TIN NHÂN  QUẢ - TẠO PHƯỚC ĐỨC -  SỐNG CHÂN THƯỜNG

 searchvn.net                                                                                                                            TRỞ VỀ

 
 

T́m hiểu về Bát Nhă Không Tuệ Học

Nguyễn Thế Đăng

 

I.-Tánh không là tính cách duyên sanh của tất cả các pháp.(327)

Tính cách duyên sanh của tất cả các pháp được nói rơ trong đoạn đối thoại sau đây  của kinh Na Tiên Tỳ Kheo, một đoạn kinh mà hầu như tất cả chúng ta đều đă từng đọc qua. Xin trích ra đây v́ đặc điểm dễ hiểu và dễ nhớ của nó:

Vua Di Lan Đà hỏi đại đức Na Tiên:

- Đại đức nói không hề có cái ta và cái của ta như tà kiến và ngă chấp vẫn thường nhận lầm. Nếu không có cái ta th́ ai thâu nhận các món cúng dường, ai tham thiền nhập định, ai đắc quả và nhập Niết Bàn, ai giữ giới, ai phạm giới, ai tạo nghiệp... Như thế có kẻ giết đại đức cũng không phạm tội sát sanh chăng? Ngay cả các đạo hữu của đại đức gọi đại đức là Na Tiên cũng không có nốt? Na Tiên đó là ai, đại đức nghe rơ chứ?

-Tâu đại vương, bần tăng đă nghe rơ.

- Người nghe đó có phải là Na Tiên không?

- Tâu đại vương, không phải đâu.

- Thế th́ ai là Na Tiên? Cái ǵ là Na Tiên? Tóc trên đầu là Na Tiên chăng?

- Tâu đại vương, không phải.

- Lông, móng, răng, da, thịt, xương, gân... là Na Tiên chăng ?

- Tâu đại vương, không phải.

- Sắc, thọ, tưởng, hành, thức là Na Tiên chăng?

- Tâu đại vương, không phải.

- Hay năm uẩn sắc thọ tưởng hành thức họp lại là Na Tiên chăng ?

- Tâu đại vương, không phải.

- Hay ngoài năm uẩn ra, c̣n có cái ǵ là Na Tiên chăng ?

- Tâu đại vương, cũng không phải nốt.

Sau đó, đại đức Na Tiên hỏi nhà vua:

- Chẳng hay đại vương đến đây bằng bộ hay bằng xe?

- Bạch đại đức, trẫm đến bằng xe.

- Đại vương bảo ngài đến bằng xe, đó là ngài nói thật chứ?

- Bạch đại đức, trẫm nói chắc thật.

- Vậy xin đại vương cho bần tăng biết rơ về cái xe. Gọng xe có phải là xe không?

- Thưa không phải.

- Trục, bánh, căm, thùng, mui, gác chân... có phải là xe không?

- Thưa không phải.

- Hay tất cả các món ấy hợp lại và buộc chung là xe?

- Thưa không phải.

- Hay ngoài các món ấy ra, có một món nào khác gọi là xe?

- Thưa cũng không phải.

- Vậy cái ǵ là xe?

Vua không đáp được.

Sau đó đại đức kết luận: Đúng như lời nữ Tôn giả Vajirà đă bạch với Đức

Thế Tôn khi ngài c̣n tại thế: Ề Danh xưng xe sở dĩ có là do nhiều món đồ hợp lại mà giả thành. Nhiều thứ cơ thể hợp lại th́ giả thành một vật gọi tên là chúng sanhỂ.

Đó là điều được Bồ tát Long Thọ nói trong bài kệ:

            Các pháp nhân duyên sanh

            Tôi nói: tức là Không

            Cũng gọi là giả danh

            Củng là nghĩa Trung đạo.

Bằng thiền quán, một khi thấu đạt được tính cách duyên sanh này, mọi sự vật đều được nh́n thấy như là giả danh, giả hợp. Củng bằng cái nh́n trực quan ấy, các nhà Nam tông nói : ỀCác pháp vô ngăỂ, c̣n trong ngôn ngữ các nhà Đại thừa, th́:ỂCác pháp đều vô tự tánhỂ.

Tánh cách duyên sanh, vô ngă, vô tự tánh ấy được nói rơ hơn trong bài kệ:

            Cái này có th́ cái kia có

            Cái này không có th́ cái kia không có

            Cái này sanh th́ cái kia sanh

            Cái này diệt th́ cái kia diệt.

Nhưng chúng ta tự hỏi trong một thế giới mà tất cả đều duyên sanh, đều không có tự tánh, đều vô thường sanh diệt sanh diệt trong từng niệm niệm như thế, th́ đâu là khổ giải thoát, đâu là chỗ an thân lập mạng, đâu là chỗ quy về, đâu là ḥn đảo kiên cố giữa đại dương trùng trùng sanh tử ? Trong Ềba cơi đều chẳng anỂ, đâu là chỗ an toàn, đâu là cái mà kinh Lăng Nghiêm nói là Ềkhông tùy thuộc nhân duyên, chẳng phải nhân duyên, chẳng phải tự nhiênỂ? Chỗ giải thoát đó, cái Ềkhông phải nhân duyênỂ đó, đạo Phật gọi là Niết Bàn. Kinh điển Nam tông (kinh Udàna) nói về niết bàn như sau: ỀHỡi các Tỳ kheo, có cái không sanh, không khởi phát, không tăng mạo, không tùy thế. Nếu không có cái không sanh, không khởi phát, không tăng tạo, không tùy thế ấy ắt không có lối thoát nào cho cái có sanh, cái có khởi phát, cái có tăng tạo, cái có tùy thế. Bởi v́ có cái không sanh, không khởi, không tạo, không tùy thuộc điều kiện, nên mới có lối thoát cho cái có sanh, có khởi, có tạo, có tùy thuộcỂ.        

Cái Niết Bàn ấy được chứng nhập qua sự tu hành viên thông về nhĩ căn của Bồ tát Quán Thế Âm như sau (kinh Lăng Nghiêm): Ề Ban đầu ở trong cái nghe, vào ḍng mất đi tướng sở chỗ vào đă vắng lặng, hai tướng động tịnh rơ ràng chẳng sanh ra. Như vậy dần tiến thêm, cái nghe và chỗ nghe đều hết. Chẳng dừng lại nơi sự hết cái nghe và chỗ nghe, th́ năng giác sở giác đều không. Không giác cùng tột tṛn vẹn th́ năng không và sở không đều diệt. Sanh diệt đă diệt, tịch diệt hiện tiền. Tức th́ vượt khỏi thế gian lẫn xuất thế gian, tṛn sáng khắp mười phương, được hai đều tột bậc: Một là trên hợp với Bản Giác Diệu tâm của mười phương chư Phật, cùng với chư Phật Như Lai đ̣ng một sức Từ; hai là, dưới hợp với mười phương chúng sanh trong sáu nẻo, cùng với tất cả chúng sanh đồng một Bi ngưỡngỀ. Niết Bàn ấy chính là Tánh không của hệ thống Bát Nhă:Chỗ thâm áo đây, nghĩa của nó là Không, là Vô tướng, là Vô tác,Vô khởi, Vô sanh, Vô Nhiễm, là ly, là tịch diệt, là Như, là pháp tánh thiệt tế, là Niết Bàn. Những pháp trên đây cùng một nghĩaỂ (phẩm Thâm Áo).

