TIN NHÂN  QUẢ - TẠO PHƯỚC ĐỨC -  SỐNG CHÂN THƯỜNG

 searchvn.net                                                                                                                            TRỞ VỀ

 
 

Nhân Vương Hộ Quốc Bát Nhă Ba La Mật Đa

Hán dịch : Bất Không Bồ tát

Việt dịch : Ban dịch thuật Thiện Trí Thức

 

Phẩm tựa

1. Như thế tôi được nghe : Một thời, Phật trụ ở thành Vương Xá trong núi Thứu- Phong.

2. Cùng với Đại Tỳ Kheo gồm một ngàn tám trăm người. Đó đều là những bậc A La Hán, mọi lậu đă tận dứt, chẳng c̣n phiền năo, tâm thiện giải thoát, trí huệ giải thoát, chín trí, mười trí, việc tu hành đă xong. Ba Giả Thực quán, ba Không môn quán, công đức hữu vi, công đức vô vi, thảy đều thành tựu. Tỳ kheo ni chúng tám trăm người, đều là bậc A La Hán . Lại có vô lượng vô số Đại Bồ Tát, thực trí b́nh đẳng, vĩnh viễn đoạn trừ hoặc chướng, phương tiện thiện xảo, khởi đại hạnh nguyện. Dùng bốn nhiếp pháp thêm ích lợi cho loài hữu t́nh, bốn vô lượng tâm bao gồn tất cả, ba minh soi suốt, được năm thần thông, tu tập vô biên pháp Bồ-đề phần, công xảo kỹ nghệ vượt tất cả thế gian, thâm nhập chân lư duyên sinh, Không và Vô tướng nguyện, Diệt định hoặc xuất hoặc nhập thị hiện khó lường, hàng phục ma oán, soi chiếu b́nh đẳng chân đế và tục đế. Mắt pháp thắy khắp, biết rơ căn gốc chúng sanh, bốn vô ngại giải diễn nói không sợ hăi, mười lực diệu trí, tiếng Pháp như sấm, gần với vô đẳng đẳng Kim cương tam muội, tất cả công đức như thế đều đầy đủ. Lại có vô lượng chúng cư sỉ nam, chúng cư sỉ nữ, đều thấy Chân đế. Lại có vô lượng người tu hạnh thất hiền, bốn niệm xứ , bốn chánh cần, bốn thần túc, năm căn, năm lực, tám thắng xứ, mười biến xứ, mười sáu tâm hành, hành quán Tứ đế. Lại có mười sáu đại quốc vương, vua Ba Tư Nặc cùng với bao nhiêu ngh́n vạn quyến thuộc. Lại có các vua trời ở sáu cỏi trời dục giới, Thích Đề Hoàn Nhân cùng với quyến thuộc và vô số thiên tử.

Các Đại Phạm vương của bốn cỏi thiền sắc giới cùng với vô số các thiên tử quyến thuộc.. Mọi loài biến hóa, vô lượng hữu t́nh, như a tu la..... cùng với quyến thuộc ở đó.

3. Lại có mười phương Tịnh Độ biến hiện, hiện ra trăm ức ṭa sư tử, Phật ngồi ở trên, rộng nói pháp yếu. Trước mỗi một ṭa đều hiện một hoa, trăm ức hoa ấy có rất nhiều báu nghiêm sức. Trên các hoa ấy, mỗi một hoa lại có vô lượng Hóa Phật, vô lượng Bồ Tát, bốn chúng, tám bộ. Trong ấy, Chư Phật mỗi mỗi đều tuyên thuyết Bát Nhă Ba La Măt Đa, tiếp chuyển rộng khắp mười phương quốc độ chư Phật nhiều như số cát sông Hằng.

4. Có những đại chúng đến hội như thế đều lễ dưới chân Phật rồi lui về một bên.

5. Băy giờ là ngày mùng tám tháng đầu năm. Thế Tôn nhập tâm ma địa đại tịch tĩnh diệu kỳ, nhưng lổ chân lông trong thân phóng ánh sáng lớn, chiếu khắp mười phương vô số cơi Phật.

6. Khi ấy, vô số chư Thiên ở cơi trời dục giới mưa xuống các thư hoa mầu nhiệm. Chư Thiên các cơi trời sắc giới cũng mưa các thứ thiên hoa. Mọi sắc xen lẫn, rất là yên vui. Băy giờ, cơi vô sắc giới mưa xuống các thứ hương hoa, hương như núi Tu Di, hoa như bánh xe, như mây bay xuống, răi khắp đại chúng.

7. Khắp thế giới Phật, có sáu thứ chấn động.

8. Băy giờ đại chúng tự bảo nhau rằng : Đức Thế Tôn Đại Giác, trước đây đă v́ chúng ta mà thuyết Ma ha Bát Nhă ba la mật đa, Kim cương Bát nhă ba la mật đa, Thiên vương vấn Bát nhă ba la mật đa, Đại phẩm cùng vô số vô lượng Bát nhă ba la mật đa. Hôm nay, Như lai phóng ánh sáng lớn, tất có sự ǵ ?

9. Lúc ấy, vua Ba Tư Nặc nước Thất La Phiệt, nghĩ rằng : Nay đức Phật thị hiện ra tướng hiếm có này, tất sẽ làm trận mưa Pháp, lợi vui cho khắp tất cả.

10. Liền hỏi ông Bảo Cái, ông Vô Cău xưng cùng các cư sĩ, Ngài Xá Lợi Phất, Tu Bồ Đề cùng các Đại Thanh văn, ngài Di Lặc, Sư Tử Hống cùng các Đại Bồ Tát. Như lai hiện tướng lành như thế có ư nghĩa ǵ ?

11. Tăt cả đại chúng không ai có thể trả lời.

12. Vua Ba Tư Nặc, nương thần lực của Phật, tấu lên âm nhạc. Chư thiên cơi dục giới, cơi sắc giới, đều tấu lên vô lượng chư Thiên, tiếng vang ba ngàn đại thiên thế giới.

13. Băy giờ, Thế tôn lại phóng vô lượng vô số quang minh, ánh sáng đủ màu sắc.

14. Trong mỗi ánh sáng hiện hoa sen báu, hoa có ngàn lá, đều là sắc vàng.

15. Trên đó có những Hóa Phật, tuyên thuyết pháp yếu.

16. Quang minh của Phật khắp đến mười phương của quốc độ chư phật, đâu có duyên đều hiện. Nơi cơi Phật ở các phương khác như phương Đông có ngài Phổ Quang Đại Bồ tát, phương Đông Nam có Liên Hoa Thủ Đại Bồ tát, phương Nam có Ly Ưu Đại Bồ tát, phương Tây Nam có Quang Minh Đại Bồ tát, phương Tây có Hành Huệ Đại Bồ tát, phương Tây Bắc có Bảo Thắng Đại Bồ tát, phương Bắc có Thắng Thọ Đại Bồ tát, phương Đông Bắc có Ly Trần Đại Bồ tát, phương trên có Hỹ Thụ Đại Bồ Tát, phương dưới có Liên Hoa Thắng Đại Bồ Tát, mỗi ngài cùng với vô lượng trăm ngàn câu chi Đại Bồ Tát, đều đến tụ hội.

17. Mang theo vô số hương, răi vô số hoa, tán vô lượng âm nhạc cúng dường Như lai, đănh lễ chân Phật, im lặng lui ngồi, chắp tay cung kính, nhất tâm nh́n ngắm Phật.

Phẩm quán Như Lai ( Thứ Hai)

18. Băy giờ, Thế tôn từ tam muội khởi, ngồi trên ṭa sư tử, nói với đại chúng : "Ta biết mười sáu vị quốc vương, đều nghĩ thế này : Bạch Thế Tôn đại từ làm lợi vui cho khắp cả, các vua chúng con làm thế nào để giữ nước ? Các trai lành ! Ta nay trước hết v́ các Đại Bồ tát, Thuyết về hộ tŕ Phật quả, hộ tŕ Thập địa hành, các ông hăy nghe ! Hăy nghe ! Khéo suy nghĩ và nhớ giữ !"

Lúc ấy, đại chúng và vua Ba Tư Nặc, nghe Phật nói thế, đều cùng tán thán : Lành thay ! Lành thay ! Liền răi vô lượng hoa diệu báu giữa không trung, biến thành lộng báu, che khắp đại chúng không sót chỗ nào.

19. Vua Ba Tư Nặc liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, chắp tay quỳ bạch Phật : Thế Tôn ! Đại Bồ tát làm như thế nào để hộ tŕ Phật quả ? Làm thế nào để tu hành Thập Địa ?

20. Phật dạy vua Ba Tư Nặc : Việc hộ tŕ Phật quả, các Đại Bồ tát nên trụ như thế này : giáo hóa tất cả mọi loài sanh bằng trứng, sanh bằng thai, sanh từ chỗ ẩm ướt, loài hóa sanh, mà không thấy tướng của sắc cũng không thấy tánh Như của sắc. Thọ, tưởng, hành, thức ngă, nhân, tri kiến, thường, lạc, ngă tịnh, bốn nhiếp pháp, sáu ba la mật, hai đế, bốn đế, lực, vô uư, cùng tất cả mọi hành, cho đến Bồ Tát, Như Lai cũng lại như thế : chẳng thấy tướng, chẳng thấy Như. Tại sao thế ? V́ tánh của các pháp, tức là Chân thực. Không đến không đi, không sanh không diệt, đồng với Chân Tế, b́nh đẳng với Pháp Tánh, không hai không khác, cũng như hư không. Tăt cả uẩn, xứ, giới đều không có ngă và ngă sở. Đó là Đại Bồ tát tu hành Bát nhă ba la mật đa.

21. Vua Ba Tư Nặc bạch Phật : Thế tôn ! Nếu Bồ tát và chúng sanh thể tính không hai, Bồ tát dùng tướng nào để hóa độ chúng sanh ?

22. Phật dạy : Đại vương ! Đối với những cái mà chúng ta thấy là Sắc, thọ, tưởng, hành, thức, thường, lạc, ngă tịnh, pháp tính chẳng trụ sắc, chẳng trụ phi sắc.. Đối với thọ tưởng hành thức, thường lạc ngă tịnh, pháp tánh cũng không trụ ở tịnh, không trụ ở phi tịnh. Tại sao thế ? V́ Tánh cuả tất cả các Pháp, vốn thật là Không.

23. Từ thế đế, từ ba thứ giả danh, tất cả các loài hữu t́nh, uẩn, xứ, giới, pháp, tạo phước, phi phước, bất động nghiệp của tứ thiền bát định, nhân quả đều có. Ba thừa hiền thánh, các sự tu hành cho đến Phật quả, đều gọi là có. Sáu mươi hai kiến là có.

24. Đại vương ! nếu bám nắm lấy danh tướng, phân biệt mọi pháp, sáu nẽo, bốn loại sinh, hành quả của ba thừa, thế tức là chẳng thấy thực tính của các pháp.

25. Vua Ba Tư Nặc bạch Phật : Thực tánh của các pháp, vốn thanh tịnh b́nh đẳng, chẳng phải có chẳng phải không, trí làm sao soi chiếu ?

26. Phật dạy : Đại vương ! Trí soi chiếu thực tính, chẳng phải có chẳng phải không.

27. Tại sao như thế ? V́ pháp tánh là Không vậy. Thế tức là sắc, thọ, tưởng, hành, thức mười hai xứ, mười tám giới, phàm phu, mười hai nhân duyên, hai đế, bốn đế, tất đều Không.

Những pháp ấy, sanh ngay diệt ngay, vừa có vừa không mỗi mỗi sát na liên tục như thế. Tại sao vậy? Trong một niệm có 90 sát-na, trong một sát na trải qua 900 lần sinh diệt, cho nên tất cả các pháp hữu vi đều là Không vậy. Dùng trí Bát nhă ba la mật đa sâu xa, soi thấy các pháp tất cả đều không : trong là Không , ngoài là Không, trong ngoài đều Không,Không Không, đại Không, thắng nghĩa Không, hữu vi Không, vô vi Không , vô thuỷ Không, tất cánh Không, tán Không, bản tính Không, tư tưởng Không, nhất thiết pháp Không, Bát Nhă ba la mật đa Không, nhân Không, Phật quả Không, Không Không, cho nên là Không.

28. Mọi pháp hữu vi, do pháp tập hợp cho nên có, thọ tập hợp cho nên có , danh tập hợp cho nên có, nhân tập hợp cho nên có, quả tập hợp cho nên có, cho nên có sáu đường, cho nên có Thặp địa, cho nên có Phật quả, mọi cái đều có.

