![]() |
TIN NHÂN QUẢ - TẠO PHƯỚC ĐỨC - SỐNG CHÂN THƯỜNG |
|
searchvn.net TRỞ VỀ |
|
|
QUỐC ĐỘ CỦA CHƯ PHẬTTrương Trừng Cơ Nguyên Hảo dịch Phật thấy và nghe ǵ? Ngài tư duy và hành động như thế nào? Ngài biết và chứng điều ǵ? Một cách tóm tắt, cảm nhận như thế nào mới giống với sự cảm nhận của Đức Phật? Những câu hỏi nầy đă được những người Phật tử đặt ra qua bao nhiêu thế hệ, cũng giống như những tín đồ Do Thái, Cơ Đốc, Hồi Giáo và Ấn Giáo đặt ra về các thần và các nhà tiên tri của họ. Trả lời trọn vẹn những câu hỏi nầylà việc làm vô cùng khó khăn. Nêu ra một câu hỏi cũng có nghĩa là bày tỏ một trạng thái tâm thức, và trả lời một câu hỏi có nghĩa là chia xẻ kinh nghiệm với người khác. Một câu trả lời không có ư nghĩa ǵ nếu được tŕnh bày với những người không chia xẻ cùng kinh nghiệm về nó. Tôi xin tŕnh bày rơ hơn vấn đề.) Một đoàn bộ hành di chuyển chậm chạp qua một vùng sa mạc Tây Tạng dưới ánh nắng thiêu đốt. Trong đám bộ hành, có một người Hoa Kỳ, anh nói: "Giá lúc nầy có người mang cho tôi một ly soda kem lớn!" Một người tây Tạng đi bên cạnh nghe thế, hỏi: 'Soda kem mà anh đang thèm thuồng là thứ ǵ vậy?" "Soda kem là một thức uống lạnh, ngon." "Nó có giống như trà bơ của chúng tôi khi để lạnh?" "Không, nó không giống." "Nó có giống sữa lạnh không?" "Không, không đúng - một cái soda kem có mùi vị hoàn toàn khác với sữa lạnh, khác rất xa. Và nó có nổi bọt." "Nếu nó có nổi bọt, vậy nó có giống với rượu bia của chúng tôi không?" "Không, dĩ nhiên là không!" "Nó làm bằng ǵ?" "Nó làm ra từ sữa, kem, trứng đường, mùi, đá lạnh và nước soda..." Người khách Tây Tạng vẫn không thể nào hiểu được tại sao một chất pha trộn nhiều thứ như vậy lại là một thức uống ngon lành. Cũng vậy, sự truyền đạt thật vô cùng khó khăn khi không có chung một nền tảng kinh nghiệm. Thế giới của Einstein hoàn toàn xa lạ đối với người b́nh thường. Nếu những sự cách ngăn giữa những thế giới của con người quá lớn th́ không ǵ có thể đem họ lại gần nhau. Khi Đức Phật cố gắng diễn tả Kinh Nghiệm của Ngài cho những thính chúng của Ngài, Ngài thấy trước sự khó khăn nầy. Trong nhiều bài giảng, như được ghi lại trong các kinh điển, Ngài thường kèm theo một sự thận trọng rằng Phật Tánh không thể diễn tả bằng ngôn ngữ hay hiểu được bằng suy tưởng. Sự khó khăn nền tảng là chúng ta không chia xẻ cùng kinh nghiệm với đức Phật. Để mở bàyPhật Tánh không thể mở bày, và diễn tả Phật Tánh không thể diễn tả, Kinh Hoa Nghiêm, một trong những tác phẫm vĩ đại nhất của Phật Giáo Đại Thừa, tŕnh bày cho chúng ta một toàn cảnh của Phật Tánh cho những người khao khát, dù rất khó khăn, nh́n vào thế giới vô cùng bí ẩn nầy. Sự bí ẩn của Phật Tánh có thể tóm lại trong hai từ: Viên Dung (Toàn Khắp) và Vô Ngại. Chữ trước nói lên tính chất trùm khắp và toàn tri của Phật Tánh. Chữ sau nói lên tính chất hoàn toàn giải thoát mọi vướng mắc và giới hạn. Nói theo hữu thể học, chính v́ Viên Dung nên đạt được Vô Ngại, nói theo chiều nhân quả th́ nhờ thể hiện được Vô-Ngại - sự hoàn không c̣n các chướng ngại về tâm lư và tinh thần - mà thế giới Viên Dung và Vô Ngại được đạt đến. Trong những trang sau, chúng ta sẽ khảo sát về những ư nghĩa triết học, chứng