TIN NHÂN  QUẢ - TẠO PHƯỚC ĐỨC -  SỐNG CHÂN THƯỜNG

 searchvn.net                                                                                                                            TRỞ VỀ

 
 

 

 

ENGLISH-VIETNAMESE BUDDHIST DICTIONARY

Nguyên Hảo

INDEX

[A] [B] [C] [D] [E] [F] [G] [H] [I] [J] [K] [L] [M] [N] [O] [P] [Q] [R] [S] [T] [U] [V] [W] [Y] [Z]

 

C

 

CAITYAS'AILÀ. BỘ CHẾ ĐA SƠN. Một trong hai mươi bộ phái Phật Giáo phát triển ở Ấn Độ. Xem: INDIA

CAKRA (S). CAKKA (P). LUÂN. (BÁNH XE). E.: WHEEL. Từ dùng để chỉ những trung tâm khí lực nằm trong con người. Những trung tâm khí lực nầy được biết đến đầu tiên do người Ấn Độ Giáo. Về sau, Phật giáo Mật tông khai triển việc áp dụng những trung tâm nầy thành một hệ thống tu tập.

CAKRAVART̀RAJÀ (S). CAKKAVATT̀RÀJÀ (P). KIM LUÂN VƯƠNG; CHUYỂN LUÂN VƯƠNG. E.: A UNIVERSAL MONARCH; WHEEL RULER. Vị vua cai trị toàn cầu; chúa tể toàn cầu. Về sau, từ nầy dùng để chỉ Đức Phật, bước chân truyền giáo của Ngài đă đi đến mọi nơi, và giáo pháp của Ngài dạy là chân lư chung cho muôn loài.

CAKSU (S). CAKKHU (P). MỤC. MẮT. E.: EYE. Xem: PANCENDRIYÀNI (S).

CANKER. DEFILEMENT. LẬU; PHIỀN NĂO. Xem: ÀSRAVA (S).

CASTE. TÍNH; GIAI CẤP. Xem: VARNA (S).

CATTÀRO MAHÀDEVA RÀJÀ (P). TỨ ĐẠI THIÊN VƯƠNG. Xem: CATUR MAHÀRÀJÀS (S).

CATU ARIYA SACCA (P). TỨ ĐẾ PHÁP; TỨ THÁNH ĐẾ. Xem: CATVÀR̀ ÀRYA SATYÀNI (S).

CATU D̀PÀ (P). TỨ CHÂU; TỨ ĐẠI BỘ CHÂU. Xem: CATUR DV̀PA (S).

CATUR MAHÀRÀJA-KÀYAKÀS (S). TỨ VƯƠNG THIÊN. Bốn cơi trời của bốn Đại Thiên Vương. Xem: CATUR MAHÀRÀJÀS (S).

CATU MAHÀRÀJIKA LOKA (P). TỨ VƯƠNG THIÊN. Bốn cơi trời của bốn Đại Thiên Vương. Xem: CATUR MAHÀRÀJÀS (S).

CATU YONI (P). TỨ SINH. Xem: CATUR YONI (S).

CATUR DV̀PA (S). CATU D̀PÀ (P). TỨ CHÂU; TỨ ĐẠI BỘ CHÂU. E.: THE FOUR INHABITED CONTINENTS. Bốn đại lục có người nằm ở các phương nam, đông, tây và bắc của núi Sumeru (Tu Di). (1) Nam: Jambù d́pa (P), jambù dv́pa (S). Nam thiệm bộ châu. e.: Southern continent. (2) Đông: Pubba videha (P), Pùrva videha (s). Đông thắng thần châu. E.: eastern continent. (3) Tây: Apara gogyàna (P), Apra godàńya (S). Tây ngưu hóa châu. e.: Western continent. (4) Đông: Uttara kuru (P & S). Bắc Câu lô châu. e.: Northern continent.

CATUR MAHÀRÀJÀS (S). CATTÀRO MAHÀDEVA RÀJÀ (P). TỨ ĐẠI THIÊN VƯƠNG. (bốn vị vua trời). E.: THE FOUR DEVA KINGS OF THE FOUR HEAVENS. (1) Đông: Dhatarattha (P), Dhrataràstra (S). Tŕ Quốc Thiên Vương. (Tay cầm đàn). (2) Tây: Virùpakkha (P), Virùpàksa (S). Quảng Mục Thiên Vương. (Tay cầm kiếm.) (3) Nam: Virùdha (P), Virùdhaka (S). Tăng Trưởng Thiên vương. (Tay cầm dù). (4) Bắc: Vessavàna (P), Vaisravana (S). Đa Văn Thiên Vương. (Tay cầm con rắn.)