29. Các trai lành ! nếu Bồ tát trụ nơi tướng của pháp, tướng ngă, tướng nhân, tướng chúng sanh, trụ nơi thấy biết, tức là trụ thế gian, tức chẳng phải Bồ tát. Tại sao thế? Tăt cả các pháp đều Không

30. Nên đói với tất cả các pháp mà được không động, không sanh không diệt, không có tướng, không không tướng, không hề khởi kiến. Tại sao thế ? Tăt cả các pháp đều Như. Chư Phật, Pháp, Tăng cũng Như.

31. Một niệm ban đầu, Thánh trí hiện tiền, đầy đủ tám vạn bốn ngàn ba la mật đa, gọi là Hoan Hỹ địa . Chướng hết được giải thoát, vận chở gọi là thừa. Khi động tướng diệt là kim cương định. Thể, tướng b́nh đẳng, gọi là nhất thiết trí trí.

32. Đại vương ! Văn tự chương cú của Trí Huệ Bát nhă ba la mật đa này, trăm đùc Phật, ngàn đùc Phật, trăm vạn ngành ức, tất cả chư Phật cùng đ̣ng nói.

33. Nếu có kẻ đem ba ngàn đại thiên thế giới nhiều như số cát sông Hằng, trong đó đầy đủ cả bảy thứ báu vật, bố thí cho tất cả hữu t́nh của đại thiên thế giới, cho đến khi các hữu t́nh ấy đều đắc quả A La Hán, kẻ ấy cũng không bằng người đói với kinh này, chỉ khởi lên một niệm ḷng tin trong sạch, huống là có thể thọ tŕ, đọc tụng, hiểu ngộ được một câu !

34.Tại sao thế ? Tánh của văn tự là giải thoát. Không có tướng văn tự, chẳng phải pháp, chẳng phải phi pháp.

35. Bát nhă là Không, Bồ tát cũng Không.Tại sao thế ! Trong bậc Thập Địa, mỗi đîa đều có giai đọan mới nhập (thủy sinh ), giai đoạn an trụ (trụ sinh), và giai đoạn xuất đîa (chúnh sinh). Ba mươi giai đoạn của thập địa ấy đều Không, nhất thiết trí cũng Không.

36. Đại vương ! Nếu Bồ tát thấy có cảnh, thấy có trí quán chiếu, thấy có lời thuyết giảng, thấy có sự lănh thọ, tức là chẳng phải thánh kiến mà là ngu phu kiến. Ba cơi quả báo hữu t́nh đều hư vọng : dục giới phân biệt tạo ra mọi nghiệp, sắc giới bốn cơi thiền đînh cũng làm ra nghiệp, vô sắc giới bốn không định cũng là nơi khởi mọi nghiệp. Ba cơi có nghiệp tất cả đều Không. Vô minh căn bản sinh ra tam giới cũng Không, Các địa vị thánh vô lậu sinh diệt, đói ở trong tam giới c̣n tạp khí vô minh và quả báo biến đi cũng lại là Không . Đẳng giác Bồ tát đắc Kim cương đînh.c̣n hai chướng sinh tử nhân quả cũng Không. Nhất thiết trí cũng Không. Phật vô thượng giác, chủng trí tṛn đủ, tịch diệt, pháp giới chân tịnh, tánh tướng b́nh đẳng, thần thông diệu dụng, cũngKhông. Các trai lành ! Nếu muốn tu tập Bát nhă ba la mật đa, người nói người nghe, đeu như người huyễn, không có sự nói cũng không có sự nge, pháp đ̣ng Pháp Tánh, cũng như hư Không. Tăt cả các pháp đều Như.

37. Đại vương ! Bồ tát ma ha tát hộ Phật quả là như thế.

38. Lúc bấy giờ, Thế Tôn hỏi vua Ba Tư Nặc : Ông dùng tướng ǵ để quán Như Lai ?

39. Vua Ba Tư Nặc đáp : Quán thực tướng của thân thế nào, quán Phật như thế. Không tiền tế, không hậu tế, không trung tế, chẳng trụ ba tế, chẳng trụ năm uẩn, chẳng ĺa năm uẩn, chẳng trụ bốn đại, chẳng ĺa bốn đại, không trụ sáu xứ, không ĺa sáu xứ, không trụ tam giới, không ĺa tam giới, không trụ phương hướng, không ĺa phương hướng.Ḿnh cùng với vô minh, chẳng phải một, chẳng phải khác, chẳng đây, chẳng kia, chẳng sạch, chẳng dơ, chẳng phải hữu vi, chẳng phải vô vi, không có tự tướng, không có tha tướng, không danh không tướng, không mạnh không yếu,không hiển bài không thuyết giảng. Không cho không giữ, không giới không phạm, chẳng phải nhẫn chẳng phải sân, chẳng tinh tiến chẳng giải đăi,chẳng định chẳng loạn, chẳng trí chẳng ngu, chẳng đến chẳng đi, chẳng vào chẳng ra, chẳng phải ruộng phước chẳng phải không ruộng phước, chẳng phải tướng chẳng phải vô tướng, chẳng lấy chẳng bỏ, chẳng lớn chẳng nhỏ, chẳng phải thấy chẳng phải nghe, chẳng phải giác chẳng phải biết chỗ tâm hành diệt, sự nói năng dứt, đ̣ng Chân Tế, b́nh đẳng với Pháp Tánh.

40. Con lấy tướng ấy mà quán Như Lai.

41. Phật dạy : Này trai lành ! Như ông nói đó, chư Phật Như Lai, công đức của lực vô uư và các pháp bất cộng nhiều như cát sông Hằng, cũng đều như thế. Tu Bát nhă ba la mật đa, nên như thế mà quán. Nếu thấy khác đi, gọi là tà quán.

42. Khi thuyết pháp này, vô lượng đại chúng đắc pháp nhăn tịnh.

Phẩm bồ tát hạnh (Thứ ba)

43. Khi ấy, vua Ba Tư Nặc bạch Phật : Thế Tôn ! Đại Bồ tát hộ thập địa hành, nên tu hành thế nào ? Hóa độ chúng sanh như thế nào ? Lại dùng tướng ǵ để trụ mà quán sát ?

44. Phật bảo đại vương : Các Bồ tát ma ha tát, y theo năm pháp nhẫn mà tu hành, đó là : phục nhẫn, tín nhẫn, thuận nhẫn, vô sanh nhẫn. Mỗi nhẫn đều có thượng, trung, hạ. Với tịch diệt nhẫn th́ chỉ có thượng, hạ. Đó là Bố tát tu hành Trí Huệ Bát nhă ba la mật đa.

45. Này trai lành ! Địa vị sơ phục nhẫn (thập trụ) là Tăp chủng tính Bồ tát, tu hành thập trụ, mới vừa phát tâm. Có vô số chúng sanh thấy Phật, Pháp, Tăng bèn khởi mười ḷng tin (thập tín), đó là : tâm tín, tâm niệm, tâm tinh tiến, tâm huệ, tâm định, tâm không lui sụt, tâm giới tâm nguyện, tâm hộ pháp, tâm hồi hướng. Đủ mười tâm này, mới có thể trút phần giáo hóa chúng sanh, vượt khỏi nhị thừa và tất cả thiên địa. Đây là Bồ tát mới trưởng dưỡng tâm, gọi là thánh thai.

46. Thứ đến, là Tính chủng tính Bồ tát (thập hạnh), tu hành mười thứ ba la mật đa, khởi mười đói trị, đó là : quán sát thân bất tịnh, thọ là khổ, tâm vô thường và pháp vô ngă. Đối trị tham sân si là ba căn bất thiện bằng ba thiện căn là bố thí, từ bi và trí tuệ. Quán sát ba đời : nhân nhẫn của quá khứ, nhân quả nhẫn của hiện tại, quả nhẫn của vị lai. Vị Bồ tát này làm lợi rộng lớn cho chúng sanh, vượt qua ngă kiến, nhân kiến, tư tưởng thấy có chúng sanh. Tư tưởng điên đảo của ngoại đạo không thể phá hoại được.

47. Thứ đến Đạo chủng tính Bồ tát (thập hồi hướng) tu hành mười hồi hướng, khởi mười tâm nhẫn. Đó là : quán năm uẩn sắc thọ tưởng hành thức, được giới nhẫn, định nhẫn , huệ nhẫn, giải thoát nhẫn, giải thoát tri kiến nhẫn. Quán nhân quả tạo thành ba cơi được Không nhẫn Vô tướng nhẫn, Vô nguyện nhẫn. Quán tục đế, và chân đế tức giả tức thực : quán các pháp vô thường th́ đắc vô thường nhẫn, quán tất cả các pháp đều Không th́ đắc Vô sanh nhẫn. Vị Bồ tát này làm chuyển luân vương, hay rộng hóa, lợi vui cho tất cả chúng sanh.

48. Thứ đến, là Tín nhẫn Bồ tát ( vào thập địa ) : Hoan hỹ địa, y cấu địa, Phát quang địa. Hay đoạn trừ ba chướng trói buộc do phiền năo của sắc. Hành bốn nhiếp pháp : bố thí, ái ngữ, lợi hành, đ̣ng sự. Tu bốn vô lượng tâm :Từ vô lượng tâm, Bi vô lượng tâm, Hỹ vô lượng tâm, Xă vô lượng tâm. Làm đày đủ bốn hoằng nguyện : đoạn mọi triền cái, thường giáo hóa chúng sanh, tu Tri kiến Phật, thành Vô thượng giác. Trụ ở ba môn giải thoát : Không giải thoát môn, Vô tướng giăi thoát môn, Vô nguyện giải thoát môn . Đó là mọi hành căn bản của Bồ tát ma ha tát từ lúc mới phát tâm cho đến Nhất thiết trí, làm lợi ích an vui cho tất cả chúng sanh.

49. Thứ đến, Thuận nhẫn Bồ tát là Diệm huệ địa, Nan thắng địa, Hiện tiên địa. Hay đọan ba chướng trói buộc do phiền nảo của tâm. Hay ở một nơi thân biến đi mười phương ức cơi Phật, hiện bất khả thuyết thần thông biến hóa, làm lợi vui chúng sanh.

50. Thứ đến, Vô sanh nhẫn Bồ tát là : Viễn hành địa, Băt động địa, Hiện tiền địa. Hay đoạn ba chướng tập khí của sắc tâm, lại hay thị hiện thân nhiều không thể nói, tùy loài mà làm lợi ích cho chúng sanh.

51. Thứ đến là Tîch diệt nhẫn. Phật và Bồ tát đ̣ng một nhẫn này.

52. Kim cương định trụ ở địa vị hạ nhẫn, gọi là Bồ tát. Đến thượng nhẫn th́ gọi là Nhất thiết trí của Phật.

53. Quán thắng nghĩa đế, đoạn tướng vô minh, đó là Đẳng giác. Một tướng không tướng, b́nh đẳng không hai, là thứ mười một, địa Nhất thiết trí.

54. Chẳng phải có, chẳng phải không, lặng trong thanh tịnh, không đến, không đi, thường trụ không biến đổi, đ̣ng với Chân Tế, b́nh đẳng với Pháp Tánh, đại bi tṛn đầy không đợi nhân duyên, thường giáo hóa chúng sinh, cởi xe Nhất thiết đi giáo hóa ba cơi. Các trai lành ! Mọi loài chúng sanh tất cả phiền năo, nghiệp quả dị thục, hai mươi hai căn, đều không ngoài tam giới. Chư Phật ứng hóa từ Pháp Thân chỉ dạy, cũng không ĺa rời tam giới. Nếu có người nói : riêng ngoài ba cơi có một thế giới chúng sanh, đó lá kinh Đại Hữu của ngoại đạo nói. Đại vương ! ta thường bảo mọi chúng sanh, chỉ cần đoạn hết vô minh tạo thành tam giới, tức gọi là Phật. Tự tính thanh tịnh, gọi là tính bản giác, tức là Nhất thiết trí trí của chư Phật.

55. Do năm pháp nhẫn ấy, làm căn bản cho chúng sanh đắc quả, cũng là căn bản tu hành của chư Phật và chư Bồ tát. Đó là chỗ tu hành căn bản của Bồ tát. Trong năm pháp nhẫn đó, gồm có mười bốn cấp bậc nhẫn.

56. Phật bảo : Đại vương ! ông đă hỏi Ta Bồ tát giáo hóa chúng sanh như thế nào ? Đại Bồ tát giáo hóa chúng sanh như thế này : từ sơ nhất địa đến một địa sau, từ chỗ hành của ḿnh cho đến chỗ hành của Phật, đều phải thấy biết tất cả bằng trí huệ.

