TIN NHÂN  QUẢ - TẠO PHƯỚC ĐỨC -  SỐNG CHÂN THƯỜNG

 searchvn.net                                                                                                                            TRỞ VỀ

 
 

Kinh Bốn mươi hai bài

(bản chữa lại)

H.T. Thích Trí Quang

(Tiểu dẩn)

Đức Thế tôn thành đạt toàn giác rồi, đến vườn Lộc uyển chuyển đảy bánh xe chánh pháp tứ đế, hóa độ nhóm 5 người cùng thành đạo quả. Sau đó lại có các vị tỷ kheo tŕnh bài hoài nghi, đùc Thế tôn đă huấn dụ, và ai cũng khai ngộ.(Bốn mươi hai bài sau đây là sao chép một ít lời đùc Thế tôn đă nói).

Lời tiểu dẫn này lấy của bản B, cho thấy 42 bài kinh này là trích yếu hoặc trích diễm lời Phật từ khi mới chuyển pháp luân cho đến sau này. Trích yếu trích diễm mà "toát yếu dể hướng dẫn quần chúng".

(1. Đạo quả)

Phật nói, từ biệt cha mẹ, thoát ly gia đ́nh, nên gọi là sa môn. Thường giữ 250 giới, làm theo tứ đế, thành A la hán. Kế đó là A na hàm, mạng chung th́ sinh lên tầng trời thứ mười chín, ở đó thành A la hán. Sau hết là tu đà hoàn, (mạng chung) th́ bảy lần lên xuống là thành A la hán. Ái dục mà (các bậc thánh giả này) cắt đùt th́ như tay chân đùt rồi không dùng được nữa.

Bài này nói về đạo quả của người xuất gia, rất quan trọng, chứng tỏ xuất gia không vô hiệu quả. Để giải thích tương đói rỏ ràng, trước hết nói chi tiết của 4 đạo quả, sau đó nói i hành tướng của 4 đạo quả.

Chi tiết của 4 đạo quả là một, 4 đạo quả, đặc biệt đạo quả A la hán, lấy sự xuất gia và giũ Tỷ kheo giới làm cơ sở. Về tỷ kheo giới có 250 điều, nhưng nói tổng quát là "từ bỏ tất cả hành vi và cử chỉ đáng từ bỏ ở nơi thân và nơi miệng".

Hai, 4 đạo quả là làm theo tứ đế. Làm theo tứ đế là biết khổ (ư thức con người và thế giới con người là khổ năo, lại ư thức khổ năo ấy có thể diệt được) ; là đoạn tập (hủy diệt nguyên nhân của khổ năo ấy, nguyên nhân mà có 2 cách nói : 1. nguyên nhân ấy đại loại là kiến hoặc tu hoặc , 2. 2 hoặc này tổng quát lại là ái dục) ;là chứng diệt (thực hiện sự hủy diệt của nguyên nhân sự đau khổ, sự ấy gọi là niết bàn) ; là tu đạo (thực hành phương pháp hủy diệt của nguyên nhân đau khổ, phương pháp ấy chủ yếu là 8 thánh đạo). Ở đây phải nói thêm về ái dục và 2 hoặc. Ái dục nói đích thị là t́nh ái với t́nh dục, nói rộng ra là ưa thích với ham muốn. Ái dục như vậy, thật ra chỉ là ái. Nói ái không là bao quát đủ cả. C̣n 2 hoặc là kiến hoặc (chủ yếu do thấy biết tứ đế th́ hủy diệt) và tu hoặc(phải tu tập tiếp theo nữa mới hủy diệt). Kiến hoặc gồm có 10 sử của 3 cơi, chia ra 2 nhóm, nhóm tham, sân, si, mạn, ghi là những tính xấu bẩm sinh và nhóm thân kiến, biên kiến, giới thủ, kiến thủ, tà kiến là những kiến thức sai lầm. Tu hoặc cũng có hai nhóm, nhóm tham, sân, si, mạn của cơi Dục, nhóm tham, si, mạn của 2 cơi Sắc và Vô sắc. Như vậy, cả 2 nhóm tu hoặc chính là tham, sân, si, mạn hay tham, si, mạn của kiến hoặc c̣n lại. Cả 2 nhóm đều có 9 bậc; 9 bậc là nặng, vừa, nhẹ, mà c̣n thêm nặng, vừa,nhẹ cho cả 3 bậc ấy nữa. Tấ cả kiến hoặc và tu hoặc như vậy tổng quát lại là ái dục, ái dục lại là căn bản.

Ba, 4 đạo quả chủ yếu là hủy diệt ái dục (mà gọi là ái cũng đủ)

Bón, 4 đạo quả lấy niết bàn làm cứu cánh. Niết bàn ấy là diệt đế mà nói rơ là "ái tận niết bàn" :cái niết bàn hủy diệt ái dục. Chứng niết bàn ấy là A la hán.

Năm, 4 đạo quả đều do thân người tu chứng. Thân người, mà quan trọng là thân người ở Diêm phù đề này.Thân người là nhân loại của cơi Dục. Do vậy nói 1 lần hay 7 lần lên xuống là sinh chư thiên của cơi Dục, nhưng thật ra chỉ sinh nhân loại, và bằng thân nhân loại, là tu chứng được niết bàn. Củng phải biết rằng, đời này và thân này, phải xuất gia, giữ Tỷ kheo giới và tu theo tứ đế, mới thành A la hán. A na hàm và Tư đà hàm th́ phần nhiều cũng là xuất gia mà tu chứng. Chỉ đạo quả Tu đà hoàn là tại gia (giữ 5 giới) xuất gia (giữ 250giới) đều chứng được cả.

Sáu, th́ gian của 4 đạo quả. Th́ gian này có 2 mặt. Một, nếu chỉ nói tu chứng 4 đạo quả, là nói một đời này đạo quả nào cũng được tu chứng. Nhưng sự tu chứng của mỡi đạo quả, ngay trong đời này, vẫn có 2 trường hợp là tiệm chứng (tu chứng tuần tự) và đón chứng (tu chứng vượt bậc). Trường hợp đốn chứng của đạo quả A la hán là ngài Xá lợi phất, và kỳ hơn nữa là ngài Ương quật ma la. Đạo quả A na hàm và đạo quả Tư đà hàm dĩ nhiên cũng có như vậy. Đặc biệt đạo quả Tu đà hoàn, trong kinh tả không ít có những người nghe Phật thuyết pháp, chưa rời chỗ mà đă viễn ly trần cấu. Hai, nếu nói tu chứng niết bàn (thành A la hán) là nói các đời sau. Trừ A la hán đă chứng niết bàn th́ không c̣n đời nào nữa. C̣n A na hàm chết rồi c̣n sinh Băt hoàn thiên mới chứng niết bàn; Tư đà hàm chết rồi c̣n một đời lên xuống trong chư thiên nhân loại cơi Dục, sau đó sinh Bất hoàn thiên mới chứng niết bàn. Đặc biết Tu đà hoàn, chết rồi c̣n 7 đời lên xuống trong chư thiên nhân loạicơi Dục, sau đó sinh Băt hoàn thiênmới chứnbg niết bàn. Nhưng cái th́ gian 7 đời vẫn có tiệm có đón. Tiệm th́ tuần tự 7 đời mới diệt hết 9 bậc tu hoặc cơi Dục, nhưng 7 đời là tối đa, không có sự quá 7 đời. Đốn th́ có thể một vài đời đă hết 9 bậc tu hoặc cơi Dục. Như vậy, th́ gian tu chứng niết bàn của tiểu thừa, tối đa, cũng chỉ có 7 đời mà thôi.

