TIN NHÂN  QUẢ - TẠO PHƯỚC ĐỨC -  SỐNG CHÂN THƯỜNG

 searchvn.net                                                                                                                            TRỞ VỀ

 
 

Bát nhă: Chánh kiến giải thoát

Đương Đạo

  

I

 

Sanh tử không đáng chịu, thế mà chúng ta đang chịu. Khổ đau không có tự tánh, thế mà chúng ta đang khổ đau. Chúng ta khổ v́ những ǵ chúng ta đang có, chúng ta khổ v́ những ǵ chúng ta không có. Chúng ta khổ v́ quá khứ đă qua, khổ v́ tương lai chưa tới. Khổ v́ tư tưởng xung đột nhau, dục vọng tranh chấp với lư trí, ham muốn này xung đột với ham muốn kia, đem bản thân này tranh chống với người khác, nơi mặc cảm này t́m kiếm sự bù đắp nơi lănh vực khác, và thấy cuộc đời luôn luôn chống lại ḿnh. Chúng ta măi loi ngoi, măi tranh chấp, măi đối kháng, măi bất măn. Chúng ta không hề dừng lại được , để hưởng được niềm an lạc của sự nghĩ ngơi trọn vẹn. Trong khi đó, thế giới này là rừng Hoa tạng của chư Phật và chư Bồ Tát. Thế giới của chúng ta là thế giới của khổ đau, của tranh chấp và tự tranh chấp, nhưng cùng một thế giới đó, các bậc giải thoát chỉ thấy một vị b́nh an, tịnh lạc, đầy ấp một vẽ đẹp vô song. Trong thế giới này, chúng ta chỉ nếm mùi của khổ đau, cảm giác vô thường, thời gian trắc trở và cái chết tiêu ma. Cũng trong một thế giới ấy, các bậc giải thoát lại nếm mùi vị của an lạc, của thanh tịnh, của vĩnh cửu, của đời sống hằng hằng phục sinh trong từng giây phút, sự sống không hề biết đến cái chết.

Thế giới này, đối với các vị Bồ tát chỉ toàn là hoa: mỗi một sự vật, mỗi một hạt bụi là một đóa hoa, mỗi một con người là một đóa hoa (kinh Pháp Hoa). Toàn thể vũ trụ được cấu thành bằng những nguyên tử hoa, được trang nghiêm bằng những tràng hoa (kinh Hoa Nghiêm). Một hoa thâu nhiếp tất cả hoa, tất cả hoa nhập vào một hoa, dung thông vô ngại mà không đánh mất h́nh tướng riêng biệt của ḿnh. Thế giới này với chúng ta, là khổ đau, dơ bẩn, bất toàn. Cũng thế giới đó, với các bậc giải thoát là một nước Phật nghiêm tịnh.

Tại sao thế? Kinh Duy Ma Cật dạy cho chúng ta: ỀTrong khi Xá Lợi Phất thấy cơi đất này toàn là g̣ đống, hầm hố, gai góc, cát sỏi... đầy mọi dơ bẩn th́ đức Phật bảo : Cơi đất này của Ta là Tịnh Độ, mà ông chẳng thấy, Xá Lợi Phất ! Nếu tâm trong sạch th́ thấy ngay công đức trang nghiêm thanh tịnh của cơi nàyỂ.

Đó là con đường giải thoát của đạo Phật. Có bao giờ chúng ta truy trầm với một ḷng thù hận không ngui ngoai ai là kẻ gây ra cho chúng ta tất cả mọi khổ đau trong một thế giới vốn b́nh an, tịnh lạc và không biến hoại như thế.Đâu là kẻ  địch  duy nhất muôn đời của chúng ta, che mắt chúng ta, làm mê mờ chúng ta, làm méo mó đi cái thế giới khổ đau, phân tán và tan ră cho chúng ta cảm nhận? Chúng ta đau khổ ngay trong Niết Bàn của chư Phật, Bồ tát, chúng ta thấy dơ bẩn ngay trong quốc độ nghiêm tịnh của đức Phật, chúng ta thấy thời gian và cái chết  ngay trong thế giới vô lượng thọcủa chư Phật. Có bao giờ chúng ta biết hận thù những khổ đau vô nghĩa v́ không thật có, biết khổ đau v́ chính những khổ đau vô lư mà chúng ta phải mang, biết sân hận v́ kẻ thù vô h́nh đă che lấp pháp giới tịnh lạc này thành hiện trường của đau khổ, bất toàn? Trong kinh Lăng Già, đức Phật dạy: con người cứ măi măi khổ đau  v́ chính nó, như con kén tự nhả tơ ra để trói  buộc ḿnh. Kinh Nhân Vương Hộ Quốc nói : Kẻ phàm phu do cấu thức nhiễm trước lấy những h́nh tướng nên bị tướng trói buộc.