CATUR YONI (S). CATU YONI (P). TỨ SINH. (bốn h́nh thức sinh ra). E.: FOUR FORMS OF BIRTHS. (1) Jalàbuja (P), Jjaràyuja. Thai sinh. (Sinh ra từ tử cung). e.: viviparous. (2) Andaja (p & s). Noăn sinh. (Sinh ra từ trứng). e.: oviparous. (3) Samsedaja (P), Samsvedaja (S). Thấp sinh. (Sinh ra từ ẩm thấp). e.: moisture/water born. (4) Opapàtika (P), Aupapàtika (S). Hóa sinh. e.: metamorphic.

CATVÀR̀ ÀRYA SATYÀNI (S). CATU ARIYA SACCA (P). TỨ ĐẾ PHÁP; TỨ THÁNH ĐẾ. (Bốn chân lư cao cả). e.: the four noble truths. Đây là giáo lư căn bản và nền tảng của Phật Giáo, được đức Phật dạy lần đầu tiên sau khi ngài chứng đạo cho năm vị đệ tử đầu tiên là nhóm ông Kiều Trần Như. (1) DUKKHA (P), DUHKHA (S). KHỔ. e.: sorrow; suffering. Cuộc đời được định tính bằng khổ và không xứng ư. Sinh khổ, bịnh khổ, chết khổ, sống xa người thân, sống gần kẻ oán, v.v... Các yếu tố tạo ra sự sống: sắc, thọ, tưởng, hành, thức là vô thường, không thật. (2) SAMUDAYA (P & S). tập. (Nguyên nhân của Khổ). e.: cause of sorrow. Nguyên nhân của khổ là dục vọng. Dục vọng trói buộc chúng sanh không ra khỏi được ṿng luân hồi của sinh và chết. (3) NIRODHA (P & S). diệt. (Chấm dứt Khổ). e.: cessation of sorrow. Khổ có thể được chấm dứt bằng sự diệt trừ ḷng ham muớn (dục vọng). (4) MAGGA (P), MàGRA (S). đạo. (Con đường chấm dứt khổ; Tám Chánh Đạo). Con đường để diệt trừ dục vọng, chấm dứt sự khổ sinh tử luân hồi là con đường Tám Chánh Đạo. Xem: PATH; ÀRYA ASTÀNGIKA MÀRGA (S).

CAUSE AND EFFECT. ACTION AND REACTION. NHÂN QUả; NHÂN DUYÊN. HETUPPACCAYA (P), HETUPRATYAYA (S). Xem: KARMA (S); VIPÀKA.

CELESTIAL KING. THIÊN VƯƠNG; HỘ QUỐC THIÊN VƯƠNG. Xem: DEVARÀJA.

CHABBANNA DHAJA (P). PHẬT GIÁO KỲ. Cờ Phật Giáo. Xem: SHADVARNA DHAVAJA (S).

CHAITYA (S). CHETIYA (P). THÁP. Xem: PAGODA.

CHANDRAKIRTI (S). NGUYỆT XỨNG. Xem: MÀDHYAMIKA.

CHETIYA (P). THÁP. Xem: PAGODA.