nghiệm, và phương tiện của Viên Dung và Vô Ngại. Nhưng trước tiên, chúng ta hăy đọc qua một vài trang trong Kinh Hoa Nghiêm để có một cái nh́n toàn bộ về Pháp Thân - tính vô tận và toàn khắp của Phật Tánh. ... Đức Phật bảo Bồ Tát Tâm Vương: "Lành thay, lành thay. Nầy thiện nam tử. Nay ông muốn cho thế gian nhập vào nghĩa số lượng Phật đă chứng ngộ mà hỏi Như Lai. Thiện nam tử hăy lóng nghe. Khéo suy gẫm, Như Lai sẽ v́ ông mà nói: "Nầy thiện mam tử, một trăm lạc-xoa làm một câu-chi. Câu-chi lần câu-chi làm một a-giu-da. A-giu-đa lần a-giu-đa làm một na-do-tha. Na-do-tha lần na-do-tha làm một tần-bà-la. Tần-bà-la lần tần-bà-la làm một căn-yết-la. Căn-yết-la lần căn-yết-la làm một a-già-la. A-già-la lần a-già-la làm một tối-thắng. Tối-thắng lần ..... [và cứ theo cấp số như vậy chó đến] bất khả thuyết bất khả thuyết chuyển... "Bất-khả-ngôn-thuyết bất-khả-thuyết Sung măn tất cả bất-khả-thuyết...) Trong những kiếp bất khả ngôn thuyết' Nói bất khả thuyết chẳng hết được. Bất khả ngôn thuyết cảc cơi Phật Thảy đều nghiền nát làm vi trần Trong một vi trần, bất khả thuyết cơi! Như một, tất cả đều như vậy. (Bất khả thuyết cơi Phật trên đây... Nơi đầu sợi lông có những cơi Số đó vô lượng bất khả thuyết..." Tâm đó vô ngại bất khả thuyết (Biến hóa chư Phật bất khả thuyết... Quán sát chúng sanh bất khả thuyết Thanh tịnh chúng sanh bất khả thuyết... Nói tu-đa-la bất khả thuyết Nơi mỗi tu-đa-la kia Diễn nói pháp môn bất khả thuyết! Ở trong mỗi mỗi pháp môn kia Lại nói các pháp bất khả thuyết Ở trong mỗi mỗi chánh pháp kia Sở hữu quyết định bất khả thuyết. Ở trong mỗi mỗi quyết định kia Điều phục chúng sanh bất khả thuyết... Trong đó thời kiếp bất khả thuyết Trong đó sai biệt bất khả thuyết! Bồ Tát đều hay phân biệt nói Người giỏi tính đếm không biện được... Những cơi nước nầy bất khả thuyết Đồng nhóm đầu lông không chật hẹp Chẳng khiến đầu lông có thêm lớn Mà những cơi kia chung đến nhóm. Trên lông tất cả những cơi nước H́nh tướng như cũ không tạp loạn Như một cơi chẳng loạn các cơi Tất cả cơi nước đều như vậy..... Thân nghiệp thanh tịnh bất khả thuyết) Ngữ nghiệp thanh tịnh bất khả thuyết Ư nghiệp thanh tịnh bất khả thuyết Tín giải thanh tịnh bất khả thuyết Diệu trí thanh tịnh bất khả thuyết Diệu huệ thanh tịnh bất khả thuyết Rơ các thiệt tướng bất khả thuyết Dứt các nghi lầm bất khả thuyết Xuất ly sanh tử bất khả thuyết Siêu thăng chánh vị bất khả thuyết Tam muội thậm thâm bất khả thuyết Tỏ thấu tất cả bất khả thuyết... Bồ tát đại từ bi như vậy Lợi ích tất cả các thế gian Hiện khắp thân ḿnh bất khả thuyết... Bấy giờ Tâm Vương đại Bồ tát ở trong chúng hội bảo chư Bồ tát rằng: Chư Phật tử! Ở Ta bà thế giới, cơi của Thích Ca Mâu Ni Phật đây, một kiếp, nơi Cực Lạc thế giới, cơi của A Di Đà Phật, là một ngày một đêm. Một kiếp ở Cực Lạc thế giới là một ngày một đêm nơi Ca Sa Tràng thế giới, cơi của Kim Cang Kiên Phật. Một kiếp ở Ca Sa Tràng thế giới là một ngày một đêm nơi Bất Thối Chuyển Âm Thanh Luân thế giới, cơi của Thiện Thắng Quang Minh Liên Hoa Khai Phu Phật.... Chư Phật tử! Tuần tự như vậy , nhẫn đến quá trăm vạn a tăng kỳ thế giới, một kiếp ở thế giới rốt sau là một ngày một đêm nơi Thắng Liên Hoa