Chính chúng ta là kẻ tự trói buộc lấy ḿnh, kẻ đem lại sanh tử cho ḿnh, kẻ tự tạo ra khổ đau để hành hạ chính ḿnh. Nếu không phải chính chúng ta tự tạo ra khổ đau, th́ cũng chẳng c̣n cách nào để giải thoát, Nếu Khổ, Tập không do chính chúng ta, th́ Diệt đế, Đạo đế dùng cho ai để tự giải thoát? Đức Phật dạy: chính từ cái thân tâm này tạo ra tất cả khổ đau, cũng chính từ thân tâm này mà đạt đến giải thoát. Câu đầu tiên của kinh Pháp cú là :ỂTâm dẫn đầu tất cả mọi pháp. Tâm làm chủ. Chính là tâm dẫn đến tịnh lạc hay khổ đauỂ. Chính chúng ta tự kết tập lấy khổ đau cho ḿnh, cũng chính chúng ta tiêu diệt nguyên nhân đưa đến khổ đau để giải thoát. Nguyên nhân đưa đến khổ đau là chính chúng ta, cũng chính chúng ta tiêu diệt nguyên nhân ấy để giải thoát. Đó là ư nghĩa của chữ Tự Giác của đạo Phật. Tự Giác bởi v́ tự chúng ta đă gây bao khổ đau cho tự chính ḿnh.

Kẻ thù muôn đời của chúng ta chính là chúng ta.Kẻ thù đó đức Phật đă chiến thắng một lần vĩnh viễ trong đêm Ngài Giác Ngộ, đây là bài kệ buổi b́nh minh hôm ấy:

ỀXuyên qua nhiều kiếp luân hồi, ta miên man đi măi,

Ta đă đi t́m măi mà không gặp, ta đi t́m người thợ cất căn nhà này,

Lặp đi lập lại sự xây cất trong sanh tử muộn phiền.

Này hởi gă thợ làm nhà, Ta đă t́m được người.

Từ đây ngươi không c̣n cất nhà nhốt Ta nữa,

Tất cả sườn vách đều gảy, toàn bộ công tŕnh của ngươi đă bị phá tan.

 Như Lai đă chứng quả Vô sanh Băt diệt bằng cách tận diệt mọi Ái dục vô minh.Ể

Kẻ thù độc nhất của chúng ta là chính chúng ta. Và giữa chúng ta, quả thật có ít người nổi lên được ḷng sân hận với chính ḿnh, với sự việc ḿnh là kẻ tử thù truyền kiếp của ḿnh, căn bệnh dai dẳng của ḿnh. Và c̣n ít người hơn nữa khám phá ra và tiêu diệt được kẻ thù bao đời bao kiếp đó. Nhận mặt kẻ thù đă là một điều khó khăn. Tiêu diệt được kẻ thù th́ càng khó khăn gắp bội. Sự việc đo thật khó như tự ḿnh chặt đứt đầu ḿnh, theo kinh Viên Giác nói. Đức Phật dạy: Thắng được muôn người không bằng tự thắng được ḿnh. Nếu không có Diệt đế, chẳng bao giờ có Đạo đế. Nếu không có một lần Ềđại tử nhất phiênỂ một lần chết đi, th́ chẳng bao giờ có một lần sống lại trong cảnh giới Thường Lạc Chân Tịnh của Niết Bàn.

 

I I

 

Đạo Phật là đạo của chiến đău và chiến thắng. Trong các Ềhệ thốngỂ của đạo Phật Ềhệ thốngỂ Bát Nhă Không tuệ học mang nhiều tính chiến đấu nhất. Bởi thế chẳng lạ ǵ Bát nhă đả sản xuất ra những tính cách anh hùng như Thường Đề Bồ tát trong kinh Bát nhă, cuộc hành hương cầu đạo anh hùng của Thiện Tài Đồng Tử trong kinh Hoa Nghiêm, cuộc thỉnh kinh gian khổ của Bồ tát Huyền Trang. Bát Nhă đă sản xuất ra những con người, những vị Bồ Tát mang nhiều vóc dáng ngạo nghễ, dọc ngang trong cảnh giới tự do vô thủy vô chung như Long Thọ, Milarepa, Bồ đề Đạt ma, và gần gủi là các Thiền sư  Trung hoa và Việt nam.