Bảy, chỗ ở của 4 đạo quả, th́ đó là 5 Băt hoàn thiên : Vô phiền, Vô nhiệt, Thiện hiện, Thiện kiến, Sắc cứu cánh. Năm Bất hoàn thiên này thuộc cơi Sắc, trên đẹ tứ thiền, trên cả Vô tưởng thiên (tầng trời thứ 19, mà ngoại đạo cho là niết bàn). Tuy vậy, Băt hoàn thiên vẫn như biệt lập 3 cơi. A na hàm (Băt hoàn) sinh và ở đó.Tư đà hàm sau một lần lên xuống chư thiên và cơi Dục, Tu đà hoàn sau 7 lần lên xuống chư thiênvà nhân loại cơi Dục, điều thành A na hàm, cũng sinh và ở Băt hoàn thiên. Chỉ có A la hán siêu xuất 3 cơi, ái tậnniết bàn, th́ không c̣n nói sinh và ỡ đâu nữa.

Hành tướng của 4 đạo quả..Đạo quả thứ tư là A la hán (ng cúng: thích ứng hiến cúng). Đạo quả ấy, đời này, tu tứ đế(nói cách khác là đoạn ái dục, là đoạn kiến hoặc tu hoặc) mà thành. Đạo quả ấy có các phẩm chấttam minh và lục thông. Nhưng đạo quả ấy chưa phải là Phật quả, như là Phật quả. V́ Phật quả, ngoài tam minh lục thông, c̣n có 10 lực, 4 vô úy, 18 bất cộng,v/v, là những phẫm chất được nói cả trong tiểu thừa, c̣n có 3 thân, 4 trí, v/v, là những phẫm chất được nói trong đại thừa.

Đạo quả thứ ba là A na hàm (Băt lai : không c̣n trở lại). Đạo quả ấy, đời này, đoạn kiến hoặc của 3 cơi và đoạn 9 bậc tu hoặc của cơi Dục, nên chết rồi không sinh lại cơi Dục nữa; nhưng c̣n 9 bậc tu hoặc của 2 cơi Sắc và Vô sắc, nên sinh lên Băt hoàn thiên, ở đó đoạn 9 bậc tu hoặc ấy mới thành A la hán.

Đạo quả thứ hai là Tư đà hàm (Nhất lai :một lần trở lại ). Đạo quả ấy, đời này, đoạn kiến hoặc của 3 cơi và 6 bậc tu hoặc của cơi Dục; nhưng c̣n lại 3 bậc tu hoặccủa cơi Dục và 9 bậc tu hoặccủa 2 cơi Sắc và Vô sắc, nên chết rồi phải một lần sinh lại trong chư thiên hay nhân loại của cơi Dục,để đoạn 3 bậc tu hoặc c̣n lại của cơi ấy, thành A na hàm, sinh Băt hoàn thiên, ở đó đoạn 9 bậc tuhoặc của hai cơi Sắc và Vô sắc, mới thành A la hán.

Đạo quả thứ nhất là Tu đà hoàn (Dự lưu:dự vào ḍng thánh).Đạo quả ấy, đời này, đoạnkiến hoặc của 3 cơi, c̣n lại tu hoặc của 3 cơi, nên chết rồi 7 llần là tối đa, sinh lại trong chư thiênhay nhân loại của cơi Dục mà đoạn 9 bậc tu hoặc của cơi ấy, thành A na hàm, sinh bất hoàn thiên, ở đó đoạn 9 bậc tu hoặc của 2 cơi Sắc và Vô sắc, mới thành A l a hán.

Đạo quả thứ nhất khá quan trọng, nên phải nói thêm vài điều. Một, đạo quả ấy, như đă nói, xuất gia tại gia đều có thể tu chứng, chỉ trừ những người phạm tội ngũ nghịch mà thôi. Hai, đạo quả ấy đă không c̣n đọa lạc ác đạo nữa. Ba, kiến hoặc của 3 cơi mà đạo quả ấy đoạn là 10 sử. Trong 10 sử, tham, sân, si, mạn, 4 thứ ấy bị "làm cho mỏng"đi, không đủ sức tạo ra ác nghiệp đọa lạc ác đạo nữa (nhưng sẽ thành tu hoặc của 3 cơi). Đặc biệt phải tận diệt là nghi. Nghi đây là đói với tứ đế. Đạo quả này chủ yếu là tín tâm vững chắc xác nhận và xác tín tứ đế, không c̣n hoài nghi nào nữa. Điều này quan trọng đến nỗi làm cho đạo quả này được gọi là kiến đạovị (của tiểu thừa). Khi nghi bị đoạn, nghĩa là khi đă xác nhận và xác tín tứ đế, th́ không c̣n nữa 5 kiến chấp sau đây, toàn là tùy thuộc vào nghi : thân kiến (cho thân là ngă, hoặc cho có cái ngă biệt lập mà chủ đạo thân), biên kiến (cho thân cho thân chết rồi c̣n măi hay mất hẳn), giới thủ (cố chấp những cách nói là diệt khổ mà thật ra không diệt được), kiến thủ (cố thủ kiến thức sai lầm trên đây, cho là kiến thức đúng đắn), tà kiến (phủ nhận nguyên lư nhân quả tội phước, vô tín ngưởng).

Nói tóm, 4 đạo quả trên đây là mục đích củ Phật giáo tiểu thừa, nên bài 1 rất quan trọng. Từ đây sắp đi, có thể nói hầu hết, bằng cách nói đa dạng, cho thấy những ǵ liên hệ đến sự ái dục -- đến sự tu chứng 4 đạo quả. 

(2. Biết vừa đủ)

Phật nói, cạo bỏ râu tóc, làm bậc sa môn, th́ hăy rời bỏ tài sản thê gian, khất thực vừa đủ. Mỗi ngày đúng bóng ăn một bữa, mỗi đêm dưới cây ngủ một lần, thận trọng đụng thêm. Làm cho người u mê tồi tệ chính là ái dục.

Chủ yếu trong sự tu chứng 4 đạo quả, đầu tiên, là thiểu dục (ít ham muốn những ǵ chưa có) và tri túc (biết vừa đủ những ǵ đang có). Bài này nói về thiểu dục tri túc đói với những nhu cầu cần thiết của đời sống xuất gia. Bởi v́ ái dục, trươc hết, là không thiểu dục tri túcđối với những nhu cầu ấy.

