TIN NHÂN  QUẢ - TẠO PHƯỚC ĐỨC -  SỐNG CHÂN THƯỜNG

 searchvn.net                                                                                                                            TRỞ VỀ

 
 

T́m hiểu hệ thống Bát Nhă và chủ đề tư tưởng của nó :Tánh không

Nguyễn Thế Đăng

 

Không phải là t́nh cờ mà mọi thời khóa nhật tụng đều có bài Bát Nhă Tâm kinh. Sự nhắc nhở thường xuyên về Tánh Không đó, là sự nhắc nhở giải thoát. Bởi v́ Tánh Không chính là giải thoát.

Hệ thống Bát Nhă và đối tượng nghiên cứu của nó là Tánh Không rất là quan trọng đối với tư tưởng nền tảng của đạo Phật. Quan trọng không phải v́ kinh điển về Bát Nhă chiếm khối lượng lớn nhất trong Đại Tạng (chỉ riêng bộ Đại Bát Nhă đă gồm 600 quyển 125.000 bài tụng), mà v́ Tánh Không được nói đến trong hầu hết kinh điển chính yếu và hầu hết tông phái. Kinh Hoa Nghiêm (làm căn bản cho Hoa Nghiêm Tông) nói trong chương thứ nhất (phẩm Thế Chủ Diệu Nghiêm) : ỀPhật nói pháp tánh đều vô tánh. Rộng lớn rất sâu chẳng nghĩ bànỂ. Kinh Pháp Hoa nói trong phẩm Pháp Sư: ỀPháp Không làm ṭaỂ. Trong kinh Lăng Nghiêm 25 vị từ A La Hán đến Bồ Tát chứng viên thông đều nhờ thấu đạt Tánh Không mà thành quả vị. Kinh Duy Ma Cật trong bài kệ tán thán đức Phật : Ề Đảnh lể Như Không vô sở yỂ. Tông Duy Thức - mà nhiều học giả cho là bất đồng ư kiến với Không luận tông - cũng nói trong Duy Thức tam thập tụng : ỀDựa trên ba tánh này. Lập ra ba vô tánh.Nên Phật mật ư thuyết. Tất cả pháp vô tánh Ề  Căn bản của Mật tông cũng là Tánh Không, kinh Đại Tỳ Lô Giá Na thành Phật - bộ kinh chánh của Mật tông - nói: ỀChữ A là chữ căn bản của mật chú, A có nghĩa là tất cả pháp chẳng sanh vậy. Bồ Đề là tất cả pháp vô tướng vậyỂ. Tịnh Độ tông, mục đích là sanh về Tây Phương cực lạc, ở cơi ấy vẫn lấy Tánh Không làm cứu cánh chứng đắc. Cơi Tây phương được diễn tả trongQuán Vô Lượng Thọ kinh như sau : ỀTám thứ gió mát từ quang minh xuất, khua động nhạc khí, diễn nói : khổ, Không, vô thường, vô ngăỂ.ỂSanh qua cơi ấy rồi, thấy sắc thân Phật và chư Bồ Tát đầy đủ các tướng tốt đẹp, rừng báu quang minh, diễn thuyết diệu pháp. Nghe rồi liền ngộ Vô sanh pháp nhẫnỂ (Vô sanh pháp nhẫn là chứng đắc Tánh Không)...

Chính v́ thế mà kinh Đại Bát NHă nói:Ể Y theo Bát Nhă này, người nào muốn thành Tu Đà Hoàn sẽ đắc quả Tu Đà Hoàn, muốn thành A La Hán sẽ đắc quả A La Hán, muốn thành Bích Chi Phật sẽ đắc quả Bích Chi Phật, muốn thành Bồ Tát sẽ đắc quả Bồ Tát, muốn thành Phật sẽ đắc quả Phật, cũng xuất sanh 12 bộ kinh từ tu đa la đến ba đề xá vậyỂ.

 

Tánh Không là sự vinh quang của đáo Phật. Đó là sự chiến thắng vinh quang của những con người đăỀSoi thấy năm uẩn đều Không, vượt khỏi mọi khổ áchỂđể đến Bờ Bên Kia( Ba la mật). Lời ca chiến thắng ấy đă được Đức Phật thốt ra trong buổi sáng giác ngộ:

Xuyên qua nhiều kiếp luân hồi, Ta miên man đi măi

Ta đi t́m măi mà không gặp, Ta đi t́m người thợ xây cất  căn nhà này

Lập đi lập lại sự xây cất trong sinh tử muộn phiền

Nay hởi người thợ làm nhà, Ta đă t́m được ngươi

Từ đây, ngươi không c̣n cất nhà nhốt Ta được nữa            

Tất cả sường vách đều găy, cây đ̣n dông ngươi dựng cũng bị phá tan

Như Lai đă chứng quả Vô Sanh Bất Diệt bằng tận diệt bằng mọi ái dục vô minh.

