TIN NHÂN  QUẢ - TẠO PHƯỚC ĐỨC -  SỐNG CHÂN THƯỜNG

 searchvn.net                                                                                                                            TRỞ VỀ

 
 

 

RA HÀ NỘI NHỚ THĂNG LONG

Nguyễn thế Đăng

Viết từ Hà Nội

 

Từ thuở lên đường đi mở nước

Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long.

             Hai câu thơ ấy không biết của ai, nhưng h́nh như trong ḷng mỗi ai đều có một  Hà nội để nhớ, dầu cho chưa từng đến đó một lần bao giờ. Có phải v́ Hà nội là trung tâm của đ̣ng bằng sông Hồng, cái nôi của ṇi giống Lạc Việt, mảnh đất tổ từ thuở vua Hùng dựng nước. Nỗi nhớ ấy rất thầm lặng và vô h́nh, đứng về thời gian th́ nó trải dài suốt cả một ḍng hưng vong của lịch sử dân tộc, kể về không gian th́ nó trải dài trên hai ngàn cây số suốt cả một chiều dài địa lư của đăt nước.

            Chỉ tính từ triều Lư, từ khi Lư Công Uản lên ngôi với sự cố vấn hỗ trợ của các Thiền sư Vạn Hạnh,  Đa Bảo, Pháp Thuận, quyết định dời kinh đô từ Hoa Lư về Đại La và đổi tên là Thăng Long để lập nên kột quốc gia Đại Việt  thực sự, th́ Hà Nội đă có 980 tuổi. Là người Việt, ai mà không từng nhớ Thăng Long, kinh đô đời Trần, nơi đă từng chứng kiến ba lần thất bại của đạo quân bách chiến bách thắng Nguyên Mông? Ai mà không biết đến "nỗi nhớ Đông Quan" của Nguyễn Trăi suốt mười năm nằm gai nếm mật chống quân Minh? Sống trong thế kỷ nầy, ai mà không từng h́nh dung Hà Nội qua các nhà văn thời tiền chiến cho đến những nhà văn vào Nam, mà trong tác phẩm họ luôn luôn có một Hà Nội lung linh bên kia bờ trí nhớ? Ai không từng nghe nói đến mặt hồ Gươm, đến mùa thu Hà Nội, đến đường Cổ Ngư giữa hai bờ Hồ Tây và hồ Trúc Bạch râm ran tiếng ve kêu giữa buổi trưa hè, đến mùi hoa sữa, hoa gạo, đến cái thanh lịch tinh tế của con người xứ ngàn năm văn vật?

            Vậy th́ đến Hà Nội một buổi sáng đầu tháng 3, khi những h́nh ảnh của một Hà Nội h́nh dung trong tâm thức trùng chập với Hà Nội hiện thực cũng không gây ngạc nhiên cho mấy. Có ngạc nhiên chăng, có choáng váng ngây ngất chăng là chính v́ cái hiện thực đó nó quá thực. Những đường phố đầy cây trùm kín trong sương, những vỉa hè rộng tha hồ chân bước, và người, ai cũng co ḿnh trong những bộ quần áo lạnh nhiều màu, dẫu có đi dép cũng mang thêm đôi vớ, cái lạnh đă làm nên sự ấm cúng của màu sắc qua về tới lui trên những con đường soi ḿnh trên hồ Hoàn Kiếm. Sương lạnh không nh́n thấy xa khiến cho phố phường Hà Nội như thu nhỏ lại, ấm cúng hơn, cái hơi ấm đầy chất người tỏa ra từ các cửa hiệu sáng đèn, từ các quán café trong những căn pḥng bé chỉ mở một cửa ra vào, từ những quán cóc trà nóng trên lề đường, nơi các ông già, thanh niên kẻ áo vét người blouson ngồi tụm nhau ngay nơi góc phố vừa uống từng ngụm trà nóng nói với nhau về chuyện đời Hà Nội...

