TIN NHÂN  QUẢ - TẠO PHƯỚC ĐỨC -  SỐNG CHÂN THƯỜNG

 searchvn.net                                                                                                                            TRỞ VỀ

 
 

 

 

ENGLISH-VIETNAMESE BUDDHIST DICTIONARY

Nguyên Hảo

[A] [B] [C] [D] [E] [F] [G] [H] [I] [J] [K] [L] [M] [N] [O] [P] [Q] [R] [S] [T] [U] [V] [W] [Y] [Z]

 

Y

 

YAKK(H)A (P). DẠ XOA. Xem: YAKS(H)A (S).

YAKS(H)A (S). YAKK(H)A (P). DẠ XOA. Một loại quỷ thần sống trên mặt đất, trên không trung hay trên những tầng trời thấp. Có loại hộ Pháp, cũng có loại ăn thịt người, hay quấy rầy những người tu, v.v...

YAMA (P & S). DIỄM MA; DIÊM VƯƠNG. E.: THE RULER OF HELL. Theo thần thoại Ấn Độ, Yama là chúa tể của địa ngục. Yama nguyên là thủ lănh thành T́ Xá Li, trong một cuộc chiến đẫm máu nguyện làm vua của địa ngục. Tám vị tướng và tám mươi ngàn binh lính của ông cũng theo ông vào địa ngục. Mỗi ngày ba lần, họ nấu đồng chảy ra đổ vào miệng họ để trừng phạt cho đến khi họ trả hết các nghiệp ác. Yama ngụ ở phương nam của cơi Diêm Phù Đề (Jambudv́pa) trong một lầu đài bằng đồng và sắt.

YÀNA (P & S). THỪA.(XE). E.: VEHICLE. Từ nầy được dùng trong để chỉ cổ xe đưa hành giả đi đến bờ giác ngộ. Các cổ xe khác nhau chỉ là tùy theo những quan điểm khác nhau về đường lối tu tập tùy theo căn cơ và cách xử dụng những phương tiện tu tập khác nhau. Theo Phật Giáo Đại Thừa, việc chọn lựa các thừa để tu tập tùy thuộc vào tŕnh độ của học tṛ và khả năng của vị thầy. Các thừa có gồm có Tiểu Thừa (Thanh văn thừa), Trung thừa (Độc giác thừa), Đại Thừa (Bồ tát thừa). Ba thừa có thể quy một và được gọi là Nhứt Thừa hay Phật Thừa. Ngoài ra c̣n có Kim Cang Thừa (Vajrayàna). Xem: H̀NAYÀNA; MAHÀYÀNA; VAJRAYÀNA (S); EKAYÀNA (S).

YASHA (S). DA XÁ. (1) Con một vị trưởng giả ở T́ Xá Li (Vaisali). Sau khi xuất gia, thỉnh thoảng ông về với vợ cũ, do đó Phật chế ra giới cấm dâm dục. Đó là lần đầu tiên Phật chế ra giới luật sau khi tăng đoàn thành lập đă được mười ba năm. (2) Tên một vị đệ tử của A Nan, tác nhân chính của kỳ kết tập lần thứ hai. Xem: COUNCILS.

YASHODHARÀ. DA DU ĐÀ LA. Vợ của Thái Tử Tất Đạt Đa và là mẹ của La Hầu La.

YATHÀBHÙTAM (S & P). THẮNG TRÍ. E.: KNOWLEDGE OF TRUE REALITY. Trí tuệ tương ưng với thực tại, chân như.

YIDAM (TIB). BỔN TÔN. TRONG KIM CANG THừA, Yidam dùng để chỉ vị Bồ tát hay Phật thích hợp với t́nh trạng tâm lư của một hành giả. Bổn Tôn là hiện thân của Báo Thân Phật và được quán tưởng trong khi thiền định. Hiện thân nầy có thể dưới h́nh thái an b́nh hay phẫn nộ. Trong Phật Giáo Tây Tạng, Bổn Tôn thường là Đức Bồ tát Quán Thế Âm hay Bồ Tát Cứu Thoát (Tara). Việc quán tưởng Bổn Tôn trong Phật Giáo Kim Cang Thừa có mục đích giúp đỡ tiến tŕnh chuyển hóa tâm linh, ở đó hành giả thể nhận được nền tảng cơ cấu nhân cách của ḿnh. Bổn Tôn cũng đưa hành giả vào một sự kết nối sâu xa với gịng truyền thừa mà vị hành giả đó nương theo. Bổn Tôn có thể được xếp loại như sau: Nam: hiện thân của Từ Bi: (1) An lành. (2) Bán phẫn nộ. (3) Phẫn nộ. Nữ: hiện thân của Trí Tuệ: (1) An lành. (2) Bán phẫn nộ. (3) Phẫn nộ. Trong Phật Giáo Tây Tạng, Nam Bổn Tôn và Nữ Bổn Tôn được biểu thị trong sự hợp nhứt. Các tranh tượng Tây Tạng khai triển sự hợp nhất nầy một cách rất phức tạp.

YOGA (S). HỢP NHỨT. Trong Ấn Giáo, Yoga là sự hợp nhứt với Thượng Đế, với Siêu Nhiên. Trong ư nghĩa nầy, Ấn Độ Giáo hay Cơ Đốc Giáo đều mang tính chất Yoga. Nền tảng Phật Giáo Tây Tạng cũng là hợp nhất, hợp nhất với Báo Thân Phật, với Trí Tuệ và Từ Bi, nên cũng có tính chất Yoga. Hành giả Yoga được gọi là Yogi.