57. Có Đại Bồ tát, trụ nơi trăm cơi Phật, làm Chuyển luân thánh vương ở châu Thiệm Bộ, tu hành trăm môn pháp minh, lấy bố thí ba la mật đa, trụ tâm b́nh đẳng, giáo hóa tất cả chúng sanh khắp bốn thiên hạ.

58. Có Đại Bồ tát, trụ ngàn cơi Phật, làm vua cơi trời Đao Lợi, tu hành ngàn môn pháp minh, diễn nói mười thiện đạo giáo hóa tất cả chúng sanh.

59. Có Đại Bồ tát trụ vạn cơi Phật, làm vua cơi trời Da Ma, tu hành vạn môn Pháp minh, y vào bốn thiền định, giáo hóa tất cả chúng sanh.

60. Có Đại Bồ tát, trụ ức cơi Phật, làm vua cơi trời Đổ Sử Đa, tu ức môn pháp minh, hành pháp Bồ đề phần, giáo hóa tất cả chúng sanh.

61. Có Đại Bồ tát, trụ trăm ức cơi Phật, làm vua cơi trời Hóa Lạc, tu trăm ức môn pháp minh, quán tục đế, Chơn đế và Tứ đế, giáo hóa tất cả chúng sanh.

62. Có Đại Bồ tát, trụ ngàn ức cơi Phật, làm vua cơi trời Tha Hóa Tự Tại, tu hành ức môn pháp minh, trí giác ngộ mười hai nhân duyên, giáo hóa tất cả chúng sanh.

63. Có Đại bồ tát, trụ vạn ức cơi Phật, làm Phạm vương cơi sơ thiền, tu vạn ức môn pháp minh, trí huệ phương tiện thiện xảo , giáo hóa tất cả chúng sanh.

64. Có Đại Bồ tát, trụ trăm vạn số vi trần cơi Phật, làm Phạm vương cơi nhị thiền, tu trăm vạn số vi trần môn pháp minh, song chiếu b́nh đẳng, thần thông trí nguyện, giáo hóa tất cả chúng sanh.

65. Có Đại Bồ tát, trụ trăm vạn ức vô số vi trần cơi Phật, làm Phạm vương cơi tam thiền, tu trăm vạn ức vô số vi trần môn pháp minh, dùng bốn trí vô ngại giáo hóa tất cả chúng sanh.

66. Có Đại Bồ tát, trụ bất khả thuyết bất khả thuyết cơi Phật, làm Đaị Phạm thiên vương cơi tứ thiền, là vua của ba cơi, tu bất khả thuyết bất khả thuyết môn pháp minh, đắc tam muội hiểu hết các sự lư của ba cơi, chỗ hành đồng với Phật, thấu hết gốc rễ của ba cơi, lợi khắp cho chúng sanh,như cảnh giới Phật.

67. Đó là những Đại Bồ tát, hiện làm thân vua để hóa đạo. Mười phương Như Lai lại cũng như thế : chứng vô lượng giác, thường biến khắp pháp giới làm lợi ích an vui cho chúng sanh.

68. Lúc ấy, tất cả đại chúng, từ chỗ ngồi đứng dậy, răi vô số hoa, đót vô số hương, cúng dường cung kính xưng tán Như Lai.

69. Lúc ấy vua Ba Tư Nặc, ở trước Phật xưng tán kệ rằng :

Thế Tôn đạo sư, thể kim cương

Tâm hành tịch diệt, chuyển pháp luân

Viên âm khai diễn tám thứ tiếng

Trăm vạn ức chúng liền đắc đạo.

Trờ́ người đều tu hạnh xuất ly

Hay hành tất cả đạo Bồ tát

Công đức năm nhẫn diệu pháp môn

Mười bốn Bồ tát hay hiễu kỹ.

Tam Hiền, Thập Thánh trong Nhẫn hành.

Duy Phật độc nhất thầu tận nguồn

Biển Phật Pháp Tăng ba tạng báu

Vô lượng công đức nhiếp trong đó.

70. Bồ tát thập thiện phát tâm lớn

Ĺa xa ba cơi, biển trâm luân

Phẩm trung hạ thiện : vua Túc Luân.

Thượng phẩm mười thiện : vua Thiết Luân.

Tập chủng tính : Đồng luân, hai thiên hạ

Tính chủng tính : (vua) Ngân Luân, ba cơi

Đạo chủng tính, vua chuyển luân Kiến Đức

Bảy báu, Kim Luân, bốn thiên hạ.

71. Phục nhẫn, thánh thai, ba mươi vị.

Thập trụ, thập hành, thập hồi hướng

Ba đời chư Phật trong Nhẫn học

Không ǵ chẳng bởi phục nhẫn sanh.

Căn bản hành của thảy Bồ tát

Thế nên, phát tâm, tín tâm khó

Được tín tâm tất không lui sụt

Tiến nhập sơ địa, hiểu vô sinh.

Hóa lợi ḿnh, người đều b́nh đẳng

Đó là Bồ tát mới phát tâm.

72. Hoan hỷ Bồ tát, vua chuyển luân

Sơ chiếu hai đế, lư b́nh đẳng

Quyền hóa hữu t́nh qua trăm nước

Bố thí trong sạch lợi quần sinh

Nhập lư Bát nhă gọi là trụ

Đức hạnh trụ sanh gọi là địa

Sơ trụ nhất tâm đủ mọi đức

Ở trong Thắng nghĩa nên không động.

Ly Cău Bồ Tát, vua Đạo Lợi

Hiện trong sáu đường, ngàn quốc độ

Giới đủ, thanh tịnh rất tṛn đầy,

Ĺa hẳn phạm lầm các lỗi trái.

Vô tướng, vô duyên, chân thực tính.

Vô thể, vô sanh, chiếu không hai

Phát Quang Bồ tát, vua Dạ Ma

ng h́nh đi khắp vạn cơi Phật.

Khéo hay thông suốt Tam-ma-địa

Ẩn hiện tự tại đủ Tam minh.

73. Hoan Hỷ, Ly Cău với Phát Quang

Hay diệt sắc phược, mọi phiền năo

Quán đủ tất cả thân khẩu nghiệp

Pháp tánh thanh tịnh chiếu tṛn đầy.

74. Diệm Hụê Bồ tát đại tinh tấn.

Vua trời Đổ Sử đi ức cơi.

Thực trí tịch diệt, phương tiện trí.

Đạt tánh vô sanh, chiếu không hữu.

Nan thắng Bồ tát đắc b́nh đẳng

Vua trời Hóa Lạc trăm ức nước.

Chân quán Không Không, không hai tướng.

Hiện h́nh sáu nẽo đâu cũng khắp.

Hiện Tiền Bồ tát, vua Tự Tại.

Soi thấy duyên sinh tướng không hai.

Trí quang Thắng nghĩa soi tṛn khắp.

Đi ngh́n ức cơi hóa chúng sanh.

75. Diệm Huệ, Nan Thắng, Hiện Tiền địa.

Hay trừ ba chướng mê tâm hoặc.

Không Huệ, tịch nhiên, vô duyên quán.

Soi lại tâm không vô lượng cảnh.

76. Viễn hành Bồ tát vua sơ thiền.

Trụ nơi vô tướng, vô sanh nhẫn.

Phương tiện thiện xảo đều b́nh đẳng.

Thường hóa chúng sanh muôn ức cơi.

77. Tiến nhập ḍng pháp Băt Động địa.

Hết hẳn phân đoạn (sanh tử), siêu mọi hữu.

Thường quán thắng nghĩa, chiếu không hai.

Hai mươi mốt sinh : không tịch hạnh.

(mỗi địa có ba sinh)

Mến pháp cũng là vô minh tập.

Viễn Hành đại sĩ riêng dứt đoạn.

78. Băt động Bồ tát, vua nhị thiền.

Được biến dị thân thường tự tại.

Ở nơi trăm vạn vi trần cơi.

Tùy theo h́nh loại, hóa chúng sanh.

Biết hết ba đời vô lượng kiếp.

Nơi Đệ nhất nghĩa thường không động.

Thiện Huệ Bồ tát vua tam thiền.

Hay ở ngh́n xa đồng thời hiện.

Thường tại vô vi, hạnh không tịch.

Phật tạng hằng Sa, một niệm thông.

Pháp Vân Bồ tát, vua tứ thiền.

Nơi ức hằng cơi hóa quần sinh.

Vừa nhập Kim cương, biết tất cả.

Hai mươi chín sinh đă vượt qua.

Trong nhẫn tịch diệt, quán hạ nhẫn.

Một lần chuyển : Vô thượng diệu giác.

79. Băt Động,Thiện Huệ, Pháp Vân địa.

Trừ tập khí vô minh có từ trước.

Vô minh tám thức đều trọn chuyển.

Nhị đế tṛn đầy thông đạt hết.

80. Chánh giác vô tướng khắp pháp giới.

Ba mươi sinh hết, trí tṛn sáng.

Tịch chiếu vô vi, chân giải thoát.

Đại bi rộng khắp không ǵ sánh.

Suốt trong, bất động, thường an lạc.

Quang minh chiếu khắp, không chỗ chiếu.

81. Tam Hiền, Thập Thánh c̣n quả báo.

Duy Phật là người trụ Tịnh Độ.

Tăt cả hữu h́nh đều tạm ở.

Đến nguồn Kim cương thường không động.

82. Như Lai ba nghiệp, đức không lường.

Với mọi chúng sanh đều thương sót.

Pháp vương vô thượng, che giữa đời.

Vô lượng quang trùm khắp đại chúng.

Miệng thường thuyết pháp, nghĩa toàn chân.

Tâm trí tịch diệt, chiếu không duyên.

Sư tử giữa đời v́ diễn thuyết.

Câu nghĩa sâu xa chưa từng có.

Vô số cơi đăt đều chấn động.

Đại chúng hoan hỹ khắp ơn ích.

83. Thế Tôn khéo thuyết mười bốn vị (nhẫn)

V́ thế nay con đầu đảnh lễ.

84. Khi ấy, trăm vạn ức vô số đại chúng, nghe Phật cùng vua Ba Tư Nặc thuyết 14 nhẫn đày đủ vô lượng công đức, được pháp lợi lớn, nghe pháp liền ngộ giải, đắc vô sinh nhẫn, nhập vào chính vị.

85. Thế Tôn bèn nói với đại chúng : Vua Ba Tư Nặc đây, ở đời quá khứ mười ngàn kiếp, trong pháp Phật Long quang Vương, làm tứ địa Bồ tát. Ta lúc ấy là Bát địa Bồ tát. Nay trước ta, ông phát lớn tiếng rống loài sư tử. Như thế, như thế, như ông nói đó, được nghĩa chân thật không thể nghĩ bàn, chỉ có Phật với Phật mới biết việc ấy.

86. Các trai lành ! Mười bốn nhẫn này là Pháp Thân của chư Phật, là chỗ tu hành của mọi Bồ tát, không thể nghĩ bàn, không thể đo đếm.

87. V́ sao thế ? Tất cả chư Phật đều từ trong Bát nhă ba la mật đa mà sinh, trong Bát nhă ba la mật đa mà giáo hóa, trong Bát nhă ba la mật đa mà nhập diệt. Nhưng thật ra, chư Phật sinh mà không có chỗ sinh, giáo hóa mà không chỗ giáo hóa, nhập diệt mà không chỗ nhập diệt. Tuyệt đói, không hai, chẳng phải tướng chẳng phải vô tướng, không tự không tha, không đến không đi, thật như hư không. Các trai lành ! Tăt cả chúng sanh tính vốn không sanh diệt, do các pháp huyễn hóa tập hợp lại mà có. Uẩn, xứ, giới tướng thật ra không hợp không tan, tất cả các pháp đồng với Pháp Tánh, tịch nhiên là Không. Tăt cả chúng sanh, tự tính vốn thanh tịnh, tất cả việc làm đều không trói buộc không cởi mở, chẳng phải nhân chẳng phải quả, chẳng phải không nhân quả. Mọi khổ, thọ, hành, phiền năo, chỗ hiểu biết, tướng ta tướng người, tướng thấy biết, tướng thọ giả, tất cả đều Không, là Đệ nhất nghĩa Không, chân thật, không h́nh tướng, không tạo tác, không thuận theo điên đảo, không thuận theo huyễn hóa. Không có tướng của sáu đường, không có tướng của bốn loại sinh, không tướng thánh nhân, không tưóng Tam bảo, thật như hư không. Các trai lành ! Bát nhă rốt ráo, không có biết không có thấy, chẳng hành chẳng duyên, không bỏ không lấy. Chánh trụ quán sát mà không có tướng chiếu soi, hành đạo này cũng như hư không vậy. Pháp tướng như thế, tâm có chỗ được, tâm không chỗ được, đều bất khả đắc. Trong Bát nhă , chẳng phải là ngũ uẩn chẳng phải ĺa ngũ uẩn, chẳng phải là chúng sanh, chẳng phải ĺa chúng sanh, chẳng phải là cảnh giới chẳng phải ĺa cảnh giới, chẳng phải là hành giải chẳng phải ĺa hành giải, thật tướng của chúng không thể nghĩ lường. Thế nên tất cả Bồ tát ma ha tát chưa đạt đên cứu cánh phải ở trong nhẫn mà hành. Biết tất cả chư Phật như huyễn hóa, được vô trụ, ở trong đó mà giáo hóa. Bởi vậy mười bốn nhẫn thật không thể suy lường.