            Nhưng cái thấm sâu vào ḷng người, đó là cái hồn Hà Nội. Cái hồn đó cụ thể nằm chỗ nào, không biết. Nhưng chắc chắn, con người khi sinh sống th́ t́nh cảm, tâm tư, ước mơ và ư chí đều toát ra năng lượng và cái năng lượng ấy thấm nhuần trong đất đá, trong cỏ cây, trong sông núi tạo nên cái "thần" riêng của từng vùng. Như một căn nhà, mỗi người chủ đến ở đều có một không khí khác, cái không khí ấy không chỉ do cách xếp đặt bày biện trang trí trong nhà. Bởi thế, khi cách đây gần 3 thế kỷ, bà Huyện Thanh Quan viết về Thăng Long, điều bà nói dến không phải là cảnh vật trước mắt, mà là nói đến một cái hồn, một cái thần c̣n phảng phất sót lại đâu đó trong cây cỏ, trên đường đi:

                        Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

                        Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.

            Đến Hà Nội chúng ta thấy rất rơ điều nầy, đến nỗi trong mỗi khoảng đường phố, trong mỗi gốc cây, trong mỗi thước không khí đều tắm đẫm một chút mùi hương vô h́nh  của ngàn năm văn vật mà những năm tháng chiến tranh, những sự ḍ dẫm t́m kiếm tân thời, những sự bắt chước học đ̣i không thể nào xóa tan được. Hơn đâu hết, lịch sử quá khứ là một dạng năng lượng trầm tích - như than đá trong ḷng đất - đang tỏa nhiệt sưởi ấm vào hiện tại. Ở đây, quá khứ và hiện tại ḥa lẫn vào nhau, thấu nhập vào nhau như bất cứ thành phố cổ nào nổi tiếng trên thế giới. Có cảm tưởng rằng, nếu mặt hồ Gươm là màu nước xanh muôn đời b́nh lặng của quá khứ, th́ cái hiện tại bây giờ - cái hiện tại đầy màu sắc mang dáng vẻ tân kỳ và gọn nhẹ của Tây phương - luôn luôn qua lại diễn tiến phản chiếu trên cái nền b́nh thản của lịch sử ngàn năm đă một lần đi vào vĩnh cữu.  Cái hiện tại sinh động linh hoạt vui tươi luôn luôn in h́nh trên những mặt hồ quá khứ Hà Nội - những con mắt lịch sử b́nh lặng đến ngh́n năm - tạo thành vẻ đẹp có hồn của Hà Nội. Cái biện chứng tương tức tương nhập giữa hiện tại và quá khứ, của động và tĩnh, của thời gian ra đi và vĩnh cửu trụ lại, là một cái ǵ tạo nên nét quyến rũ của Hà Nội.

            V́ thế, sau khi đi dạo một ṿng tới tận Hồ Tây, tôi lại trở về ngồi nơi một quán nước sát bờ hồ Hoàn Kiếm. Người qua kẻ lại trên phố phường quanh hồ, thanh niên thiếu nữ đều đẹp, ăn mặc đẹp. Thế nhưng trong kiểu cách dáng vẻ ấy, tôi thấy có một cái ǵ chưa được nhuần nhuyễn cho lắm. Y như là kiểu cách ăn mặc của bất cứ một thành phố lớn nào của các con rồng châu Á, chưa lộ rơ nét bản sắc của dân tộc ḿnh. Tôi không ngây ngô cho rằng phải đừng ăn mặc như thế, trong khi cả thế giới đều như vậy. Nhưng phải thấy rằng cùng một bộ đồ veste, nười Mỹ mặc khác, người Pháp mặc khác. Sự khác nhau đó là cá tính, bản sắc dân tộc. Phải có một nội dung nào đó, một bản lĩnh nào đó th́ khi khoát vào ḿnh một h́nh thức gần giống nhau mà vẫn biểu lộ được con người của ḿnh, cái độc đáo riêng của ḿnh, để không trở thành như bất kỳ ai khác, Hồng Kông, Thái lan, Nam Hàn hay Nhật Bản. Xa hơn, phải có một nền tảng văn hóa để có thể khoát vào một h́nh thức đồng nhất là nền văn minh kỹ thuật hiện đại.