Nếu không có cái Ềkhông sanh, không khởi, không tạo tác, không tùy thuộcỂ ấy nếu không có cái Ềsanh diệt đă diệt, tịch diệt hiện tiềnỂ ấy, th́ đạo Phật không thể xác nhận được chính ḿnh như là đạo xuất thế, và không có căn cứ cho sự tồn tại của chính ḿnh. Bởi v́ với Khổ đế và Tập đế, đạo Phật chỉ mới nêu lên vấn đề, và cách nêu lên vấn đề như vậy văn chương và các khoa học thế gian cũng đề cặp đến. Không có thêm Diệt đế và Đạo đế, nghĩa là không có sự giải quyết vấn đề, th́ đạo Phật cũng không có lư do để tồn tại.

Sức mạnh của đạo Phật nằm ở sự xác lập Niết Bàn, cái Niết Bàn không tùy thuộc sanh tử nên dầu ở trong sanh tử mà vẫn Niết Bàn, cái Niết Bàn siêu vượt khỏi cả Ềxuất thế gianỂ nên hằng Ềở cùng chúng sanh đ̣ng một Bi ngưỡngỂ. Và chúng ta cũng thấy qua lịch sử đạo Phật, những thời kỳ chánh Pháp hưng thịnh rực rỡ nhất là những thời kỳ trong đó có nhiều người con của Phật khẳng định được và xác lập được cái Niết Bàn đó ngay tại giữa thế gian này. Đó là điều kinh thường nói: ỀTịnh Phật quốc độ, thành tựu chúng sanhỂ, đó cũng là Tâm Ấn chư Phật, như ngài Bồ tát Quán Thế Âm đă diễn tả.

 

Il.-Không là sự trống rỗng của tất cả các pháp.(328)

Không (Sunya), Tánh Không (Sunyata) tiếng Anh là Void, Voidness), bao hàm nghĩa trống rỗng, trống không. Kinh điển Nam Tông nói:

ỀNày các Tỳ kheo, phàm có sắc ǵ (thọ tưởng hành thức ǵ)quá khứ hiện tại vị lai, trong hay ngoài, thô hay tế, vị Tỳ kheo như lư quán sát sắc, sắc ấy hiện ra trống không, hiện ra rỗng không, không có lơi cứng.   

            Sắc ví như đống bọt

            Thọ ví bong bóng nước

            Tưởng ví ráng mặt trời

            Hành ví như cây chuối

            Thức ví với ảo thuật

            Phật thuyết giảng như vậy

            Như lư nh́n các pháp

            Hiện rơ tánh trống khôngỂ.

            (Bọt nước-Phẩm Hoa-tướng Ưng Bộ Kinh tập I I I)

ỀMắt, các sắc, nhăn thức, nhăn xúc là không tự ngă. Này Ananda, v́ rằng thế giới là không tự ngă, không thuộc tự ngă nên thế giới là trống không, trống không là thế giớiỂ.

            (Trống không- Phẩm Channa- Tương Ưng Bộ Kinh tập I V- bản dịch của HT. Thích Minh Châu)

Thanh Tịnh đạo luận nói:ỂNgười ấy thấy thế giới hiện tượng như là trống rỗng, trống không, hư huyễn như làng xóm trống vắng, như ảo tượng, như thành Càn thát bà...Ể

            (Tuệ thấy các sắc là đáng sợ, bản tiếng Anh, trang 755)

Kinh Đại Bát Nhă nói: ỀNày Xá Lợi Phât! V́ sắc rỗng không nên không có tướng năo hoại, V́ thọ rỗng không nên không có tướng thọ nhận, v́ tưởng rỗng không nên không có tướng biết, v́ hành rỗng không nên không có tướng tác giả, v́ thức rỗng không nên không có thức tri giác. Này Xá Lợi Phất ! Tướng rỗng không của các pháp vốn chẳng sanh chẳng diệt, chẳng cấu chẳng tịnh, chẳng tăngchẳng giảm...

Bồ Tát tu tập đúng như vậy gọi là tương ứng với Bát Nhă Ba la mật.

            (Phẩm Tu tập đúng- HT. Thích Trí Tịnh dịch)

Sự nh́n thấy thực tướng của các pháp như vậy được đạo Phật gọi là Tuệ. Ví dụ như trước khi được quả thánh đầu tiên, quả Nhập Lưu, hành giả trải qua những phàm tuệ, như: tuệ thấy danh sắc là vô thường, khổ, vô ngă; tuệ thấy sự sanh diệt của các sắc; tuệ kinh sợ thấy tội lỗi của các sắc v.v... Tuệ là một cái biết vượt trên sự đối đăi của ư thức chủ thể và đối tượng khách thể, chỉ đạt được thiền quán. c̣n ở mức độ lờ mờ, ḍ dẫm của ư thức, chúng ta có thể h́nh dung sự trống rỗng của các pháp bằng những diễn tả của khoa học vật lư hiện đại, mặc dầu cái biết của ư thức th́ rất giới hạn v́ không thể vượt ra ngoài sự phân chia giữa chủ thể và đói tượng, và ư thức cũng không thể biết được chính nó, sự sanh khởi và diệt mất của chính nó, đây là đ́ều phải nhờ thiền quán.

Nhà khoa học John W Garner viết trong cuốn nguyên tử hôm nay và ngày mai: ỂCác thí nghiệm, tính toán của Rutherford và Bohr đă chứng minh một cách rơ ràng đến kinh ngạc rằng nguyên tử chủ yếu là khoảng không trống rỗng. Nếu như đường kính hạt nhân là 15cm th́ với tỷ lệ đó, các electron gần nhân nhất cũng cách hơn 1km5, c̣n khoảng giữa đó là chân khôngỂ.

Với một cái nh́n ở mức độ nguyên tử như vậy, một bức tường sẽ là trống rỗng, v́ phần vật chất Ềcứng đặcỂ là quá nhỏ so với khoảng không, cũng như toàn bộ vũ trụ gần như trống rỗng v́ mật độ vật chất quá răi rác.