88. Hởi trai lành ! Nay ông nói tạng công đức là mười bốn nhẫn ấy, rất lợi ích cho tất cả chúng sanh. Nếu có vô lượng Bồ tát Thập địa nhiều như số cát sông Hằng, nói công đức của 14 nhẫn trên, trăm ngàn ức phần chỉ như một giọt nước ở trong biển lớn. Ba đời chư Phật hiểu biết như thật, cùng tất cả hiền thánh tất đều xưng tán, bởi thế nay Ta lược nói ít phần công đức ấy. Các trai lành ! Mười bốn nhẫn ấy là chỗ tu hành của mười phương thế giới quá khứ hiện tại tất cả các Bồ tát, là chỗ hiễn thị của hết thảy chư Phật.

Chư Phật, đại Bồ tát đời vị lai cũng phải như thế. Nếu Phật Bồ tát không do pháp môn này mà được Nhất thiết trí, thật không thể có. Tại sao thế ? Chư Phật, Bồ Tát đều chung nhau một đường này.

89. Các trai lành ! Nếu người nào được nghe Trụ Nhẫn, Hành nhẫn, Hồi hướng nhẫn, Hoan hỹ nhẫn, Ly cấu nhẫn, Phát quang nhẫn, Diệm huệ nhẫn, Nan thắng nhẫn, Hiện tiền nhẫn,Viễn hành nhẫn, Băt động nhẫn, Thiện huệ nhẫn, Pháp vận nhẫn, Chánh giác nhẫn, mà có thể khởi lên một niệm trong sạch, người ấy đă vượt qua trăm kiếp, qua ngàn kiếp, qua vô lượng vô biên hằng hà sa kiếp, vượt qua tất cả khổ nạn, không sanh vào đường ác, chẳng bao lâu sẽ đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

90.Lúc ấy, mười ức vị Đại Bồ tát cùng tên là Hư không Tạng cùng vô lượng vô số các đại chúng hiện đến, hoan hỹ vui mừng, thừa uy thần Phật, thấy khắp mười phương vô số chư Phật, mỗi vị đều ở đạo tràng thuyết 14 nhẫn, như đức Thế Tôn chúng ta thuyết không khác. Người người đều hoan hỹ, như lời thuyết giảng mà tu hành Bát nhă ba la mật đa.

91. Khi ấy, Thế Tôn bảo vua Ba Tư Nặc : Lúc năy, ông hỏi rằng : Lại thấy tướng ǵ mà trụ để quán sát ? Bồ tát Ma ha tát nên quán như thế này :

92. Dùng thân huyễn hóa mà thấy huyễn hóa, chánh trụ b́nh đẳng, không có ta, không có người, quán sát như thế giáo hóa lợi ích cho chúng sanh. Bởi các hữu t́nh trong kiếp xa xưa, thức khởi lên trong sát na đầu tiên khiến khác với loài gỗ đá, từ đó sinh ra có nhiễm có tịnh. Ṛi tự sinh ra vô lượng vô số thức bản (h́nh ảnh nối kết nhau của thức) nhiễm tịnh. Từ sát na đầu tiên của kiếp xa xưa vô thủy, cho đến một sát na chót hết của Kim cương định, có vô số thức không thể nói hết, sanh ra sắc, tâm, hai pháp của các loài hữu t́nh. Sắc th́ gọi là sắc uẩn, tâm là bốn uẩn thọ tưởng hành thức, đều có đặc tính tích tụ, che dấu cái Thể Tánh chân thực. Đại vương !Chỉ một sắc pháp đósinh ra vô lượng sắc : sắc pháp của mắt th́ gọi là Sắc, của tai th́ gọi là âm thanh, của mũi là mùi hương, của lưỡi là vị, của thân là xúc, cứng rắn gọi là đăt, trơn lỏng gọi là nước, nóng cháy gọi là lửa, nhẹ động gọi là gió : sinh ra năm thức xứ, gọi là năm sắc căn. Nảy nở, sanh sôi, nối tiếp như thế, một sắc một tâm sinh ra vô lượng không thể nói hết sắc tâm, đều như huyễn thảy.

93. Các trai lành ! Các thọ nhiễm của loài hữu t́nh, nương vào vô minh thế tục mà giả dối dựng lập. Dầu có dầu không, dầu tích cực hay tiêu cực, đều sinh ra vọng tưởng nhớ nghĩ thuộc về hữu t́nh, làm ra nghiệp, thọ quả báo,đều là thế đế. Ba cơi, sáu đường, tất cả hữu t́nh, bốn hạng người trong xă hội, ta, người, thấy biết, sắc pháp, tâm pháp đều là những h́nh tướng thấy trong mộng.

94. Các trai lành ! Tăt cả các danh đều là giả đặt. Khi Phật chưa ra đời, huyễn pháp của thế đế không có danh, không có nghĩa, cũng không có thể tướng. Không có danh tự ba cơi, thiện ác, quả báo sáu đường. Chư Phật xuất hiện, v́ loài hữu t́nh, mới nói đến ba cơi, sáu đường, nhiễm tịnh, vô số danh tự. Như thế tất cả đều như tiếng vang, có hô lên mà có vang dội lại.

95. Các pháp đều tiếp nối nhau, niệm niệm chẳng đừng, sát na sát na, chẳng phải như cũ, chẳng phải khác đi, thoắt khởi thoắt diệt, chẳng đứt đọan, chẳng thường c̣n. Tăt cả các pháp như bóng sáng do hơi nóng mặt trời.

96. Các pháp đói đăi nhau, đó là sắc giới, nhăn giới, nhăn thức, giới cho đến pháp giới, ư giới, ư thức giới, tất cả đều như ánh chớp, không định, cùng đói đăi nhau mà giả có. Hữu và vô, một và khác, thật như mặt trăng thứ hai, do ḷa mắt mà thành.

97. Các pháp do duyên mà thành, uẫn, xứ, giới, pháp, như bọt trên mặt nước.

98. Các pháp do nhân mà thành. Tăt cả hữu t́nh, nhân quả câu thời, nhân quả dị thời, ba đời thiện ác, như mây trong không.

99. Các trai lành ! Bồ tát ma ha tát, trụ nơi vô phân biệt, không có tướng đây tướng kia, không có tướng tự, tướng tha, thường hành giáo hóa lợi lạc mà không có tướng hóa lợi. V́ thế nên biết : kẻ phàm phu do cấu thức nhiễm trước lấy những h́nh tướng hư vọng, nên bị tướng trói buộc.Bồ tát soi thấy, biết cúng như là h́nh huyễn, không có thể tướng, như hoa đóm giữa không trung. Đó là Đại Bồ tát, trụ nơi quán sát như thực, lợi cho ḿnh cho người.

100. Nói pháp này xong, trong chúng hội có vô lượng chúng trời người, có người đắc phục nhẫn, có người đắc vô sanh nhẫn, nhất địa, nhị địa, cho đến thập địa, vô lượng Bồ tát đắc Nhất sinh bổ xứ.

Phẩm nhị đế (Thứ tư)

101. Băy giờ, vua Ba Tư Nặc bạch Phật rằng thưa Thế Tôn ! Trong thắng nghĩa đế có thế tục đế không ? Nếu nói không có, th́ trí không phải là hai. Nếu có, th́ trí không phải là một. Nghĩa một và hai này, điều ấy như thế nào ?

102. Phật dạy, : Đại vương ! ở đời quá khứ trong pháp đức Phật Long Quang Vương, ông đă hỏi nghĩa này. Hiện giờ Ta không nói, hiện giờ ông không nghe. Không nói không nghe đó gọi là nghĩa một nghĩa hai. Nay ông hăy nghe kỹ, Ta sẽ v́ ông mà nói.

103. Bấy giờ Thế Tôn liền nói bài kệ :

Thắng nghĩa đế vô tướng.

Thể chẳng tự, tha tạo.

Nhân duyên như huyễn có.

Củng chẳng tự, tha tạo.

Pháp tánh vốn Không tánh.

Thắng nghĩa đế Không Như.

Mọi pháp đều huyễn có.

Ba giả, hợp, nên giả.

Không Không đế thực Không.

Tịch diệt thắng nghĩa Không.

Các pháp nhân duyên có.

Hữu vô nghĩa như thế.

Hữu vô vốn là hai.

Ví như trâu hai sừng.

Soi rơ thấy không hai.

Nhị đế thường chẳng phải.

Tâm ngộ thấy không hai.

Cầu hai bất khả đắc.

Chẳng phải hai hay một.

Một cũng bất khả đắc.

Nơi ngộ thường tự (là ) một.

Nơi đế thường là hai.

Hiểu thấu nghĩa một hai.

Thật nhập Thắng nghĩa đế.

Thế đế : huyễn hóa khởi.

Thí như hư không hoa.

Như bóng, như mao luân.

Do nhân duyên : huyễn có .

Huyễn hóa thấy huyễn hóa.

Phàm phu ch́m trong huyễn.

Huyễn sư thấy huyễn pháp.

Cơi huyễn cũng đều không.

Nếu ngộ Pháp như thế.

Tùc hiểu nghĩa một hai.

Với tất cả các pháp.

Nên chánh quán như thế.

104. Đại vương !Bồ tát ma ha tát, trụ nơi Thắng nghĩa đế, giáo hóa các hữu t́nh,thấy Phật cùng chúng sanh, là một chớ không hai. Tại sao thế ? Chúng sanh và Giác Ngộ, cả hai đều Không. V́ hữu t́nh là Không nên Bồ Đề là Không. V́ Bồ đề là Không, nên hữu t́nh Không. V́ tất cả các pháp Không Không, nên là Không. V́ sao thế ? Bát nhă th́ vô tướng, cả hai đều Không. Nghĩa là từ vô minh đến Nhất thiết trí đều không có tự tướng, không có tha tướng. Nơi đệ nhất nghĩa thấy mà không có chỗ thấy. Có tu hành cũng không giữ nắm, không tu hành cũng không giữ nắm, chẳng phải hành chẳng phải không hành cũng không giữ nắm, đói với tất cả pháp đều không giữ nắm. Bồ tát chưa thành Phật, lấy Bồ Đề làm phiền năo. Bồ tát thành Phật rồi lấy phiền năo làm Bồ đề. Tại sao thế ? Nơi Đệ nhất nghĩa không có hai vậy. Chư Phật Như Lai cùng tất cả các pháp, hết thảy đều Như.

105. Vua Ba Tư Nặc bạch Phật : Mười phương chư Phật, tất Bồ tát, làm thế nào không ĺa văn tự mà hành thực tướng ?

106. Phật bảo : Đại vương ! Văn tự là : khế kinh, ứng tụng kư biệt, phúng tụng tự thuyết, duyên khởi, thí dụ, bản sự, bản sinh, phương quảng, hy hữu, luận nghị. Mọi thứ tuyên thuyết, âm thanh,ngữ ngôn văn tự, chương cú, tất cả đều Như, không có ǵ chẳng phải là Thực tướng. Nếu chấp giữ lấy tướng văn tự, tức mới chẳng phải là Thực tướng. Đại vương !Tu Thực tướng, là như văn tự mà tu. Thực tướng tức là Mẹ Trí Huệ chư Phật, là căn bản Trí Mẫu của tất cả hữu t́nh, cũng gọi là thể của Nhất thiết trí.Chư Phật chưa thành Phật, lấy Phật hiện tại làm Mẹ Trí Huệ, Chư Phật đă thành, tức là Nhất thiết trí. Chưa đắc gọi là tính, đă đắc gọi là Trí . Tam thừa Bát nhă không sanh, không diệt, tự tánh thường trụ, đó là Giác tánh, Phật tánh của tất cả hữu t́nh. Nếu Bồ tát không bám víu văn tự, cũng không ĺa bỏ văn tự, không có tướng văn tự, cũng không phải không có văn tự, hay tu như thế mà không thấy có tướng tu, thế gọi là tu văn tự, thường đắc Chân tính Trí Huệ, ấy là Bát nhă ba la mật đa.