CHINESE BUDDHISM. PHẬT GIÁO TRUNG HOA. Theo sử sách Trung Hoa, Phật Giáo du nhập vào nước nầy từ thứ kỷ thứ hai sau Tây lịch, rồi phát triển sâu rộng để trở thành một tôn giáo và một nền tư tưởng chính của Trung hoa. Phật Giáo đến Trung hoa phát triển mạnh để tạo thành mười ba Tông phái lớn là: (1) câu xá tông. Abhidharma; Kosha school. Đại biểu cho Tiểu Thừa. Đặt nền tảng trên Abhidharma-kosa-sastra (Câu Xá Luận) của Thế Thân do ngài Chân Đế (Paramàrtha, 499-569) dịch sang Hán văn. Tông phái nầy chỉ tồn tại trong thời nhà Đường. Theo Câu Xá Tông, các pháp được coi như một khối do nhiều yếu tố tạo thành và gồm có hai loại: tùy thuộc điều kiện và không tùy thuộc điều kiện. Các pháp th́ thường c̣n, các yếu tố th́ biến dị. Như vậy bản thể của các yếu tố lưu chuyển từ quá khứ đến hiện tại rồi từ hiện tại đến vị lai. Tuy nhiên, không có nghĩa là Câu Xá Tông chấp nhận có một cái ngă thường c̣n. (2) Thành thật tông. satyasiddhi. Đặt nền tảng trên Thành Thật Luận (Satyasiddhi-sàstra) do ngài Cưu Ma La Thập (Kumàraj́va) dịch. Vào đầu thế kỷ thứ sáu, tông nầy là một trong những tông phái quan trọng nhất ở Trung Hoa, đối chọi với Tam Luận Tông v́ Tam Luận Tông cho rằng các vị thầy của Thành Thật Tông giải thích sai lầm Tánh Không. Tông nầy được sắp vào Tiểu Thừa. Căn bản là phủ định mọi sự hiện hữu - cả tâm và vật đều không thật. Về chân lư luận, tông nầy cho rằng có hai chân lư: chân lư giả lập và chân lư tối thượng. Sự hiện hữu bên ngoài, tức thấy được, của các pháp thuộc chân lư giả lập, chúng khởi lên do nhân duyên và chỉ hiện hữu trong một thời gian nhất định. Đứng trên quan điểm chân lư tối thượng, tất cả các pháp đều không (shùnyatà). Thành Thật Tông cho rằng cả người và các pháp đều không, tuy nhiên Không ở đây chỉ có thể đạt đến bằng sự phá bỏ hay loại trừ. Các đối tượng quán sát bị chia cắt, tháo gỡ nhỏ dần, từ phân tử rồi đến nguyên tử, để cuối cùng đạt đến cái không. Đó là cái Không loại trừ, ngược lại với cái Không toàn thể của Tam Luận. (3) luật tông. vinaya. e.: discipline sect. Đặt nền tảng trên Tứ Phần Luật, do ngài Đạo Tuyên (596-667) thành lập. Thành lập tông nầy, ngài Đạo Tuyên nhấn mạnh vào tính chất quan trọng của giới luật. Theo ngài, muốn giác ngộ, giải thoát, cần phải nghiêm giữ giới luật, không cần học nhiều kinh điển. (4) tam luận tông. e.: three sàstras sect. Đặt nền tảng trên Trung Quán Luận (Màdhyamikà-sàstra) của Long Thọ, Bách Luận (Sata-sàtra) của Thánh Thiên, và Thập Nhị Môn Luận (Dvadasa-nikàya-sàstra) của Long Thọ. Tông phái nầy được thành lập vào năm 409 khi ba bộ luận trên (Tam Luận) được ngài Cưu Ma La Thập dịch sang Hán văn. Theo Tam Luận Tông, đức Phật thuyết dạy hai giáo pháp chính: giáo pháp cho Thanh văn (shràvakas) và giáo pháp cho Bồ tát (bodhisattva). Tam Luận thuộc giáo pháp cho Bồ tát. Tam Luận Tông chia thời kỳ thuyết pháp của Phật làm ba: thời kỳ thứ nhứt ngài thuyết kinh Hoa Nghiêm (Buddhàvatamsaka-sùtra). Kinh nầy thuyết cho hàng Bồ tát, nhưng trong thời kỳ nầy chúng sanh chưa đủ thuần thục để hiểu được. Thời kỳ thứ hai trong khoảng sau khi Phật thuyết kinh Hoa Nghiêm đến kinh Pháp Hoa. Thời kỳ nầy ngài dạy tất cả giáo pháp cho Thanh văn, Bích Chi và Bồ tát. Thời kỳ sau cùng, tức sau kinh Pháp Hoa, chúng sanh đă đủ thuần thục và ngài giảng dạy giáo lư Nhứt Thừa (Ekayana). Xem: màdhyamika. (5) niết bàn tông. nirvana sect. Đặt nền tảng trên Kinh Đại Bát Niết Bàn (MahàParinirvàna-sutra) do ngài Trúc Pháp Hộ (Dharmaraksa) dịch vào năm 423. Về sau tông nầy sáp nhập vào Tông Thiên Thai. Giáo lư quan trọng nhất của tông nầy là chủ trương Niết Bàn có bốn đặc tính: Thường (không hủy diệt - eternal), Lạc (an vui - joyous), Ngă (tự tại - personal) và Tịnh (trong sạch - pure). Chủ trương nầy có vẻ trái với quan điểm của Bát Nhă cho rằng Niết Bàn là chứng ngộ Tánh Không. Tuy nhiên, cũng