Bát Nhă, và cụ thể là kinh Nhân Vương Hộ Quốc Bát-Nhă dạy chúng ta những ǵ để nh́n thấy kẻ thù muôn thuở của chúng ta và những cách chiến đấu tiêu diệt kẻ thù đó như thế nào. Đây là điều mà chúng ta thường gọi là Văn tự Bát Nhă và Quán Chiếu Bát nhă.                                 

Thế gian của chúng ta th́ đau khổ, đ̣ng một pháp giới đó, lại là Niết Bàn của chư Phật Bồ Tát. Văy thế gian của chúng ta là ǵ? Cái ǵ tạo ra thế gian lầm lạc đó? Kinh Nhân Vương Hộ Quốc nói:ỂNếu trụ ở pháp tướng, có tướng ta, tướng người, tướng hữu t́nh, tướng thấy biết, là trụ ở thế gian, không phải là Bồ tát.Ể

Dạn thêm kinh Viên Giác:ỂTất cả chúng sanh, từ xưa đến giờ, do vọng tưởng điên đảo chấp bốn tướng: Ta, Người, Chúng sanh, Thọ mạng, cho là thật thể của ta, rồi sanh ra thương,ghét. Thế là ở thân tâm này đă hư vọng, lại chấp thêm cái hư vọng nữa. Bởi hai lớp hư vọng ấy nương nhau sanh các vọng nghiệp. V́ có vọng nghiệp nên vọng thấy có sanh tử luân hồi. Chúng sanh đời sau không chứng được Đạo, đều do tất cả các hạt giống thương ghét, nhân ngă, v́ thế chẳng được giải thoát.

Chúng ta chịu khổ đau, sanh tử v́ chính chúng ta đă chấp níu vào bốn tướng ngă, nhân, chúng sanh và thấy biết.Bốn tướng đó gọi là phiền năo. Và phiền năo che lấp Niết Bàn. Chúng ta sanh tử v́ chúng ta tự trói buộc ḿnh trong bốn tướng ấy. Phá trừ được ḷng chấp níu để tạo thành bốn tướng ấy là công việc của Trí Huệ Bát Nhă, là tu Bát Nhă

Bón tướng ta, người, chúng sanh, thọ mệnh đă trói buộc chúng ta vào cái thân nhỏ hẹp này giới hạn trong một cái thức tâm liên hồi sanh diệt và chật chội này, kềm chặt chúng ta trong một thế giới nhỏ bé và vô thường do chính bốn tướng ấy tạo ra. Từ cái ta và thế giới của ta, là ḷng thương ghét, là tham dục, sân hận, si mê. Bị lôi kéo theo dục vọng như một người bị cột vào ngựa kéo lê trên mặt đăt, mất tự chủ, đớn đau mà không hay biết, chúng ta tự mất chính ḿnh, nghĩa là mất tất cả. Bón tướng ấy, bốn bệnh ấy, rút gọn lại là tâm chấp ngă và tâm chấp pháp. Trí Huệ nhằm tận trừ hai chướng ngại ấy, chấp ngă và chấp pháp. Chấp ngă nên bị trói buộc vào một thân tâm giả tưởng và hạn hẹp. Chấp pháp nên bị trói buộc vào cái thế giới không thật do ḿnh tạo lập nên, bị ḷng tham dục tất tả lôi theo những bóng dáng của thế giới không thật đó. Thế giới ấy là cái nhà tù hạn hẹpđể tự nhốt ḿnh trong pháp giới nghiêm tịnh và tự do vô hạn của Phật tâm.

Chúng ta tự làm khổ ḿnh, tự trói buộc ḿnh bằng cái tâm thức đă tạo ra và chấp níu lấy bốn tướng ấy. Chúng ta đă tự  trói buộc ḿnh bằng những tưởng niệm: đây là thân ta, đây là Ềtâm thứcỂta, đây là Ềcái của taỂ,đây làỂngười của taỂ, kia là Ềcái mà ta muốn cóỂ. Tâm thức phân biệt chồng chất lên nhau thành một khối nghiệp thức: cái của ta th́ tốt hay xấu hơn cái của người, gia đ́nh ta th́ đáng quí hay đáng ghét hơn gia đ́nh người, địa vị ta th́ cao hay thấp hơn địa

vị người, ta th́ tu cao hay thấp hơn chỗ tu của người.Tóm lại, chúng ta chết thường trực trong thế giới của danh và tướng, là thế giới của sanh tử, luân hồi. Chúng ta đă trói buộc ḿnh trong từng tưởng niệm,tự hành hạ ḿnh bằng từng tưởng niệm, tự giết chết ḿnh bằng từng tưởng niệm. Chính ṿng tâm thức luẩn quẩn trong bốn tướng ấy là nguyên nhân căn bản tạo thành 12 mắt xích của sanh tử luân hồi. Bởi thế, Lục tổ Huệ Năng có câu kệ:

Vô niệm, niệm l à chính.