 

ỀNgười thợ làm nhàỂ đây là năm ấm (hay năm uẩn) xây cất nên căn nhà Ềthân tâmỂ lập đi lập lại trong sanh tử muộn phiền. Bằng Trí Huệ, Đức Phật đă Ềsoi thấy năm uẩn dệt nên toàn bộ thân tâm này đều KhôngỂ, khiến mọi ràng buợc đều tan biến, tất cả mọi cơ cấu xây cất đều bị phá tan, chứng đắc Vô Sanh Băt Diệt (mà các nhà Đại thừa gọi là chứng đắc Tánh Không).

 

Tánh Không là sự vinh quang của đạo Phật, là sự tự do tối thượng cho những ai thấu đạt nó. Nhưng cũng v́ cái chữ Không (viết hoa)ấy (như cửa Thiền được gọi là cửa Không), mà đạo Phật cũng chịu nhiều hiểu lầm, chê bai, bài bác: nào là chán đời, bỏ đời, bi quan, nào là tiêu cực, hư vô, viễn tưởng v.v...Chỉ nói riêng hai chữ sanh tử và giải thoát, có thể nêu lên vấn đề sanh tử là bi quan chăng? Dầu nói đến sanh tử hay không , th́ làm người ai cũng có ít nhất một lần sinh ra và một lần chết đi. Trái lại, không phải bằng thái độ lẩn tránh như con đà điểu rút đầu  dưới cát, mà bằng cách đối diện thẳng với vấn đề sanh tử, nh́n thẳng vào cơ cấu sanh tử, để thấy toàn bộ tánh cách duyên sanh của nó, mà tất cả nút thắt sanh tử đều mở phá. Đó là thái độ can đảm và thực tiển của đạo Phật. Thái độ đó, sự chiến thắng đó không phải chỉ diển ra một lần ở ĐứcPhật, mà c̣n xảy ra ở các vị A La Hán và Bồ Tát tiếp diễn về sau suốt cả chiều dài lịch sử của đạo Phật cho đến ngày nay.  

 

Thiết nghĩ, sự t́m hiểu về Tánh Không là sự quan trọng trong những ai muốn t́m hiểu đạo Phật, muốn có một khái niệm đúng về bản thể họa của đạo Phật, tự giải thoát ḿnh khỏi những điều mơ hồ cho đạo Phật là hư vô chủ nghĩa, là đạo chán đời...Không phải là không có ư nghĩa, khi bằng ngôn ngữ Tây phương, nhà học giả nổi tiếng về Trung Quán luận là T.R.V.Murti đă dịch Tánh Không bằng danh từ Thê Absolute (Tuyệt Đối thể) trong cuốn The central philosophy of Buddhism.

Sau đây, chúng ta sẽ t́m hiểu những ư nghĩa của Tánh Không để có một cái nh́n rơ hơn về Phật pháp. Nhưng sự t́m hiểu ấy chỉ là một phần rất nhỏ của cái mà hệ thống Bát Nhă gọi là văn tự Bát Nhă. Chỉ bằng Văn tự Bát Nhă, chỉ bằng sự mô tả, h́nh dung về Tánh Không, dầu có thuộc ḷng cả bộ Đại Bát Nhă, chúng ta cũng không thể thực sự hiểu Tánh Không. Tánh Không không thể hiểu được nếu chỉ có phần t́m hiểu về mặt văn tự (Văn tự Bát Nhă), Tánh Không chỉ có thể bắt đầu hiểu được khi chúng ta đi vào sự tu tập (Quán chiếu Bát Nhă) để thực chứng Thật Tướng Bát Nhă. Củng như quá tŕnh Văn, Tư, Tu của kinh Lăng nghiêm, ban đầu là Nghe (Văn), nhưng chỉ có nghe th́ chưa đủ, phải Suy nghĩ (Tư) và Tu hành (Tu) th́ mới hiểu được đáo Phật. Muốn đạt đến Thực Tướng Bát Nhă, có một hố sâu phải nhảy qua, hố sâu đó là sự thực hành Quán chiếu Bát Nhă.

Cái hố sâu của sự thực hành tiền quán đó, cũng là hố sâu ngăn cách khoa học với đạo Phật. Khoa học xét một cách nghiêm túc trong cái nh́n đạo Phật, chỉ nằm trong Văn tự  Bát Nhă, chỉ nằm trong phạm vi ư thức (tức là thức thứ 6, trong khi sự nghiên cứu của đạo Phật soi tận đến Tạng thức, tức là thức thứ 8). Bởi thế khoa học chưa có thể thay đổi một cách toàn triệt toàn bộ tâm thức, của con người để giải phóng nó ra khỏi 8 thức sanh diệt. Bởi thế mà nhà vật lư lư thuyết của trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp Basarab Nicolescu trong bài Khoa học và Truyền thống (Unesco 11-86) đă nêu lên một thắc mắc của hầu hết các nhà khoa học : ỀCách nh́n này (của truyền thống tôn giáo) về thế giới chẳng phải gần Người thợ làm nhàỂ đây l2 năm ấm (hay năm uẩn) xây cất nên căn nhà Ềthân tâmỂlập đi lập lại gũi với cách nh́n hiện đại của chúng ta đến mức đáng kinh ngạc đấy sao? Nhưng tại sao có sự chênh lệch giữa cuộc đời b́nh thường của con người hiện đại với sự hiểu biết hiện đại của y đến như thế Ề. Bằng khoa học hiện đại, con người đă hiểu rằng thế giới là liên tập, là một toàn thể tương giao, một thế giới sanh diệt trong từng phần triệu giây, thế mà con người ấy vẩn chẳng có ǵ thay đổi, vẫn cô lập, ích kỷ, vẫn ham chiếm đoạt cho riêng ḿnh, vẫn sợ chết, vẫn tự trói buộc lấy ḿnh y như thân phận của con người hồi Đức Phật c̣n tại thế,dầu sự tự trói buộc ấy thực hiện bằng những h́nh thức khác. Sự chênh lệch (chữ dùng của ông) giữa một bên là kiến thức khoa học và một bên là thói quen ù ĺ của tâm thức con người là một điều khoa học chưa thể giải quyết nổi, kể cả tâm lư học chiều sâu tức là phân tâm học.