theo Niết Bàn Tông, tất cả chúng sanh đều có Phật Tánh và có thể thành Phật, trên quan điểm nầy, chân ngă (thường, lạc, ngă tịnh) đồng nghĩa vớt chân như (tathagatha). (6) địa luận tông. dasabhùmika sect. Đặt nền tảng trên mười bậc (địa) tu chứng của Bồ tát trong Thập Địa Luận của ngài Thế Thân giảng về phẩm Thập Địa (Dashabhùmika) của kinh Hoa Nghiêm. Thập Địa Luận được ngài Bồ Đề Lưu Chí (Bodhiruci) dịch vào năm 508 là nền tảng của tông nầy. Địa Luận Tông xử dụng triết lư căn bản của Duy Thức Tông (Yogàchàra), đặc biệt là về Hàm tàng thức (a lợi da thức - àlaya-vijnàna) để thuyết giáo. Tông nầy về sau chia làm hai phái: Bắc phái cho rằng Hàm tàng thức không thật, chỉ là giả và tách rời chân như (tathatà). Khi chúng sanh thành Phật th́ chứng ngay Phật tánh; do đó Phật tánh không phải vốn đă có sẵn. Nam phái chủ trương ngược lại, cho rằng Hàm tàng thức là thật và đồng nhất với chân như, và Phật tánh vốn sẵn có nơi mọi chúng sanh. Về sau tông nầy nhập vào Tông Hoa Nghiêm. (7) tịnh độ tông. sukhàvat́ (pure-land) sect. Do ngài Huệ Viễn thành lập vào năm 402. Phái nầy đặt nền tảng trên đức tin về sự văng sinh vào cơi Tịnh độ phương Tây của Phật A Di Đà do năng lực từ bi phát ra trong 48 lời nguyện của ngài. Phương pháp tu tập của Tịnh Độ Tông căn bản là niệm danh hiệu của Phật A Di Đà và quán tưởng cảnh giới Tịnh Độ. Kinh điển chính yếu của tông nầy là A Di Đà Kinh, Quán Vô Lượng Thọ Kinh. Đầu tiên ngài Huệ Viễn lập ra Bạch Liên Xă, thiết lập tượng Phật Di Đà, tập trung tu sĩ và cư sĩ niệm danh hiệu Phật A Di Đà cầu văng sanh tịnh độ. V́ vậy, ngài Huệ Viễn được coi là Tổ thứ nhứt của Tịnh Độ Tông. (8) thiền tông. dhyàna sect. Do ngài Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma) truyền vào Trung Hoa vào khoảng năm 527. Thiền chủ trương kiến tánh, tức thấy được bản tánh chân thật của mỗi người, và hướng đến mục đích giác ngộ hoàn toàn như đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni đă thực hiện trong bốn mươi chín ngày thiền định miên mật dưới gốc cây bồ đề. Hơn hết các tông phái, Thiền Tông nhấn mạnh vào kinh nghiệm giác ngộ, và sự vô ích của các nghi lễ tôn giáo cũng như việc phân tích học hỏi giáo lư. Thiền Tông cho rằng tọa thiền là con đường ngắn nhất và thâm sâu nhất nhất để giác ngộ. Tính chất căn bản của Thiền được nói lên bằng bốn câu kệ: Truyền riêng ngoài giáo, không dựa vào văn tự, hướng thằng vào tâm, thấy tánh thành Phật. (Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật). (9) nhiếp luận tông. samparigraha-sàstra sect. Đặt nền tảng trên Nhiếp Đại Thừa Luận (Mahàyàna-samparigraha-sastra) do ngài Vô Trước (Asanga) trước tác, ngài Chân Đế (Paramàrtha) dịch sang Hán văn vào năm 563. Về sau tông nầy sáp nhập vào Tông Hoa Nghiêm. (10) thiên thai tông. t'ien-tai sect. e.: school of the celestial platform. Tông nầy do ngài Trí Khải (538 - 597) thành lập, giáo pháp đặt nền tảng trên kinh Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (Saddharmapundaŕka sùtra) nên cũng được gọi là Pháp Hoa Tông. Thiên Thai tông coi ngài Long Thọ (Nagarjuna) là sơ tổ v́ giáo lư Tam Đế (Ba Chân lư): Không - Giả - Trung của Thiên Thai tông bắt nguồn từ triết lư Tánh Không của Bồ tát Long Thọ. Tất cả mọi hiện tượng thế gian đều là sự hiển lộ của Chân Như, và theo giáo lư Thiên Thai, các pháp hiển lộ dưới ba chân lư: (1) Không: v́ không hiện hữu độc lập; (2) Giả: v́ các pháp có hiện hữu trong một thời gian nhất định và có thể được nhận biết bằng giác quan; (3) Trung: chân như vượt lên trên và bao hàm hai chân lư trên (không và giả). Thiên Thai hệ thống hóa giáo pháp đức Phật làm "Năm Thời, Tám Giáo" (Ngũ Thời Bát Giáo). Năm thời kỳ thuyết pháp của Đức Phật được Thiên Thai Tông chia ra như sau: Thời Hoa Nghiêm, thời A Hàm, thời Phương Đẳng, thời Bát Nhă, thời Pháp Hoa và Niết Bàn. Tám Giáo gồm bốn hóa