107. Đại vương ! Bồ tát ma ha tát, hộ Phật quả, hộ thập địa hành, hộ giáo hóa hữu t́nh, phải làm như thế.

108. Vua Ba Tư Nặc bạch Phật : Chân tính là Một, mà các phẫm hữu t́nh th́ căn hành vô lượng. Như thế pháp môn là một hay vô lượng ?

109. Phật dạy : Đại vương !Pháp môn chẳng phải một, cũng chẳng phải vô lượng. Tại sao thế ? Do các loại hữu t́nh có vô lượng sắc pháp, tâm pháp, năm tướng thủ uẩ, ta, người, thấy biết bao nhiêu căn hành phẩm loại vô biên, nên pháp môn tuỳ theo căn mà có vô lượng. Tánh của các pháp ấy chẳng phải tướng, chẳng phải vô tướng, mà cũng chẳng phải vô lượng. Nếu Bồ tát tùy theo các hữu t́nh mà thấy có một có hai thế tức là chẳng thấy nghĩa của một hai. Hiểu ngộ một hai chẳng phải một, chẳng phải hai, tức là Thắng nghĩa đế.Bám nắm lấy một hai, cho là có, cho là không, tức là thế tục đế.

110. Thế nên, pháp môn chẳng phải một chẳng phải hai.

111. Đại vương ! Tăt cả chư Phật đều thuyết Bát nhă ba la mật đa, nay Ta cũng thuyết Bát nhă ba la mật đa, không hai, không khác. Đại chúng các ông thọ tŕ, đọc tụng, như thuyết mà tu hành, tức là thọ tŕ pháp của chư Phật.

112. Đại vương ! Bát nhă ba la mật đa này công đức vô lượng. Nếu có bất khả thuyết chư Phật nhiều như số cát sông Hằng, mỗi vị Phật giáo hóa vô lượng không nói hết các hữu t́nh, các hữu t́nh đó đều đắc thành Phật. Các vị Phật mới thành này lại giáo hóa vô lượng không nói hết các hữu t́nh đều cùng thành Phật. Những đức Phật ấy lại thuyết Bát nhă ba la mật đa, có vô số ức kệ, thuyết không cùng tận. Trong các bài kệ đó, chỉ lấy một bài kệ phân ra làm ngh́n phần, trong ngh́n phần này nói một phần công đức cú nghĩa, c̣n không cùng tận, huống là công đức của vô lượng cú nghĩa như thế.

113. Nếu có người ở trong kinh này có thể khởi lên một niệm tin trong sạch, người ấy tức th́ vượt qua trăm kiếp, qua ngh́n kiếp, qua trăm ngh́n vạn kiếp sanh tử khổ nạn. Huống là viết ra, chép lại, thọ tŕ, đọc tụng, v́ người khác giải thuyết. Công đức này cùng mười phương tất cả chư Phật không khác. Nên biết rằng người ấyđược chư Phật hộ niệm, chẳng bao lâu sẽ thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

114. Thuyết pháp này xong, có mười ức người đắc ba Không nhẫn, trăm vạn ức người đác Đại Không nhẫn, vô lượng Bồ tát được trụ vào thập địa.

Phẩm hộ quốc (Thứ năm)

115. Băy giờ, Thế Tôn bảo với vua Ba Tư Nặc cùng các đại quốc vương. Lắng nghe ! Lắng nghe ! Ta sẽ v́ các ông mà nói pháp giữ nước. Tăt cả các nước khi sắp loạn, th́ có các tai nạn, giặc đến phá hoại. Các ông là vua, hăy nên thọ tŕ đọc tụng Bát nhă ba la mật đa này, trang nghiêm đạo tràng, bày trăm tượng Phật, trăm tượng Bồ tát,trăm ṭa sư tử, mời trăm pháp sư giải nói kinh này.

Ở trước các ṭa thắp thật nhiều đèn, đót nhiều hương răi nhiều các thứ hoa, rộng răi cúng dường y phục, ngọa cụ, thức ăn,uống, thuốc thang pḥng ốc, giường ṭa, tất cả cúng sự. Nếu là vua, đại thần, tỳ kheo, tỳ kheo ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ, nghe rồi thọ tŕ đọc tụng, như pháp mả tu hành, tai nạn liền diệt.

116. Đại vương ! Trong các quốc độ, có vô sớ quỹ, thần, mỗi mỗi lại có vô sớ quyến thuộc. Nếu họ nghe kinh này th́ liền ủng hộ cho nước các ông. Nếu nước sắp loạn, quỹ thần sẽ loạn trước. Quỹ thần loạn tức người đều loạn, giăc giả nổi lên làm trăm họ chết chóc. Quốc vương, thái tử, vương tử, trăm quan, tranh phải trái lẫn nhau. Trời đăt biến thành quái lạ, mặt trời, mặt trăng, các sao hỗn loạn, lửa lớn, nước lớn và gió lớn. Các nạn như thế khởi lên đều phải thọ tŕ giảng đọc Bát nhă ba la mật đa. Nếu theo kinh này thọ tŕ đọc tụng, tất cả mong cầu quan vị, giàu có, con trai con gái, huệ giải, đều đến theo ư ḿnh. Quả báo cơi trời cơi người đều được đầy đủ. Bệnh dịch, tai nạn đều được trừ khỏi. Gông cùm, xiềng khóa trói buộc thân, đều được cởi mở. Phá bốn trọng giới, làm năm nghịch tội, cho đến vô lượng tội lỗi v́ hủy phạm các giới, đều được tiêu diệt.

117. Đại vương ! Trước đây thời quá khứ vua Đế Thích bị vua Đính Sinh thống lănh bốn quân chúng, lên thiên cung để diệt Đế Thích, th́ vị thiên vương này liền y theo giáo pháp của chư Phật thời quá khứ, lập trăm ṭa cao, thỉnh trăm pháp sư, giảng đọc Bát nhă ba la mật đa tâm kinh, vua Đính Sinh liền rút lui, thiên chúng an lạc.

118. Đại vương ! Xưa các nước Thiên La, có một Thái tử, tên là Ban Túc. Khi lên làm vua có ông thầy ngoại đạo tên là Thiện Thí làm phép quán đảnh, bảo Ban Túc lấy cho được một ngàn cái đầu các vua khác, để tế Ma ha Ca La đại hắc thiên thần. Từ khi lên ngôi, đă bắt được 999 ông vua, chỉ thiếu một ông. Bèn đi lên phía bắc một ngàn dặm th́ bắt được ông vua tên là Phổ Minh. Vua Phổ Minh tâu với Ban Túc răn2 : xin hoăn cho một ngày để lễ kính Tam Bảo, cúng dường Sa môn. Ban Túc ưng cho. Phổ Minh bèn y giáo pháp chư Phật quá khứ đă thuyết Bát nhă ba la mật đa tám ngàn ức bài kệ. Băy giờ trong chúng có vị pháp sư đệ nhất, v́ vua Phổ Minh mà thuyết kệ :

Kiếp lửa cháy suốt.

Đại thiên đều hoại.

Tu di, biển lớn.

Tan diệt không c̣n.

Phạm, Thích, trời rồng.

Các hữu t́nh thảy.

Đều phải tận diệt.

Huống ǵ thân này.

Sanh lăo bệnh tử.

Lo buồn khổ năo.

Oán thân bức bách.

Đều trái ư nguyện.

Ái dục kiết sử.

Tự tạo thương nhọt (vết thương mục nhọt )

Tam giới không an.

Nước nào vui được ?

Hữu vi không thực.

Theo nhân duyên khởi.

Thịnh suy chớp xẹt.

Tạm có liền không.

Các cơi thú sinh.

Tùy nghiệp duyên hiện.

Như bóng như vang.

Tăt cả đều không.

Do nghiệp, thức động.

Nương tứ đại khởi.

Vô minh ái buộc.

Ngă, ngă sở, sanh.

Theo nghiệp, thức biến.

Thân vón không chủ.

Nên biết quốc độ.

Huyễn hóa như thế.

Băy giờ, pháp sư thuyết kệ xong, vua Phổ minh nghe pháp liền giải ngộ, chứng Không tam muội. Quyến thuộc của vua đắc Pháp nhăn Không. Nhà vua bèn đến nước Thiên La chỗ các vua bị bắt mà nói rằng : Nay các ông mệnh số sắp hết hăy nên tụng kệ Bát nhă ba la mật đa của chư Phật thời quá khứ đă thuyết. Các vua nghe rồi đều giải ngộ, đắc Không tam muội, người người đều tŕ tụng. Lúc ấy vua Ban Túc hỏi các vua kia rằng : Nay các ông tụng pháp ǵ thế ? Lúc ấy vua Phổ Minh dùng bài kệ trên đáp cho vua Ban Túc. Vua Ban Túc Nghe pháp ấy, cũng chứng Không định, hoan hỹ nhảy nhót, nói với các vua rằng : Tôi v́ theo học tà sư ngoại đạo, chẳng phải các ông có lỗi ǵ. Các ông hăy về nước ḿnh thỉnh pháp sư giảng nói Bát nhă ba la mật đa. Vua Ban Túc giao nước lại cho em ḿnh, xuất gia v́ Đạo, đác Vô sanh nhẫn.

119. Đại vương ! Đời quá khứ lại có năm ngàn vị vua thường tụng kinh này, ngay đời ấy được phúc báo.

120. Các ông 16 vị đại quốc vương tu pháp hộ quốc, hăy nên như thế mà thọ tŕ đọc tụng, giải nói kinh này. Nếu đời vị lai, các quốc vương khắp các nước muốn hộ quốc, hộ tự thân, cũng phải như thế mà thọ tŕ đọc tụng giải nói kinh này.

121. Khi thuyết pháp này xong, vô lượng người đắc Băt thối chuyển, các A Tu La được sanh lên cơi trời, vô lượng vô số chư thiên cơi dục và cơi sắc đắc Vô sanh nhẫn.

Phẩm bất tư ngh́ (Thứ sáu)

122. Băy giờ 16 vị vua cho đến đại chúng, nghe Phật thuyết Bát nhă ba la mật đa cú nghĩa cùng tột này, vui mừng nhảy nhót, răi trăm vạn ức hoa sen báu, kết thành ṭa hoa báu giữa hư không. Mười phương chư Phật, vô lượng đại chúng cùng ngồi ṭa ấy, thuyết Bát nhă ba la mật đa. Những đại chúng ấy, đem mười ngàn hoa sen vàng, răi lên đức Phật Thích Ca, hợp thành ṿng hoa che khắp đại chúng. Lại răi tám vạn bốn ngàn hoa Phân Đà Lợi, ở giữa hư không thành đài bạch vân, trong đài Phật Quang Minh Vương cùng mười phương chư Phật với vô lượng đại chúng, diễn thuyết Bát nhă ba la mật đa. Những đại chúng này đem hoa Mạn Đà La răi trên đức Thích Ca cùng cả chúng hội. Lại răi hoa Mạn Thù Sa ở trong hư không biến ra Kim cương thành, trong thành Phật Sư Tử Phấn Tăn Vương cùng mười phương chư Phật, chúng đại Bồ tát diễn thuyết Bát nhă ba la mật đa thắng nghĩa. Lại răi vô lượng diệu hoa cơi trời, giữa hư không thành lọng Bảo vân che khắp ba ngàn đại thiên thế giới, trong lọng báu này từ trên không mưa hoa rơi xuống nhiều như cát sông Hằng.

123. Vua Ba Tư Nặc cùng tất cả đại chúng thấy sự việc ấy, tán thán là chưa từng có, chấp tay hướng Phật, bạch rằng : Nguyện quá khứ, hiện tại, vị lai chư Phật thường thuyết Bát nhă ba la mật đa. Nguyện cho tất cả chúng sanh thường được thấy nghe, như chúng con hôm nay không khác. Phật bảo : Đại vương ! đúng như ông nói. Bát nhă ba la mật đa này, là Mẹ của chư Phật, Mẹ của chư Bồ tát, là nơi sinh ra công đức thần thông bất cọng, chư Phật đồng thuyết, rất nhiều lợi ích, thế nên các ông thường nên thọ tŕ.