 

            Cũng như cái hồ Hoàn Kiếm nầy, thiếu ǵ thành phố trên thế giới có nhiều hồ c̣n rộng hơn, c̣n đẹp hơn. Nhưng không thể thay thế bằng một cái hồ nào khác đặt trên mảnh đăt HN nầy. V́ cái tên do sự tích Hoàn Kiếm, "trả lại gươm" của nó. Khi bắt đầu cuộc kháng chiến chống quân Minh ở Lam Sön, Lê Lợi đă bắt được một thanh kiếm báu. Sau mười năm kháng chiến đuổi được quân Minh, một hôm dạo thuyền trên hồ, bỗng thấy một con rùa lớn nổi lên trước mũi thuyền, nhà vua lấy kiếm chỉ vào nó, rùa liền đớp lấy kiếm rồi lặn mất. Sau đó, nhà vua cho tát cạn hồ vẫn không thấy rùa lẫn kiếm đâu cả. Cho rằng rùa đă dến để lấy lại gươm, nhà vua đặt tên hồ là Hoàn Kiếm. Điều đó ít ra cũng nói lên cái chính nghĩa của cuộc kháng chiến mười năm. Khi chiến tranh kết thúc, dầu là vua cũng phải trả lại gươm, bởi v́ cái dụng cụ chiến tranh ấy chỉ được trao cho trong một giai đoạn để hoàn thành một sứ mạng thiêng liêng cho đất nước. Sự trao cho và lấy lại đều mang tính cách thiêng liêng trong toàn bộ vận mệnh thiêng liêng của Tổ quốc. Con rùa thần ấy chỉ là một biểu lộ đặc biệt vào một thời điểm đặt biệt của cái sinh mệnh thiêng liêng tiềm ẩn của đất nước mà thôi. Chuyện rùa thần ấy có thật hay không, không biết, nhưng ư nghĩa của câu chuyện có thực hay được đặt ra đó chỉ có một: đó là tính cách thiêng liêng của vận mệnh đất nước, rằng sự thiêng liêng của đất nước th́ vượt lên trên sự thịnh suy, c̣n mất của một cá nhân hay của một triều đại v́ dầu một cá nhân, một triều đại có xuất sắc đến đâu cũng chỉ được Tổ Quốc giao cho sứ mạng trong một thời gian, rằng cá nhân th́ hữu hạn và có thể sai lầm c̣n Tổ quốc th́ trường tôn miên viễn.

            Ngồi ngay giữa Hà Nội nầy, không thể nào không nhớ đến thiền sư Vạn Hạnh và Lư Công Uản, những người đă khai sinh ra nó, chọn nó làm thủ đô và đặt cho nó một cái tên. Sự xuất hiện của Lư Công Uẩn đă được báo trước và chuẩn bị bởi sư Định Không khi ông đổi làng ḿnh ở thành làng Cổ Pháp (nơi Lư Công Uản sẽ sinh ra) và nhắc đến họ Lư trong một bài thơ. Năm thiền sư Định Không tịch (808), cho đến Lư Công Uản lên ngôi (1009) là 200 năm. Thiền sư Định Không (thế hệ thứ 8 của phái Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi) truyền lại cho trưởng lăo La Quư An (thế hệ thứ 10). La Quư An truyền cho Thiền Ông đạo giả và dặn Thiền Ông về bậc đế vương sẽ xuất hiện ở làng Cổ Pháp. Thiền Ông truyền cho Vạn Hạnh (thế hệ thứ 12) và Vạn Hạnh là người cha đỡ đầu cho chú bé không rơ cha là Lư Công Uản được nuôi ở chùa Cổ Pháp. Và như ta đă thấy, Vạn Hạnh đă làm mọi cách để đưa Lư Công Uẩn lên ngôi, đă cố vấn cho Lư Công Uẩn lập ra triều Lư. Sự ra đời của triều Lư, đó là việc làm và nguyện vọng của 5 thế hệ thiền sư ḍng Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Nhưng việc lên ngôi của Lư Công Uẩn không phải chỉ có công sức của Vạn Hạnh, mà thiền sư Đỗ Pháp Thuận cũng cho rằng Lư Công Uẩn sẽ lên ngôi vua. C̣n thiền sư Đa Bảo (thế hệ thứ 5 ḍng Vô Ngôn Thông) khi gặp Công Uẩn lúc c̣n bé, cũng nói với cậu bé rằng "ngày sau làm vua, ắt là người nầy"  khiến cậu bé phải hoảng sợ. Cả hai thiền sư nầy về sau đều ảnh hưởng lớn đến Lư Công Uẩn. Đời Lư mở đầu bằng Lư Công Uẩn với ba vị cố vấn là Vạn Hạnh, Pháp Thuận và Đa Bảo th́ làm sao đời Lư không mạnh? Bất chấp sự khác biệt vể học phái, các vị thiền sư đă thống nhất việc làm của ḿnh nơi Lư Công Uẩn, sự thống nhất trong việc làm của các hệ phái khác nhau như vậy (đó có phải là cái đạo Vô Ngă, Vô Tướng đấy chắng?) vẫn là bài học cho giới Phật Giáo măi măi về sau.