Khất thực, chính văn là khất cầu (cầu xin), nói rộng cho cả 5 thứ nhu cầu của đời sống xuất gia, là đồ ăn, đồ uống, đô nằm, đồ mặc, dược phẩm. Nhưng ở đây nói hẹp là khất thực : khất cầu đồ ăn. Đừng thêm, có 2 : một, mỗi ngày không ăn thêm một bữa nữa, mỗi đêm không ngũ thêm một lần nữa; hai, ngay trong 1 bữa và 1 lần mà không ngồi ăn hai lần, không nằm ngủ 2 giấc. Riêng việc ngủ mỗi đêm 1 lần dưới đại thọ là hạnh đầu đà, không phải như ăn mỗi ngày 1 bữa là thường sự của mọi người xuất gia.

(3. Nghiệp)

Phật nói, chúng sanh do 10 sự là ác, cũng do 10 sự mà lành. Mười sự là thân có 3, miệng có 4, ư có 3. Thân có 3 là sát sinh, trộm cướp, dâm dục. Miệng có 4 là ly gián, mắng chưởi, dối trá, thêu dệt. Ư có 3 là tham lam, tức giận, u mê. (mười sự này là mười ác, bỏ mười ác là mười lành). tại gia giữ 5 giới, không biếng nhác, không lùi bước, giữ đến 10 lành th́ chắc chắn đắc đạo.

Căn bản cua ư thức tu hành là nhận thức chính bản thân. Bản thân tạo ra nghiệp (hành vi, động tàc). Nghiệp có 3 thành 10 : thân 3, miệng 4, ư 3. Mười nghiệp như vậy dữ ở đó mà lành cũng ở đo. Dữ là thập ác. Bỏ thập ác là thập thiện. Mọi cuộc đời (quả báo)khổ vui đều do ác và thiện (nghiệp nhân) ấy. Nhận định này cho thấy có 2 nguyên tắc. Một, cuộc đời con người do chính hành vi con người định đoạt. Hai, hành vi ấy, và cuộc đời ấy, cần phải có thể thay đổi. Ư thức tu hành bài này nói là như vậy.

Về thập ác, tất cả ái dục (tất cả kiếnhoặc tu hoặc) đều bao gồm trong đó, nhất là trong tham, đặc biệt là trong si. Như vậy tất cả đạo quả đều do thập thiện mà thành. Và thập thiện là do ngũ giới bước tới. Như vậy ngũ giới là căn bản, thập thiện là hoàn thành, đói với các đạo quả. Chữ đắc đạo có nghĩa là chứng 4 bốn đạo quả, là chứng ái tận niết bàn.

(4. Sám hối)

Phật nói, con người có lỗi mà không tự hối, ngưng liền, th́ lỗi dồn lại nơi thân ḿnh như nước đỗ về biển cả, thành ra càng sâu càng rộng. Có lỗi mà biết là trái, đổi ác làm lành, th́ mỗi ngày lỗi hết dần đi, sau đó thế nào cũng đắc đạo.

Sám hối tuy không phải chính âm mà lại quá thông dụng, nên ở đây vẫn dùng chữ ấy,với nghĩa là có lỗi th́ "xin người chịu đựng mà tha thứ cho", "xin dung thứ cho". Nói thật dễ hiểu, và sát nhất, sám hối là "hối hận mà xin lỗi, xin chừa".

Về h́nh thức th́ sám hối có 2. Một, đói diện người sống, như luật tạng chỉ. Hai, đói trước chư phật, như nghi thức làm. Cả hai h́nh thức đều có ư nghĩa xin hộ tŕ cho tội hết phước sinh. Về nội dung ht́ sám hối như bài này nói : tự hối, ngưng liền, biết là trái, đổi ác làm lành, mỗi ngày lỗi hết dần đi.

(5. Nhẫn điều ác hoặc đừng ác với người)

Phật nói, có người xúc phạm Như lai bằng điều ác, Như lai đem ḷng đại từ mà nâng đỡ, cứu độ cho họ. Bởi v́ khí lực phước đức là ở đó, c̣n khí lực tội á chỉ tư hại. Lại có người cố đến mắng Như lai. Như lai không trả lời , thương họ làm thế là v́ si cuồng. Mắng rồi, Như lai hỏi, ông đem lễ vật biếu người, người không nhận th́ lễ vật ấy đem về đâu ? Đem về cho tôi. Vậy ông mắmg Như lai, Như lai không nhận th́ ông cũng tự đem tai họa về cho ḿnh. Nên, hăy thận trong, đừng làm ác.

Bài này văn khí là răn phải bỏ điều ác, Nhưng rơ ràng phật c̣n lấy ḿnh làm gương mà răn phải nhẫn điều ác. Nhẫn mà c̣n hiểu và thương cho điều ác của người. Sức mạnh của phước đức là như vậy, không như sức mạnh của tội ác chỉ tự hại ḿnh. Thêm nữa, chính sự nhẫn điều ác là răn dạy, cảm hóa cho điều ác được bỏ.

(6. Hại hiền chỉ tự hại)

Phật nói, người ác hại người hiền th́ như ngửa mặt lên trời mà nhổ nước dăi, nước dăi không thấu trời mà lại rơi xuống nhằm ḿnh ; lại như ngược gió tung bụi, bụi không đến người mà lại làm dơ bản thân. Người hiền không thể hại được, mà bản thân tất bị tai hại v́ lỗi lầm của ḿnh.

Học tập theo Phật, bị hại th́ thương mà không giận, tự chủ th́ cao, tâm trí th́ rỗng, ác mấy cũng không làm bẩn họ được.

(7. Phước rất lớn)

Phật nói, hành đạo th́ bác ái, bác ái th́ không ǵ hơn bố thí. Phụng hàng đạo như vậy th́ phước rất lớn.

Bác ái là mượn chữ Trung hoa. Đại bi th́ bố thí. Bố thí đùng trước trong sự lợi tha, nên phước rất lớn. Bản B dịch chữ bác ái thành bác văn ái đạo th́ đi thật quá xa.

(8. Phước tùy hỷ)

Phật nói, thấy người bố thí, hăy giúp một cách vui vẻ, th́ cũng được phước ấy. Hơi, phước ấy có giảm bớt đi không? Phật nói, như lửa nơi một cây đuốc, hàng ngàn hàng trăm người đem đến lấy lửa ấymà nấu ăn, soi sáng, lửa ấy vẫn như cũ. Phước ấy cũng như vậy.

Không nhữnh lửa một cây đuốc lấy măi không hết, mà người này c̣n chuyền cho người kia, chuyền măi không cùng. Cái phước tùy hỷ là như vậy. Tùy hỷ là mừng theo, là tán thành, tán trợ. Phước, cũng mhư tội, tự làm, bảo người làm, thấy người làm mà tùy hỷ, cả 3 đều như nhau.Như nhau mà ó khi c̣n hơn, v́ trong ḷng tùy hỷ th́ vui vẻ, chân thành.