124. Lúc ấy, Thế Tôn v́ tất cả đại chúng hiện thần thông biến hóa không thể nghĩ bàn : Một hoa nhập vô lượng hoa. Vô lượng hoa nhập vào một hoa. Một cơi Phật nhập vô lượng cơi Phật. Vô lượng cơi Phật nhập vào một cơi Phật. Một vi trần cơi Phật nhập vô lượng vi trần cơi Phật. Vô lượng vi trần cơi PHật nhập vào một vi trần cơi Phật.Vô lượng biển lớn nhập vào một lỗ chân lông. Vô lượng núi Tu- Di vào trong một hạt cải. Một thân Phật nhập vào vô lượng thân chúng sanh. Vô lượng thân chúng sanh nhập vào một thân Phật.Lớn hiện lại nhỏ, nhỏ hiện ra lớn. Sạch thị hiện ra dơ, dơ hiện lại thành sạch. Thăn Phật không thể nghĩ bàn, thân chúng sanh không thể nghĩ bàn, cho đến thế giới cũng không thể nghĩ bàn.

125. Ngay khi Phật hiện thân biến ấy, mười ngàn thiên nữ đỗi được thân nữ, đắc thần thông tam muội. Vô lượng trời người đắc Vô sanh pháp nhẫn, vô lượng A Tu la thành Bồ tát đạo, vô số Bồ tát hiện thân thành Phật.

Phẩm phụng tŕ (Thứ bảy)

126. Khi ấy, vua Ba Tư Nặc nh́n thần biến của Phật, thấy Biến Chiếu Như Lai ngồi trên đài hoa ngàn cánh, trên ngàn cánh hoa là ngàn vị Hóa Thân Phật, trong ngàn cánh hoa là vô lượng chư Phật, đều thuyết Bát nhă ba la mật đa. Vua bạch Phật rằng : Thế Tôn ! Vô lượng Bát nhă ba la mật đa như thế, không thể lấy thức mà hiểu, không thể lấy trí mà biết, th́ các thiện nam tử làm thế nào đói với kinh này biết không giải rơ, để v́ người mà diễn nói ?

127.Phật dạy : Đại vương ! Nay ông hăy nghe kỹ !Từ sơ tập nhẫn cho đến Kim cương định, như pháp mà tu hành 13 môn quán, đều là các vị pháp sư, theo 13 môn quán đó mà lập nên. Tăt cả đại chúng nên theo như Phật mà cúng dường 13 ngôi vị ấy, bằng trăm ngàn vạn ức diệu hương hoa cơi trời dâng lên.

128. Các trai lành ! Vị pháp sư ấy là Tập chủng tính Bồ tát (thập trụ).Nếu có tỳ kheo, tỳ kheo ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ tu thập trụ hành : Thấy Phật, Pháp, Tăng th́ phát tâm Bồ đề. Đối với chúng sanh thương xót làm lợi lạc cho. Tự quán thân ḿnh 6 giới các căn, tất cả đều vô thường , khổ, Không vô ngă. Hiễu biết nghiệp hành dẫn đến Niết Bàn hoặc vào sanh tử, Hay làm lợi ích an vui cho ḿnh và cho người. Nghe khen Phật, chê Phật, tâm định không động. Nghe có Phật hay không có Phật, tâm định không lùi sụt. Ba nghiệp thân, khẩu, ư, không lầm lỗi, khỏi 6 ḥa kính. Phương tiện thiện xảo, điều phục chúng sanh. Chuyên cần tu học mười trí, thần thông lợi hóa. Vị này là Hạ phẩm của Tam Hiền, tu tập tám vạn bốn ngàn ba la mật đa. Các trai lành ! Ngôi Tập nhẫn trở về trước qua mười ngàn kiếp , hành mười thiện hạnh, khi thoái khi tiến, thí như lông nhẹ tùy gió thổi qua lại. Đến Nhẫn vị, nhập chánh định tụ, không làm năm điều nghịch, không hủy bán chánh pháp, biết tướng của ngă và pháp đều không. Trụ ngôi giải thoát, trong một a tăng kỳ kiếp tu tập nhẫn này, hay khởi thắng hạnh.

129. Thứ đến, là Tính chủng trí Bồ tát (thập hạnh). Trụ ở vô phân biệt. Tu mười Huệ quán. Bỏ của và đời. Giữ giới thanh tịnh. Tâm thường khiêm hạ. Lợi ḿnh lợi người. Sống chết không loạn. Vô tướng thẩm sâu. Thấu đạt mọi cái có đều như huyễn. Không cầu quả báo. Được vô ngại giải. Niệm niệm thị hiện thần lực của Phật. Tu hành đói trị với bốn thứ thân, thọ, tâm, pháp, ba độc tham, sân, si, hoặc nghiệp ba đời. Đó là mười thứ điên đảo. Niệm niệm thấu rỏ ngă, nhân, tri kiến đều hư giả. Hiểu biết danh là giả, thọ là giả, pháp là giả, đều bất khả đắc, không có tướng tự, không có tướng tha, trụ chân thực quán. Vị này là Trung phẩm của Tam Hiền tu tám vạn bốn ngàn ba la mật đa. Trong hai A Tăng kỳ kiếp làm mọi thắng hạnh, đắc vị Kiên nhẫn.

130. Thứ đến, là Đạo chủng tính Bồ tát (thập hồi hướng), trụ trong Kiên nhẫn, quán thật tính của các pháp, đắc vô sanh diệt. Bốn tâm vô lượng hay phá mọi che ám. Thường thấy chư Phật, mở rộng sự cúng dường. Thường học chư Phật, trụ tâm hồi hướng. Chỗ tu các thiện căn, đều như Thực Tế.Thường ở nơi tam muội, rộng làm Phật sự . Hiện bao nhiêu thân, hành bốn nhiếp pháp. Trụ vô phân biệt, lợi hóa chúng sanh. Trí huệ rơ ràng, quán sát thẩm sâu. Tăt cả hạnh nguyện, tu tập khắp cả. Hay làm pháp sư, điều ngự hữu t́nh, khéo quán 5 uẩn, 3 cơi, 2 đế, không có tướng tự tướng tha, thấu đắc tính như thực. Tuy thường tu Thắng nghĩa mà thọ sanh trong tam giới. Tại sao thế ? V́ nghiệp tập quả báo chưa tiêu hoại hết, cho nên thường thuận sanh ở cơi người cơi trời. Vị này là Thượng phẩm của Tam Hiền, tu tập tám vạn bốn ngàn ba la mật đa, trong ba a tăng kỳ kiếp, tu hai lợi hành, lợi ích rộng lớn, khéo điều phục được các Tam ma địa, trụ thắng quán sát, tu hạnh xuất ly, chứng tánh b́nh đẳng, là địa thánh nhân.

131. Thứ đến, là Hoan hỹ địa Bồ tát ma ha tát, vượt qua địa ngu phu, sinh vào nhà Như Lai, trụ b́nh đẳng nhẫn. Trí vô tướng ban sơ chiếu soi Thắng nghĩa đế. Một tướng b́nh đẳng, chẳng phải tướng, không có tướng. Đoạn các vô minh, diệt tham trong ba cơi, vô lượng sanh tử đời vị lai quyết chẳng bị sinh nữa. Đại bi làm đàu, khởi mọi nguyện lớn, với trí phương tiện, niệm niệm tu tập vô lượng thắng hạnh. chẳng phải chứng, chẳng phải không chứng, học khắp tất cả. Chẳng phải trụ chẳng phải không trụ, hướng về Nhất thiết trí. Hành theo sanh tử, chẳng động theo ma. Ĺa ngă, ngă sở, nên không sợ hăi. Chẳng có tướng tự tướng tha, thường hóa chúng sanh. Nguyện lực tự tại, sanh về cơi Tịnh Độ. Các trai lành ! Trí Giác ban sơ này, chẳng phải Như chẳng phải Trí, chẳng

có chẳng không, không có hai tướng, phương tiện diệu dụng, chẳng đảo chẳng trụ, chẳng động chẳng tĩnh, tự tại lợi ḿnh lợi người, như sống với nước, chẳng một chẳng khác. Trí khởi mọi ba la mật đa, cũng không phải là một hay khác. Trong bốn a tăng kỳ kiếp, tu tập đày đủ trăm vạn hạnh nguyện. Địa Bồ tát này, không có tập nghiệp ba cơi, cũng không tạo nghiệp mới, do theo trí lực để nguyện sinh. Niệm niệm thường hành Bố thí ba la mật đa. Bố thí, ái ngữ, lợi hành, đ̣ng sự, rộng lớn, trong sạch, khéo thường an trụ, lợi ích cho chúng sanh.

132. Thứ đến, là Ly Cău địa Bồ tát ma ha tát. Bón tâm vô lượng, rốt ráo tịch diệt, đoạn những sân tập. Tu tất cả hạnh, nghĩa là : xa ĺa sát hại, không cho th́ không lấy, tâm không nhiễm dục. Được lời nói chân thật, được lời nói ḥa hợp,được lời nói dịu dàng, được lời nói điều phục. Thường hành tâm xă bỏ, thường khởi tâm từ, trụ tâm chân chính. Vắng lặng thuần thiện, ĺa bụi nhơ phá giới, hành quán đại từ, niệm niệm thường hiện tiền. Trong năm a tăng kỳ kiếp, tṛn đủ Giới thanh tịnh ba la mật đa, ư chí dũng mănh, vĩnh viễn ĺa mọi ô nhiễm.

133. Thứ đến, Phát Quang địa Bồ tát ma ha tát : Trụ nơi không phân biệt. Diệt ám vô minh. Nơi nhẫn vô tường mà được tam minh, biết hết ba đời không đến không đi. Y theo bốn thiền định, bốn vô sắc định, lần lượt tuỳ thuận, trí không phân biệt. Đầy đủ thắng định, đắc năm thần thông : hiện thân lớn, thân nhỏ, ẩn hiện tự tại. Thiên nhăn trong sạch, thấy hết mọi cơi.Thiên nhĩ trong sạch, nghe hết mọi tiếng. Dùng tha tâm trí, biết tâm chúng sanh. Hay biết kiếp trước sai biệt vô lượng.Trong sáu a tăng kỳ kiếp hành mọi Nhẫn nhục ba la mật đa, đắc đại tổng tŕ, lợi ích an vui.

134. Thứ đến, là Diệm Huệ địa Bồ tát ma tát, tu hành thuận nhẫn, không có chỗ nhiếp thọ, đoạn hẳn vi tế biến kiến về thân.Tu tập vô biên pháp Bồ đề phần :niệm xứ, chánh cần, thần túc, căn, lực, giác, đạo, đầy đủ, v́ muốn thành tựu lực, vô sở úy, bất cộng Phật pháp. Trong bảy a tăng kỳ kiếp, tu tập vô lượng Tinh tấn ba la mật đa, xa ĺa giải đăi, lợi khắp chúng sanh.

135. Thứ đến, là Nam Thắng địa Bồ tát ma ha tát, dùng bốn vô uư tuỳ thuận ChânNhư, b́nh đẳng trong sạch, không có tướng sai biệt, đoạn tâm Tiểu thừa cần vui Niết Bàn. Tu tập các công đức, quán đủ mọi đế. Đây là khổ thánhđế, tập đế, Diệt đế, Đạo đế, Thế tuc đế, Thắng nghĩa đế, quán vô lượng đế. Để ích lợi cho chúng sanh, tập các kỹ nghệ : văn tự, thuốc thang, ca ngâm, cười đùa, nghề khéo , chú thuât, dị luận thế gian, xem tướng xấu tốt, không ǵ lầm lẫn. Với chúng sanh không làm lo tổn, chỉ v́ lợi ích, chỉ bày cho tất cả, dần dần khiến họ ở yên nơi Vô thượng Bồ dề, biết trong các địa đâu là chướng đạo, đâu là xuất đạo. Trong tám a tăng kỳ kiếp, thường tu tam muội, khai phát mọi hạnh.

136. Thư đến, là Hiện Tiềng đia Bồ tát ma ha tát, đắc thuận nhẫn bậc thượng, trụ ba môn giải thoat là Không, Vô tướng, Vô nguyện, hết tập nhân của ba cơi và tập nghiệp thô hiện hành. Đại bi tăng thượng, quán mọi sanh tử : vô minh che ám, chủng thức nghiệp luận tập, danh sắc, lục xứ , xúc, thọ, ái, thủ, hữu,sanh, lăo tử, thảy đều do chắp trước cái Ta. Vô minh nghiệp quả, chẳng phải có chẳng phải không. Một tướng không tướng, chẳng phải hai vậy. Trong chín a tăng kỳ kiếp, hành trăm vạn tam muội Không, Vô tướng, Vô nguyện, đắc tất cả Bát nhă ba la mật đa, ánh sáng soi chiếu vô biên.