            Và khi đặt tên thủ đô làThăng Long (rồng lên, rồng bay), tôi nghĩ rằng Lư Công Uẩn và Vạn Hạnh không giản dị chọn con rồng v́ con rồng là biểu tượng cho vua, cho vương triều. Có lư nào một người như thiền sư Vạn Hạnh, người đă nói câu: "Ta không lấy chỗ trụ mà trụ, cũng không lấy chỗ vô trụ mà trụ"  lại bị ám ảnh bởi một triều vua - dầu là một triều vua do ḿnh lập ra - đến thế. Con rồng xuất hiện trong tất cả hoa văn đời  Lư, không chỉ tượng trưng cho một vương triều, con rồng ấy là biểu tượng của tâm linh, tượng trưng cho sự khai phóng của tâm linh, cho sự giải thoát của đạo Phật. Đó là con rồng tâm linh được nói đến trong Kinh Dịch: "rồng hiện trên đất, đức thi hành khắp" (hào nhị, quẻ kiền), "rồng bay lên trời, thánh nhân tạo tác" (hào cữu ngũ, quẻ kiền).

            Đời Lư đă chọn tên thủ đô của ḿnh mang một ư nghĩa tâm linh như vậy và họ cũng đă thực hiện được điều ḿnh mong muốn qua các nhà vua từ ái và nhân hậu hiếm có. Nhà Trân như cũng hiểu ư và ưng ư với cái tên Thăng Long nầy nên giữ nguyên, mặc dầu thông thường, mỗi triều đại lên thay lại  đổi tên kinh đô, tên nước. Và nhà Trần cũng làm cho con rồng tâm linh ấy càng bay bỗng hơn nữa. Nhưng đến đời Lê, không có tầm nh́n của các thiền sư Lư Trần, đă đổi tên kinh đô thành Đông Đô, và quả thực, cái nội dung và h́nh thức của đời Lê đă khác đời Lư-Trần, mang tính chất thực dụng hơn, cái học mang tính chính trị quan lại hơn, cái con rồng tâm linh ấy bắt đầu hạ thấp.

Nói đến Đạo Phật là nói đến 3 tính cách Bi, Trí, Dũng. Nếu tính cách nổi bậc của đời Trần là Dũng, th́ đặc trưng của đời Lư là tính Từ Bi. Đó là ḷng từ bi, nhân hậu, nhân ái được thể hiện qua chính trị  ra giữa cuộc đời.

            Trong một bài báo viết bằng tiếng Việt cho TTCN (1-4-90), chị Irina Zisman, biên tập viên của đài Matxcơva đă viết: ỀCác bạn có biết ngôn từ chính trị xă hội nào được nhắc đến nhiều nhất ở Liên Xô không? Không phải là đổi mới, không phải là công khai, không phải là đa nguyên, mà đó là ḷng nhân ái. Đó là đầu đề của nhiều bài báo, truyền h́nh, phương châm của nhiều buổi biểu diễn từ thiện, tên gọi của nhiều quỹ xă hội và tư nhân...Ể

            Chẳng lẽ qua chiến tranh, qua những thập niên thế giới ở trong t́nh trạng chiến tranh lạnh và đối đầu, người dân Xô viết đă quên đi nền tảng truyền thống xă hội của ḿnh đến thế sao?  Chẳng phải là ḷng nhân ái đó, đó là cái nét chính, nét chủ đạo, sự thao thức đă được Toilstoi và Dostoievski trở thành hai văn hào cận đại tiêu biểu nhất của người Nga đấy sao?  Và hiện nay, chẳng phải ai cũng biết rằng ḷng nhân ái là yếu tố chính trong quản lư và sản xuất của người Nhật, rằng ḷng nhân ái là yếu tố nền tảng của xă hội công nghiệp đấy sao? (xem Chủ nghĩa Vị tha và xí nghiệp Nhật bản - Rodney Clark).