thế giới, cơi của Hiền Thắng Phật. Phổ Hiền Bồ Tát và chư đại Bồ Tát đồng hạnh đông đầy trong thế giới Thắng Liên Hoa nầy... Chư Phật tử! Bực Bồ tát nầy trí huệ sáng suốt, thần thông tự tại, tùy tâm niệm của ḿnh có thể đem thế giới hẹp làm thế giới rộng, thế giới rộng làm thế giới hẹp, thế giới cấu uế làm thế giới thanh tịnh, thế giới thanh tịnh làm thế giới cấu, những thế giới loạn trụ, thứ trụ, đảo trụ, chánh trụ, tất cả vô lượng thế giới như vậy đều có thể đổi lẫn nhau... Chư Phật tử! Đại Bồ Tát trụ nơi Tam muội nầy, vô lượng cảnh giới nhiều thứ sai khác. Những là một nhập nhiều khởi, nhiều nhập một khởi, đồng nhập dị khởi, dị nhập đồng khởi, tế nhập thô khởi, thô nhập tế khởi, đại nhập tiểu khởi, tiểu nhập đại khởi, thuận nhập nghịch khởi, nghịch nhập thuận khởi, không thân nhập có thân khởi, có thân nhập không thân khởi, vô tướng nhập hữu tướng khởi, hữu tướng nhập vô tướng khởi, trong khởi mà nhập, trong nhập mà khởi... Đại Bồ tát trụ nơi tam muội nầy, trong đồng nhập định trong dị khởi, trong dị nhập định trong đồng khởi... Trong những đoạn Kinh trích trên, chúng ta thấy sự lan man và không hệ thống trong việc diễn tả cái Toàn Khắp của Phật tánh như đề cập trong Kinh Hoa Nghiêm - một tác phẩm lớn có trên năm trăm ngàn chữ. Tuy nhiên, từ những đoạn trích dẫn nầy, chúng ta cũng có được một chỗ đặt chân nhỏ để từ đó phân tích và t́m hiểu về Cảnh Giới Toàn Khắp (Pháp Giới) và Phật Tánh.) Trong những lời Đức Phật nói với Bồ Tát Tâm Vương (Cittarăja), chúng ta được nghe về sự rộng lớn của một thế giới mà nếu có thể diễn tả bằng những con số th́ vượt xa ngoài giới hạn của thế giới thường nghiệm. Đoạn Kinh cho ta một ấn tượng rằng tác giả đương nói từ bằng ngôn ngữ của ngành thiên văn hiện đại. Chữ dùng để nói đến số con số cuối cùng, bất-khả-thuyết bất khả-thuyết chuyển, quả thật thú vị và đáng để ư. Rơ ràng nó không phải là một chữ có tính chất ngẫu hứng để chỉ một một con số xác định và bất dịch, nhưng là một chữ có tính cách diễn tả, dùng để vẽ lại kinh nghiệm nội chiếu của một tâm thức rộng lớn. Bất Khả Thuyết Bất Khả Thuyết Chuyển có ư nghĩa ǵ? Tại sao một từ có tính cách gây ấn tượng như bất khả thuyết được dùng để chỉ một con số hay một số lượng. Những con số vô cùng lớn hay vô cùng nhỏ, bao gồm sự vô cùng ở hai chiều, có thể được khái niệm hóa một cách dễ dàng bằng những từ biểu tượng và trừu tượng, nhưng khó có thể kinh nghiệm hay xúc chạm một cách trực tiếp. Chúng ta không thấy khó khăn để hiểu ư tưởng về một triệu, một tỷ, ba tỷ, và ngay cả vô cực, nhưng rất khó khăn đối với chúng ta để nắm bắt được những con số đó trong những biến cố có tính cách thực nghiệm. Thế giới biểu tượng và trừu tượng khác với thế giới thực nghiệm và nội chiếu. Cái trước, một cảnh giới không trực tiếp, theo Phật Giáo là cảnh giới của Thức, và cái sau là cảnh giới trực tiếp, cảnh giới của Trí. Có thể nói rằng, trong Tâm của Phật, hai cái thấy nầy không phân biệt. Đức Phật Phật không bao giờ "suy nghĩ", nhưng luôn luôn "thấy." Có nghĩa là không có tiến tŕnh suy tư hay lư luận trong Tâm Phật; ngài luôn luôn ở trong cảnh giới thể nghiệm trực tiếp, một thế giới vượt ngoài biểu tượng. Tâm Phật vượt