ trương rằng tất cả mọi sự đều tồn tại trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Hữu Bộ sở hữu một hệ thống kinh điển riêng bằng Phạn ngữ (Sanscrit), c̣n lại một số trong các bản dịch Hán văn và Tạng văn. Tác phẩm quan trọng nhất của tông nầy là luận A Tỳ Đạt Ma Câu Xá (Abhidharmakosha) của ngài Thế Thân (Vasubandhu) và Đại Tỳ Bà Sa (Mahàvibhashà) được kết tập trong Kỳ Kết Tập Lần Thứ Tư ở Kashmir dưới sự chủ tŕ của ngài Thế Hữu (Vasumitra). Có thể nói Đại Tỳ Bà Sa là bản tóm lược giáo lư của Hữu Bộ. (3) Bộ Độc Tử (Vătśputŕya): Bộ nầy kế thừa tư tưởng Xá Lợi Phất A Tỳ Đàm, lại chịu ảnh hưởng lớn của Đại Chúng Bộ, chia Giáo Pháp của Phật làm năm tạng: (1-3): quá khứ, hiện tại, vị lai là thuộc hữu vi pháp; (4): vô vi và (5): bất khả thuyết. Tạng Bất khả thuyết tương đương với Như Lai tạng của Đại Thừa. Tuy nhiên vẫn c̣n chấp rằng các pháp có cái bản thể (tức ngă) là tư tưởng của ngoại đạo. (4) Bộ PhápThượng (Pharmottariyà). (5) Bộ Hiền Trụ (Bhachayăniyà). (6) Bộ Chính Lượng (Sammat́yà): Bộ nầy lưu hành rất rộng lớn tại trung, nam và tây Ấn Độ khi ngài Huyền Trang du học ở đây. Có Tam Tạng với 30 vạn bài kệ và luận riêng. (7) Bộ Mật Lâm sơn (Sannagarikà). (8) Bộ Hóa Địa (Mah́sasahà): Tư tưởng gần với tư tưởng của Đại Chúng Bộ, cho rằng chỉ có hiện tại mới có thật, quá khứ và vị lai không có thực. Lại chia làm ba uẩn (nền tảng của hiện hữu): (1) Nhất niệm khoảnh uẩn: pháp sinh diệt, chỉ hiện hữu trong thoáng chốc. (2) Nhất kỳ sinh uẩn: pháp tùy chuyển hiện hữu đến khi chết th́ chấm dứt. (3) Cùng sinh tử uẩn: pháp tùy chuyển măi măi đến khi chứng quả. (9) Bộ Pháp Tạng (Dharmaguptà): Bộ nầy có thuyết ngũ tạng (năm tạng) là: Kinh, Luật, Đối pháp (Luận), Minh chú và Bồ tát, đặc biệt coi trọng Minh chú tạng (Mantra) và Bồ Tát tạng. Có thể bộ nầy là tiền thân của Mật Giáo Đại Thừa. (10) Bộ Ẩm Quang (Kàsyaṕyà). (11) Bộ Kinh Lượng (Sautràntikà): Bộ nầy xuất thân từ bộ Nhất Thiết Hữu nhưng chịu ảnh hưởng của bộ Đại Chúng. Tư Tưởng Duy Thức bắt nguồn từ tư tưởng của bộ nầy. Tuy nhiên, tư tưởng về sự không phân ly giữa sắc (h́nh tướng) và tâm của bộ Kinh Lượng vẫn c̣n ở nhị nguyên luận, cho nên vẫn thuộc Tiểu thừa. C̣n đối với Duy Thức, tất cả các pháp đều không rời thức, là nhất nguyên luận.

 

Copyright ©2005 FITEC & SearchVN. All rights reserved.