TIN NHÂN  QUẢ - TẠO PHƯỚC ĐỨC -  SỐNG CHÂN THƯỜNG

 searchvn.net                                                                                                                            TRỞ VỀ

 
 

 

 

ENGLISH-VIETNAMESE BUDDHIST DICTIONARY

Nguyên Hảo

[A] [B] [C] [D] [E] [F] [G] [H] [I] [J] [K] [L] [M] [N] [O] [P] [Q] [R] [S] [T] [U] [V] [W] [Y] [Z]

 

N

 

NÀGA (S). LONG - RỒNG. E: DRAGON. Một loại linh vật, mùa xuân sống trên trời, mùa đông ở sâu trong ḷng đất. Nàga hay Mahànàga (Đại Long) thường được dùng để chỉ Đức Phật hay cho những bậc Thánh đă điều phục được sinh tử luân hồi.

NÀGAKANYÀ (S). LONG NỮ. Một vị rồng nữ, con gái của Nàgaràjà (Long Vương - Vua Rồng).

NÀGARAJA(S). LONG VƯƠNG. E: DRAGON KING. Những vị thần rồng cai quản các sông, ng̣i, hồ, biển. Có nhiều kinh điển Phật Giáo được cất giữ ở cung các vua rồng trong biển v́ loài người chưa hội đủ căn cơ để hiểu những giáo pháp đó.

NÀGÀRJUNA (S). LONG THỌ. Một vị Bồ Tát và Triết gia Phật Giáo. Ngài thường được coi là "cha đẻ của Đại Thừa," là vị Bồ tát thiết lập phái Tánh Không Luận (Màdhyamika). Đến nay cũng chưa biết chắc chắn ngài sống vào thời gian nào (thế kỷ thứ hai hoặc thứ ba). Ngài đặc biệt truyền dạy về giáo lư Tánh Không (Sùnyàta). Tác phẩm được gán cho ngài rất nhiều, tuy nhiên chắc chắn ba tác phẩm sau đây là do ngài trước tác: Thập nhị môn luận (Dvàdashadvàra-shàstra), Đại Thừa nhị thập tụng (Mahàyàna-vimshaka) và Trung quán luận tụng (Màdhyamika-karikà). Công việc trọng đại nhất của ngài Long Thọ là hệ thống hóa và đào sâu giáo lư của các kinh điển Bát nhă (Prajnàpàramità-sùtra). Ngài khai triển một môn luận lư đặt nền tảng trên sự tương quan đối kháng giữa các mệnh đề. Với tiền đề cho rằng tất cả mọi sự vật đều hiện hữu trong sự tương quan đối kháng, ngài chứng minh rằng chúng chỉ hiện hữu một cách tương đối và không có thực thể, có nghĩa là Không (shùnyatà). Phương pháp luận loại trừ mọi đối kháng của ngài Long Thọ là nền tảng giáo lư Trung Đạo của các nhà Trung Quán Luận, đó là giáo pháp mà Đức Phật đă truyền dạy. Chỗ Trung nầy được diễn tả rơ ràng trong Tám phủ định (Bát bất): không tăng, không giảm, không thường c̣n, không đoạn diệt, không đồng nhất, không dị biệt, không đến, không đi. Ngài Long Thọ cố gắng chỉ rơ Tánh không của mọi hiện tượng thế gian qua sự tương đối của những đối kháng. Những sự đối kháng tùy thuộc lẫn nhau, một phần tử trong hai cực đối kháng chỉ hiện hữu khi có sự hiện hữu của cực kia. Từ đó ngài đi đến kết luận rằng sự vật trong thế giới hiện tượng không có bản thể, chúng là không. Như vậy, Tánh Không của ngài Long Thọ có nghĩa là các hiện tượng không có bản thể chứ không phải không có sự hiện hữu của hiện tượng. Do đó nói rằng các pháp có hay không có đều sai lầm. Chân lư là ở trung đạo, ở trong Tánh Không (shùnyatà). Thế giới hiện tượng cũng có chân lư riêng, đó là tục đế tức chân lư giả lập. Chân lư vượt ngoài thế gian gọi là chân đế tức chân lư chân thật, tuyệt đối. Xem: MÀDHYAMIKA (S).