Theo Duy thức học, tùy theo nghiệp thức của mỗi loại chúng sanh mà thế giới của mỗi loài hiện ra sai khác. V́ tâm thức của chúng ta được cấu tạo như vậy, th́ thế giới hiện ra với chúng ta là cứng đặc, trong khi ở mức độ nguyên tử, th́ thế giới gần như là trống rỗng. Như con mối th́ thế giới của nó chỉ là một chiều, một bề mặt bằng phẳng, dầu là đứng trước bức vách. Con chó th́ chỉ thấy có hai màu đen trắng. Có những âm thanh và màu sắc siều tần mà con người không thể nghe, thấy. Con người chỉ cảm nghiệm được một hệ thống không - thời gian 4 chiều, c̣n có thể có các hệ thống nhiều chiều hơn th́ đành không thể biết. Trong thiền định,

con người kinh nghiệm những thế giới khác lạ so với giác quan thường nhật, ví dụ khi đưa tâm thức đến định ỀKhông vô biên xứỂ, thế giới chỉ c̣n là mộtỂhư không vô biênỂ,đến định ỀThức vô biên xứỂ, và với sự an trú lâu dài trong định đó, cái nghiệp ấy sẽ đưa người ấy đến cơi TrờiỂThức vô biên xứỂ tương ứng với loại tâm thức thiền định như vậy.

Chúng ta không đi xa hơn, nhưng qua vài nhận xét đó cũng cho chúng ta thấy rằng, với một tâm thức đượcỂtinh luyệnỂhơn,Ểtinh viỂ hơn, Ềtrong sạchỂ hơn, sự việc thế giới hiện ra là trống rỗng không phải là chuyện hoang đường. Và mặc dầu thấy được sự trống rỗng của tất cả các pháp chỉ là bước đầu của Trí Huệ bát Nhă, cũng đủ chữa lành cho mọi căn bệnh khổ đau v́ tham đắm, bám chấp, v́ các căn bệnh tham sân si vốn là Ềtính tự nhiênỂ của chúng sinh ở cơi Dục giới này.

Ill.-Không là sự vô thường của tất cả các pháp.

Vô thường là một trong ba pháp ấn của Nam tông, trong bất kỳ đoạn kinh nào của Nam tông cũng thấy nói đến vô thường. Ở đây, xin trích ra ít đoạn kinh Đại thừa nói về vô thường.

Kinh Đại thừa vô lượng nghĩa nói:ỂRồi lại quán kỷ tất cả các pháp:niệm chẳng dừng, sát na sanh diệt. Lại thấy sanh, trụ, dị, diệt xảy ra đ̣ng thờiỂ.

Kinh Nhân Vương  Hộ Quốc Bát Nhă Ba La Mật đă nói. ỀV́ pháp tánh là Không vậy. Thế tức là sắc thọ tưởng hành thức, 12xứ, 18 giới, phàm phu, 12 nhân duyên, 2 đế, 4 đế. tất cả đều Không . NHững pháp ấy, sanh ngay diệt ngay, vừa có vừa không, mỗi mỗi sát na liên tục như vậy. Trong một niệm có 90 sát na, trong một sát na trải qua 900 lần sanh diệt, cho nên tất cả các pháp hữu vi đều là không vậyỂ.

Luận Đại Trí Độ nói:ỂCác pháp luôn luôn biến đổi, không một thứ ǵ có thể tồn tại trong hai sát na liên tiếpỂ.                   

Cũng bằng những diễn tả khoa học hiện đại, chúng ta có thể mường tượng phần nào về cái gọi là Tuệ thấy sự sanh diệt của danh sắc:

Electron, hạt quyết định tính chất đặc tính của nguyên tử, quay quanh hạt nhân với tốc độ hơn 160.000km/giờ.Thế giới nguyên tử là thế giới chuyển động và sanh diệt với tốc độ chóng mặt. Người ta đă biết hàng trăm hạt cơ bản đời sống chỉ ngắn ngủi từ **10-17--10-19*giây và sau đó phân ră thành hạt khác. Ddời sống của hạt Mezon-pi chỉ là 10-23* giây. Proton, hạt thuộc loại Ềvững chắcỂ nhất, không bao giờ biến mất mà chỉ biến đổi, th́ theo sự diễn tả của giáo sư la Smorodinsky: ỀProton là một xoáy nước dữ dội trong đó các Mezon-pi liên tục sanh ra và biến mất. Ngoài Mezon-pi, các phản nucleon xuất hiện và mất đi ở giữa cái mà chúng ta gọi là ProtonỂ.

Thiết tưởng, sự t́m hiểu về cơ cấu vật chất không trải ngược mà c̣n bổ ích cho sự t́m hiểu về tánh Không, v́ kinh Đại Bát Nhă nói: ỀPhân biệt, tính lường, phá hoại tất cả pháp đến vi trần, trong đó chẳng được cứng chắc, do nghĩa này mà gọi là Bát Nhă Ba La MậtỂ(phẩm Tam huệ).

Thế giới nguyên tử là một thế giới vô cũng chuyển động và sanh diệt trong từng sát na và thay v́ nói rằng thế giới là chuyển động và vô thường, th́ bằng một cái nh́n học Phật sâu sắc, chúng ta phải nói rằng: chính sự chuyển động vô thường (của sắc thọ tưởng h́nh thức) đă tạo thành thế giới.                                  

Qua đến thế giới hữu cơ sinh vật cũng thế. Trong một ngày có bao nhiêu hồng huyết cầu chết và được thay thế, v́ trong một tuần hoàn hồng huyết cầu đều được đổi mới. Có bao nhiêu tế bào óc trong khoảng 2 tỉ nơ-rôn chết đi và không được thay thế?

trong thế giới của thức cũng thế, một giây có bao nhiêu niệm tưởngsanh ra và diệt mất? Ngay cả thức thứ tám, thức căn bản của toàn bộ thân tâm sanh tử mà ta không hề biết ( mà ngoại đạo thấy là đúng lặng nên cho đó là Thần Ngă), thức ấy cũng chuyển trôi như ḍng nước chảy xiết. Đức Phật nói về cái thức căn bản ấy như sau:

            Thức Đà Na vi tế

            Hằng chuyển như nước xiết

            Sợ người chấp làm Ngă

            Ta thường chẳng khai diễn

KẾT: Đạo Phật thấy rằng tất cả cơi đều rỗng không, vô ngă, sanh diệt trong từng niệm niệm. Cái thấy ấy phải gây ra sợ hăi và phản ứng đối với chúng sanh cố chấp trong cái ta và cái của ta, như kinh đă nói trước. Từ đó mà cho rằng đạo Phật

chán đời. Đạo Phật dạy phải thấy Ềtất cả pháp hữu vi, như mộng huyễn bào ảnh, như sương như điển chópỂ. Cái thấy ấy không bị giới hạn trong năm huẫn của cơi này, không bị giới hạn trong khoảng một đời người, mà đó là cái thấy ở tầm mức vũ trụ, nên nó cũng không phải bị quan, không phải lạc quan. Khi đạo Phật nói Ềchúng sanh ở trong vô thường mà cho là thường, trong bất tịnh mà cho là tịnh, trong vô ngă mà cho là ngă, trong vô sanh mà cho là sanhỂ, hay khi nói Ềcác chúng sanh do khả ái của ḿnh, như con nai khát nước chạy theo bóng nắng mà tưởng là ḍng suốiỂ, điều đó cũng không phải là chán đời. Và trước một sự việc như con nai khát nước chạy theo bóng nắng mà tưởng là ḍng suối, người đúng lại không phải là người bi quan, chán đời, mà chỉ là người trí. C̣n người tiếp tục chạy cuồng bám đuổi theo cái vọng tưởng điên đảo rỗng không của ḿnh đâu có phải là người Ềlạc quan, tích cựcỂ ǵ đâu, mà chỉ là người si mê đáng thương vậy.

(329)Trong những bài trước, chúng ta đă t́m hiểu Tánh Không chủ yếu theo hệ thống Nguyên thuỷ và Đại thừa thủy giáo, chú trọng đến việc quan sát các hiện tượng, khảo sát theo mặt h́nh tướng để từ tướng đi vào Tánh. Từ đấy chúng ta t́m hiểu Tánh Không theo cái nh́n của Đại thừa chung giáo, Đại thừa rốt ráo, nghĩa là đi thẳng vào Tánh Không, không dựa vào tướng khách thể cũng như ư thức thể, không qua một quá tŕnh phân tích các tướng để t́m ra Tánh.

Chắc cũng v́ vậy mà sự việc khó hiểu hơn, v́ không c̣n nương vào thức và tướng để t́m hiểu, như một Thiền sư Tào Động hiện đại của Nhật đă nói:ỂChỉ có trí huệ mới t́m thấy Trí HuệỂ (Shunryu Suzuki- Zen Mind, beginner's mind). Âu cũnglà nhờ một nỗ lực nghiêm túc phi thường nào đó, một trực quan nào đó về cái Toàn Thể, mà chúng ta có thể đi vào Đại thừa. Nếu không, chúng ta sẽ không tương ứng được, mà đă không thông cảm được th́ dĩ nhiên là hiểu lầm. Ví dụ như Đại thừa nói:ỂTất cả pháp hữu vi, như mộng huyễn bào ảnh...Ể th́ chúng ta nghĩ ngay PG Đại thừa là chán đời, là tiểu cực, là hư vô, là một thứ học thuyết Lăo Trang nào đó. Nhưng với người hiểu biết, th́ cái mộng huyễn bào ảnh đó là sị tích cực, là hư vô, là một thứ học thuyết Lăo Trang nào đó. Nhưng với người hiểu biết, th́ cái mộng huyễn bào ảnh đó là sự tích cực nhất đối với tất cả ba cơi, sự tích cực đó đă chứng tỏ trong cuộc đời của các vị Thiền sư, các vị Bồ tát. Phải nhờ một cái hiểu biết thực sự nào đó để đi vào Đại thừa. Ví dụ trong kinh Viên Giác, khi muốn thâm nhập vào Viên Giác bằng 3 pháp Chỉ, Quán và Thiền, người ta phải biết Tánh Viên Giác thanh tịnh là cái ǵ: ỀNếu các Bồ tát ngộ Viên Giác thanh tịnh, th́ y vào cái giác tâm thanh tịnh này mà biết tâm thức cùng căn trần đều do huyễn hóa, bèn khởi các huyễn để trừ các huyễn... Do quán thấy huyễn mà **bèn* trong bèn phát ra đại bi khinh anỂ. Thế nghĩa là ngộ tánh Viên Giác rồi mới bắt đầu thực tu pháp Quán.

PHẩm thứ 2 của Đại Bát Nhă cũng nói :ỂBồ tát tu tập đúng như vậy (đúng theo Tánh Không), đây gọi là tương ứng với Bát Nhă Ba La MătỂ. Phải biết tánh Không thực sự là ǵ th́ mới tu tập Ểđúng như vậyỂ được, để mà tương ứng với Bát Nhă Ba la mật.                   

Củng v́ vậy, nên trong những đoạn sau, khi t́m hiểu về Tánh Không, chúng ta không trích dẫn chứng minh bằng các thí dụ, lư luận vọng lập của ư thức thế gian, mà chỉ trích ra những đoạn kinh khác để t́m một sự tương đồng, hầu có thể tiếp tục công việc t́m hiểu.          

 

lV- Tánh không là sự không thật có, không thể nắm bắt, vô sở hữu, Bất khả đắc của tất cả các pháp.

Những thành ngữ như vô sở hữu, bất khả đắc, tất cánh không, tất cánh viễn ly, vô sở trụ, không thủ không xă... hầu như trong bất kỳ trang nào của Đại Bát Nhă cũng có, để chỉ tính cách không thật có, không thể nắm bắt, như huyễn, như mộng của tất cả ba cơi. Đễ giải thích tính cách này có lẽ thành ngữ Ềdường như hoa đốm giữa hư không của kinh Viên Giác là cụ thể, trực tiếp và dễ hiểu nhất:

ỀTăt cả chúng sanh từ vô thủy đến nay đủ thứ điên đảo, giống như người mê, lẫn lộn bốn phương, vọng nhận bốn đại làm thân tướng của ḿnh, bóng dáng duyên ảnh sáu trần làm tâm tướng của ḿnh, ví như con mắt bệnh thấy giữa hư không có hoa đốm và thấy có mặt trăng thứ hai.

Hư không vốn thật chẳng bao giờ có hoa đốm chỉ là người bệnh vọng chấp. Do vọng chấp cho nên chẳng những không biết được tự tánh của hư không mà c̣n lầm cho là hoa đốm thật có sanh. Do cái Ềthấy - cóỂ hư vọng đó mới  luân chuyển sanh tử. Thế nên gọi đó là vô minh.

Cái vô minh ấy không có thật thể. Như người trông mộng đến khi tỉnh dậy mới biết là không chỗ có. Như các hoa đốm trong hư không diệt mất giữa hư không, chẳng thể nói là có chỗ diệt mất. V́ sao thế? V́ không từng có chỗ sinh ra. Hết thảy chúng sanh vẫn ở trong chính cái Vô sanh mà vọng thấy có sanh diệt, thế nên gọi là sanh tử luân hồiỂ. (Chương 1- Phẩm Văn Thù).

Trong chương 2, phẩm Phổ Hiền kết luận:

ỂBiết huyễn tức ĺa, chẳng khởi phương tện. Ĺa huyễn tức giác, cũng không thứ lớpỂ.