(9. So sánh về phước)

Phật nói, đăi cơm người thường không bằng người tốt, đăi cơmngười tốt không bằng người giữ 5 giới. Đăi cơm ngươi giữ 5 giới không bằng Tu đà hoàn, (cho đến) hiến cơm Ala hán không bằng Bích chi phật. Hiến cơm Bích chi phật không bằng đem giáo huấn của Tam bảo hóa độ cha mẹ -- nên thờ trời đăt quỉ thần không bằng hiếu với cha mẹ, v́ cha mẹ là thần linh bậc nhất. Hóa độ cha mẹ không bằng hiền cơm người học tậpđúc Phật mà nguyện cứu độ chúng sinh.

Phước lớn hơn, ngoài lư do v́ đói tượng hiến cúng, c̣n v́ lư do tâm lư b́nh đẳng. Lư do sau th́ không kể đói tượng thế nào, mà chân thành th́ phước vẫn như nhau.

Đoạn chót của bài này, bản B chữa bằng cách bỏ có thêm có. Thêm th́ đem Phật ra mà so sánh. Nhưng Phật th́ ngoài tầm so sánh. So sánh như bản B không hợp t́nh lư chút nàohết. Đó là thêm, c̣n bỏ thí bỏ cái hiếu với cha mẹmà đoạn này đề cao. Bơ như vậy thật sai quấy.

(10. Khó mới quí)

Phật nói, người có 5 sự khó : nghèo nàn mà bố thí mới khó, giàu sang mà học đạo mới khó, liều ḿnh mà chắc chết mới khó, được nh́n thấy kinh Phật mới khó, sinh ra gặp đời Phật mới khó.

Những sự khó mới quí được nói ở đây rất sát với người hành đạo, nhất là hành đạo ở cấp độ b́nh thường. Bản B thêm đến 20 sự, tựu trung có 2 điều đánh nói,"ấy là nhịn sắc đẹp ái dục mới khó". Tu hành th́ thiện tri thức là yếu tố rất quan trọng . Thiện tri thức là bạn tốt, là thầy bạn tốt, thương mà khéo trong sự giúp ta.

Trong 5 sự khó mới quí, sự sinh ra gặp đời Phật phải nói rỏ thêm. Gặp đời Phật th́ trên 25 bách kỷ rồi có ai gặp được. Nhưng không gặp sinh thân của Phật mà vẫn gặp được di thân của ngài, hơn nữa, gặp được giới thân và pháp thân của ngài, có điều gặp mà biết tôn thờ, thuận tùng, mói khó với quí.

(11. Thấy Đạo, biết đời trước)

Sa môn hỏi Phặt : nhờ ǵ mà thấy đạo? mà biết đời trước? Phật nói, đạo siêu việt tất cả sắc thái. Chỉ muốn thấy đạo th́ không bao giờ thấy được. Chính yếu là phải cố thủ chí nguyện mà tu hành, th́ như lau kính, dơ hết sáng lộ, thấy được h́nh ảnh : diệt sự ái dục, giữ sự thanh tịnh, th́ thấy đạo, th́ biết đời trước.

Đạo ở đây là diệt đế (niết bàn, nói theo tiểu thừa), là chân như (nói theo đại thừa). Đạo ấy siêu việt mọi khái niệm. Đối với đạo ấy, đ̣i biết không ích ǵ. Cót yều là phải hành đạo, như lau kính, dơ hết, sáng lộ, th́ thấy h́nh ảnh : ái dục hết, thanh tịnh hiện, là biết đạo, biết đời trước.

Thường cái biết của Phật gíao được ví dụ như đèn sáng soi đồ. Nhưng ví dụ như vậy ít chính xác, v́ nếu vậy đèn tắt th́ hết soi. Ví dụ như kính hiện h́nh có phần rơ hơn. Kính sáng v́ bản chất vốn sáng, lại được lau sạch, h́nh ảnh có th́ hiện ra, không th́ kính vẫn sáng.

(12. Lành, lớn, mạnh, sáng)

Phật nói, lành là ǵ, là hành đạo. Lớn là ǵ, làchí hợp với đạo. Mạnh là ǵ, là nhẫn nhục. Sáng là ǵ, là dơ bẩn của tâm trí được trừ hết, hành vi của tội ác được diệt sạch, được nhất thế trí mới gọi là sáng.

Tuệ giác, nói theo trí độ luận, cuốn 27, th́ có 3 :1. nhất thế trí (biết bản thể), của Nhị thừa; 2. đạo chủng trí (biết đạo pháp), của Bồ tát; 3. nhất thế chủng trí (biết toàn bộ : bản thể, hiện tượng, đạo pháp). Bài này nói nhất thế trí th́ có 2 cách hiểu : một, hiểu là riêng th́ trí ấy là trí thứ 1, dịch tuệ giác biết bản thể; hai, hiểu là chung th́ trí ấy là cả 3 trí, cũng dịch tuệ giác biết toàn bộ. Bài này nói tuy có thể có cả 2 nghĩa, nhưng nghĩa thứ 1 nhiều hơn, v́ ở đây nói cả Nhị thừa.

(13. Lư do không thấy được Đạo)

Phật nói, có ái dục th́ không thấy được đạo. Như nước đă đục mà c̣n bỏ màu vào, ra sức quấy lên, th́ ai đến trên nước ấy cũng không thấy h́nh ảnh. Ái dục giao xen, làm bẩn tâm trí nên không thấy đạo. Lại nữa, dưới chăo lửa dữ, trong chăonước sôi lên, trên chăo đăy bằng vải, th́ ai soi vào cũng không thấy h́nh ảnh : tâm trí vốn có độc sôi sục bên trong, 5 cái che đăy ở ngoài, th́ không bao giờ thấy đạo. Phải hết cả dơ bẩn của tâm trí, th́ biết xuất xứ của nghiệp thức, biết sống chết về đâu, biết thế giới chư Phật ở đâu.

Ba độc là tham sân si (hay dâm nộ si, tật nhuế si). Năm cái :5 sự che đăy tâm trí, đó là tham dục (ham muốn) sân nhuế (tức giận) thùy miên (ngủ nghỉ) trạo cử (háo động) nghi pháp (hoài nghi). Nghiệp thức, chính văn bản A là hồn linh, chữ cổ. Lư do v́ sao không thấy đạo, bài này nói thật rơ

(14.Học Đạo)

Phật nói, học đạo th́ như cầm đuốc vào trong nhà tối, tối hết mà sáng c̣n : học đạo mà thấy thánh đế th́ ngu si diệt hết, được sự thấy toàn thể.

Thánh đế, chính văn là đế, tức 4 thánh đế, tứ đế; chính văn bài 1 c̣n nói là tứ chân đạo hạnh. Đế là chắc chắn, chân lư. Thánh đế là chân lư. Thánh đế là chân lư được nh́n thấy bởi các bậc thánh giả. Đạo trong bài này là chỉ cho tứ đế, đặc biệt là diệt đế (niết bàn) trong tứ đế ấy.

(15.Nhớ Đạo)

Phật nói, Như lai nhớ ǵ, nhớ đạo. Như lai làm ǵ, làm đạo. Như lai nói ǵ, nói đạo. Như lai nhớ đến thánh đế th́ không bỏ qua phút chốc nào cả.