pháp và bốn hóa nghi. Bốn hoá pháp là bốn giáo pháp Phật dạy để đem lợi ích cho chúng sanh: (1) Tạng Giáo (Kinh, Luật, Luận), (2) Thông Giáo (Các chân lư trong kinh A Hàm làm lợi ích cho ba thừa Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát), (3) Biệt Giáo (Các kinh Phương Đẳng và Bát Nhă chỉ có lợi cho căn cơ Đại Thừa), (4) Viên Giáo (Giáo pháp hoàn măn trực tiếp dạy cho những bậc căn cơ lớn). Bốn hóa nghi là bốn phương pháp Phật dùng để giảng dạy: (1) Tiệm: Giảng dạy từ từ, có hệ thống. (2) Đốn: chỉ thắng vào chân lư hoàn măn cho những người có căn cơ lớn. (3) Bí Mật Giáo: Phật dùng phương pháp bí mật để dạy trực tiếp cho một người, dù lúc đó có nhiều người hiện diện, chỉ người Phật muốn giảng dạy mới hiểu được. (4) Bất Định Giáo: Đức Phật giảng chung cho nhiều người nhưng tùy tŕnh độ, căn cơ, họ hiểu và lănh hội khác nhau. Các tác phẩm quan trọng của phái Thiên Thai là Ma Ha Chỉ Quán, Lục Diệu Pháp Môn, v.v... Pháp tu Chỉ Quán gồm hai phương diện là Chỉ và Quán. Chỉ là định, là tập trung để nhận thấy bản chất của các pháp là không. Quán là quán sát rằng mặc dù các pháp là không, chúng vẫn có sự một hiện hữu, hiện hữu một cách ước lệ. (11) hoa nghiêm tông. avàtamsaka sect. Đặt nền tảng trên Kinh Hoa Nghiêm (Avatamsaka-sutra) được dịch vào năm 418. Tông nầy được thành lập do ngài Pháp Tạng (643-712), tuy nhiên nguồn gốc đă phôi thai từ ngài Đỗ Thuận (557-640). Đến ngài Trừng Quán (602-668), một cao tăng đệ tử của ngài Pháp Tạng, Hoa Nghiêm Tông tạo được một ảnh hưởng lớn lao. Ngài Trừng Quán soạn Hoa Nghiêm Sớ Sao 400 quyển. Đời sau coi ngài như hóa thân của Bồ tát Văn Thù (Manjushri). Tông phái nầy dạy về tính b́nh đẳng của các pháp và sự tương thuộc vào nhau của chúng. Giáo lư của tông Hoa Nghiêm được gọi là giáo lư Viên Dung v́ theo tông nầy, vạn pháp đều quy về một và cái một nầy thể hiện ra vạn pháp, và như vậy tất cả cũng là một (nhứt tức nhứt thiết, nhứt thiết tức nhứt). Giáo lư căn bản của Hoa NghiêmTông là Pháp giới duyên khởi (Trùng trùng duyên khởi), có nghĩa là mọi sự vật trong vũ trụ đều có mối liên hệ nhân duyên lẫn nhau. Mọi pháp đều có sáu tính chất: tính phổ biến, tính đặc trưng (riêng biệt), tính tương tự, tính sai khác, tính bao quát, tính phân biệt. Chúng hoặc thuộc thế giới chân như (tathatà), mà phương diện tĩnh là tánh không, hoặc thuộc thế giới lư, mà phương diện động là sự, tức thế giới hiện tượng. Hai thế giới nầy đan kết trong nhau và tùy thuộc lẫn nhau, và toàn thể vũ trụ là một khối duyên khởi. Tất cả mọi pháp trong vũ trụ (pháp giới) đều tương thuộc và tác động lên nhau. Tất cả các pháp là không: hai phương diện của tánh không là lư (thế giới tuyệt đối, h́nh nhi thượng) và sự (thế giới hiện tượng) thấm nhập vào nhau một cách vô ngại. Trong mỗi bộ phận đều biểu hiện cai toàn thể, và ngược lại. Tăt cả mọi hiện tượng là biếu hiện của cái một và cái một bao trùm cái toàn thế. Quan điểm nầy được giải thích bằng tư tưởng bốn pháp giới: (1) Sự: Thế giới thực tại, thế giới hiện tượng. (2) Lư: thế giới tuyệt đói h́nh nhi thượng. (3) Lư sự vô ngại: Thế giới trong đó lư và sự thấm nhập trong nhau. (4) Sự sự vô ngại: Thế giới trong đó mọi hiện tượng hiện hữu trong một sự ḥa điệu toàn hảo và không ngăn ngại nhau. Đó là thế giới lư tưởng. Củng theo tông Hoa Nghiêm, thời kỳ thuyết pháp của Phật được chia làm năm: (1) Thời đầu tiên Phật giảng giáo lư Tiểu Thừa. (2) Thời thứ hai, Phật giảng Đại Thừa thỉ giáo tức giáo lư sơ bộ của Đại Thừa. Theo Pháp Tạng, Tam Luận thuộc thời kỳ nầy v́ chỉ nói về tánh không mà không đề cập đến Phật Tánh có sẵn nơi mọi chúng sanh. (3) Thới kỳ thứ ba Phật giảng về Đại thừa chung giáo, là giáo pháp Đại Thừa hoàn hảo. Theo Hoa Nghiêm, giáo lư Thiên Thai thuộc thời kỳ nầy v́ nói về tánh không mà không bác bơ sự hiện hữu của hiên tượng (giả). (4) Thời kỳ thứ tư, Phật