TIN NHÂN  QUẢ - TẠO PHƯỚC ĐỨC -  SỐNG CHÂN THƯỜNG

 searchvn.net                                                                                                                            TRỞ VỀ

 
 

Chương Kệ Di Đà - Phẩm Dị Hành

(Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận - Bồ tát Long Thọ) (1)

(dịch Việt và chú thích: Nguyên Hảo)

1.

Trí tuệ sáng vô lượng,

Thân như Núi Vàng Ṛng. (2)

Con nay thân miệng ư,

Chấp tay cúi đầu lễ.

 

2.

Diệu quang màu vàng chói,

Chảy tràn các thế giới:

Sự vật lộ tướng lành,

Con cúi đầu kính lễ.

 

3.

Nếu có người sắp chết,

Được sinh vào nước kia,

Tức được vô lượng đức,

V́ vậy con quy mệnh.

 

4.

Người hay niệm Phật kia,

Lực, công đức vô lượng,

Liền chứng bậc tất định, (3)

V́ vậy con thường niệm.

 

5.

Cơi đó khi mệnh chung,

Giả như phải chịu khổ,

Không đọa ác địa ngục, (4)

Nên con quy mệnh lễ.

 

6.

Người sinh vào cơi ấy,

Măi chẳng đọa ba đường,

Cùng cơi A Tu La, (5)

Con nay quy mệnh lễ.

 

7.

Trời người cùng thân tướng,

Giống như đỉnh núi vàng,

Nơi tụ hội các báu, (6)

Đầu mặt sát chân lễ.

 

8.

Người sinh vào cơi ấy,

Đủ thiên nhăn, nhĩ thông,

Mười phương không ngăn ngại,

Cúi lạy Thánh Chí Tôn. (7)

 

9.

Các chúng sanh cơi ấy,

Thần biến cùng tâm thông,

Đầy đủ túc mạng trí,

Con quy y đảnh lễ.

 

10.

Sanh vào cơi nước ấy,

Không ngă, không ngă sở,

Không sinh tâm bỉ, thử,

Thế con cúi đầu lễ.

 

11.

Vượt khỏi ngục tam giới,

Mắt như cánh hoa sen, (8)

Chúng Thanh-văn vô số, (9)

Thế con cúi đầu lễ.

 

12.

Các chúng sanh cơi đó,

Tánh khí thảy nhu ḥa,

Tự nhiên hành thập thiện, (10)

Cúi lạy Vua các Thánh.

 

13.

Do thiện, sáng trong lành,

Vô lượng vô biên số,

Đệ nhất trong trời người, (11)

Thế nên con quy mệnh.

 

14.

Người cầu chứng quả Phật,

Tâm niệm A Di Đà,

Sẽ v́ đó hiện thân,

Thế nên con quy mệnh.

 

15.

Nguyện lực của Phật kia,

Các Bồ Tát mười phương,

Đến cúng dường nghe Pháp,

Con cúi đầu kính lễ.

 

16.

Các Bồ Tát cơi kia,

Đầy đủ các tướng hảo, (12)

Để tự trang nghiêm thân,

Con nương về kính lễ.

 

17.

Các Đại Bồ Tát kia,

Ngày ngày đều ba thời,

Cúng dường mười phương Phật,

Con cúi đầu đảnh lễ.

 

18.

Có người trồng căn lành,

Nghi ngờ hoa chẳng nở,

Có ḷng tin trong sạch,

Hoa nở liền thấy Phật.

 

19.

Mười phương các Đức Phật,

Dùng vô số nhân duyên,

Khen công đức Phật kia,

Con nương về kính lễ.

 

20.

Cơi kia đầy trang nghiêm,

Hơn hẳn các cung trời,

Công đức thật sâu dày,

Đầu sát chân Phật lễ.

 

21.

Ṿng ngàn cánh chân Phật, (13)

Nhu nhuyễn màu hoa sen,

Người thấy đều vui mừng,

Đầu mặt lễ chân Phật.

 

22.

Ánh sáng giữa hai mày,

Giống như trăng trong lành,

Thêm vào mặt sáng ngời,

Đầu mặt lễ chân Phật.

 

23.

Khi xưa nguyện thành Phật,

Hành bao điều kỳ diệu,

Như các kinh đă nói,

Đầu mặt cung kính lễ.

 

24.