Kinh Lăng nghiêm nói về sự vô sở hữu, như không hoa này như sau:

Chân tánh, hữu vi không

Duyên sanh nên như huyễn

Vô vi, không khởi diệt

Chẳng thật như không hoa

Ở giữa không thật tánh

Giống như lau gác nhau

Buộc, mở đồng một nhân

Thánh phàm không hai lối

Hăy xem tánh giao nhau

Có, không đều chẳng phải

Mê lầm là vô minh

Rơ thông đều giải thoát.

Chúng ta có thể kết luận cho ḿnh rằng:Nếu biết tất cả pháp là hoa đốm vọng có sanh diệt giữa hư không, tức th́ biết ngay được Tánh Không bổn lai thanh tịnh.

Bài kệ mở đầu kinh Lăng Già gồm trọn ư nghĩa toàn bộ kinh của Bồ tát Đại Huệ tán thán Đức Phật, bậc viễn ly tối thượng, bậc chứn gđược ỀNiết bàn sanh tử chỉ là giấc  mộng ngày hôm quaỂ có thể kết luận cho đọan này:

Thế gian ĺa sanh diệt

Như hoa trong hư không

Trí chẳng đắc có, không

Mà hưng tâm đại bi.

Tất cả pháp như huyễn

Xa ĺa khỏi tâm thức

Trí chẳng đắc có không

Mà hưng tâm đại bi

Xa ĺa hẳn đoạn, thường

Thế gian hằng như mộng

Trí chẳng đắc có không

Mà hưng tâm đại bi

Rơ nhân pháp vô ngă

Phiền năo và sở tri

Thường thanh tịnh vô tướng

Mà hưng tâm đại bi

Tất cả không Niết Bàn

Xa ĺa giác, sở giác.

Hoặc có hoặc không có

Tất cả thảy đều ĺa

Quán Mâu Ni tịch tĩnh

Ấy tức xa ĺa sanh

Củng gọi là chẳng thủ

Đời này đời sau Tịnh

V- Tánh Không nghĩa là tất cả pháp không sanh

Kinh Đại Bát Nhă, phẫm Vô sanh:ỂNgài Tu Bồ Đề nói: Sắc chẳng khác vô sanh, vô sanh chẳng khác sắc. Sắc tức là vô sanh, vô sanh tức là sắc. Bạch Thế Tôn! Nếu Bồ Tát thật hành Bát Nhă BLM quán các pháp như vậy thời thấy sắc không có sanh, v́ rốt ráo tịnh vậy. Thấy thọ tưởng hành thức không có sanh, v́ rốt ráo tịnh vậy. Nhẫn đến thấy Phật và Phật Pháp không sanh,v́ rốt ráo tịnh vậy.Ngài Xá Lợi Phất nói: Cứ theo nghĩa của Tu Bồ Đề nói mà tôi được nghe th́ sắc là chẳng sanh, thọ tưởng hành thức là chẳng sanh, nhẫn đến Phật và Phật pháp là chẳng sanhỂ.

ỀTất cả các pháp rốt ráo không sanhỂcâu kinh được lập đi lập lại trong suốt bộ Đại Bát Nhă. Đó là câu thần chú đưa người tu học đến Vô sanh pháp nhẫn, đến Bờ bên kia của bậc Băt thối chuyển, là tâm ấn của chư Phật ba đời: ỀĐức Phật dạy : Đại Huệ!ỂTất cả pháp chẳng sanhỂ đó là đều chư Phật ba đời đồng nóiỂ (Lăng Già quyển 2)                

Mở rộng thêm, chúng ta đọc thấy trong kinh Bồ Tát kiến thiệt: ỀTự thể các pháp chẳng phải từng có, sẽ có, hiện có. Như bóng trong gương chẳng phải có không, tự thể của sắc cũng vậy, chẳng phải đă có, sẽ có hay hiện có. Này Đại vương! Sắc không có sanh cũng không có diệt, thọ tưởng hành thức không có sanh cũng không có diệt, như Niết bàn giới không có sanh không có diệt vậyỂ.

Biết tất cả pháp đang sanh tức chẳng sanh, đó là:ỂQuán Mâu Ni tịch tĩnh, ấy tức xa ĺa sanh, cũng gọi là chẳng thủ, đời này đời sau tịnhỂ, như bài kệ Lăng Già nói ở trên.

Chứng biếtỂtất cả pháp không sanhỂ tức là chứng đắc Vô sanh pháp nhẫn : Đức Phật dạy:Thật không có người nào ở trong pháp sanh mà được Vô sanh Sanh Pháp nhẫn. V́ không đắc không thất, do đây mà được Vô sanh pháp nhẫn. Lại nầy Văn Thù Sư Lợi! Vô sanh Pháp nhẫn đó, là : v́ tất cả pháp vô sanh nên nhẫn như vậy, v́ tất cả pháp không đi không đến nên nhẫn như vậy, v́ tất cả pháp vô thủ vô xă nên nhẫn như vậy,v́ tất cả pháp vô sở hữu, không có thật nên nhẫn như vậy, v́ tất cả pháp vô nhiễn như hư không nên nhẫn như vậy, v́ tất cả phápKhông, Vô tướng, Vô nguyện nên nhẫn như vậy, v́ tất cả pháp Như, như pháp tánh thiệt tế nên nhẫn như vậy, v́ tất cả pháp vô phân biệt, vô tươngưng, vô ức niệm, vô hư luận, vô tư duy nên nhẫn như vậy, v́ tất cả pháp vô tác vô lực hư vọng như ảo như mộng như bóng như vang như ảnh tượng như cây chuối rỗng như tụ mạt như bọt nước nên nhẫn như vậy. Nói mà nhẫn mà không có ai nhẫn và cái ǵ để nhẫn, danh từ ấy cũng bất khả đắc, bổn tánh tự ly. Nói nhẫn như vậy, tin hiểu thích vào, không nghi hoặc, không kinh sợ, không động mất, đầy khắp nơi thân rồi chánh thọ mà hành, chẳng chẳng được thân ḿnh cũng không chỗ trụ. Đây  gọi là Bồ tát ở trong các pháp được vô sanh nhẫn cho đến chẳng hành tất cả tưởng vậy (Pháp hội Thiện Trụ ư thiên tử, phẩm thứ 6).