Chữ đạo của bài này cũng là chữ đạo của bài 14 ở trên. Đặc biệt chính văn bài nàyc̣n nói tứ đế là đạo đế (đạo lư chắc chắn).

Bài 18 bản B là chữa bài này, mà đi quá xa, nói như cao mà kém thây rơ, nhất là kém cho sự tu niệm.

(16. Quán vô thường)

Phật nói, nh́n trời đất hăy nhớ vô thường, nh́n núi sông hăy nhớ vô thường, nh́n vạn hữu hăy nhớ vô thường. Giữ tâm trí như vậy th́ đắc đạo mau chóng.

Vô thường là diễn biến liên tục. Vô thường mới có các pháp và các pháp liên tục. Vô thường là vô cái ảo tưởng thường c̣n, không phải có cái thường c̣n để mà vô. Quán vô thưoịng, đổi bỏ cái nh́n, cái hy vọng c̣n măi, cái sự quên đi diễn biến liên tục, là nền móng của cả quan niệm và ư niêm, không phải chỉ khái niệm, của người hành đạo. Vô thường dễ nhận thức nhất, dầu tạo được cái nh́n vô thường cho quen th́ không phải một sớm một chiều. Nên phải cố mà tập.

Củng nên biết vô thường có sát na, có nhất kỳ. Sát na vô thường là diễn biến trong từng đơn vị th́ gian ngắn nhất (như sự thoạt hiện hay thoạt biến của một ư nghĩ). Nhất kỳ vô thường là diễn biến trong từng giai đoạn (thay đổi h́nh thức này thành h́nh thức khác). Vô thường nhất kỳ là kết quả của sát na vô thường. Chết là nhất kỳ vô thường của con người.

(17. Đức tin)

Phật nói, việc làm mỗi ngày là thường nhớ đạo, hành đạo, th́ thành đạt đức tin, phước được vô lượng.

Tín căn (đức tin) là 1 trong 5 cái gọi là 5 thiện căn : tín (đức tin) tiến (nỗ lực) niệm (chánh niệm) đînh (chuyên chú) tuệ (minh sát). Năm thiện căn này là phước của người hành đạo, như những cái rễ mà từ đó có ra bao nhiêu thiện căn và phước đức khác. Nhưng đức tin mà nói thành đạt do nhớ đạo hành đạo hằng ngày, th́ đức tin ấy không phải chỉ là sự tin tưởng của tín ngưỡng. Nói thật đúng và xác, đức tin ở đây là không c̣n hoài nghi ǵ nữa của tứ đế.

(18. Nhớ vô ngă)

Phật nói, một cách chín chắn và thuần thục, hăy tự nghĩ nhớ, trong cơ thể, 4 đại đều có tên riêng, không có ǵ là ngă, sự thể chỉ như ảo thuật.

Bài này vấn đề quan trọng, vấn đề ngă. Ư thức tu chứng đặt trên khái niệm vô ngă. Văy ngă là ǵ, tại sao vô ngă, học đạo cần phải biết, ở bất cứ cấp độ nào.

Ngă là khái niệm phát sinh và diễn tiếng như sau. Mở đàu là cho con người có một đấng chủ tể. Đấng ấy tự hữu, chủ động và chỉ huy. Con người có và sống do sự chủ động và chỉ huy ấy. Sự tái sinh của con người cũng vậy. Đấng ấy là ngă. Khái niệm này gọi là nhất thần luận. Kế đó, thấy chỗ hớ và ấu trĩ của vấn đề, vấn đề bèn được suy luận đăng ấy là bản thể. Mỗi con người là một phần của bản thể ấy. Bản thể ấy là ngă. Khái niệm này gọi là phiếm thần luận. Cả 2 khái niệm này là cái ngă ly uẩn (ngă ở ngoài con người).

Ṛi suy luận con người là diễn biến. Diễn biến th́ phải có cái ǵ ở trong con người mà chủ động và chỉ huy. Cái ǵ ấy có 3 thuyết : nguyên tử, tinh thể, linh hồn. Ba cái ấy là ngă. Khái niệm nầy là thắng ngă hay thần ngă. Lại suy luận thân thể là cái ta = cái tổng thể thống nhất và bất biến. Diễn biến chỉ là sự phản ứng, không thể chi phối cái ta. Cái ta ấy là ngă. Khái niệm này gọi là bản ngă. Tăt cả 3 khái niệm này là cái ngă tức uẩn (ngă ở trong con người).

Phật giáo th́ không chấp nhận như vậy. Phật giáo nói phải như thật tri kiến. Trước hết, thấy con người là một tổ hợp mà nói đại thể là danh sắc (tâm lư vật lư). Sắc có 4 đại, gọi là sắc uẩn. Danh là 4 uẩn tiếp theo.

Nên hiểu tứ đại đă. Tứ đại là kiên (cố thể) thấp (dịch thể) noăn (nhiệt lực) động (động lực)--Tứ đại không phải đất nước gió lửa; 4 thứ này là tứ đại giả danh, chỉ do tứ đại tùy tăng. Tứ đại là vật lư của thân thể và vũ trụ của thân thể. Gồm lại là sắc uẩn (cảm giác được khách quan hóa).

Nay nói thân thể con người. Th́ thân thể ấy là 5 uẩn nếu phân tích ra , là danh sắc nếu tổng hợp lại. Thân thể như vậy là một hợp thể diễn biến liên tục. Sự diễn biến chính là động tác của hợp thể ấy. Động tác ấy vừa là động lực, vừa là phản ứng. Động tác ấy là Nghiệp. Chính nghiệp diễn biến mà liên tục v́ nhân quả -- Nhân quả là các yếu tố và các giai đoạn tự tương quan và tác động lẫn nhau, và được gọi là sự liên tục. Sự liên tục này tạo ra ấn tượng và khái niệm gọi là ngă. Sự thực, nghiệp tự nó là động lực, không có ǵ chủ động và chỉ huy. Như vậy gọi là khái niệm vô ngă.Từ khái niệm này mà thấy khái niệm ngă chỉ là ảo tưởng. Nhưng ảo tưởng mà thành sự tự ư thức. Cái ảo tưởng tự ư thức ấy chính là cái ngă của ta. Vô ngă là vô cái ảo tưởng ngă ấy, không phải cái ngă để mà vô. Phật giáo c̣n cho thấy ảo tưởng về ngă là ư thức, tự ư thức về ngă là mạt na, cái được ảo tưởng và tự ư thức là ngă là a lạida. Tăt cả đều là nghiệp, liên hệ đến nghiệp, không có cái ngă nào biệt lập, độc lập, duy nhất và bất biến. Nghiệp như vậy, tức thân thể (danh sắc) diễn biến liên tục như vậy, lưu chuyển là luân hồi, hoàn diệt là giải thoát. Nói dễ hiểu, nghiệp như cánh tay : chỉ xuống gọi là ngược, chỉ lên gọi là xuôi. Đại thừa không cho niết bàn không c̣n động tác ǵ hết, mà động tác ấy, bấy giờ, gọi là "bất tư nghị nghiệp". Đức ngă trong 4 đùc niết bàn của đại thừa không phải là ngă, mà là cái phẫm chất tự tại của niết bàn.