ngoài mọi biểu tượng, việc có thể truyền đạt kinh nghiệm của Ngài cho con người qua phương tiện của biểu tượng là một bí ẩn ngàn đời không thể nào giải thích được bằng lư giải. Nhưng nếu thất sự có sự hiện hữu của bí ẩn nầy, th́ cũng thật sự rằng nó không thể khác hơn là bất khả thuyết, một danh từ chỉ sự bất khả của việc đến gần một cái ǵ đó qua trung gian biểu tượng? Ng̣i bút của văn hào Leo Tolstoy có thể phơi bày toàn cảnh của cuộc chiến Borodina trong tâm thức của chúng ta, nhưng cây bút của ai có thể phơi bày những cuộc chiến Borodino, Normandy, Stalingrad, Verdun, Zama, Okinawa ... một ngàn lẽ một cuộc chiuến, tất cả trong cùng một lúc? Do đó việc Đức Phật đă phải dùng đến từ bất khà thuyết bất khả thuyết chuyển để giải tỏa sự "căng thẳng" trong việc truyền đạt kinh nghiêm "thấy" trực tiếp của Ngài về cảnh giới Viên Măn qua những phương tiện truyền đạt trong ngôn ngữ loài người không phải là không thể hiểu. Bất khả ngôn thuyết bất khả thuyết Sung măn tất cả bất khả thuyết.... Bất khả ngôn thuyết các cơi Phật Thảy đều nghiền nát làm vi trần Trong một trần bất khả thuyết cơi Như một tất cả đều như vậy... Nơi đầu sợi lông có những cơi Số đó vô lượng bất khả thuyết... Những gịng nầy cho ta liên tưởng đến Pensées của Pascal, trong đó sự quán chiếu của ông về thế giới Toàn Thể thật đáng chú ư. "Hăy để cho con người chiêm nghiệm cái toàn của thiên nhiên trong sự uy nghiêm tràn đầy và lớn lao của nó, và chuyển di cái nh́n của y khỏi những đối tượng thấp xung quanh y. Hăy để y nh́n thẳng vào ánh sáng chói ngời , như một một ngọn đèn vĩnh cữu, rọi sáng vũ trụ; để quả đất hiện ra trước y như một điểm nhỏ nhoi so sánh với cái ṿng tṛn lớn lao vẽ ra do mặt trời, và để cho y ngạc nhiên với sự việc rằng ṿng tṛn lớn lao nầy cũng chỉ là một điểm nhỏ so với những ṿng tṛn vẽ ra do các ngôi sao. Nhưng nếu cái thấy của chúng ta dừng lại chỗ đó, th́ hăy để cho trí tưởng của chúng ta vượt ra bên ngoài; năng lực thiên nhiên cung cấp nguyên liệu cho khái niệm sẽ không bù kịp sự khánh tận của năng lực khái niệm. Toàn thể thế giới thấy được chỉ là một nguyên tử không thể nhận thấy ở trong ḷng rộng lớn của thiên nhiên. Không có ư tưởng nào có thể ư niệm được nó. Chúng ta có thể mở rộng những khái niệm của chúng ta ra bên ngoài mọi không gian tưởng tượng; chúng ta chỉ có thể đưa ra những nguyên tử khi so sánh với thực tại của các sự vật. Đó là khối cầu vô hạn, mà trung ở khắp mọi nơi, chu vi không ở nơi nào.... Trở lại con người, hăy để con người thấy cái ǵ y là trong sự so sánh với với toàn thể hiện hữu; để y nh́n chính y mất hút trong cái góc xa vời đó của thiên nhiên, và từ tế bào nhỏ trong đó y t́m thấy chính y nương vào... hăy để y dự tính giá trị thật sự của quả địa cầu, các vương quốc, các thành phố, và chính y. Con người là ǵ ở trong Cái Vô Cùng? Nhưng hăy cho y nh́n thấy một sự kỳ diệu khác, cũng làm y kinh ngạc không kém: để y khảo sát những vật tế vi nhất mà y biết. Hăy đưa cho y một vật nhỏ, với một vật thể nhỏ và những phần rất nhỏ hơn nhiều, những tứ chi với mạch trong đó, máu trong mạch, dịch trong máu, giọt trong dịch, hơi trong giọt. Lại chia phần tử sau cùng nầy ra, hăy để cho y dùng