giảng về Đốn giáo, tức giáo lư chứng ngộ trực tiếp, tức thới, không theo thứ tự cấp bậc. Giáo lư Thiền thuộc thời kỳ nầy. (5) Thời kỳ thứ năm Phật giảng Viên Giáo, giáo pháp trọn vẹn, như giáo pháp Hoa Nghiêm. Xem: avatamsaka-sùtra. (12) pháp tướng tông. dharmalaksana sect; marks-of-existence school. Được thành lập sau khi ngài Huyền Trang (600-664) từ Ấn Độ trở về và dịch các tác phẩm quan trọng về Du Già (Yogàcarya). Pháp Tướng tông là một tông phái quan trọng của Trung hoa và được coi như trong gịng tiếp nối của Duy Thức Tông Ấn Độ (Yogàchàra) thiết lập trên những tác phẩm của các ngài Vô Trước (Asangha) và Thế Thân (Vasubandhu). Pháp Tướng Tông cũng c̣n được gọi là Từ Ân Tông v́ tông nầy do ngài Khuy Cơ (638-682) trụ tŕ chùa Tư Ân, đệ tử của ngài Huyền Trang, khởi xướng. Trọng tâm tư tưởng của tông nầy là tất cả vạn pháp đều do tâm, có nghĩa là thế giới bên ngoài chỉ là sản phẩm của tâm thức, không có thực thể. Về tâm, tông nầy chia tâm thức làm tám: (1-5) Tiền ngũ thức: Năm thức của năm giác quan (sense conciousness); (6) Ư thức (manovijanàna - thinhking conciousness); (7) Mạt na thức (manovijnàna - self-concious defiled mind) thức chấp ngă; và (8) A lợi da thức (àlaya-vijanàna - store house conciousness), c̣n gọi là hàm tàng thức v́ thức nầy chứa đựng và nuôi dưỡng mọi hạt mầm thiện ác (chủng tử). Về pháp, Pháp Tướng Tông gom tất cả mọi hiện hữu vào 100 pháp, chia làm năm nhóm: (1) Tâm pháp (vijanàna; E.: conciousness) gồm có 8 pháp; (2) Tâm sở pháp (chetasika; E.: mental factors) gồm 51 pháp; (3) Sắc pháp (rupa; E.: form) gồm 11 pháp; (4) Bất tương ưng pháp (E.: dharmas independent of mind) gồm 21 pháp (5) Vô vi pháp (E.: unconditioned dharmas) gồm 6 pháp. Về quán, Duy Thức chia tánh của các pháp làm ba, tức ba chân lư quán sát: (1) Biến kế sở chấp tính (parikalpita - conceptualized nature of dharmas): các pháp hiện hữu chỉ do chủ quan tạo ra (biến kế), cho là có thật. (2) Y tha khởi tính (paratantra - contingent nature of dharmas): các pháp do nhân duyên tạo thành, chỉ hiện hữu một cách giả tạm, không có tự tánh, không có thực thể. (3) Viên thành thực tính (tathatà - absolute reality): chân như, niết bàn, tuyệt đối, vượt ngoài mọi phạm trù, đối đăi. Để đạt được trạng thái sau cùng là chân như, niết bàn, hành giả phải trải qua quá tŕnh tu tập nhiều giai đoạn, để chuyển tiền ngũ thức (năm thức đầu) thành Thành sở tác trí (wisdom of action), ư thức chuyển thành Diệu quan sát trí (wisdom of insight), mạt na thức chuyển thành B́nh đẳng tánh trí (wisdom of equality), và hàm tàng thức chuyển thành Đại viên cảnh trí (wisdom of the wondrous miror). Pháp Tướng tông không chấp nhận quan điểm cho rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, trái lại với hầu hết các tông phái Đại Thừa khác. Theo tông nầy, nhất xiển đề (ichchantika) không bao giờ có thể thành Phật. Pháp Tướng tông chỉ hưng thịnh trong thời nhà Đường, sau đó đi xuống. 13. mật tông. mantra sect; school of secrets. Ra đời vào khoảng năm 716, do các vị tăng từ Ấn Độ (India) và Tích lan (Sri lanka) sang truyền bá. Đó là các ngài Thiện Vô Úy (Shubhàkarasinma, 637-735), giáo sư Mật giáo ở Nalanda, đến Trung hoa năm 716, được tôn phong làm quốc sư, và dịch bộ Đại Tỳ Lô Giá Na Kinh (Mahàvairochana-sùtra) là kinh nền tảng của Mật tông; Kim Cang Trí (Vajrabodhi, 663-723), từ Nam Ấn đến Trung hoa năm 720; và Bất Không (Amoghavajra, 705-774), người Tích lan, học tṛ của Kim Cương Trí, cùng đến Lạc dương với thầy. Phương pháp hành tŕ của Mật tông là tŕ tụng chân ngôn (dhàrań), xử dụng thủ ấn (mùdra), và các nghi lễ quán đảnh (xem: abhisheka). Giáo lư bí truyền của Mật tông chỉ được truyền miệng trực tiếp từ thầy đến tṛ, v́ lư do nầy, Mật tông không được truyền bá sâu rộng. Sau khi ngài Bất Không, thầy của ba vị vua qua đời, Mật tông không c̣n thịnh hành.