Trong cấp độ sơ khởi của sự học đạo và hành đạo, bài này nói thân là danh sắc-- Nói danh sắc là nói ngũ uẩn, chỉnh hơn chỉ nói tứ đại. Danh sắc tự nó là sự sống, là cuộc sống; là tự thể không biệt lập, đốilập. Biết như vậy th́ khái niệm cái ngă, cái ta ích kỷ và cố đînh, khái niệm ấy sẽ không c̣n : không c̣n cái gốc của ái dục nữa.

Chữ ảo thuật nói trong bài này là như vật liệu được ảo thuật ra bồ câu. Văy vật liệu là có, cái có do yếu tố, cáicó giả. Từ cái có giả ấy mà, không thấy vật liệu, không biết ảo thuật, cho bồ câu là có thật. Cái có này mới không có.Thân thể là có, có giả. Cái có không có chính là ngă.

(19.Danh tiếng hoa ḥe)

Phật nói, v́ ái dục mà cầu danh tiếng hoa ḥe th́ cũng như đót hương, người ta nghe được hơi thơm th́ hương đă tự đót rồi. Người thiếu trí tuệ mới ham danh tiếng tầm thường, không cố giữ sự chân thật của đạo hạnh. Cái họa danh tiếng là đem lại sự ân hận tiếp theo đó.

Danh với lợi là tai họa cho sự hành đạo. Trong 2 thứ, danh có vẻ dễ bị mắc vào hơn, nhất là mắc vào dưới nhiều dạng trá h́nh. Người hành đạo, tuổi càng cao có vể càng lụy không ít v́ danh. V́ danh mà bán cả đạo, vất cả đời ḿnh đi, ngày vẫn có kenhư vậy.

(20. Tiền tài và sắc đẹp)

Phật nói, con người đói với tiền tài và sắc đẽp th́ y như trẻ con ham mật ngọt trên lưỡi dao. Mật ấy không đủ một bữa ăn, mà trẻ con liếm vào tất có cái họa đứt lưỡi.

Người xuất gia đừng coi ḿnh như trẻ con. Người xuất gia ư thức đạo hạnh thật cao trọng. Đối với bao kẻ coi tiền và t́nh, kể cả cái lụy tiền và t́nh, là hạnh phúc, th́ người xuất gia là kẻ nghịch lưu : bơi ngược ḍng. Dầu vậy, bài này vẫn là bài cảnh cáo cho cái hạnh phúc v́ tiền và tính.Riêng đói với tiền, ở kinh khác, như Thiện sinh và Ưu bà tắc, Phật dạy hăy học nghề, kiếm tiền và dùng tiền hợp lư.

(21. Vợ con, bảo vật, nhà cửa )

Phật dạy, con người ràng buộc vào vợ con bảo vật nhà cửa th́ c̣n hơn lao ngục. Lao ngục c̣n có ngày được phóng thích, vợ con ái dục th́ cái họa miệng cọp cũng cam tâm nhảy vào, đâu có cái ngày phóng thích.

Có ư thức giải thoát mới thấy vợ con tài sản là tù đày. Không th́ thấy vợ con tài sản là thảm xanh của hạnh phúc.

(22. Sức mạnh của sắc dục)

Phật nói, ái dục không ǵ hơn sắc dục. Sắc dục tạo ra ái dục th́ không ǵ lớn bằng. Nhờ chỉ có một cái như vậy, giả sử có cái thứ hai th́ thiên hạ không c̣n ai hành đạo được nữa.

Có những trường hợp mà cổ đức nói là đạo cao một thước ma cao một trượng. "Giả sử đạo niệm cũng bằng t́nh niệm th́ Phật cũng đắc đạo chậm hơn".

(23. Ái dục tự hại)

Phật nói, con người đói với ái dục th́ như cầm đuốc lửa mà đi ngược gió, ngu mà không bỏ đuốc xuống th́ tất bị cháy tay. Độc tố tham sân si ở ngay trong thân tâm, y như đuốc lửa ở nơi tay ḿnh. Không sớm đem đạo hạnh mà trừ bỏ, th́ như ham cầm đuốc lửa, tất có cái họa cháy tay.

Con người tự ḿnh là đuốc lửa cho ḿnh. Có 3 độc th́ đuốc lửa cháy tay. Có đạo hạnh th́ đuốc lửa soi đường.

(24. Ngọc nữ)

Thiên thần hiến ngọc nữ cho Phật để thử nghiệm ư ngài, quan sát đạo ngài. Ngài nói, ngọc nũ có thể vừa ư thế tục, không thể kích động Như lai. Hăy đi đi, Như lai không cần dùng. Thiên thần tất kính trọng, nhân đó hỏi Phật về ư đạo. Ngài giảng giải cho, liền thành đạo quả Tu đà hoàn.

Thiên thần (devata) là gọi chung chư thiên, kể cả Phạn vương, Đế thích. Nhưng ở đây không phải ma vương, v́ ma vương không thành sơ quả. C̣n ngọc nữ chỉ có nghĩa là gái đẽp, và ở đây là gái đẽp chư thiên. Ấy vậy mà có kẻ thượng lên làm Ngọc nữ bồ tát mà lạy!

(25. Cây trôi theo ḍng nước)

Phật nói, hành đạo th́ như cái cây ở trong ḍng nước, hăy theo ḍng nước mà trôi đi, không mắc vào hai bên, không bị người vớt lấy, không bị phi nhân ngăn chận, không bị nước xoáy làm đứng lại, không bị thối ră, th́ cây ấy tất vào biển cả. Hành đạo cũng vậy, không bị ái dục mê hoặc, không bị tà ngụy quấy phá, tinh tiến mà không do dự, th́ Như lai bảo đảm người ấy đắc đạo.

Những sự ví dụ trong đây, được giải thích không phải chỉ có một ư, v́ giải thích sao cũng có lư cả. Nay, căn cứ vào chính văn ư của bài này, và của kinh này, tạm giải thích như sau. Không mắc hai bên bờ là không thái quá hay bất cập. Không thối ră là không bị ái dục mê hoặc. Không bị nước xoáy làm đùng lại là không bị do dự. Ngoài ra, bị người vớt, bị thần chận, th́ nói chung bằng chữ tà ngụy. Tà ngụy ở đây là ngoại đạo, là phi mục đích. Ngoại đạo th́ dễ hiểu. Phi mục đích là mong cầu hạnh phúc trong nhân loại hay trong chư thiên. không bị những điều trên đây th́ thế nào cũng đắc đạo.

(26. Ư không thể tin)

Phật bảo các vị sa môn, thận trọng, đừng tin ư của các người, ư của các người không bao giờ tin được. Thận trọng, đụng tiếp xúc sắc đẽp, tiếp xúc th́ tai họa có liền. Được tuệ giác La hán rồi mới nên tin ư của các người.

Tuệ giác La hán có 2 :tuệ giác diệt tận (tâm trí) và tuệ giác không sinh (vô sinh trí). Diệt tận là diệt tận ái dục đă có. Không sinh là không sinh ái dục sẽ có. Chỉ khi nào được 2 tuệ giác ắy, tâm ư mới có thể tin được khi tiếp xúc với sắc dục.