            Ngay đầu đề bài viết lấy từ một câu tục ngữ Việt nam ỀThương người như thể thương thânỂ của người biên tập đài Matxcơva, cái chủ đề ấy chẳng phải đă từng được thốt lên, được biểu lộ trong hành động của các vua đời Lư, của danh tướng Lư Thường Kiệt đấy sao? Ai có thể nói rằng cái nền tảng nhân ái mà đời Lư đặt ra cho xă hội ḿnh là Ềxưa cũỂ rồi, là không cần ǵ phải kế thừa, phải nghiên cứu bồi đắp?  Vậy mà hiện giờ có mấy ai nhận ra cái bản chất đời Lư, mấy ai nh́n thấy chùa Một Cột, nơi thờ đức Quán Thế Âm do Lư Thái Tổ một lần nằm mộng thấy rồi cho xây dựng lên, cái chùa mang h́nh dáng một hoa sen nở trên mặt nước ấy nói lên nguyện vọng Từ Bi, cái tinh thần xuyên suốt và làm nên sức mạnh đời Lư? C̣n có mấy ai nhớ về đời Lư, nhớ đến viên đá vô h́nh mà đời Lư đă đặt nền để xây lên căn nhà dân tộc, nhớ đến những ǵ mà đời Lư vẫn c̣n nói lại với ḿnh qua một ngôi chùa gỗ nhỏ nằm giữa trung tâm Hà Nội? C̣n có mấy ai tin tưởng rằng cái tinh thần từ bi làm nên đời Lư ấy chẳng bao giờ cũ ngày nào c̣n có con người, rằng cái danh từ nhân ái ấy đang là một chủ đề, một thao thức, một phương thức sống  c̣n của nền văn minh công nghiệp hiện đại? Điều cần thấy hơn nữa, là đời Lư không nêu lên những chủ đề nhân bản, nhân ái như là một khẩu hiệu, một đường hướng suông, mà với đạo Phật, đời Lư đă có những phương tiện, những pháp môn để thực hiện được ḷng từ bi, để đưa tấm ḷng của đức Quán Thế Âm ngh́n mắt ngh́n tay xuống giữa cuộc đời.

            Lịch sử đă vượt qua chế độ phong kiến của đời Lư, những h́nh thức sinh hoạt thời xưa đă bị vượt qua, nhưng cái nội dung của đời Lư, ḷng nhân ái của đời Lư, cái tính cách của đời Lư và cũng là tính cách của dân tộc, là một nền tảng luôn luôn cần được bồi dưỡng và tưới bón, để bóng cây nhân ái ấy che mát cho mọi thế hệ. V́ thế, ngồi đây mà nghe chừng như bao nhiêu lượn sóng sông Hồng chảy qua ngàn năm vẫn c̣n thao thức...

            Ngồi giữa Hà Nội, trong cái bao la rộng răi của đất trời, chợt nhớ đến hai câu thơ nói lên cái hào khí Tổ Quốc của Trần Nhân Tông trong lần thứ ba, lần chót đại thắng đuổi được quân Nguyên Mông ra khỏi Thăng Long. Sau trận thắng quyết định trên sông Bạch Đằng, về lăng Trần Thái Tông làm lễ thắng trận, thấy chân các con ngựa đá đều lấm bùn, nhà vua đă nói ra hai câu thơ:

            Xă tắc hai phen phiền ngựa đá

            Non sông ngh́n thuở vững âu vàng.

            Tại sao vua Trần Nhân Tông dùng chữ âu vàng, kim âu? Có phải là suốt đời nhà vua luôn luôn bị ám ảnh bởi sắc vàng: thuở nhỏ, mặt nhà vua có sắc vàng, nên được gọi là Kim Tiên Đồng Tử, vua cũng có tên là Kim Phật, từ nhỏ đă ao ước chuyện mặc y vàng, đến 40 tuổi xuất gia, mặc chiếc y vàng đi khắp nước để giảng đạo, lập nên phái Trúc Lâm trên núi Yên Tử. Có phải chữ kim, vàng, sắc vàng để chỉ đạo Phật: thân Phật sắc vàng, hào quang vàng, y vàng... Chắc chắn đạo Phật thiền là cái trục cốt lơi quanh đó cuộc đời nhà vua xoay chuyển ứng với mọi t́nh thế, có thể nói đạo Phật chính là sự sống, sức sống của vua Trần Nhân Tông. Bởi thế không lạ ǵ khi nhắc đến xă tắc non sông, nhà vua cũng muốn nh́n nó với một sắc vàng, và trong mười năm cuối đời, vị Trúc Lâm đầu đà ấy đă đi cùng khắp đất nước, qua tận Chiêm Thành để rải cái màu vàng hào quang ấy cho thấm nhuần trọn khắp Tổ quốc của ḿnh.