NÀGASENA. NA TIÊN; LONG QUÂN. Thầy của Vua Milinda (Di Lan Đà) trong Kinh Milindapanha (Na Tiên Tỳ Kheo Kinh). Kinh nầy ghi lại cuộc đối thoại giữa Vua Di Lan Đà và Ngài La Hán Na Tiên. Kinh nầy ra đời bằng tiếng Pali vào khoảng thế kỷ thứ nhất sau Tây lịch. Ngài Na Tiên được phỏng định là sống vào thế kỷ thứ nhứt sau Tây lịch, xuất thân từ một gia đ́nh Bà La Môn và gia nhập tăng chúng vào tuổi mười lăm. Ngài đă đi nhiều nơi để học hỏi Phật Pháp, trong đó có thành Hoa Thị (Pàtaliputra) kinh đô của nước Ma Kiệt Đà (Magadha), và chứng quả A La Hán tại đây. Ngài rất thông minh, tương truyền chỉ học qua một lần là đă thuộc ḷng Tam Tạng A Tỳ Đàm. Tuy nhiên, về cuộc đời của ngài vẫn c̣n nhiều mù mờ. Xem: MILINDA.

NÀLANDA. NA LAN ĐÀ. Trường Đại học Phật Giáo nổi tiếng nằm ở vùng Đông Bắc Ấn Độ, rất hưng thịnh từ thế kỷ thứ hai đến thế kỷ thứ chín. Đầu tiên, vào thế kỷ thứ hai, nơi nầy là một ngôi chùa được xây do vua Shakràditiya của nước Magadha (Ma Kiệt Đà), sau đó phát triển thành một Viện Đại Học với các giảng viên rất nổi danh về Trung Luận (Màdhyamaka). Viện Đại học nầy đă nổi danh nhiều thế kỷ, với trên 10,000 sinh viên vào thời kỳ hưng thịnh nhất (khi ngài Huyền Trang viếng) từ các nước Phương Đông đến học, với hàng trăm bài giảng mỗi ngày về mọi lănh vực của tư tưởng Phật Giáo, và một thư viện rất nổi danh trên thế giới. Nàlanda có thể bị tàn phá do Hồi Giáo vào thế kỷ thứ mười hai hay mười ba.

NÀMA (P). DANH. Xem: NÀMAN (S).

NAMAH (S). NAMO (P). NAM MÔ. Quy kính; Nương tựa; Vâng phục; Hiến thân; Kính lễ.

NÀMAN (S). NÀMA (P). DANH. Để chỉ phần tâm lư của một hữu thể, bao gồm: Bốn uẩn (ấm) là: thọ (vedanà - feeling), tưởng (sannà - perception), hành (sankhàra - mental formation), thức (vinnàna - conciousness). Danh (bốn uẩn sau) và sắc (uẩn đầu: rùpa) phối hợp để tựu thành một cá thể (gồm năm uẩn - năm ấm). Xem: NÀMARÙPA (P & S).

NÀMARÙPA (P & S). DANH SẮC. Một từ dùng để chỉ một cá thể với các thành phần vật chất và tinh thần căn bản của nó. Danh sắc là để chỉ chung cho năm uẩn. Danh sắc là mắc xích thứ tư trong mười hai nhân duyên (prat́ya-samutpàda) tạo nên sự sinh tử luân hồi. Xem: NÀMAN(S); FIVE AGREGATES.

NAMO (P). NAM MÔ. Quy kính; Nương tựa; Vâng phục; Hiến thân; Kính lễ.

NARAKA (S). NARAKAM (P). ĐỊA NGỤC. E: HELL. Một trong ba đường thọ khổ của chúng sanh, nơi đó những chúng sanh đă tạo ra những nghiệp xấu ác phải gánh chịu những h́nh phạt đau đớn. Tuy nhiên, chúng sinh đọa vào địa ngục không phải vĩnh viễn sống trong đó. Khi trả hết nghiệp ác, họ sẽ được tái sinh, có thể vào những cảnh giới tốt đẹp hơn. Giống như các cơi tịnh độ của chư Phật, địa ngục được coi như có tính cách tinh thần hơn là nơi chốn. Vũ trụ quan Phật Giáo chia ra nhiều loại địa ngục gồm có nóng và lạnh. Tất cả có sáu địa ngục chính mà địa ngục Vô Gián hay A Tỳ (Avici) là kinh khủng nhất, quanh mỗi địa ngục chính có mười sáu địa ngục phụ. Xem: AVICI (P & S).