Đó là chỗ kinh Duy Ma nói: ỀCác pháp rốt ráo chẳng sanh chẳng diệt, đó là nghĩa vô thường. Năm thọ ấm trông rỗng, không, không có chỗ khởi, đó là nghĩa khổ. Các pháp rốt ráo không chỗ có, đó là nghĩa Không. Nơi ngă và vô ngă trọn chẳng thấy hai; đó là nghĩa vô ngă. Pháp xưa chẳng khởi, nay cũng chẳng diệt, đó là nghĩa Tịch DiệtỂ

Đó là chỗ kinh Vô Lượng Nghĩa nói:ỂTất cả các pháp: tánh-tướng bổn lai không tịch, chẳng đến chẳng đi, chẳng sinh ra, chẳng diệt mấtỂ

Đó là chỗ kinh Pháp Hoa nói:ỂChư pháp tùng bổn lai, thường tự tịch diệt tướngỂ.

Trong kinh Potthapada thuộc Trường Bộ kinh, khi có một Bà la môn ngoại đạo hỏi đức Phật về sự sinh thành của thế giới, thế giới c̣n măi măi hay sẽ diệt mất, diệt rồi có lại sanh ra nữa chăng v.v...Đức Phật đă không trả lời.

Đức Phật đă không trả lời v́ những lư do ở trên.

Không trả lời, v́ tất cả pháp rốt ráo không sanh vậy.

Không trả lời, v́ tất cả pháp rốt ráo Tịch Diệt, rốt ráo Niết Bàn vậy.

Không trả lời, v́: Ềbổn lai vô nhất vậtỂ vậy.

 

Vl- Tánh không là tánh của tất cả các pháp(332)

Chân Không chính là Chân Như,  đó là kết luận của kinh Đại Bát Nhă. Tánh Như, Chân Như, Như Như là để dịch chữ Tathata. Củng từ chữ Như (Tatha) này mà có danh từ Như Lai (Tathagata), Như Lai Tạng (Tathagatagarbha)...

Một lần nữa, chúng ta phải nhắc lại rằng ư thức không thể nào hiểu được Tánh Không, Tánh Như. Chỉ có Trí Huệ mới hiểu được Chân Không là Chân Như. Ư thức không thể nào hiểu được danh từ trông ra vẽ trái ngược nhau, đều chỉ biểu thị một thực tại. Làm sao có thể vừa nói Tánh Không là vô thường, nhân duyên sanh, vô tự tánh, rỗng không... lại vừa nói Tánh Không là Chân Như. Nếu không có Trí Huệ, th́ đạo Phật dường như mâu thuẩn: tại sao cái Thực Tại ấy chỗ th́ nói là Tánh Không, chỗ th́ nói là Phật Tánh (kinh Niết Bàn), chỗ th́ nói là trống rỗng, chỗ th́ nói là Thật Tướng, chỗ th́  nói là Như Huyễn, chỗ th́ nói là Chân Như, chỗ th́Ểtất cả pháp vô ngăỂ,chỗ th́ tất cả chúng sanhđều có Phật tánhỂ, chỗ th́ nói là Vô tâm (kinh Kim Cang), chỗ th́ nói là Nhật Tâm (kinh Hoa Nghiêm)... Nếu không có trí huệ tổng tŕ th́ chúng ta thấy các ư niệm ấy đều đối chọi nhau, thấy các tông phái đều trái nghịch nhau. Đức Phật đă nói: Pháp Phật chỉ có một vị, một nghĩa.Kinh điển cũng nói: Chư Phật ba đời đều  đồng một lời, đồng một miệng mà truyền thuyết Phật pháp. thế nên nếu có sự trái nghịch nhau, đói chọi nhau giữa các kinh điển, giữa các tông phái th́ phải hiểu đó chính là sự mâu thuẫn lưỡng biên của ư thức phân biệt giới hạn của chúng ta, c̣n trong Trí Huệ tổng tŕ, th́ tất cả kinh điển đều cũng một vị (như nước đại dương đều cùng một vị), tất cả các thừa đều ở trong Nhất Thừa, do từ một miệng, một lời của chư Phật, chư Tổ nói ra.

*

Tánh Như là tính cách không biến đổi, không sanh không diệt, b́nh đẳng nhất như, thanh tịnh một vị,tịch diệt không hai, thường trụ bất động của tất cả các pháp. Băc chứng đắc rốt ráo Tánh Như được gọi là Phật: Ề Chư Đại Bồ tát học Như đó được Nhất thiết chủng trí, được gọi là Như LaiỂ (kinh Đại Bát Nhă, Phẩm Đạo Thọ). ỀĐức Phật  rơ sắc tướng như là Như Tướng: chẳng hoại không phân biệt, không tướng không nhớ ghi, không hư luận,không đắc; sắc tướng cũng vậy, cũng chẳng hoại nhẫn đến cũng không đắcỂ (Phẩm Phật Mẫu).

Đức Phật biết rơ tất cả pháp Như Tướng, đó là cái biết rốt ráo của viên thành thật tánh, vượt khỏi vọng tưởng của Y tha khởi và Biến thế sở chấp, đó là cái biết Như Như trong 5 pháp danh, tướng, vọng tưởng, chánh trí, Như Như của kinh Lăng Già. Biết rơ tất cả pháp Như tướng, đó là cái chánh kiến Như Thị (Tatha), Như Thực (yathablutam) của Tri Kiến Phật.

ỀCó Phật hay không có Phật, tánh tướng vẫn thường trụ. V́ đắc tánh tướng đúng như thật mà Đức Phật được gọi là Như LaiỂ (Phẩm Văn tướng).

Tất cả pháp Như Tướng là :ỂSắc tướng Như, nhẫn đến Nhất thiết chủng trí tướng Như, một Như không hai không khác. Đức Như Lai tướng Như  chẳng lai chẳng khứ, Tu Bồ Đề tướng Như chẳng lai chẳng khứ. Như Lai tướng Như tức là tất cả pháp tướng Như, tất cả pháp tướng Như tức Như Lai tướng Như. Laị đức Như Lai Như là tướng thường trụ, Tu Bồ Đề Như cũng là tướng thường trụ. Như Lai tuớng Như không có chỗ ngại, tất cả pháp tướngNhư cũng không có chỗ ngại, đây là Như Lai tướng Như cùng tất cả pháp tướng Như là một Như không hai không khác. Tướng Như này vô tác, vô niệm, vô biệt, chẳng quá khứ chẳng hiện tại chẳng vị lai, các pháp Như tướng cũng vô tác, vô niệm, vô biệt, chẳng quá khứ chẳng hiện tại, chẳng vị lai (Phẩm Đại Như).

Kinh Kim Cang Nói:ỂNhư Lai là :tất cả pháp nghĩa NhưỂ.

Như là nghĩa Tịch Diệt : ỀBát Nhă ba la mật hiển thị Phật, thế gian tịch diệt. Hiển thị ngũ ấm thế gian tịch diệt nhẫn đến hiển thị nhất thiết chủng trí thế gian tịch diệtỂ.(Phảm Vấn Tướng).ỂNày tu Bồ Đề! V́ tướng duy nhất mà gọi là Nhất thiết chủng trí: đó là tất cả pháp tịch diệt tướngỂ(Phẩm Tam Huệ).