            Rải rác khắp miền Bắc, người ta thấy nhiều nơi - không riêng ǵ Yên Tử - c̣n thờ tượng Trần Nhân Tông, vị tổ đầu tiên của phái Thiền Trúc Lâm Việt Nam, nhưng ít ai để ư cuộc đời Ngài đi trong ánh  sáng nào, màu sắc nào, c̣n có mấy ai nhớ tới nguyện vọng của Ngài, và có lẽ không có ai thực hiện được mục tiêu mà suốt đời Ngài theo đuổi, kể cả Ngô Thời Nhiệm, người cũng mong lập lại được một tổng hợp văn hóa Tam giáo đồng nguyên cho thế kỷ thứ 18 của ḿnh, người được bạn bè đương thời gán cho danh hiệu Trúc Lâm đệ tứ tổ. C̣n có mấy ai biết và thực hiện được cái tinh thần của Trúc Lâm Yên Tử, ở nơi cái bất biến của đạo Phật để tùy duyên ứng với mọi hoàn cảnh, mọi phương diện, mọi lănh vực nhân sinh như đời Trần đă làm?

***

            Đời Lư, đời Trần là cái thời mà Đại Việt thực sự thành một quốc gia, lănh thổ thống nhất, độc lập, một nước văn hiến, văn học rực rỡ, chính trị quân sự tài giỏi, kinh tế phồn thịnh, giáo dục có hệ thống định hướng, một quốc gia không thua kém bất kỳ nước nào trên thế giới thời đó. Thế nên nhắc lại thời đại Lư Trần có nghĩa là nhắc lại thời trai trẻ của dân tộc, và khuôn mặt niên thiếu ấy vẫn c̣n rơ bóng nơi Hà Nội hôm nay. Khi nhắc lại thời niên thiếu của ḿnh, đó không phải là một sự hoài cổ, mà là một sự định hướng cần thiết cho tương lai. Ai cũng biết, với phân tâm học, thời thơ ấu có một ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc đời của một người. Một con người, thời thơ ấu gian khổ th́ khi lớn lên, dầu có giàu có đi nữa, dầu hoang phí hay quá sức tằn tiện, th́ cách hoang phí hay tằn tiện ấy cũng là ảnh hưởng của thời niên thiếu khổ cực. Cho nên, dầu muốn dầu không, cái VN hiện đại, cái VN tương lai không thề nào Ềtừ bỏỂ hẳn cái tuổi niên thiếu của ḿnh là thời Lư, Trần.

            Nhắc lại thời niên thiếu mà không tự ti, không tự tôn, để nh́n rơ chính ḿnh, thấy lối tương lai của ḿnh, đó là thái độ của một người trưởng thành khôn ngoan. Những dân tộc trưởng thành đều nhắc lại lịch sử tryuyền thống của ḿnh, và h́nh như sự nhắc nhở lại quá khứ mà không mặc cảm, đó là sự biểu hiện của một cuộc sống vững mạnh trong hiện tại...

            Trong những ngày này, ở phố Tràng Tiền có một cuộc triển lăm của người Nhật về Nhật Bản hiện đại. Theo lời giới thiệu của chính họ, th́ mục đích của người Nhật là sống cái truyền thống của họ trong bối cảnh văn minh hiện đại. Nhật đă làm được điều đó đến mức nào, chúng ta không nói tới ở đây, nhưng sự chú ư đến truyền thống - cái làm cho người Nhật khác với Trung Hoa hay Hoa Kỳ -  th́ họ luôn luôn có. Một người bạn làm ở Viện KHXH kể rằng, người đại diện của hảng Toyota đă nói: ỀTrưóc khi làm ăn với nhau, chúng ta phải hiểu tính cách truyền thống của nhau. V́ thế, chúng tôi sẽ tài trợ cho Viện để thực hiện một công tŕnh viết về lịch sử Phật Giáo VNỂ. Kết quả là chúng ta đă có một cuốn sách lịch sử PGVN ra đời năm 1989 do việt Triết học biên soạn.