Nếu cần trích thêm ở đây, chúng ta có thể nhắc đến nhà vật lư cơ học lượng tử R. Feynman, giả Nobel vật lư 1965, trong một cuốn sách về những vấn đề của vật lư hiện đại, ông đă kết luận rằng:ỂTrong tương lai gần, các định  luật vật lư sẽ được khám phá hết, khoa học vật lư sẽ chấm dứt nhiệm vụ, nhưng vẫn c̣n hai lănh vực đối với nhân loại, đó là lănh vực khoa học xă hội và ở trên nó là lănh vực triết học và tôn giáoỂ( Chỉ xin nói thêm, chữ Ềtôn giáoỂ đây, đối với đạo Phật là sự thực hành, v́ ngoài sự thực hành, không có đạo Phật)

Sự chênh lệch hay cái hố sâu ngăn cách giữa khoa học và đạo Phật chỉ có thể giải quyết bằng Thiền quán, nghĩa là bằng cách đem cái nh́n của khoa học về một thế giới biến chuyển trong từng khoảng khắc thời gian (nói theo danh từ PH là vô thường) vào trong chính ḿnh để tạo thành  cái nh́n của chính con người ḿnh (mà không phải cái nh́n của máy móc). Đưa một cái nh́n của khoa học về một vũ trụ sanh diệt trong từng sát na, để phát huy nơi chính ḿnh một cái nh́n đúng về con người và thế giới,lúc ấy con người mới có thể có một thế giới quan mới, một thế giới quan thoát khỏi tham sân si. Sự chênh lệch đó sẽ vượt qua bằng Quán chiếu Bát nhă để đạt đến thực Tướng Bát Nhă.

Qua nhận xét nhỏ nầy, chúng ta cũng thấy được giới hạn của sự t́m hiểu của chúng ta, sự t́m hiểu nằm trong Văn tự Bát Nhă, và nếu không có sự thực hành Quán chiếu Bát Nhă của chính mỗi người chúng ta th́ những điều t́m hiểu sau vẫn măi măi chỉ là văn tự, là một loại kiến thức, như kiến thức khoa học,, chẳng thay đổi chút nào con người bên trong của chúng ta. Chúng ta có thể nói về một thế giới sanh diệt trong từng niệm niệm (hay nói theo Bát Nhă th́ các pháp đều vô tự tánh), nhưng một hạt cát cũng làm cho chúng ta khởi ra một trời giận dữ; chúng ta có thể nói về một thế giới liên lập, tương dung tương nhiếp, trùng trùng duyên khởi, nhưng chúng ta chẳng bao giờ thoát khỏi bản ngă hư dối nhỏ hẹp và u mê thu góp của ḿnh.

Có lần , nhà bác học mở đầu cho vật lư hiên đại, Albert Eindtein nói một câu tưởng như đùa: ỀNgười ta phá vở một nguyên tử dễ dàng hơn phá vở một thành kiếnỂ. Phải chăng điều đó cũng đồngmột tư tưởng của đạo Phật mà Đức Phật đă nói ra: ỀChiến thắng một sự vật bên ngoài không bằng chiến thắng chính ḿnh. Sự chiến thắng chính ḿnh mới giải quyết tất cảỂ. Với Quán chiếu Bát Nhă, chẳng những cái thành kiến thô thiển thế gian ai cũng thấy được, mà các kiến chấp vi tế, những kiến chấp trói buộc không cho con người hưởng được sự tự do tối thượng, cái tự do vô thuỷ vô chung vốn là định mệnh của mỗi chúng sanh, tri giả, kiến giả, mạng giả, tác giả, khởi giả v.v...(phẩm Tam Giả) đều bị Trí Huệ Kim Cang Bát Nhă phá tan để đưa tất cả trở về Tánh Không bổn lai thanh tịnh, trong đó tất cả sanh tử, Niết Bàn, phàm thánh, giải thoát hay chẳng giải thoát v.v...đều chẳng thể được (phẩm Như Hoá ).

Tăt cả đều nhờ vào Bát Nhă Ba la mật.        

 

Copyright ©2005 FITEC & SearchVN. All rights reserved.