Có niệm, niệm là tà.

Có niệm là có bốn tướng: ngă, nhân, chúng sanh, thọmạng. Đó là tà, là sanh tử. Không có niệm tức th́ ĺa bốn tướng: đó là giải thoát, là Niết bàn. Bởi thế mà kinh Nhân Vương Hộ Quốc dạy: ỀBồ tát th́ trụ nơi Vô phân biệtỂ Vô phân biệt tức là giải thoát khỏi bốn tướng, giải thoát khỏi sanh tử.

Chấp ngă và chấp pháp là căn bệnh, là kẻ địch muôn đời của chúng ta. Để phá trừ căn bệnh đó, kinh dạy chúng ta phải nh́n thấy thật tướng của mọi pháp :Ngă, pháp đều không :

ỀTất cả các pháp đều là KhôngỂ

ỀNgă nhân, tri kiến, sắc pháp, tâm pháp đều do nhân duyên mà thành, tiếp nối nhau, niệm niệm không dừng, thoắt khởi thoắt diệt chẳng đoạn chẳng thường, đều như mộng, nhu huyễn, như dương diệm, như bọt nướcỂ. ỀChúng sinh trong sát na đầu tiên khởi lên thức nhiễm tịnh, rồi tự sinh ra vô số thức băn nhiễm tịnh. Từ đó cho đến lúc giải thoát, có vô số thức không tính hết sinh ra sắc và tâm, hai pháp của các loài hữu t́nh. Vô số thức ấy gồm lại thành 5 uẩn: Sắc thọ tưởng hành thức, chúng tích tụ, che dấu thật tướng Chân Như. Một sắc một tâm sinh ra vô lượng sắc tâm, tạo thành thế giới không thực này, chúng đều như huyễn thảyỂ.

Thấy được như thế, tu hành được như thế là quán chiếu Bát nhă: Ề Đối với tất cả pháp mà được không động, không sanh không diệt, không có tướng không không tướng, không khởi thấy biếtỂ. ỀNơi đệ nhất nghĩa thường không độngỂ.

Thấy thật tướng của các pháp, an trụ tu hành theo Thật Tướng đó, là 13 pháp nhẫn được nói tỉ mĩ trong suốt bộ kinh.Tóm tắt, Quán chiếu Bát nhă là soi thấy năm uẩn là Không. Niệm khởi lên liền biết đó là nguồn gốc của sinh tử, biết liền vô niệm. Tâm sanh th́ thảy thảy pháp sanh. Tâm diệt th́ thảy thảy pháp diệt. Niệm khởi, cảnh liền sanh. Cảnh sanh là sanh trong niệm. Cho nên không có niệm th́ không có cảnh. Niệm khởi biết nó là Không, là Huyễn, cả tâm niệm và cảnh tướng đều diệt. Tâm cảnh không tịch, đó là thực tướng Bát Nhă. V́ thế luận Khởi Tín nói: ỀNếu chúng sanh nào quán Vô niệm, th́ chúng sanh đó hướng về Trí Phật.Ể Nói theo Viên Giác, tâm Vô niệm là nhơn địa tu hành của tất cả Như  Lai.Y theo tâm không sanh diệt đó th́ thành Phật, y vào vọng tâm sanh diệt th́ luẩn quẩn luân hồi

Bát nhă là chánh kiến đua đến giải thoát, giải thoát tức th́. Vấn đề c̣n lại là ở chúng ta. Chúng ta có can đảm khởi lên chánh kiến ấy không? Biết được kẻ thù sống chết của ḿnh là tâm thức chấp ngă và chấp pháp, chúng ta có can đảm để chịu đựng một sự quán chiếu thường trực Bát nhă không? Chúng ta có dám nh́n thân này, nh́n những người thân thuộc, những vật sở hữu, nh́n danh lợi, nh́n thế giới, tất cả đều giả danh, không thật, đều là những h́nh bóng trong giấc mộng?