Như là các pháp vốn rốt ráo giải thoát v́ b́nh đẳng như mộng huyễn:ỂSắc không phược (trói buộc) không thoát, thọ tưởng h́nh thức không phược không thoát. Tất cả các pháp đều không phược không thoát. v́ là vô sở hữu, là ly, là tịch diệt, là bất sanh nên không phược không thoát Ề(Phẫm Trang Nghiêm).

Như là tất cả pháp bổn lai thanh tịnh:ỂTất cả pháp bổn tánhthanh tịnh. Ở trong các pháp đó, nếu Đại Bồ tát tâm thông đạt chẳng mê mờ, đó chính là Bát Nhă Ba la mật. V́ tất cả Pháp Như, pháp tánh,thiệt tế, thường trụ vậyỂ. (Phẩm Đẳng Học). ỀNgũ ấm, thập nhị nhập, thập bát giới bất khả đắc v́ rốt ráo thanh tịnh vậyỂ(Phẩm Xuất Đáo).

Như là các pháp chẳng sanh chẳng diệt, chẳng cấu chẳng tịnh:ỂCác hành sanh khởi không từ đâu lại, chẳng đi về đâu. Đó là biết hành sanh diệt. Các hành chẳng sanh chẳng diệt, chẳng đến chẳng đi, chẳng tăng chẳng giảm, chẳng cấu chẳng tịnh. Đó là biết hành NhưỂ (Phẩm thiện Đạt).

Như là các pháp b́nh đẳng:ỂTướng các pháp b́nh đẳng ấy, ta gọi là Tịnh. Những ǵ là các pháp b́nh đẳng? Đó là Như, bất dị, bất cuống, pháp tướng, pháp tánh, pháp vị, thật tế. Có Phật hay không có Phật, pháp tánh thường trụ, gọi đó là TịnhỂ

(Phẩm B́nh Đẳng).

Như là các pháp tức là Pháp Tánh: ỀSắc tức là Pháp Tánh, thọ tưởng hành thức tức là Pháp TánhỂ (Phẩm Thiện Đạt).

Kinh Đại Bát Nhă kết luận: ỀTăt cả pháp Như Tướng, đây gọi là Vô thượng Bồ đềỂ(Phẩm thâm Áo).

Để hiểu rơ điều mà các vị thiền sư nói là Ểtsất cả các pháp, tánh tướng Như Như, đó là đại giải thoátỂ,thiết nghĩ không ǵ bằng trích một đoạn ngữ lục, choỂtươi mátỂ, gần gũi sống động với chúng ta hơn:ỂThiền sư Vân Cư HựuỂ thượng đường: Tất cả âm thanh là âm thanh Phật! Gơ thiền sàng, nói:Phạm âm thanh tịnh suốt khắp khiến người thích nghé Lại nói: Tất cả sắc là sắc Phật! Bèn đưa Phật tử lên, nói: Hiện đây Phật phóng quang minh, soi rơ nghĩa Thiệt Tướng ! Người đă thấu hiểu, đầu đội vâng làm. Người chưa thấu đáo, hợp như thế rơ, hợp như thế tin! Rồi gơ thiền sàng, xuống ṭaỂ.

**

Kết Luận: 1- Qua năm bài báo, chúng ta có một số kiến giải chủ yếu về Tánh Không. Nói chủ yếu, v́ không thể nói hết về Tánh Không, v́ Tánh Không là Vô Lượng Nghĩa (kinh Đại thừa Vô Lượng Nghĩa). Những giới thiệu sơ lược về tánh Không chỉ là một phần nhỏ của Văn Tự Bát Nhă, mục đích chính của loạt bài là gợi ư, gây cảm ứng về Bát Nhă Không Tuệ Học để độc giả trực tiếp đi vào kinh Đại Bát Nhă, hầu có thể biết sự tu hành Bát Nhă, quán chiếu Bát Nhă là như thế nào, làm thế nào tu hạnh Bồ Tát theo Trí Huệ ba la mật... để có thể, không những đọc tụng mà c̣n thọ tŕ Bát Nhă trong mọi hoàn cảnh sống hằng ngày, đem lại lợi lạc cho ḿnh và cho người. Có đi vào kinh Đại Bát Nhă th́ mới có thể lấy Trí Huệ Bát Nhă làm sinh mạng của ḿnh trong biển lớn sanh tử : đó là Huệ Mạng của những ai tu hành chân chính, Bởi thế, giới thiệu Tánh Không là giới thiệu cái cứu cánh của đạo Phật :ỂCác pháp rốt ráo Không, chính đó là Niết BànỂ (Thiện Đạt).

2-  Tánh Không nếu hiểu theo ư niệm và bị sa vào trong biển độc của thức th́ rất dễ bị hiểu lầm thành một thực tại tĩnh động trống rỗng mà người xưa gọi là ngoan không, cái không vô kư. Kinh Viên Giác nói: Nếu lấy tâm luân hồi mà nh́n xem tánh Viên Giác, th́ Viên Giác cũng thành sanh tử luân hồi.

Tánh Không chính là Đại Bi. Nếu hành giả càng thâm nhập Tánh Không th́ Đại Bi càng tăng trưởng. Phẩm Xá Lợi nói : Trong Bát Nhă ba la mật xuất sanh đại từ đại bi của chư Phật. Đại Bi chính là dấu hiệu để hành giả tự nhận biết ḿnh thực sự đi vào Tánh Không. Và Đại Bi càng thật là Đại Bi th́ càng có tính hoạt động, không  ngơi nghỉ, không mệt mơi nhàm chán như Bồ Tát Qaún thế Âm chứng tỏ. Chính Trí Huệ thấu đạt Tánh Không và Đại Bi sống động nảy sinh ra Phương Tiện Thiện Xảo, là toàn bộ đời sống, cách sống cứu độ của Bồ Tát ở trong cơi sanh tử.

Trí Huệ và Đại Bi là hai cột trụ dựng nên Phật giáo Đại Thừa. Tánh Không hay Bát Nhă là giải pháp duy nhất cho con đường Bồ Tát Đại Thừa :Làm thế nào để có thể ở nơi sanh tử mà vẫn giải thoát, làm thế nào trụ trong giải thoát mà vẩn ở nơi sanh tử để cứu độ chúng sanh. Ở nơi sắc thọ tưởng hành thức, nghĩa là đồng sự đồng nghiệp với chúng sanh mà vẫn giải thoát v́ soi thấy năm uẩn đều Không, và cũng từ Tánh Không mà xuất sanh Đại Bi thương xót ở cùng và cứu độ tất cả. Cứu độ tất cả, hy sinh mọi đời mọi kiếp cho chúng sanh mà chẳng hề buồn giận mệt mỏi v́ không thấy có người hy sinh cũng không có một ai được cứu độ, đó là Đại Bi của Trí Huệ giải thoát thay v́ là cái bi chật hẹp của ái kiến ràng buộc.