137. Thứ đến, là Viễn Hành địa Bồ tát, tu vô sanh nhẫn, chứng Pháp Tánh không sai biệt, đoạn mọi nghiệp quả vi tế hiện hành tướng. Trụ ở diệt định, khởi hạnh thù thắng, tuy thường tịch diệt mà không độ chúng sanh : hiện vào hàng Thanh văn mà thường theo Phật trí, thị hiện đ̣ng với ngoại đạo, hiện làm Ma vương, tuỳ thuận thế gian mà thường xuất thế. Trong mười a tăng kỳ kiếp hành trăm vạn tam muội, thiện xảo phương tiện, rộng tuyên giảng Pháp tạng. Tăt cả trang nghiêm đều được tṛn đủ.

138. Thứ đến, là Bất Động địa Bồ tát ma ha tát, trụ Vô sanh nhẫn, thể không tăng giảm, đoạn hết mọi công dụng tu hành.Tâm tâm tịch diệt, không có tướng thân tâm, giống như hư không. Vị Bồ tát này, tâm Phật, tâm Bồ đề, tâm Niết bàn đều không sanh khởi. Do bản nguyện nên chư Phật gia tŕ, trong khoảng một niệm mà khởi trí nghiệp, song chiếu b́nh đẳng. Dùng lực Thập trí, biến khắp bất khả thuyết đại thiên thế giới, tuỳ mọi chúng sanh đều lợi lạc khắp. Trong ngàn a tăng kỳ kiếp, đầy đủ trăm vạn đại nguyện, tăm tâm tiến nhập Nhắt thiết chủng trí và Nhất thiết trí trí.

139. Thứ đến, Thiện Huệ địa Bồ tát ma ha tát, trụ bậc thượng vô sanh nhẫn, diệt tâm tâm tướng, chứng Trí huệ tự tại đoạn chướng che bốn vô ngại. Đủ đại thần thông, tu lực, vô uư, khéo hay thủ hộ Pháp tạng của chư Phật. Được pháp vô ngại giải, nghĩa, từ, biện, diễn thuyết chánh pháp không gián đoạn,không tận hết. Trong khoảng sát na, ở trong các thế giới nhiều không kể xiết, tuỳ theo các chúng sanh có hỏi điều ǵ, một âm thanh giải thích khiến tất cả hoan hỹ. Trong vạn a tăng kỳ kiếp, hay hiện vô số thần lực của chư Phật, Pháp tạng vô tận, lợi ích tṛn đầy.

140. Thứ đến, là Pháp Vân địa Bồ tát ma ha tát, vô lượng trí huệ tư duy quán sát. Từ khi phát ḷng tin, trải qua trăm vạn a tăng kỳ kiếp, rộng tu tập vô lượng pháp trợ đạo tăng trưởng đến vô biên đại phước đại trí, chứng nghiệp tự tại, đoạn chướng ngăn ngại thần thông. Trong khoảng một a tăng kỳ thế giới quấc độ nhiều như số vi trần, đều biết tâm hành chúng sanh thượng trung hạ căn, thuyết cho họ tam thừa, khiến tất cả tu tập Ba la mật đa. Nhập vào chỗ hành của Phật, như lực, vô sở uư, tùy thuận Như Lai tịch diệt, thành tựu chuyển y.

141. Các trai lành ! Từ sơ tập nhẫn đến Kim cương định, đều gọi là trừ phục tất cả phiền năo. Tín nhẫn (3 địa đầu của thập địa ) th́ vô tướng, chiếu soi Thắng nghĩa đế, diệt các phiền năo, sanh trí giải thoát, dần dần diệt phục được phiền năo. Dùng tâm sanh diệt đắc vô sanh diệt, nếu tâm sanh diệt này diệt hết tức là vô minh diệt hết. NHững thấy biết trước Kim cương định đều không được gọi là thấy. Chỉ có Phật đốn giác, tṛn đầy Nhất thiết trí, cái thấy biết ấy mới gọi là Thấy. Các trai lành ! Khi Kim cương tam muội hiền, mà cũng chưa bằng vô đẳng đẳng (Chánh đẳng Chánh giác). Ví như có người lên đài rất cao, trông khắp tất cả, không ǵ chẳng thấy. Đến ngôi giải thoát, Một tướng Không tướng, không sanh không diệt, đồng với Chân Tế, b́nh đẳng với Pháp Tánh, đầy đủ tạng công đức, trụ vị Như Lai.

142. Các trai lành ! Như thế, các đại Bồ tát, thọ tŕ giải thuyết, đều đi đến mười phương quốc độ chư Phật, làm lợi ích an ổn hữu t́nh, thông đạt thực tướng, như Ta ngày nay không khác. Các trai lành ! Mười phương pháp giới tất cả Như Lai, đều y theo môn này mà được thành Phật. Nếu nói ngoài môn này mà được thành Phật, đó là ma nói, chẳng phải Phật nói. Bởi thế các ông, nên như thế mà biết, như thế mà thấy, như thế mà tin hiểu.

143. Băy giờ Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa này, thuyết bài kệ :

Phục nhẫn Bồ tát kia.

Nơi Phật pháp trưởng dưởng.

Kiên cố ba mươi tâm.

Gọi là Băt thối chuyển.

Sơ chứng tính b́nh đẳng.

Sanh vào nhà chư Phật.

Do mới được giác ngộ

Gọi là hoan hỹ địa.

Xa ĺa mọi nhiễm ô.

Sân và hết thảy cấu.

Đủ giới đùc trong sạch.

Gọi là Ly Cău địa.

Diệt tam ám vô minh.

Nên được các thiền định.

Do huệ quang chiếu sáng.

Gọi là Phát quang địa.

Trong sạch Bồđề phần.

Ĺa xa thân biên kiến.

Trí huệ cháy sáng bừng.

Gọi là Diệm Huệ địa.

Biết như thực các đế.

Các kỹ nghệ thế gian.

Mỗi mỗi lợi các loài.

Gọi là Nam Thắng địa.

Quán sát Pháp duyên sinh.

Vô minh đến lăo tử.

Hay chứng được sâu tột.

Gọi là Hiện Tiền địa.

Tam ma địa phương tiện.

Thị hiện vô lượng thân.

Thiện xảo ứng muông loài.

Gọi là Viễn Hành địa .

Trụ nơi biển Vô tướng.

Tăt cả Phật gia tŕ.

Tự tại phá quân ma.

Gọi là Bất Động Địa.

Đắc bốn vô ngại giải.

Một âm diễn tất cả.

Người nghe đều hoan hỹ.

Gọi là Thiện Huệ địa.

Trí huệ như mây trùm.

Biến khắp cả pháp giới.

Rưới khắp pháp cam lồ.

Gọi là Pháp Vân địa.

Đầy đủ giới vô lậu.

Thân giải thóat thường tịnh.

Tịch diệt bất tư nghị.

Gọi là Nhất thiết trí.

144. Phật bảo vua Ba tư Nặc : Sau khi Ta diệt độ, khi giáo pháp sắp diệt, tất cả hữu t́nh tạo nhiều nghiệp ác, khiến các quốc độ nhiều tai nạn khởi. Các vị quốc vương, nếu muốn tự hộ lấy thân và thái tử, vương tử, quyến thuộc, trăm quan, trăm họ, tất cả quốc độ, hăy nên thọ tŕ Bát nhă ba la mật đa này, th́ đều được an vui. Ta đem kinh này phó chúc cho các vua, mà không phó cho Tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di. Tại sao thế ? V́ nếu không có uy lực của nhà vua th́ không thể kiến lập, thế nên các ông hăy thường thọ tŕ đọc tụng, giải thuyết. Đại vương ! Ta nay giáo hóa đại thiên thế giới, trăm ức núi Tu Di với trăm ức mặt trời mặt trăng, mỗi mỗi Tu Di có bốn thiên hạ. Thiệm Bộ Châu này có 16 nước lớn, năm trăm nước vừa, mười vạn nước nhỏ. Trong các nước này nếu có bảy tai nạn khởi lên, để trừ tai nạn, tất cả các vua phải thọ tŕ giải thuyết Bát nhă ba la mật đa này, bảy tai nạn liền tiêu diệt, đăt nước được yên vui.

145. Vua Ba Tư Nặc hỏi : Thế nào là bảy nạn ? Phật dạy : Thứ nhất, mặt trời mặt trăng mất độ số, màu mặt trời biến thành sắc trắng, sắc đỏ, sắc vàng, sắc đen hoặc 2,3,4,5 mặt trời cùng chiếu. Màu sắc mặt trăng biến thành đỏ, vàng. Mặt trời, mặt trăng nuốt che nhau, hoặc chồng lên nhau thành nhiè ṿng. Thứ nh́ là sao mất độ số, sao tuệ, sao mộc, sao hỏa, sao kim, sao thủy, sao thổ cùng các sao khác, mỗi mỗi đều biến đổi, hoặc xuất hiện ban ngày. Thứ ba là long hỏa, quỷ hỏa, nhân hỏa, thọ hỏa, đại hỏa khởi khắp bốn bề, đót cháy vạn vật. Bón là thời tiết cải biến, nóng lạnh bất thường, mùa đông th́ mưa sấm chớp, mùa hạ lại có sương băng tuyết, mưa đất đá cát sỏi, nước mưa đen, đỏ, sông rạch tràn đày, đá chảy núi trôi. Năm là gió lớn thường nổi lên, che mờ mặt trời mặt trăng, trốc cây sập nhà, cát bay đá chạy. Thứ sáu là, trời đăt nắng hạn, ao hồ khô cạc, cây cỏ chết khô, trăm thứ thóc lúa không thành hạt. Bảy là bốn phương giặc đến xâm chiếm, trong ngoài binh đao đua khởi, trăm họ chết chóc. Đại vương ! nay ta chỉ nói qua những nạn như thế, lại c̣n mặt trời không hiện ban ngày, mặt trăng không có về đêm, trên trời vô số tai họa, không mây mà mưa tuyết. Dưới đất biết bao tai họa, đổ nứt rung chuyển, hoặc máu chảy ra, quỹ thần,xuất hiện, chim thú quái dị, những tai nạn như thế thật vô lượng vô biên. Mỗi một tai họa khởi đều phải trọ tŕ, đọc tụng, giải thuyết Bát nhă ba la mật đa này.

146. Bấy giờ, 16 vị vua nghe Phật nói thế, tất cả đều sợ hải Vua Ba Tư Nặc bạch Phật : Thế Tôn ! Tại sao trời đất lại có tai nạn như thế ?

147. Phật dạy : Đại vương ! Do tất cả nhân dân của các nước lớn nhỏ ở Thiệm Bộ Châu, bất hiếu với cha mẹ, không kính sư trưởng, bậc xuất gia và hàng hiền sĩ tại gia. Đức vua, đại thần không thi hành chánh pháp. Do các lỗi ác này, mới có nạn khởi.

148. Đại vương !Trí Huệ ba la mật đa, hay xuất sanh tất cả các pháp, tất cả pháp giải thoát của Bồ tát, tất cả pháp tối cao của vị lănh đạo, tất cả pháp xuất ly của hữu t́nh. Như ngọc Ma Ni đầy đủ mọi đức, có thể làm chấn động độc long và ác quỹ thần, có thể làm vừa ḷng người, đày đủ như ư muốn, có thể ứng hợp với luân vương nên gọi là ngọc như ư, có thể khiến Nan Đà, Bạt Nan Đà là các đại long vương rót xuống mưa lành, tốt tươi cây cỏ. Củng như đêm tối treo tràng trên cao, sáng chiếu trời đất. như mặt trời mọc. Trí Huệ ba la mật đa này cũng như thế. Các ông làm vua, nên làm bảo tràng và phan cái, đốt hương, răi hoa cúng dường rộng lớn, hộp báu đựng kinh, để trên án báu, khi muốn đi, thường rước đằng trước. Ở bất kỳ nơi chốn nào, làm màn bảy báu, làm ṭa báu để kinh ở trên,luôn luôn cúng dường, như thờ cha mẹ, cũng như chư thiên phụng sự Đế Thích.

149. Đại vương ! Ta thấy tất cả các vua của mọi nước, đều do đời quá khứ hầu năm trăm đức Phật, cung kính cúng dường, nên được làm vua. Tăt cả thánh nhân đắc đạo quả đều sinh đến nước ấy, làm việc đại lợi ích. Nếu vua hết phước, không c̣n đạo lư, thánh nhân bỏ đi, th́ tai nạn bùng khởi.