Văn tự Bát nhă, qua kinh điển, ai cũng biết. Quán chiếu Bát Nhă, nh́n thấy và hộ tŕ cái thấy đó trong từng niệm niệm, không phải ai cũng chịu đựng nổi. Và bởi v́ không dám không chịu đựng nổi nên chúng ta cứ  phải chịu đựng sanh tử luân hồi. Không an trụ được trong chánh kiến ấy trong từng niệm niệm, thế là trong từng niệm niệm chúng ta chạy vào sanh tử, trong từng niệm niệm chạy theo tà kiến ngoại đạo. Ngoại đạo không phải là những con người tu hành theo một cách khác ta, cách ăn mặc, cách công phu khác ta . Ngoại đạo chính là chúng ta. Khi một niệm khởi: đây là thân thể ta. Đó là tư tưởng ngoại đạo. Cái này là của ta, đó là tư tưởng ngoại đạo. Ta có mặt, ta là, đó là tư tưởng ngoại đạo. Thế giới này thật có, đó là tư tưởng ngoại đạo.Ta đang hành Phật sự, đó là tư tưởng ngoại đạo. Tăt cả tư tưởng nằm trong bốn tướng, đều là tư tưởng ngoại đạo. Bởi thế, kinh nói: ỀNiệm niệm đều biết Ngă, Nhân, trí, kiến đều hư vọng, hiểu biết danh giả, thọ là giả,pháp là giả, đều bất khả đắc, không có tướng tự tướng tha, trụ chân thật quán như thếỂ. Do thấy bốn tướng đều không, nên Bồ Tát bậc Tam Hiền Tăp chủng tính mới: Ềnghe nói khen Phật chê Phật, tâm định không động, nghe nói có Phật hay không có Phật, tâm định không lui sụt.Ể

Kinh này c̣n được gọi là ỀCam Lồ pháp dược, ai uống và hành theo th́ khỏi mọi tật bệnh.Ể Nhưng thật không dễ uống và hành theo, v́ chúng ta cứ vẫn thay thế sự loạn tâm này bằng một sự loạn tâm khác. Không dễ ǵ mà ta có thể lật ngược, phá sập toàn bộ giá trị của thế gian. Không dễ ǵ, bằng Trí Huệ quán Không và quán Huyễn, soi thấy năm uẩn là Không, phá tan năm uẩn, vượt thoát khỏi mọi khổ ách. Trí Huệ Bát nhă càng quán chiếu sâu xa th́ càng phá trừ những phiền năo vi tế. Đi từ sự quán chiếu các phiền năo thô, đến phá trừ các phiền năo khi vừa mới khởi niệm, cho đến phá trừ phiền năo khi chúng chỉ là một hạt giống chưa hiện hành lên bề mặt của ư thức. Bát Nhă toàn diện, đích thực là một đóng lửa lớn, đốt sạch mọi tầng lớp của tâm thức, mọi cơ cấu sanh tử luân hồi. Sự giải thoát nhanh hay chậm là tuỳ ở sự xử dụng trí Bát Nhă của chúng ta, tuỳ ở ḷng can đảm, ư chí chiến đău và sự khôn khéo của chúng ta.Không phải ngày mai tôi mới có thể tận diệt sanh tử, không phải ngày kia hay kiếp sau. Mà ngay bây giờ, nếu có thểnh́n thấy toàn bộcơ cấu sanh tử luân hồi, toàn bộ tương giao cấu kết của ngũ ấm, gốc rễ ung thư tác hại muôn đời, bằng cây kiếm Kim cương của Trí huệ, chém tan cả khối vô minh từ vô thủy, người ấy tức thời giải thoát. Bởi thế kinh Viên Giác dạy: ỀBiết huyễn tức là ĺa. Ĺa là Giác ngộ.Ể Người nào trong chúng ta, có thể đặt trái ḿn Trí Huệ vào cơ cấu ngũ ấm ràng buộc, phá tan toàn bộ cơ cấu thế gian sanh tử luân hồi, người ấy được gọi là anh hùng, là người trượng phu.Trượng phu là danh từ Trung hoa để dịch chữ Bồ tát.Trượng phu là người biết sân hận và phá tan khối vô minh đang bao trùm những anh em khác .