CHINTÀMANI (S). NHƯ Ư CHÂU. NGỌC NHƯ Ư. Ngọc nầy là chư Phật và Bồ tát. Ngọc Như ư c̣n tượng trưng cho tâm giải thoát.

CHITTA (S). TÂM. Cùng nghĩa với manas (tâm thức) và vijanàna (thức). Chitta là toàn bộ tiến tŕnh và sự biểu hiện tâm thức, bao gồm sự suy tư và phân biệt.

CLEAN. PURE. TỊNH; THANH TỊNH. VIMALA (P & S).

COMPASSION. BI. KARUNA (P &S). Ḷng thương xót. Đó là đức hạnh cao cả của chư Phật và Bồ Tát và là một trong Tứ Vô Lượng Tâm (brama-vihàras). Ḷng thương nầy mở rộng đến tất chúng sanh, không có sự phân biệt, đặt nền tảng trên sự giác ngộ về tánh đồng thể của mọi sự sống. Bi cần đi đôi với Trí (wisdom) để không bị lêch lạc. Bi được coi như hiện thân của Bồ Tát Qúan Thế Âm. Xem: BRAHMA VIHÀRA (S).

CONFESSION. SÁM HỐI. KHAMÀ (P), KSHAMÀ (S). Ăn năn và nguyện bỏ những lỗi lầm đă phạm trong quá khứ. Sám hối trong Phật giáo có tính cách tích cực, không ray rức về những lỗi đă qua, nhưng cố t́m phương pháp ngăn ngừa để không c̣n tái phạm. Ví dụ nguyện ăn chay để sám hối tội sát sanh, v.v... Xem: KSHAMà (S).

CONSCIOUSNESS. THỨC. Xem: VIJNÀNA (S); ASTHA VIJNÀNA (S).

CONTEMPLATION. QUÁN. Xem: VIPARSANÀ (S).

CONVENTIONAL TRUTH. TỤC Đế. Xem: SAMVRITI-SATYA (S).