3- Người tu theo Tánh Không mà hiểu lầm th́ dễ bỏ quên nhân quả, nghiệp báo. Trái lại, người càng thấu đạt Tánh Không nghĩa là càng có trí huệ th́ càng thấy rơ sự hiện hành của nhân quả, càng đi đúng với Tŕ giới Ba la mật, càng không xâm phạm giới, nghĩa là không xâm phạm tâm Đại Bi đă mỡ khai nơi ḿnh. Có thể lấy ví dụ của người xưa, Tánh Không dụ cho tánh nước, nhân quả dụ cho sóng.Tánh Không không ngăn cảng con người tạo ra nhân quả, nhưng dầu có sóng nước vẫn nước, không v́ có sóng mà nước mất đi bản tánh của ḿnh, c̣n cái người tạo ra sóng, người ấy phải chịu sự nỗi ch́m của nghiệp sóng do tự ḿnh tạo ra. Hoặc lấy ví dụ Hư không và hoa đốm, không tạo ra hoa đốm, không bị nhiễm ô bởi hoa đóm, nhưng có ai tạo ra hoa đốm th́ người ấy tự chịu lấy sự quay cuồng.

4- Chúng ta đang bưóc vào thập niên cuối cùng của thế kỷ 20, một thế kỷ đặc trưng bằng một nền văn minh kỹ thuật xu hướng về việc hưởng thụ. Và hiện nay, chúng ta cũng đang thấy rơ cái giá phải trả cho việc hưởng thụ vô độ của ḿnh: sự dễ dăi, thácloạn về văn hóa, sự buông thả về đạo đức, sự ứng xử với nhau bàng mưu mẹo chước thuật thay v́ nhân cách chân thật, sự ch́m ngập trong h́nh ảnh và nhăn hiệu, sự phá hủy môi trường sống là trái đất v.v...     

Bi hoan hay lạc quan, chúng ta không bàn đến ở đây. Nhưng thiết nghĩ, nèn văn minh dầu, tiến theo lối nào và đến đâu, cũng không thể ra ngoài giới hạn cộng nghiệp của dục giới, không thể ra ngoài sắc thọ tưởng h́nh thức, nghĩa là luôn luôn nằm trong sự giải quyết của Trí Huệ Bát Nhă. Chính trong những thời điểm đặc biệt, trong những phiền năo đặc biệt mà ư nghĩa Ềđộ tất cả khổ áchỂ của Trí Huệ Bát Nhă lại càng nỏi bật hơn bao giờ hết. Ở vào bất kỳ thời đại nào, văn minh và lịch sử chỉ được cứu độ khi chúng được đặt vào trong Thực Tướng Nghĩa của Bát Nhă BLM. Chỉ có cái nh́n Ềtất cả pháp Như tướngỂ mới dập tắt hết mọi vọng tưởng điên đảo, không tạo thêm cho con người đủ thứ vọng tưởngnhư chạy đua hưởng thụ, chạy đua danh quyền, chạy đua vũ trang, chạy đua Ềḥa b́nhỂ..Chỉ có cái nh́n Ềtất cả pháp không sanh, tất cả pháp không diệtỂ mới làm dừng lại sự chạy cuồng của con người, như Đức Phật đă vĩnh diễn dừng lại so với kẻ sát nhân v́ học đạo là Angulimala. Chỉ có cái nh́nỂnhất thiết pháp KhôngỂ mới giải được mọi thứ ma túy, dầu ma túy ấy là thuốc, hay ma túy  ấy là danh lợi, tài năng và sắc đẹp, hay đó chỉ là một bản ngă mền như gió nhẹ như hương được dung dưỡng nơi chốn thâm sơn cũng cốc của tứ đại con người. Chỉ có lời tuyên bố của Đức Phật Ể49 năm ta chưa từng nói một chữỂ hay lời nói của một thiền sư Ềdầu c̣n một chữ Như, ta cũng mửa hết nó raỂmới dẹp trừ mọi lăng xăng loạn tưởng, mọi mưu toan tác, ư lập ra đủ thứ học thuyết-đều kẹt trong ṿng danh tướng, đều là lư luận v́ không thể vượt ngoài có không, thường đoạn...- để đưa tâm thức con người đến chỗỂngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệtỂ, từ đó mới có ra thân khẩu ư để thực sự làm lợi ích cho người.

5- Bộ Đại Bát Nhă dành riêng nhiều chương để ca ngợi Bát Nhă (Bát Nhă là mẹ của chư  đại Bồ Tát, hay sanh thành như chư đại Bồ Tát, một ngày tu hành Bát Nhă th́ đầy đủ cả Phật pháp-Phẩm Thâm Áo). Thật vậy, Bát Nhă gồm nhiếp tất cả công cuộc độ ḿnh và độ người, là chỗ an trụ thanh tịnh cho mọi đại nguyện của một vị Bồ Tát.Không phải là không có lư do khi chúng ta thấy hầu như tất cả các bậc Long Tượng của đạo Phật đưu xuất sanh từ Bát Nhă Không tuệ Học: Long Thọ, Milarepa, Huyền Trang, Huệ Năng, Thái Hư, các Thiền sư TH và VN.. Và chỉ mới đây thôi, cụ Lê Đ́nh Thám, người có công nhất trong việc chấn hưng PG vào thế kỷ này, người đă đào tạo ra một thế hệ tăng tài làm rường cột của giáo hội cho đến ngày nay, đă thay đơi hẳn cuộc đời ḿnh-từ một ông bác sĩ Đông Dương thành một Phật tử đem trọn đời ḿnh hiến dâng cho sự phục hưng của đạo Phật-chỉ v́ đọc được 4 câu kệ của ngài Huệ Năng nói về Tánh Không viết trên vách của một ngôi chùa ở Ngũ Hành Sơn.

Tánh Không là sức mạnh, là Quan Âm Lực(Phẩm Phổ Môn), là sự vô bố úy, ánh sáng của con mắt Trí Huệ và ngọn lửa trong trái tim Đại Bi của những người con Phật, đă từng và măi măi đi đầu , giương cao ngọn cờ giải thoát trên những làn sóng phế hưng của lịch sử, khiến cho ngọn đèn chánh pháp luôn luôn khôngthể nào dập tắt, không thể nào hủy hoại, không thể nào lu mờ v́ bất cứ lư do ǵ, dục lạc hay tham sân si vô nghĩa của thế gian, ở trong cũng như ở ngoài.

 

Copyright ©2005 FITEC & SearchVN. All rights reserved.