YOGÀC(H)ÀRA (P & S). VIJNÀNÀVÀDA. DU GIÀ TÔNG; DUY THỨC TÔNG. E.: THE SCHOOL THAT TEACHES KNOWING. Một tông phái Phật giáo do Maitreyanàtha (Di Lặc), Asanga (Vô Trước) và Vasubandhu (Thế Thân) thành lập. Theo tông nầy, mọi sự vật nhận biết được chỉ hiện hữu do "thức" (duy thức). Sự vật (pháp) chỉ hiện hữu như là một tiến tŕnh của sự nhận biết, không phải là đối tượng có thật; ngoài tiến tŕnh nhận biết, sự vật không có thật thể. Thế giới ngoại giới như vậy chỉ là "thức thuần túy" (duy thức). V́ không có đối tượng nên chủ thể nhận thức cũng không. Nhận thức là một tiến tŕnh tưởng tượng tạo ra đối tượng hiện hữu bên ngoài. Tiến tŕnh nầy được giải thích với khái niệm về A lợi da thức (àlaya-vijnàna). Thêm vào đó, giáo lư về Ba Thân cũng đóng một vai tṛ quyết định trong Duy Thức Tông. Theo Duy Thức Tông, cơ năng xuất hiện của thế giới ngoại giới được giải thích như sau: Trong A Lợi Da Thức, nền tảng của sự biết và là kho chứa của tất cả mọi ấn tượng đă qua, những chủng tử (hạt giống) phát triển và tạo nên hiện tượng tâm thức. Là kho chứa tất cả các chủng tử, A Lợi Da Thức là tác nhân chính trong tiến tŕnh làm chín, mà Duy Thức Học giải thích là sự triển nở của nghiệp. Trong Hàm Tàng Thức (A lợi da thức), các chủng tử ảnh hưởng lên nhau và sự tương giao nầy tạo nên sự nhận biết rằng có cái ǵ đang hiện hữu thật sự. A Lợi Da Thức thường được so sánh với một gịng nước, nước trong đó luôn luôn đổi mới, và sau khi một hữu thể qua đời, vẫn tiếp tục trôi chảy, nối kết sự hiện hữu nầy với sự hiện hữu kế tiếp. Những h́nh thức nhận biết của mỗi cá thể được tạo ra do sự hoạt động của các chủng tử và tâm thức (Mạt na thức). Mạt na thức bị làm ô nhiễm và được coi là tác nhân chính của sự chấp ngă. Nó tạo ra vọng tưởng về Ngă, trong khi thực tế chỉ có sự hiện hữu duy nhất của hiện tượng tâm lư, chỉ có sự thể nghiệm thuần túy, không có chủ thể thể nghiệm. Cái được thể nghiệm do tâm, tức hiện tượng, có ba tính chất: 1./ Tính khái niệm: hiện tượng do khái niệm mà có nên chỉ là tưởng tượng, là những khái niệm sai lầm. 2./ Tính duyên khởi: nó sinh ra do sự tác động của những tác nhân khác. 3./ Tính toàn hảo: nó toàn hảo trong bản chất thật sự, cứu cánh, đó là Tánh Không, tức là Chân Như. Tính chất của Chân Như là bất nhị. Nhận chân được bản chất nầy tức là giác ngộ. Phương pháp tu tập của phái Duy Thức gồm có bốn giai đoạn, đặt nền trên Ba La Mật và Thiền Định: 1./ Vị Bồ Tát thọ nhận giáo lư Duy Thức. 2./ Vị Bồ Tát thật sự hiểu về giáo lư nầy, đạt đến sự liễu giải không qua khái niệm, nhập vào địa thứ nhất trong Mười Địa, thâm nhập vào tính chất không hai của chủ thể và đối tượng. 3./ Vị Bồ Tát lần lượt tu tập qua các Địa cho đến hoàn măn Mười Địa. 4./ Đến giai đoạn nầy, mọi ô nhiễm đều được tiêu trừ, vị Bồ Tát cắt đứt ṿng sinh tử luân hồi, thể nhập vào Pháp Thân.

YOGÀCÀRABHÙMI (S). DU DÀ SƯ ĐỊA LUẬN. Xem: YOGÀCHÀRABHÙMI-SHÀSTRA (S).

YOGÀCHÀRABHÙMI-SHÀSTRA (S). DU GIÀ SƯ ĐỊA LUẬN. E.: TREATEASE ON THE STAGES OF THE YOGÀCHÀRA. 100 quyển, do ngài Di Lặc (Maitreya) giảng, ngài Huyền Trang dịch sang Hán văn. Đây là bộ luận nền tảng của Duy Thức Tông (Vijnànavàda). Theo truyền thống, bộ luận nầy được coi là của ngài Vô Trước được đức Di Lặc (Maitreya) dạy và soạn ra. Theo các học giả gần đây, th́ luận nầy là một trong những luận của ngài Maitreyanàtha (cũng gọi là Di Lặc). Đây là một trong những luận sớ sáng chói nhất của Phật Giáo, chứa đựng toàn bộ giáo pháp Duy Thức. Ngoài phần giảng giải về A Lợi Da Thức (àlaya-vijnàna), luận c̣n phân tích nhiều vấn đề Phật pháp khác. Có thể nói đây là một tác phẩm cần thiết trong việc nghiên cứu cả Đại Thừa cũng như Tiểu Thừa.

 

Copyright ©2005 FITEC & SearchVN. All rights reserved.