COUNCILS. KẾT TẬP ĐẠI HỘI. (Các kỳ Kết Tập Kinh điển Phật Giáo). Gồm các cuộc Kết Tập sau đây: (1) Ở SATTAPANNI GUHà (P), SAPTAPARNA GUHà (S). Ngày nay là SONABHSNDàR nằm trên triền núi VEBHàRA (P), VAIBHàRA (S) ở Ấn Độ. Cuộc Kết Tập nầy xảy ra ba tháng sau khi Đức Phật nhập diệt. Tôn giả Ca Diếp (KASSAPA (P), KàSYAPA (S)) làm thượng thủ trong kỳ Kết Tập nầy. Kinh điển sau khi được đại hội chấp thuận, được toàn thể cùng xướng đọc. Ngài A Nan (ANANDA) nói lại Kinh (DHAMMA (P), DHARMA (S)); Ngài Ưu Ba Ly (Upàpali) đọc lại Luật (VINAYA). Xem: EVAM ME SUTAM (P), EVAM MAYà SRUTAM (S) (Như Thị Ngă Văn). Kỳ Kết Tập nầy kéo dài bảy tháng. (2) Ở VESàLI (P), VAISàLI (S) (Tỳ Xá Ly). Khoảng 100 năm sau kỳ Kết Tập Lần Thứ Nhứt. V́ chỉ thiểu số ủng hộ khuynh hướng giữ nguyên Kinh và Luật nguyên thủy, đa số ủng hộ khuynh hướng ngược lại, đó là nguyên do phân ra 18 bộ phái về sau. Nguyên do cuộc kết tập nầy như sau: Trưởng lăo Da Xá Ca Càn Đà Tử (Yasha-Kakandakal putta) tuần hóa phương đông đến thành Tỳ Xá Ly, thấy các tỳ kheo ở đây vào các ngày 8, 14, 15 ngồi tụ tập xin tiền bố thí của người thế tục. V́ có lời chỉ trích người tục gia bố thí phi pháp, các tỳ kheo đ̣i Da Xá xin lỗi. Trưởng lăo nói lời xin lỗi và ân cần khuyên bảo. Tuy nhiên, các tỳ kheo Bạt kỳ vẫn không tha thứ, do đó ngài đă đến phương Tây mời một số trưởng lăo danh tiếng đến Tỳ Xá Ly để đại hội. Cuộc đại hội gồm tất cả 700 vị nên kỳ Kết Tập nầy c̣n được gọi là Kỳ Kết Tập 700 Người. Kết quả kỳ kết tập nầy là sự tuyên bố mười việc phi pháp của tỳ kheo Bạt Kỳ. Tuy nhiên, các tỳ kheo Bạt Kỳ không vừa ư, và đó nguyên nhân ngấm ngầm sự phân chia bộ phái thành Thượng Tọa Bộ và Đại Chúng Bộ. (3) Ở PàTALIPUTRA. Trong thờ kỳ Vua ASOKA vào khoảng năm 250 trước tây lịch. Trong kỳ Kết Tập nầy, Kinh Luật được điều chỉnh. Tuy nhiên vẫn chưa được viết thành văn. (4) Ở TÍCH LAN. Vào thế kỷ thứ nhứt trước Tây lịch. Kinh điển được viết bằng chữ. (5) Ở KASHMIR. Vào khoảng năm 70 sau Tây lịch, dước triều vua KANISHKA (Ca Nhị Sắc Ca), nhưng Giáo Lư trong kỳ Kết Tập nầy chuyên về Đại Thừa, cho nên phái Theravàda (Thượng Tọa) không chấp nhận. (6) Ở BURMA. Các vị thuộc Thượng tọa bộ (Theravadin) gọi kỳ Kết Tập nầy là Kỳ Kết Tập Thứ Năm. Kỳ Kết Tập nầy xảy ra vào năm 1871 dưới triều vua Mindon trị v́ ở Burma. Tam Tạng Kinh (TIPIKA (P)) được khắc vào 729 phiến đá hoa cương cất giữ tại Mandalay. (7) Ở RANGOON (Ngưỡng Quang), Burma, vào ngày Wesak (ngày trăng tṛn tháng Tư, tháng Năm) Phật lịch 2,498 ( năm 1954 Tây lịch), với mục đích phục hồi và thanh lọc Kinh điển, và cho ra một bản "thẩm quyển". Kỳ Kết Tập nầy kéo dài hai năm. (8) Một kỳ Kết Tập cũng được tổ chức vào năm 1891 do Đại tá H.S. Olcott ở Adyar, Madras, Ấn Độ, và được đại biểu các nước Burma, Ceylon, Nhựt bản (9 phái) và Chittagong, và về sau Các Lạt Ma Trưởng ở Mông Cổ chấp nhận.

CYCLE OF EXISTENCE. LUÂN HỒI. Xem: SAMSÀRA (S).

 

Copyright ©2005 FITEC & SearchVN. All rights reserved.