NARAKAM (P). ĐỊA NGỤC. Xem: NARAKA (S).

NAROPA (1016 - 1100). Một vị cao tăng Ấn Độ, đệ tử của Tilopa, một vị trong gịng truyền thừa pháp môn Đại Ấn (Mahamùdra). Trước khi trở thành đệ tử của Tilopa, Naropa dạy ở đại học Phật Giáo Nalanda.

NAYSKRAMYA (S). NEKKHAMA (P). XẢ; TỪ BỎ. Xem: PÀRAMITÀS (S); RENUNTIATION.

NEKKHAMA (P). NAYSKRAMYA (S). XẢ; TỪ BỎ. Xem: PÀRAMITÀS (S); RENUNTIATION.

NEPAL. Đức Phật đản sinh tại Lumbini (Lâm Tỳ Ni) dưới chân núi Himalaya (Tuyết Sơn - Hi Mă Lạp Sơn) thuộc Nepal. Giáo Pháp của Ngài được Vua Asoka (A Dục) truyền bá vào Nepal, và từ Nepal, Phật Giáo được truyền sang Tây Tạng đầu tiên. Thủ đô của Nepal là Katmandu. Kapilavatthu (Ca Tỳ La Vệ - ngày nay là Piprawa) là thủ đô của vua Suddhodana (Tịnh Phạn), cha của Thái tử Siddhattha (Tất Đạt Đa) cũng ở Nepal.

NERVER RETURNER. TAM QUẢ; BẤT LAI. Xem: ANÀGÀMIN (S & P).

NIBBÀNA (P). NIẾT BÀN. Xem: NIRVÀNA (S).

NICHIREN. NHỰT LIÊN. Một nhà cải cách Phật Giáo Nhật Bản, người đă sáng lập phái Nhật Liên Tông ở Nhật vào năm 1,253, lấy Kinh Pháp Hoa (Saddharma Pundaŕka) làm nền tảng. Theo ngài Nhựt Liên, giáo lư của Đức Phật thể hiện tột đỉnh trong kinh Pháp Hoa, chỉ giáo lư kinh Pháp Hoa mới có thể đưa con người đến bờ giải thoát. Tên của kinh Pháp Hoa là thông điệp nói lên cốt tủy của Kinh, có một năng lực bí mật, năng lực của Chân ngôn, và quán niệm câu: Namu Myoho Renge-Kyo (Nam mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh), và liên tục tụng niệm câu nầy như một câu thần chú và quán tưởng rằng chính ḿnh là một Vị Phật trong tiềm năng, th́ những chướng ngại của ngă chấp sẽ được dọn sạch và sự giác ngộ sẽ đến. Giáo phái nầy hiện nay có rất đông tín đồ ở Nhật.

NIDÀNÀS (P). PATICCASAMUPPÀDA; DVÀDASÀNGA (P); PRAT̀TYASAMUTPÀDA (S). THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN. Dây chuyền của hiện tượng nhân quả từ đó có sự sống và tái sinh. E.: twelve links; twelve dependent origination. (1) Avijjà (P), Avidyà (S) - Vô minh: Ngu dốt (ignorance). (2) Sankhàra (P), Samskàra (S) - Hành: Những hoạt động thuộc ư chí, những hành động tạo nghiệp. Vô minh và Hành thuộc kiếp sống quá khứ, là nguyên nhân cho sự tái sinh trong kiếp nầy. (3) Vinnàna (P), Vijnàna (S) - Thức: tâm thức, kết sinh thức (conciousness). Nguyên nhân cho sự kết thành bào thai trong bụng mẹ. (4) Nàmarùpa - Danh sắc: Toàn bộ tâm, vật lư của một hiện hữu (mind and form). (5) Salàyatana (P), Shadàyatana (S) - Lục nhập: Sáu giác quan: mắt,tai, mủi, lüỡi, thân và ư (six senses). (6) Phassa (P), Sparsa (S) - Xúc: Tiếp xúc (contact; touch). Sáu giác quan tiếp xúc với sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. (7) Vedanà (P & S) - Thọ: Cảm giác thích hay không thích khi tiếp xúc với sáu trần. (sensation; feeling). (8) Tanhà (P), Trsna (S) - Ái: Ưa thích, ham mê (craving; desire). (9) Upàdàna (P & S) - Thủ: Ôm giữ; chiếm giữ (attachment; clinging; grasping). (10) Bhava (P & S) - Hữu: Hiện hữu, tồn tại (v́ có tạo nghiệp) (existence; action; being). (11) Jàti (P & S) - Sinh: Sinh, tái sinh (birth; rebirth). (12) Jaràmarana (P & S) - Lăo tử: già chết (old age; decay; and death.)