            Chúng ta đă đọc nhiều cuốn sách nói về các con rồng châu Á đă dựa trên truyền thống để phát triển như thế nào. Chỉ nói riêng về Nhật Bản, họ nói rằng sự phát triển của xă hội Nhật dựa trên một hệ thống có hàng dọc là Khổng Giáo, hàng ngang là Phật Giáo (cuộc hội thảo ỀTrí thức Đông Á và phát triển kinh tế trong bối cảnh văn hóa Á ĐôngỂ (TTCN 1.89))

            Cho nên đến Hà Nội, không thể không ṭ ṃ quan sát cái truyền thống đạo Phật ở đây mang một sức sống như thế nào. Những buổi chiều ở chùa Quán Sứ, khá ngạc nhiên khi thấy rất nhiều thanh niên vào chùa. Họ cũng mang một h́nh thức rất hiện đại, cũng giày Adidas, cũng áo blouson ngoại, quần Jean, vào lâm râm khấn vái. Nhưng chúng ta vẫn mong rằng giữa cái nội dung truyền thống và cái h́nh thức hiện đại nên có một thế cân đối tương xứng và vững chắc. Rồi vào hiệu bán kinh sách chùa Quán Sứ, mua một cuốn gồm những bài phát biểu tại cuộc hội thảo rằm tháng chạp năm ngoái, với sự tham dự của nhiều học giả ở đây. Cũng thấy thế nào ấy. Sự thâm nhập vào truyền thống như vậy đă đủ chưa để đáp ứng với cuộc sống đa diện của nền văn minh hiện đại, như vua Trần Nhân Tông đă dùng đạo Phật để đáp ứng với những nhu cầu đ̣i hỏi khắc khe mà thời đại Ngài đă đặt ra? Cái tinh thần Yên Tử, dùng cái chân lư bất biến để tùy duyên ứng với vạn biến, đă chưa được vận dụng đủ để cái truyền thống có đủ hơi thở ngang tầm với thời đại. Bởi v́ đối với đạo Phật, truyền thống không phải là di tích, là khảo cổ, mà là cái thực tại muôn đời vẫn mới, cái Ềpháp nhĩ như thịỂ, cái Ềthị pháp trụ pháp vịỂ mà kinh điển đă nói một cách rất mạnh bạo rằng dầu có Phật có Tổ hay không c̣n Phật c̣n Tổ, pháp vẫn như vậy.

            Đó không phải là sự đ̣i hỏi của một người - một người cũng phàm phu nên có cái tật rất thường t́nh là hễ yêu thương ái ǵ nhiều th́ đ̣i hỏi cái ấy nhiều - mà đó là đ̣i hỏi của thời đại mới, sự đ̣i hỏi của dân tộc để tiến bước vào thế kỷ thứ 21. Và có cần nhắc thêm, theo báo Time 3-89, đầu thế kỷ 21 sẽ có 12 con rồng châu Á, trong đó có Việt Nam. Con rồng Việt Nam sẽ như thế nào? Sẽ mang một hơi thở, một sức sống như thế nào?

Một buổi sáng lang thang trên những phố gần Hà Nội, đèn đường c̣n sáng trắng bạc sương mù, cửa nhà phố xá vẩn c̣n đóng kính trong giấc ngủ tinh mơ. Thỉnh thoảng một vái cửa hàng mở sớm, ánh đèn vàng hắt ra ấm cúng như lời mời gọi một chỗ trú ấm nóng t́nh người. Tôi kiếm ra được một căn pḥng bán cà phê-- chỉ là hai bàn thấp với vài chiếc ghế. Ông chủ quán là một giáo sư ĐHQS về hưu vừa bày hàng ra phía trước vừa chuyện tṛ nắng mưa đời thường. Ông đưa cho tôi một tờ báo, Người Hà Nội , số 10--3-90, có bức thơ cúa giáo sư Hoàng Phương gởi cho bác sĩ Kaspirovsky qua buổi phát h́nh của đài truyền h́nh Trung ưöng. Bác sĩ Kaspirovsky là người chữa bệnh cho bệnh nhân ở xa qua đài truyền h́nh LX, gần đây được nhắc đến nhiều trên báo chí HN, nhất là do có những bệnh nhân VN xem chương tŕnh của ông trên THVN mà khỏi bệnh. C̣n vị giáo sư VN là một nhà khoa học toán lư lại chuyên nghiên cứu về trường sinh học từ 1/4 thế kỷ nay cộng thêm một kiến thức về Đông Phương học.