hết năng lực của khái niệm, và để lại đối tượng cuối cùng mà chúng ta có thể với tới. Có thể y nghĩ rằng đây là điểm nhỏ nhất của thiên nhiên. Tôi sẽ làm cho y thấy trong đó một hố thẳm khác. Tôi sẽ vẽ cho y không chỉ vũ trụ thấy được, nhưng cái toàn thể mà y có thể nhận được, về sự bao la của thiên nhiên trong bào thai của nguyên tử rút nhỏ nầy. Hăy để cho y thấy bên trong sự vô hạn của những vũ trụ, mỗi cái có bầu trời của nó, những hành tinh của nó, quả địa cầu của nó, cũng cùng tỷ lệ như thế giới thấy được, trong mỗi địa cầu có thú vật, và trong những phần nhỏ cuối cùng, trong đó y sẽ thấy lại tất cả mọi thứ mà cái đầu tiên đă có, thấy trong những cái khác nầy cùng những sự vật, trải đến vô cùng và không chấm dứt. Hăy để cho y đánh mất chính y trong những kinh ngạc về sự nhỏ nhoi của chúng, cũng như những cái khác trong sự lớn lao của chúng. Đối với những người không cảm thấy kinh ngạc về sự kiện rằng cơ thể của chúng ta, một lúc trước không được nhận ra trong vũ trụ, lăi được nhận ra trong ḷng của toàn thể, giờ đây là một vật khổng lồ, một thế giới, hay là một toàn thể, đối với cái không mà chúng ta không thể với tới. Người nh́n chính ḿnh dưới ánh sáng nầy sẽ cảm thấy sợ hăi đối với chính y, và thấy chính trong cơ thể được thiên nhiên ban cho y, nằm giữa hai vực thẳm của Vô Cùng và Không, y sẽ run rẩy khi thấy những sự kỳ diệu nầy, và tôi nghĩ rằng, khi sự ṭ ṃ nầy được đổi thành sự chiêm nghiệm, y sẽ có khuynh hướng chiêm ngưỡng chúng trong im lặng hơn là khảo sát chúng một cách ngạo mạn. Trong thức tế, con người là ǵ trong thiên nhiên? Một Cái Không khi so sánh với Cái Vô Cùng, một cái Tất Cả khi so sánh với Cái Không, một trung gian giữa không và tất cả. Bởi v́ y hoàn toàn không biết ǵ về những cục điểm, và nhũng cái tận cùng của các sự vật, và sự khởi đầu của chúng bị che dấu một cách vô vọng trong một sự bí ẩn không thể bước vào; y cũng không thể thấy Cái Không mà từ đó y đă được tạo ra, và Cái Vô Hạn mà y bị nuốt trong đó y. Thế th́ y sẽ làm ǵ, ngoài việc biết được điểm giữa của những sự vật, trong một niềm thất vọng vĩnh viễn về việc biết được chỗ khởi đầu và chỗ tận cùng của chúng..." Những điều được tŕnh bày từ trước đến đây về Toàn Thể, cả cái nh́n của Pascal và Hoa Nghiêm, có thể được tóm lược như sau: giống như thái dương hệ chứa đựng những hành tinh của nó, hay một hành tinh chứa đựng những nguyên tử của nó, một vũ trụ "lớn hơn" luôn luôn chứa đựng những cái "nhỏ hơn", và ngược lại, được chứa đựng trong một vũ trụ lớn hơn chính nó. Hệ thống những thế giới cao hơn bao trùm những thế giới thấp hơn được mường tượng trong một cơ cấu bao gồm những "tầng lớp" mở rộng đến tận cùng ở cả hai chiều. Một vũ trụ có thể là rộng lớn vô tận hay nhỏ vô cùng, tùy thuộc vào tỷ lệ đo, hay vị thế từ đó đứng đo. Cái Toàn Thể, tóm lại, ở đây được vẽ ra là trùng trùng vô tận. Đến đây, chúng ta thấy rằng không có sự khác biệt giữa lối giải thích của Hoa Nghiêm về Cái Toàn Thể với lối giải thích của Pascal. Nhưng nếu chúng ta đọc thêm và nh́n rơ hơn, chúng ta thấy có sự khác biệt lớn giữa hai lối giải thích. Chúng ta hăy đọc Hoa Nghiêm: Những quốc độ vô tận không thể diễn tả Gom lại trên