NIKÀYA (P & S). A HÀM KINH BỘ. Xem: AGAMA (S).

NINE GRADES (CLASSES) OF SUKHÀVAT̀ (WESTERN PARADISE). TỊNH ĐỘ (TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC THẾ GIỚI) CỬU PHẨM ĐỘ CHÚNG SINH. Chín bực sinh về cơi tịnh độ Tây phương (Sukhàvat́) tương ứng với chín bực phát triển tâm linh của một người trong kiếp nầy và kiếp trước để quyết định quả vị sinh về cơi Tây Phương Tịnh Độ trong kiếp sau, quả vị nầy quyết định thời gian bao nhiêu kiếp để người đó được trực tiếp thấy Đức Phật A Di Đà (Amitàbha buddha) chân thật, tức là thời gian hoa sen của người đó hóa sanh vào được nở. (1) Hạ phẩm hạ sanh (lowest class of the elementary stage). Bực văng sinh thấp nhất. Sinh vào bực nầy, sẽ ở trong hoa sen 12 đại kiếp (mahàkalpa). Sau đó, hoa sen nở ra và hai vị Đại Bồ Tát (Maha bodhisattva) là Quán Thế Âm (Avalokitesvara) và Đại Thế Chí (Mahàsthàmapràpta) đến thuyết Pháp (Dharma). Nhờ nghe Pháp, người nầy được khai ngộ. (2) Hạ phẩm trung sinh (intermediate class of the elementary satge). Sinh vào phẩm nầy, ở trong hoa sen 6 kiếp (kalpa). Khi hoa sen nở, hai vị Đại Bồ Tát QuánThế Âm và Đại Thế Chí đến thuyết Pháp. (3) Hạ phẩm thượng sinh (highest class of the elementary stage). Sau 49 ngày, hoa sen nở, hai vị Đại Bồ Tát Quán Thế Âm và Đại Thế Chí đến thuyết Pháp. (4) Trung phẩm hạ sinh (lowest class of the intermediate stage). Sau 7 ngày, hoa sen nở, được nghe hai vị Đại Bồ Tát Quán Thế Âm và Đại Thế Chí thuyết Pháp. (5) Trung phẩm trung sinh (intermediate class of the intermidiate stage). Sau 7 ngày hoa sen nở và được nghe Pháp. (6) Trung phẩm thượng sinh (highest class of the intermediate stage). Khi văng sinh, hoa sen liền nở và liền được thấy Phật, nghe Pháp, nhưng chỉ chứng được Sơ Quả (Xem Phala, Phalam). (7) Thượng phẩm hạ sinh (lowest class of the advanced stage). Sau một ngày một đêm hoa sen nở, được thấy Phật. (8) Thượng phẩm trung sinh (intermediate class of the advanced stage). Sau một đêm, hoa sen nở, được thấy Phật. (9) Thượng phẩm thượng sinh (highest class of the advanced stage). Sau khi văng sanh, hoa sen liền nở và liền được thấy Phật.

NIRAYA. ĐỊA NGỤC. Xem: NARAKA (S).

NIRMÀNAKÀYA (S). HÓA THÂN. Thân của Phật tùy nhân duyên hóa ra để giáo hóa chúng sanh. Xem: TRIKÀYA (S).

NIRODHA (P & S). DIỆT. E: DESTRUCTION; DISSOLUTION. Chấm dứt không c̣n sinh khởi. Diệt có nhiều ư nghĩa: chấm dứt khổ đau, chấm dứt vọng tưởng, không c̣n tham luyến và đam mê. Diệt thường đồng nghĩa với Niết Bàn (Nibbana). Xem: CATU ARIYA SACCA (P).