Ngôn thuyết Đức Phật kia,

Phá trừ các rễ tội,

Lời đẹp nhiều ơn ích,

Con nay cúi đầu lễ.

 

25.

Dùng lời vui đẹp kia,

Cứu các bịnh ham vui,

Xưa cứu, nay c̣n cứu,

Thế con cúi đầu lễ.

 

26.

Tối tôn trong trời người,

Các trời đầu mặt lễ,

Nón bảy báu cọ chân,

Thế con về nương tựa.

 

27.

Hết thảy các Hiền Thánh,

Cùng với chúng trời người,

Thảy đều về nương tựa,

Thế nên con kính lễ.

 

28.

Nương thuyền vào Đạo kia, (14)

Qua được biển khó qua,

Độ ḿnh và độ người,

Con lạy Đấng Tự Tại.

 

29.

Các Phật vô lượng kiếp,

Ca ngợi công đức kia,

Không bao giời cùng tận,

Con nương Đấng Thanh Tịnh.

 

30.

Con nay cũng như thế,

Ngợi Đấng Vô Lượng Đức,

Dùng nhân duyên phước này,

Nguyện Phật thường nhớ đến.

 

31.

Con đời này, đời trước,

Các phước đức lớn nhỏ,

Nguyện vào trong cơi Phật,

Tâm thường được thanh tịnh.

 

32.

Dùng nhân duyên phước này,

Các đức lành đă tạo,

Nguyện các loài chúng sanh,

Thảy đều được như vậy.

di dà chương kệ dị hành phẩm

(thập trụ tỳ bà sa luận) (1)

bồ tát long thọ tạo

 

 

1.

Vô lượng quang minh tuệ,

Thân như Chân Kim Sơn, (2)

Ngă kim thân khẩu ư,

Hợp chưởng khể thủ lễ.

 

2.

Kim sắc diệu quang minh,

Phổ lưu chư thế giới,

Tùy vật thị kỳ sắc,

Thị cố khể thủ lễ.

 

3.

Nhược nhân mệnh chung thời,

Đắc sinh bỉ quốc giả,

Tức kỳ vô lượng đức

Thị cố ngă quy mệnh.

 

4.

Nhân năng niệm thị Phật,

Vô lượng lực công đức,

Tức thời nhập tất định, (3)

Thị cố ngă thường niệm.

 

5.

Bỉ quốc nhân mệnh chung,

Thiết ưng thọ chư khổ,

Bất đọa ác địa ngục, (4)

Thị cố quy mệnh lễ.

 

6.

Nhược nhân sinh bỉ quốc,

Chung bất đọa tam thú,

Cập dữ A Tu La, (5)

Ngă kim quy mệnh lễ.

 

7.

Nhân thiên thân tướng đồng,

Du như kim sơn đỉnh,

Chư thắng sở quy xứ, (6)

Thị cố đầu diện lễ.

 

8.

Kỳ hữu sinh bỉ quốc,

Cụ thiên nhăn nhĩ thông,

Thập phương phổ vô ngại,

Khể thủ Thánh trung tôn. (7)

 

9.

Kỳ quốc chư chúng sanh,

Thần biến cập tâm thông,

Diệc cụ túc mệnh trí,

Thị cố quy mệnh lễ.

 

10.

Sinh bỉ quốc độ giả,

Vô ngă, vô ngă sở,

Bất sinh bỉ thử tâm,

Thị cố khể thủ lễ.

 

11.

 

Siêu xuất tam giới ngục,

Mục như liên hoa diệp, (8)

Thinh văn chúng vô lượng, (9)

Thị cố khể thủ lễ.

 

12.

Bỉ quốc chư chúng sanh,

Kỳ tánh giai nhu ḥa,

Tự nhiên hành Thập Thiện, (10)

Khể thủ chúng Thánh Vương.

 

13.

Ṭng thiện sinh tịnh minh,

Vô lượng vô biên số,

Nhị túc trung đệ nhứt, (11)

Thị cố ngă quy y.

 

14.

Nhược nhân nguyện tác Phật,

Tâm niệm A Di Đà,

ng thời vi hiện thân,

Thị cố ngă quy mệnh.

 

15.

Bỉ Phật bản nguyện lực,

Thập phương chư Bồ Tát,

Lai cúng dường thính Pháp,

Thị cố ngă khể thủ.

 

16.

Bỉ độ chư Bồ Tát,

Cụ túc chư tướng hảo, (12)

Dĩ tự trang nghiêm thân,

Ngă kim quy mệnh lễ.