(27. Nẻo chánh)

Phật bảo các vị sa môn, thận trọng, đừng nh́n phụ nữ. Phải nh́n th́ nh́n thận trọng, đụng nói chuyện. Phải nói chuyện th́ phải sắc lịnh cho tâm trí đi theo nẻo chánh. Rằng ta là sa môn, ở trong cuộc đời này ta phải như đóa sen không dính bùn lầy. Già th́ coi như mẹ, lớn th́ coi như chị, trẻ th́ coi như em, nhỏ th́ coi như con. Cản trọng mà giữ uy nghi, ư thức càng phải xét kỹ, thân họ không thật, chứa toàn dơ bẩn; (sinh cái tâm độ thoát) để giải cái ư bất chính.

Bài này chỉ cho người xuất gia cách đói xử với phụ nữ. Một, tránh tiếp xúc. Hai, tiếp xúc th́ phải chánh niệm, rằng ḿnh phải như hoa sen, không được lắm bùn. Ba, coi phụ nữ mọi lứa tuổi đều như thân nhân. Bón, phải giữ uy nghi đúng giới luật (nói năng và cử động phải nghiêm chỉnh, không tiếp xúclâu, ở chỗ khuất). Năm, quán bất tịnh. Sáu, sinh tâm độ thoát cho họ. Điều này tôi lấy bản B mà bổ túc, v́ văn ư bài này là ở đây.

Tuy nhiên, cái lối coi phụ nữ như thân nhân không hẳn không có hậu quả trái ngược, nhất là không hẳn không bị lợi dụng với tà ư. Luật c̣n cấm kết làm thân nhân. Nên phải thận trọng. Trong cấp độ sơcơ, sự tránh tiếp xúc, và giữ uy nghi khi tiếp xúc, mới thật đáng nói.

(28. Tránh cho xa)

Phật nói, hành đạo th́ phải từ bỏ t́nh dục. Hăy như cỏ gặp lửa, lửa đến th́ phải tránh : người hành đạo gặp t́nh dục th́ phải tránh cho xa.

Cỏ mà gặp lửa đang tươi cũng cháy, nói chi đă khô. T́nh dục th́ đạo lực có mà c̣n phải tránh, huống chi chưa có.

(29. Hăy đoạn tâm)

Có người bực v́ t́nh dục không ngừng, dùng dao búa mà đoạn âm. Phật nói, đoạn âm đâu bằng đoạn tâm. Tâm tà không ngừng th́ đoạn âm ích ǵ, chỉ đem lại cái chết mà thôi. Thế nhân nhận thức đảo ngược là như người khờ trên đây.

Đoạn âm ở đây là trừ bỏ bộ phận sinh dục nam. Đoạn âm không ích ǵ cả trong sự làm sạch tâm trí đói với ái dục.

(30. Gốc của t́nh dục)

Có một dâm nữ hẹn với nam nhân. Đến hẹn, nam nhân không đến. Dâm nữ tự hối rằng

Dục t́nh ta biết ngươi,

gốc của ngươi là ư

ư sinh v́ tư tưởng.

Ngày nay ta không c̣n

tư tưởng nữa đến ngươi,

th́ ngươi hết sinh ra.

Phật đang đi, nghe vậy, bảo các vị sa môn, nhớ lấy, đăy là lời chỉnh cứu của đức Phật Ca diếp, được lưu hành trong nhân gian.

Dục t́nh do tư tưởng, tư tưởng do ư. Góc của dục t́nh là như vậy. Nên không tư tưởng đến dục t́nh, dục t́nh mới không được thực hiện cho đến không c̣n.

(31.Yêu lo sợ)

Phật nói, con người do ái dục mà lo buồn, do lo buồn mà sợ hăi. Không ái dục th́ không lo buồn, không lo buồn th́ không sợ hăi.

Ái dục tạo ra lo buồn, sợ hăi, là nói đơn giản. Ái mà tranh thủ, hưởng thụ và hậu họa th́ không ǵ đa dạng cho bằng.Trong 12 chi duyên khởi, ái quan trọng nhất : ái tận là niết bàn, ái thủ th́ sinh tử.

(32. Tinh nhuệ bước tới)

Phật nói, hành đạo là như một người chiến đău với muôn người. Mặc áo giáp, cầm vũ khí, tiến ra chiến trường, hoặc quyết chiến mà chết, hoặc đại thắng mà về. Ấy vậy, những ai kiên tŕ tâm chí, tinh nhuệ bước tới, không mê hoặc v́ lời tiếng tầm thường, cuồng dại, th́ chiến thắng ái dục, đánh bại xấu ác, đắc đạo chắc chắn.

Hành đạo th́ phải có cái mà Thiền tông gọi là "khẳng tâm" : dút thoát, quyết chí, không do dự, không giao động. Cảnh sách nói khá rơ : Nổi dậy cái chí khí quyết liệt, mỡ ra cái hoài băo cao xa, hết thảy sự động tĩnh đều nh́n lên các bậc thượng thặng, đừng tự ư sống theo những thói hư hèn. Nội một đời này mà thôi, phải giải quyết bản thân cho xong, và việc đó là tự ḿnh liệu lấy cho ḿnh, không phải do ai đâu khác.

(33.Vừa phải)

Có vị sa môn ban đêm tụng kinh tiếng nghe rất buồn, có vẻ hối tiếc lưỡng lự, muốn trở về thế tục. Phật gọi mà hỏi, khi ông ở nhà th́ đă làm ǵ ? Thưa, thường đánh đàn. Giây đàn dùi th́ thế nào ? Thưa, không kêu. Giây đàn căng th́ như thế nào ? Thưa mất tiếng. Căng dùi vừa phải th́ thế nào ? Thưa, âm điệu phát ra đủ cả. Phật nói, học đạo cũng phải như vậy, giữ cho tâm trí chừng mực th́ đạo phải được.

Đây chính là trung đạo. Trung đạo là chính yếu của Phật giáo. Trung đạo là linh động, thích đáng, không phải nước đôi hỗn hợp.

(34.Từ từ)

Phật nói, hành đạo cũng như luyện sắt, tuần tự mà luyện, càng luyện càng loại hết quặng đi, th́ làm đồ rất tốt. Học đạo mà từ từ , trừ khử một cách sâu xa dơ bẩn trong tâm, th́ tinh tiến đắc đạo.Thái quá th́ cơ thể mệt mơi, cơ thể mệt mơi th́ tâm ư bực bội, tâm ư bực bội th́ tu hành lùi bước, tu hành lùi bước th́ tội lỗi xuất hiện.

Từ từ nhưng tinh luyện, tinh tiến, mới tránh được thái quá, bất cập. Thái quá hay bất cập chỉ làm cho đạo nghiệp hư hỏng.