NIRODHA-SAMÀPATTI (S). TỊCH DIỆT. Trạng thái mà mọi hoạt động tinh thần tạm thời dừng lại. Trạng thái nầy chỉ đạt đến khi vượt qua bốn cảnh thiền vố sắc, và chỉ bậc La Hán mới có thể đạt đến. Trạng thái tịch diệt nầy có thể kéo dài trong nhiều ngày.

NIRVÀNA (S). NIBBÀNA (P). NIẾT BÀN. Nghĩa đen là "Dập tắt; Dứt tuyệt": không c̣n sinh khởi; thoát khỏi sự hiện hữu; "Giải thoát khỏi sự mong muốn". Mục đích cứu cánh của Phật Giáo là: giải thoát khỏi sự sống, không c̣n sanh ra. Nghĩa gốc của chữ là bị tắt v́ không c̣n dầu, và sự tái sinh là kết quả của dục (tanhà); giải thoát khỏi sinh tử đạt được do sự dập tắt mọi dục vọng. Do đó, Niết Bàn chứng được do sự nhận chân đúng đắn về sự sống và sự diệt trừ bản ngă. Vị chứng quả Niết Bàn được gọi là La Hán (Araham (P), Arhat (S)). Đối với Tiểu Thừa (Theravàda), Niết Bàn là ra khỏi sự sống bằng cách vượt qua mọi lôi cuốn; đối với Đại Thừa (Mahàyana), Niết Bàn được coi như hoa mầu của sự sống, sự khai mở những khả năng vô tận của Phật-Tánh (Buddha-nature), và đề cao Bồ Tát, những vị ở lại với thế gian, gần gũi với đời sống. Ở đây Niết Bàn được coi như một tuyệt đối hợp nhứt, sự bất phân ly giữa thế giới tương đối và thế giới siêu việt. Chứng Niết Bàn có nghĩa là hợp nhứt với tuyệt đối, không bị chi phối bởi mọi đam mê và dục vọng.

NIRVÀNA SCHOOL. NIẾT BÀN TÔNG. Một tông phái Phật Giáo Trung Hoa xuất hiện vào thế kỷ thứ năm. Xem: CHINESE BUDDHISM.

ǸRVARANA (S). TRIỀN CÁI. E: OBSTRUCTION; HINDRANCE. Năm thứ làm ngăn che tâm thức, cản trở sự giác ngộ. Năm sự đó là: (1) Dục: ham muốn; (2) Sân: hờn giận; (3) Hôn trầm: tâm trí mê mờ; (4) Trạo cử: tâm không ổn định; (5) Nghi: nghi ngờ.

NOBLE EIGHTFOLD PATH. BÁT CHÍNH ĐẠO. Tám con đường chân chính. Xem: ÀRYA ASTÀNGIKA MÀRGA (S).

NON-EGO. NO SELF. VÔ NGĂ. Xem: ANÀTMAN (S).

NORTHERN BUDDHISM. BẮC TÔNG PHẬT GIÁO. Chỉ Phật Giáo Đại Thừa. Xem: MAHÀYÀNA.

NOT HURTING. HARMLESSNESS. BẤT HẠI. (Không làm tổn hại). Xem: AHIMSÀ (S).

NUMERICAL DISCOURSE. TĂNG NHỨT A HÀM; PHÁP SỐ. ANGUTTARA-NIKàYA (P), EKOTTARàGAMA. Xem: ABHIDHARMA (S).

NUN; BUDDHIST NUN. TỲ KHEO NI. Xem: BHISHUǸ (S).

NYÀYAPRAVESA (S). NHÂN MINH NHẬP CHÍNH LƯ LUẬN. Một quyển, ngài Thương Yết La Chủ (Sankarasvàmin) tạo, ngài Huyền Trang dịch sang Hán văn. Đây là một tác phẩm về luận lư do Thương Yết La Chủ là một đệ tử của Trần Na (Dignàga) tŕnh bày một cách đơn giản và rơ ràng về các lư thuyết luận lư của thầy ḿnh (Trần Na). Tác phẩm của ngài Trần Na, Nhân Minh Chính Lư Nhập Môn, là một tác phẩm rất khó hiểu, do đó, Nhân Minh Nhập Chính Lư Luận thường được dùng để học về luận lư Phật giáo.

NYINGMAPA (T). CỔ MẬT; NINH MĂ. Xem: TIBETAN BUDDHISM.

 

Copyright ©2005 FITEC & SearchVN. All rights reserved.