 

17.

Bỉ chư Đại Bồ Tát,

Nhựt nhựt ư tam thời,

Cúng dường thập phương Phật,

Thị cố khể thủ lễ.

 

18.

Nhược nhân chủng thiện căn,

Nghi tắc hoa bất khai,

Tín tâm thanh tịnh giả,

Hoa khai tắc kiến Phật.

 

19.

Thập phương hiện tại Phật,

Dĩ chủng chủng nhân duyên,

Thán bỉ Phật công đức,

Ngă kim quy mệnh lễ.

 

20.

Kỳ độ cụ nghiêm sức,

Thù bỉ chư thiên cung,

Công đức thậm thâm hậu,

Thị cố lễ Phật túc.

 

21.

Phật túc thiên phúc luân, (13)

Nhu nhuyễn liên hoa sắc,

Kiến giả giai hoa hỉ,

Đầu diện lễ Phật túc.

 

22.

Mi gian bạch hào quang,

Du như thanh tịnh nguyệt,

Tăng ích diện quang sắc,

Đầu diện lễ Phật túc.

 

23.

Bản cầu Phật Đạo thời,

Hành chư kỳ diệu sự,

Như chư Kinh sở thuyết,

Đầu diện khể thủ lễ.

 

24.

Bỉ Phật sở ngôn thuyết,

Phá trừ chư tội căn,

Mỹ ngôn đa sở ích,

Ngă kim khể thủ lễ.

 

25.

Dĩ thử mỹ ngôn thuyết,

Cứu chư trước lạc bịnh,

Dĩ độ kim do độ,

Thị cố khể thủ lễ.

 

26.

Nhân thiên trung tối tôn,

Chư thiên đầu diện lễ,

Thất bảo quan ma túc,

Thị cố ngă quy mệnh.

 

27.

Nhứt thiết Hiền Thánh chúng,

Cập chư nhân thiên chúng,

Hàm giai cộng quy mệnh,

Thị cố ngă diệc lễ.

 

28.

Thừa bỉ nhập Đạo thuyền, (14)

Năng độ nan độ hải,

Tự độ diệc độ bỉ,

Ngă lễ Tự Tại Nhân.

 

29.

Chư Phật vô lượng kiếp,

Tán dương kỳ công đức,

Do thượng bất năng tận,

Quy mệmh Thanh Tịnh Nhân.

 

30.

Ngă kim diệc như thị,

Xưng tán Vô Lượng Đức,

Dĩ thị phước nhân duyên,

Nguyện Phật thường niệm ngă.

 

31.

Ngă ư kim, tiền thế,

Phước đức nhược đại tiểu,

Nguỵện ngă ư Phật sở,

Tâm thường đắc thanh tịnh.

 

32.

Dĩ thử phước nhân duyên,

Sở hoạch thượng diệu đức,

Nguyện chư chúng sanh loại,

Giai diệc tất đương đắc.

 

Chú Thích

 

(1)

Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận là quyển luận của Ngài Long Thọ giảng về chương Thập Địa trong Kinh Hoa Nghiêm. Thập địa là mười bậc mà chư Bồ Tát trăi qua trên bước đường tu tập cho đến khi chứng quả tối hậu là Vô Thượng Chánh Giác hay Phật Quả. Trong chương Dị Hành (Tu Dễ) thứ chín của quyển luận, Ngài Long Thọ nêu lên những nguy hiểm cho những hành giả cố gắng đạt được kết quả nhanh chóng trên con đường tu tập, sau đó đưa ra ờcon đường tu dễ.ở Sự nguy hiểm có thể là lạc vào con đường Tiểu Thừa. Một vị Bồ Tát có thể chứng quả Dự Lưu (chỉ c̣n tái sinh nhiều nhất là bảy lần), hay quả vị Nhất Lai (chỉ tái sanh một lần), hay Bất Lai (không c̣n tái sanh), hay một quả vị tương đương một cách nhanh chóng. Tuy nhiên vị Bồ Tát với mọi giá phải tránh những con đường đó. Bởi v́ Bồ Tát không rời bỏ chúng sanh c̣n đang đau khổ để giải thoát một ḿnh. Mục đích của Bồ Tát không phải là giải thoát nhanh chóng nhưng là đạt được Trí Tuệ nhanh chóng để giúp chúng sanh vượt qua vô minh và khổ đau, không nhập vào Niết Bàn vĩnh cửu. Trí Tuệ này là Trí Tuệ Bất Thối hay Tất Định, Trí Tuệ không c̣n thụt lui và chắc chắn sẽ đạt đến quả vị Phật trong tương lai. Nhưng con đường này là một con đường nhiều trắc trở, và do đó Ngài Long Thọ dẫn ra một con đường thực hành dễ. Ngài nói:

Giáo Pháp của Đức Phật có nhiều con đường,

Giống như ở thế gian có con đường khó và con đường dễ,

Có con đường bộ, phải đi bộ, nên khó khăn. Có đường thủy đi bằng tàu nên dễ dàng.

Cũng vậy, con đường của chư vị Bồ Tát có con đường dễ và có con đường khó. Các Ngài có thể hoặc đi theo con đường tự lực với nhiều tinh tấn cần khổ, hoặc theo con đường đức tin để dễ dàng chứng nhập địa vị Bất Thối.

Con đường của Đức Tin là niệm hồng danh của các Đức Phật trong mười phương. Cũng theo Ngài Long Thọ, tinh yếu của của các Kinh về Tịnh Độ là: Có rất nhiều các Đức Phật trụ trong các cơi Tịnh Độ trong mười phương. Tất cả các Đức Phật này đều xưng tụng danh hiệu Đức Phật A Di Đà (Vô Lượng Thọ) và niệm lời nguyện của Ngài: ờNếu có chúng sanh tưởng nghĩ đến ta, chấp tŕ danh hiệu và quy y ta, sẽ được bực không thối chuyển. V́ vậy nên chuyên tâm tŕ tụng danh hiệu ta.ở

Bài kệ trên là bài tán thán công đức của Đức Phật A Di Đà, có công năng phát khởi tín tâm rất mạnh và giúp hành giả vượt qua những yếu đuối để mạnh bước trên con đường văng sinh Tịnh Độ.

 

(2)

Núi Vàng Ṛng (Chân Kim Sơn): là một trong những ngọn núi vây quanh núi Tu Di.

 

(3)

Tất Định: Địa vị không c̣n thối lui trên con đường tu Phật, thành Phật. C̣n gọi là Bất

Thối Địa.

 

(4)

Tin tuyệt đối vào Đức Phật là một trong những hạnh thanh tịnh cắt đứt mọi nghiệp dù xấu hay tốt c̣n vướn víu vào sinh tử. Đức tin này sẽ tẩy trừ được mọi chấp trước, mọi ái ngă... bởi v́ nó gắn liền với nguyện lực của Đức Phật A Di Đà (trong 48 lời nguyện).

 

(5)

A Tu La (Asura): Loài chúng sanh cao hơn loài người, nhưng có nhiều ḷng tranh chấp và đố kỵ.

 

(6)

Nơi tụ hội các báu: Nơi tụ hội của các bậc tôn quư, các sự thắng diệu.

 

(7)

Thánh trung tôn: Các bậc tôn quư trong hàng Thánh, cũng có thể là các điều, các đức tôn

quư của các bậc Thánh.

 

(8)

Mắt như cánh hoa sen: Có thể hiểu là h́nh dạng của mắt đẹp như cánh sen, nhưng nên hiểu là cái thấy, cái nh́n trong sạch như cánh hoa sen.

 

(9)

Thanh-văn: ở đây là các vị đă văng sinh vào cơi Tịnh Độ và đang trực tiếp nghe Pháp tu học để chứng quả Phật.

 

(10)

Thập Thiện: Mười điều thiện gồm: Thân: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm; Miệng: không nói dối, không hai lưỡi, không nói lời ác, không nói lời ba hoa vô ích; Ư: không tham, không sân, không si. Tất cả là mười.

 

(11)

Nhị túc: loài có hai chân.

 

(12)

Tướng hảo: Mười hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp của Phật.

 

(13)

Ṿng ngàn cánh chân Phật (Phật túc thiên phúc luân): Duới ḷng bàn chân Phật có h́nh bánh xe Pháp luân ngàn cánh. Đó là một trong 32 tướng tốt của Đức Phật.

 

(14)

Thuyền vào Đạo (Nhập Đạo thuyền): ở đây chỉ Pháp môn tin và niệm hồng danh Phật A Di Đà.

 

Copyright ©2005 FITEC & SearchVN. All rights reserved.