Khởi lên chính kiến Bát nhă chưa phải là thực tu. Niệm niệm trụ nơi chánh kiến Bát nhă mới là tu hành bát nhă. Bát nhă không phải để học cho biết, mà là để sống, nghĩa là để sống giải thoát. Trong bất kỳ giờ phút nào của cuộc sống cũng trụ nơi chánh kiến Bát nhă để quán chiếu và đói xử với tất cả mọi việc trên đời, được mất, khen chê, vô vàn phiền năo, vô số phiền năo ở đời bằng chánh kiến Bát nhă trong từng niệm niệm đó là quán chiếu Bát nhă. Một niệm khởi lên, một phiền năo khởi lên, liền dùng ngay Trí Bát nhă quán xét: v́ sao có niệm tham, cái ǵ là tự tánh của vật làm khởi tham, có người nào đang tham ... Dĩ nhiên là sự  quán chiếu Bát nhă có sâu có cạn, theo 13 cấp bậc nhẫn, như  kinh nói. Dầu chỉ chỉ thấy những phiền năo thô mà chưa thấy phiền năo vi tế, th́ sự tu hành quán chiếu Bát nhă cũng làm cho phiền năo dần dần tổn giảm. Nhờ quán chiếu thường trực Bát nhă, bốn tướng trói buộc lần lần dứt sạch. Niệm tưởng phân biệt là con đẻ của bốn tướng cũng lần lần giảm trừ. Niệm tổn giảm tức là đi sâu vào Định, cho đến khi hết niệm, đạt đến Vô niệm tức là Kim cương định như kinh đă dạy.

 

I I I

Phá trừ phiền năo, phá trừ bốn tướng là phá trừ bức tường vô minh do chính chúng ta tạo ra để nhốt chính ḿnh, không cho chúng ta thấy và sống được cái Đời Sống chân thật là Niết Bàn thường, lạc, chân, tịnh. Hể một phần phiền năo tiêu trừ, th́ một phần Đời Sống chân thật ấy hiễn lộ. Đời sống ấy là một thế giới hoàn toàn Chân, nghĩa là thường trụ, không biến đổi (Thị pháp trụ pháp vị, thế gian tướng thường trụ - kinh Pháp Hoa), hoàn toàn Trí, v́ bất cứ sự vật ǵ cũng suốt thông trong Ánh sáng, hoàn toàn Thiện, v́ tất cả đều là Một, hoàn toàn Mỹ, v́ tất cả đều thanh -tịnh và an lạc. Đó là một Ềcảnh giớiỂ mà trong đó, mỗi một sự vật là lời chúc tụng của Niết Bàn, từ hạt bụi đến con người đều là công đức trang nghiêm của Pháp thân Phật. Thế giới đó cũng là công đức trang nghiêm của mỗi chúng ta, bởi v́ giờ đây, do phiền năo đă tiêu mất một phần mà chúng ta đă tiếp xúc, tương ứng và thừa thọ được một phần.

Trí Huệ Bát nhă phá tiêu ngũ ấm, để chỉ c̣n lại niềm tự do tối thượng vô thuỷ vô chung. Lục Tổ Huệ Năng dạy về đều đó như sau : ỀNgười thấy tánh, lập cũng được, không lập cũng không được, đến đi tự do,không ngăn, không ngại, gặp việc th́ làm, gặp lời th́ đáp, thấy khắp Hoá Thân, không ĺa Tự Tánh, được tự tại thần thông, rong chơi tam muội. Niệm niệm Bát nhă quán chiếu, thường ĺa tướng các pháp, tự do tự tại, dọc ngang mặc sức, có ǵ mà lập?Ể

Thế giới an lạc và tự do tối thượng ấy hiện h́nh trong nụ cười an nhiên của đức Phật,  trong vóc dáng khoái hoạt của đức Di Lạc, trong đoá hoa đưa lên giữa chúng hội và chỉ ḿnh Ca Diếp mỉm cười.

Bát nhă, đó là sự vui mừng nhảy nhót của 16 vị vua và tất cả đại chúng trời người, đến cả hư không cũng nở hoa, khi nghe xong cú nghĩa cùng tột của phẩm Bất Tư Ngh́.   

Bát nhă, đó là sự kiện tất cả lổ chân lông trên thân đức Phật đều mỉm cười và phóng ánh sáng chiếu khắp mười phương (Đại trí Độ Luận).

Đó là hành động của tổ Triệu Châu khi Nam Tuyền hỏi trước chúng một câu nghịch thường không ai đáp được: Triệu Châu cởi một chiếc dép để lên đầu, cười ha hả mà bỏ đi ra.

Đó là Thực Tướng Bát Nhă.

 

Đương Đạo         

 

Copyright ©2005 FITEC & SearchVN. All rights reserved.