đầu một sợi lông của Phật Chúng không chật, không bị chèn ép (Đầu sợi lông cũng không lớn thêm... Trong đó tất cả Quốc độ vẫn nguyên vẹn Giống như khi chưa vào sợi lông... và: ... khi một vị Bồ tát chứng quả Thập Địa, ngài có thể nhập pháp giới mười cách... mang tất cả các thế giới đặt vào một sợi lông... Ở đây, chúng ta thấy rằng cả thời gian và không gian không c̣n có ư nghĩa và sức mạnh khi chúng ta hiểu và kinh nghiệm về chúng. Ở đây không chỉ là một sự trùng trùng vô tận, nhưng c̣n là một một sự trao đổi toàn khắp, một sự giải thoát hoàn toàn mọi chướng ngại. Ở đây là một sự thấm nhập và ḥa hợp của tất cả các thế giới, tất cả trong một và một trong tất cả, sự ḥa tan giữa hữu và vô, sự hội tụ của Không và hữu, một sự tương tương tức và tương nhập. Tuy nhiên tất cả những bí ẩn nầy về Toàn Thể bao hàm trong một nguyên lư căn bản: Tất cả vạn pháp duyên khở đều là không. Ngược lại với những lư thuyết về nhất nguyên hay đa nguyên, Giáo Lư Hoa Nghiêm, chứa đựng những sự kỳ diệu của Pháp Giới, được tŕnh bày không phải v́ cái một, nhưng v́ cái Không. Điều nầy cũng giống như nói rằng chính số không, không phải là số một, là nền tảng của tất cả các số. Chính bởi v́ Không hay Tánh Không (sunyata) mà có sự tương nhập và Vô-Ngại của các thấ giới. Toàn Thể có thể biểu hiện những khả tính vô tận mà không bị ngăn ngại. Tánh Không thật sự là bản thể, và mục tiêu của Phật Giáo, c̣n đôi khi được gọi là vô-ngă, vô-chấp, vô-trụ, Vô-Ngại, Không Tánh, thấu thoát, và cả hàng ngàn lẽ một tên gọi khác nhau. Nhấn mạnh vào phương diện "vô-ngă" của Tánh Không, chúng ta có Tiểu Thừa Phật Giáo; nhấn mạnh trên phương diện không của chân lư bí ẩn nầy, chúng ta có Trung Quán Phật Giáo; nhấn mạnh vào tánh vô-chấp, vô trụ, chúng ta có Thiền; và nhấn mạnh vào phương diện vô-ngại và toàn khắp, chúng ta có Hoa Nghiêm. Để tóm tắt những điều chúng ta được đọc trong những đoạn trích đẫn từ Kinh Hoa Nghiêm, chúng ta thấy rằng sự Viên Măn và Vô Ngại của Phật Tánh được diễn tả như sau: 1./ Một vũ trụ có thể rộng lớn vô biên hay nhỏ vô cùng tùy thuộc vào tỷ lệ hay vị trí đo lường. 2./ Vũ trụ "lớn hơn" chứa đựng những vũ trụ "nhỏ hơn" như thái dương hệ chứa đựng các hành tinh, hay các hành tinh chứa dựng các nguyên tử. Hệ thống những thế giới cao hơn bao trùm những cái thấp hơn được vẽ ra trong một cơ cấu kéo dài vô tận về cả hai chiều cho đến cực lớn và cực nhỏ. Điều nầy được gọi là trùng trùng vô tận theo cách nói của Hoa Nghiêm. 3./ Một vũ trụ "nhỏ" (như một nguyên tử) không chỉ chứa đựng vô số những vũ trụ "nhỏ hơn", nhưng cũng chứa đựng vô số vũ trụ "lớn hơn" (như thái dương hệ), và như vậy thiết lập nên một Toàn Thể Vô Ngại. 4./ Thời gian không c̣n ư nghĩa như chỉ là một khái niệm để đo lường chuổi những biến cố trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Giờ đây nó trở thành một yếu tố của Toàn Thể, tác động sự tương nhập và hàm chứa hoàn toàn của tất cả những biến cố quá khứ, hiện tại và tương lai trong cái hiện tại vĩnh cữu. 5./ Trên b́nh diện lớn của Pháp giới vô tận, vô lượng tuồng kịch khác nhau của các tôn giáo đang diễn ra trong nhiều phạm vi của không gian/thời gian xuyên qua tính vĩnh cữu.
|
|
|