(35. Khổ mà hết khổ)

Phật nói, hành đạo cũng thấy khổ, không hành đạo cũng thấy khổ. Nhưng con người từ sinh đến già, từ già đến bịnh, từ bịnh đến chết, khổ biết bao nhiêu. Tâm ư bực bội, tích lũy tội lỗi, th́ sinh tử không ngừng, cái khổ này mới khó nói cho hết. (Cái khổ của sự hành đạo có thể làm cho cái khổ này chấm dứt).

Đối với con người, cái ǵ cũng cho là khổ. Nhưng có cái khổ để rồi khở vô cùng, có cái khổ để rồi hết cái khổ ấy. Hành đạo là khổ để hết khổ, không cam tâm khổ để khổ măi.

(36. Mừng được khó được)

Phật nói, thoát đường ác mà được làm người là khó, được làm người mà làm đàn ông là khó, làm đàn ông mà đủ giác quan là khó, đủ giác quan mà sinh xứ trung tâm là khó, sinh xứ trung tâm mà được thờ Phật pháp là khó, được thờ Phật pháp mà gặp quân vương đạo đức là khó, gặp quân vương đạo đức mà sống trong gia đ́nh bồ tát là khó, sống trong gia đ́nh bồ tát mà gặp trong đời Phật là khó.

Xứ trung tâm (trung quốc) là những nơi có Phật giáo, ít nhất cũng có văn hóa tốt. Quân vương đạo đức là lănh tựu quốc gia mà có đạo đức. Có đạo đức th́ có chánh sách tốt. Chính sách ấy mới lợi cho dân, nhất là cái lợi tín ngưỡng Phật pháp không bị phá hoại. Gia đ́nh bồ tát là gia đ́nh mà gia phong có truyền thống vị tha.

Đă được những điều trên đây, dầu chỉ được một cách tương đói, nhất là đă được làm thân người, mà không hành đạo th́ thật tự phụ bạc lấy ḿnh nhiều lắm, phí mất một đời một cách oan uổng.

(37. Đời sống)

Phật hỏi vị một sa môn, sinh mạng con người tồn tại trong bao lâu, thưa, trong vài ngày, Phật nói, ông chưa thành đạo. Phật hỏi một vị sa môn khác, sinh mạng con người tồn tại trong bao lâu, thưa, trong một bữa ăn, Phật nói, ông cũng chưa hành đạo. Phật hỏi một vị sa môn khác nữa, sinh mạng con người tồn tại trong bao lâu, thưa, trong hơi thở ra hay vào, Phật nói, hay thay, ông đáng được gọi là người hành đạo.

Chữ hành đạo trong bài này là quán vô thường. Sinh mạng ở trong sát na vô thường để rồi đi đến nhất kỳ vô thường. Sát na là đön vị ngắn nhất của thời gian, chỉ bằng sự thoạt hiện hay sự thoạt biến của cái biết, và đó chỉ nói theo tầm nhận thức của người thường. Sinh mạng thực ra chỉ tồn tại trong từng sát na như vậy. Nói tồn tại trong hơi thở (ra mà không vào, hay ngược lại) c̣n là lâu. Tuy nhiên, quán vô thường mà xét thấy đến như thế cũng đă đáng gọi là quán vô thường.Và từ đó mà sự tranh thủ th́ gian với sinh mạng để hành đạo sẽ đắc lực hơn lên.

(38. Gần Phật xa Phật)

Phật nói, đệ tử của Như lai sống cách Như lai mấy ngàn dặm mà ḷng nhớ giới luật của Như lai, th́ đắc đạo chắc chắn; c̣n sống bên cạnh Như lai mà ḷng mang tà ư, th́ không bao giờ đắc đạo. Sự thực là ở nơi sự hành đạo, gần mà không hành đạo th́ đâu có được muôn một trong sự lợi ích.

Giới luật là bậc đại sư của người hành đạo. Chính Phật đă nói như vậy trong di huấn tối hậu của ngài. Nên cách Phật mà giữ giới th́ vẫn đắc đạo, gần Phật mà không quan tâm giới luật cũng vẫn mất mát rất lớn.

(39. Kinh pháp Như lai cũng vậy)

Phật nói, như ăn đường phèn th́ trong ngoài đều ngọt. Kinh pháp của Như lau cũng vậy, mọi ư nghĩa đều thích thú, làm theo là đắc đạo.

Phật pháp là bất định pháp -- là trung đạo, thích đáng với căn cơ. Thế nên Phật pháp mà có ư nghĩa, và ư nghĩa thích thú, làm theo hữu ích, là chính v́ như vậy.

(40. Nhỗ được gốc rễ ái dục)

Phật nói, người hành đạo có năng lực bạt nhổ ái dục. Ngắt lấy chuỗi ngọc đang treo th́ ngắt từng hạt cũng có lúc lấy hết, và xấu ác mà hết th́ là đắc đạo.

Tiệm tu mà chắc chắn đác đạo. Nhưng tiệm trừ xấu ác mà ví dụ như ngắt từng hạt ngọc th́ cũng hơi lạ -- nếu tôi hiểu và dịch không lầm.

(41. Thẳng tắp một mạch)

Phật nói, sa môn hành đạo là như con trâu mang nặng, đi trong bùn sâu, mệt nhọc đến mấy cũng không dám ngoái nh́n hai bên, mà phải đi cho mau, rời khỏi bùn sâu, mới được nghĩ ngơi. Sa môn coi ái dục c̣n hơn bùn sâu, nên thẳng tắp một mạch mà hành đạo, mới có thể thoát khỏi mọi sự khổ lụy.

Thẳng tắp một mạch th́ sự khẳng tâm và tinh tiến nằm trong đó. Trong đó không thể có sự lạm dụng những chữ từ từ, tuần tự, chừng mực.

(42.Phật nh́n)

Phật nói, Như lai coi cái ngôi vương hầu như khách trọ, coi cái quí vàng ngọc như sỏi đá, coi cái đẹp tơ lụa như giẻ rách, (coi cái tṛ phải trái như rồng múa, coi sự sinh diệt của các pháp như cây bốn mùa ).

Khách trọ, chính văn là quá khách (khách qua đường), ư nói tạm bợ, ở và đi rất mau chóng và bất thường. Ṛng múa,đúng ra là 6 con rồng cùng múa. Sinh diệt như cây trải qua 4 mùa là sinh không thật sinh, diệt không thật diệt.

Bài 42 này của bản A th́ có vẻ thiếu, của bản B lại có vẻ thừa. Tôi chỉ trích 2 điều của bản B mà bổ túc.

Về cái nh́n của Phật, nói như bài 42 trên đây, là nói một chiều thích hợp với tŕnh độ kinh này. Thật ra cái nh́n của Phật là tùy người. Thí dụ ngôi vị chính quyền. Đối với người cần nói với họ về sự vô thường, về cái lụy danh vị, th́ nói Phật nh́n ngôi vị vương hầu là tạm bợ. Nhưng nếu đói với người cần nói với họ về cái dụng của danh vị trong sự lợi tha th́ nói Phật coi ngôi vị vương hầu có khi cũng cần đến.

Vulan 2537, 20-24/7.

 

Copyright ©2005 FITEC & SearchVN. All rights reserved.