150. Đại vương ! Nếu đời vị lai, có các vị vua kiến lập chánh pháp, hộ tŕ Tam Bảo, ta sẽ khiến các Đại Bồ tát ở năm phương đến hộ tŕ cho nước ấy : phương Đông th́ Kim Cương Thủ Bồ tát ma ha tát, tay cầm chày Kim cương phóng ra ánh sáng xanh, cùng với bốn câu chi Bồ tát tới hộ nước ấy. Phương Nam th́ Kim cương Bảo Bồ tát ma ha tát, tay cầm ngọc Ma Ni Kim cương phóng ánh sáng mặt trời, với bốn câu chi Bồ tát tới hộ nước ấy. Phương Tây th́ Kim cương Lợi Bồ tát ma ha tát, tay cầm kiếm Kim cương phóng ánh sáng màu vàng kim, cùng bốn câu chi Bồ tát tới hộ nưóc ấy. Phương Bắc th́ Kim Cương Dược Xoa đại Bồ tát, tay cầm chuông Kim cương phóng ánh sáng lưu ly, cùng bốn câu chi dược xoa tới hộ nước ấy. Phương giữa th́ Kim cương Ba la mật đa Đại Bồ tát, tay cầm bánh xe kim cương phóng ánh sáng năm sắc, cùng bốn câu chi Bồ tát đến hộ nước ấy. Năm vị đại Bồ tát này cùng với vô lượng đại chúng, làm đại lợi ích trong nước các ông, vậy các ông nên lập h́nh tượng mà cúng dường.

151. Bấy giờ, Kim Cương Thủ Đại Bồ tát cùng đại chúng liền từ ṭa đùng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, lui đứ

ng qua một bên, bạch Phật rằng : Thế Tôn ! Nương thần lực Phật, bản nguyện chúng con là nếu có xứ nào trong tất cả quốc độ mười phương thế giới mà thọ tŕ đọc tụng, giải nói kinh này, con và các quyến thuộc đây, trong khoảng một niệm liền đến nơi ấy, thủ hộ chánh pháp, kiến lập chánh pháp, khiến nước ấy không có tai nạn, đạo binh tật dịch tất cả đều trừ hết. Thế Tôn ! Con có Đà la ni, để gia tŕ ủng hộ, là cửa của tất cả pháp tu hành nhanh chóng thành Phật...Nếu có người được nghe qua tai một lần, tất cả tội chướng đă có đều tiêu diệt, huống lại tụng tập cho thuộc làng thông lợi. Dùng uy lực của pháp này, khiến cho quốc gia vĩnh viễn không có tai nạn.

152. Liền trước đức Phật, cùng thuyết bằng một ăm thanh Đà La Ni này :

Nam mô ra đát na, đát ra dạ da. Na mô a rị da phệ lô giá na dă, đát tha nghiệt đa dạ a ra ha đế, tam miệu tam một đà da. Na mô a rị da, tam măn đa bạt nại ra dă, mạo địa tát đát phạ dă, ma ha tát đát phạ dă, ma ha ca rô ni ca da. Đát nễ dă tha, chỉ nhưỡng na bát ra nễ bế, ác khất xoa dă cú thế, bát ra để bà na pha để, tát pha một đà phạ lô chỉ đế, du nga bả rị nễ thấp bả rị nễ thấp bả nĩnh. Mạo đị

a chất đa tán nhạ na nễ, tát phạ tỳ sái ca tỳ sắc hất đế, đạt ma sa nga ra tam bộ đế, a mộ già thất ra phạ nảnh, Ma ha tam măn đa bạt nại ra bô di, niết rị dă đế, vĩ dă yết ra noa, bả rị bát ra bả nễ, tát phạ tất đà,na ma tắc hất rị đế. Tát phạ mạo địa tát đát phạ, tán nhạ na nễ, bà nga phạ để, một đà ma đế. A ra nhĩ ca ra nhĩ, a ra noa ca ra nhĩ. Ma ha bát ra chỉ nhưỡng, ba ra nhĩ đế, sa phạ ha.

153. Băy giờ, Thế Tôn nghe thuyết chú xong, khen Kim Cương Thủ cùng các Bồ tát rằng : Lành thay ! Lành thay !Nếu có ai tụng tŕ Đà La Ni này, th́ Ta cùng mười Phương chư Phật đều thường gia hộ. Các ác quỹ thần kính trọng người ấy như Phật, người ấy chẳng bao lâu đắc thành Phật.

154. Đại vương ! Ta phó chúc kinh này cho các ông : Nước Tỳ Sá Nan, nước Kiều Tát La, nước Thất La Phiệt, nước Ma Già Dà, nước Ba La Ni Tư, nước Ca Tỳ La, nước Câu Thi La, nước Kiềm Đàm Di, nước Bát Giá Ca, nước Ba Cha Ca, nước Mạt Thổ Ca, nước Ô Thi Ni, nước Bôn Cha Bả Đa, nước Đề Bà Đạt Đa, nước Thi Ca, nước Chiêm Ba. Tăt cả các quốc vương trong các nước ấy, phải nên thọ tŕ Bát nhă ba la mật đa.

155. Khi đại chúng cho đến hàng A Tu La, nghe Phật nói những tai nạn, lông trong người đều dựng đứng, cao giọng xứng lên : Chúng con nguyên đời vị lai, không sinh vào các nước đó. Khi ấy, 16 vị vua liền bỏ ngôi theo đạo xuất gia, đầy đủ tám thắng xứ, mười nhất thiết xứ, đắc phục nhẫn, tín nhẫn, vô sanh nhẫn.

156. Băy giờ, tất cả người, trời và chúng A Tu La tung hoa Mạn Đà La, hoa Mạn Thù Sa, hoa Bà Sư Ca, hoa Tô Mạn Na cúng dường đức Phật.Tùy theo từng chủng tính, đắc ba giải thoát môn, ngă không pháp không, Pháp Bồ đề phần. Vô lượng vô số đại Bồ tát, răi hoa Câu vật đàu, hoa ba đàu ma, để cúng dường Phật, vô sanh pháp nhẫn, Vô lượng vô số đại Bồ tát đắc các môn Tam muội nhiều như số cát sông Hằng, chân đế tục đế b́nh đẳng, đủ vô ngại giải, thường khởi Đại Bi, nơi trăm vạn ức a tăng kỳ cỏi Phật thế giới nhiều như số vi trần rộng lợi ích chúng sanh, hiện thân thành Phật.

PHẨM CHÚC LUY (Thứ tám)

157. Phật bảo vua Ba Tư Nặc : Nay ta dặn ḍ các ông, sau khi Ta diệt độ, chánh pháp sắp diệt sau 50 năm, sau 500 năm, đến sau 5000 năm không c̣n Phật Pháp Tăng, kinh Tam Bảo này giao phó cho các quốc vương, để kiến lập, thủ hộ, khiến cho bốn chúng đệ tử của ta thọ tŕ, đọc tụng, hiểu rỏ nghĩa lư, v́ khắp chúng sanh tuyên thuyết pháp yếu,khiến họ tu tập để ĺa khỏi sanh tử.

158. Đại vương ! Sau này là đời ngũ trược, tất cả quốc vương, vương tử, đại thần, tự ỷ ḿnh cao quư, phá diệt giáo pháp của Ta. Bày ra các pháp chế, ngăn các đệ tử tỳ kheo, tỳ kheo ni, không cho xuất gia, tu hành theo đường chính, lại không cho tạo tháp tượng Phật. Hàng bạch y ngồi ṭa cao, tỳ kheo đứng dưới đất, cũng như cánh binh lính nô bộc không khác. Hăy biết khi ấy th́ pháp diệt không xa.

159. Đại vương !Nhân duyên phá hư đăt nước đều do các ông tự làm ra, cậy uy lực ḿnh, ngăn cắm bốn bộ đệ tử không cho tu phước. Các ác tỳ kheo thọ hưởng các đồ cúng dường riêng biệt, các tỳ kheo trí thức thế tục cũng một ḷng như thế, cùng nhau thân thiện, hội chay cầu phúc. Đó là pháp ngoại đạo, không phải giáo pháp của Ta. Trăm họ tật dịch, vô lượng khổ nạn, hăy biết khi ấy quốc độ phá diệt.

160. Đại vương ! Thời mạt pháp, quốc vương, đại thần, bốn bộ đệ tử, đều làm những việc phi pháp, chống trái đạo Phật, gây bao lầm lỗi, phi pháp, phi luật, trói buộc tỳ kheo như người đang ở ngục tù. Nên biết khi ấy, pháp diệt không c̣n bao xa.

161. Đại vương! Sau khi Ta diệt độ, bốn bộ đệ tử , tất cả quốc vương, vương tử, trăm quan đều nhận giữ ǵn, hộ pháp Tam Bảo mà lại tự phá diệt. Như con trùng trong thân con sư tử, tự chúng ăn thịt con sư tử, đâu phải ngọai đạo nào phá! Phá hoại giáo pháp của Ta, đắc tội lỗi lớn.Chánh pháp suy đồi, dân không có chánh hạnh, các ác dần tăng, tuổi thọ ngày càng giảm, lại không có con hiếu thảo, gia đ́nh bà con xích mích, thiên long chẳng giúp, ác quỹ ác long ngày ngày đến xâm hại, tai quái tiếp nhau, làm tay họa tung hoành, phải sa vào địa ngục, bàng sanh, quỹ đói. Nếu được làm người th́ bần cùng hạ tiện, các cơ quan chẳng đầy đủ. Quả báo hũy pháp cũng như bóng theo h́nh, như vang ứng tiếng, như người viết chữ trong đêm, lữa tắt chữ c̣n.

162. Đại vương! Trong đời vị lai, tất cả quốc vương, vương tử, đại thần cùng các đệ tử của Ta, lập bừa ra sổ sách, đặt quan điền chủ, tăng thống lớn nhỏ, sai sử những điều phi lư. Hăy biết, khi ấy Phật pháp không c̣n lâu.

163. Đại vương! Trong đời vị lai, tất cả quốc vương bốn bộ đệ tử, nên theo chỗ hành đạo của mười phương chư Phật mà kiến lập và lưu thông. Những ác tỳ kheo chỉ cầu danh lợi, không y theo pháp, trước vua tự nói những sai lầm, gây những duyên để phá pháp. Vua lại không hiểu biết, tin thọ các lời ấy, lập bừa ra các pháp chế, chẳng y theo giới Phật. Hăy biết khi ấy, pháp diệt không xa.

164. Đại vương! Trong đời vị lai, quốc vươgn đại thần, bốn bộ đệ tử, tự làm ra nhân duyên để phá pháp và phá nước th́ thân phải chịu lấy, chẳng phải lỗi của pháp Phật. Thiên long bỏ đi, năm trược tăng dần. Nếu nói cho đủ, th́ hết kiếp cũng chẳng xong.

165. Bấy giờ, 16 đại quốc vương nghe những lời răn về đời vị lai như vậy, buồn rầu khóc than, tiếng vang khắp ba ngàn cỏi, trời đăt tối tăm, ánh sáng không hiện. Các vua mỗi mỗi đều chí tâm nhớ giữ lời Phật dạy, không ngăn bốn bộ xuất gia học đạo, như Phật giáo hóa. Khi ấy, Hằng hà sa vô lượng đại chúng, đều cùng than rằng: Đến khi ấy, thế gian sẽ trông không, không có Phật có Phật ở đời.

166. Lúc ấy, vua Ba Tư Nặc bạch Phật: Thế Tôn! Kinh này tên là ǵ? Chúng con làm sao phụng tŕ? Phật bảo: Đại vương! Kinh này gọi là Nhân Vương Hộ Quốc Bát nhă ba la mật đa, cũng được gọi là Cam Lồ pháp dược, nếu có ai uống và hành theo th́ khỏi mọi tật bệnh. Đại vương! Bát nhă ba la mật đa tṛn đày công đức như hư không vô tận, không thể đo đếm. Nếu có người thọ tŕ, đọc tụng th́ được những công đức ấy, hay hộ Nhân Vương cho đến tất cả chúng sanh, như tường vách, như thành quách. Thế nên tất cả các ông phải nên thọ tŕ.

167. Phật thuyết kinh này xong, ngài Di Lạc, Sư Tử Nguyệt cùng vô lượng Đại Bồ tát, ngài Xá Lợi Phất, ngài Tu Bồ Đề cùng vô lượng Thanh Văn, vô lượng trời, người cơi dục cơi sắc, tỳ kheo, tỳ kheo ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ, a tu la cùng tất cả đại chúng, nghe Phật thuyết, tất cả đều rất hoan hỹ, tin nhận phụng hành./-

 

Copyright ©2005 FITEC & SearchVN. All rights reserved.