Chỉ c̣n nhớ một đoạn trong bức thơ ngỏ ấy :ỂKhoa học hiện đại của hành tinh này chỉ mới bước được bước đàu. Về cơ bản đó chỉ là nền văn minh vật lư, được xây dựng trên một hệ quy chiếu về logic không gian và thời gian giới hạn. V́ thế, các hiện tượng sinh học, tâm lư học chắc chắn nằm trong một hệ quy chiếu khác rộng hơn, toàn diện hơn. Văt lư học hiện đại đang vấp nhiều khó khăn về khối lượng, về trường hấp dẫn, về những năng lượng hết sức cao... cần thiết phải xây dựng một hệ quy chiếu mới rộng hơn. Ở phương Đông, các nhà minh triết chúng tôi cho rằng vật chất có 7 tầng, mỗi tầng có một hệ quy chiếuriêng. Vật lư học hiện đại chỉ là tầng vật lư thô nhất, các tầng trên có vật chất hơn, tần số sóng cao hơn...Ể.

Nói đến 7 tầng vật chất từ thô đến tế theo minh triết phương Đông, th́ chỉ lấy riêng một kinh phổ thông là kinh Lăng Nghiêm, chúng ta cũng thấy kinh nói rằng vũ trụ gồm có 3 cơi được tạo thành bởi 7 đại, bảy tầng vật chất từ thô đến tế...Chắc chắn đạo Phật không hề cũ, và cái kho tàng minh triết ấy luôn luôn vẫn c̣n đó cho những ai biết kiếm t́m, kể cả một hệ thống quy chiếu toàn diện mở lối cho khoa học. Bởi v́ một trong những chiều hướng chiến lược của đạo Phật làỂ nhiếp mạt quy bổn Ể, nhiếp ngọn trở về gốc đưa tất cả mọi lănh vực của đời sống về an trụ nơi lẽ thật, điều ấy đă được các thiền sư đời Lư Trần thực hiện trong thời đại của các ngài. Chỉ lấy riêng Trần Nhân Tông, ông đă thâm chứng đạo Phật, lấy cái bất biến của đạo Phật để tùy duyên ứng với mọi hoàn cảnh, mọi lănh vực chính trị xă hội của đời Trần. Bởi thế mà chính Trần Nhân Tông , mà không là ai khác, đă có câu nói :Ể Mỗi lần đưa ra là một lần mới lạỂ (nhất hồi niệm xuất, nhất hồi tân). Cái trung tâm cốt lơi của đạo Phật nhà vua đă đạt đến, đă đưa ra với thời đại ḿnh, ứng với mọi lành vực xă hội, và cái lần đüa ra ấy mới mẽ biết bao, để về sau, mỗi khi nhắc đến đời Trần chúng ta vẫn c̣n phải ngạc nhiên, c̣n t́m thấy ra điều mới lạ.

Cái mà mỗi lần đưa ra là một lần mới lạ, đó là mục đích và cũng là phương tiện của thiền, cái được nói đến trong tất cả lời khai thị, các bài kệ của các thiền sư và được vận dụng qua suốt cuộc đời của các ngài. Đó là cái thực tại hiện tiền nên hằng hằng mới lạ, cái thường trụ vĩnh viễn nơi ta nên luôn luôn có thể đưa ra. Cái bất biến để tùy duyên ấy là tinh thần của Yên Tử, mà Trần Nhân Tông là đại diện. Yên Tử vẫn c̣n đó, không cách Hà nội bao xa, để vẫn thầm nhắc nhở cho những thế hệ về sau cái tinh thần bất biến tùy duyên không bao giờ cũ ấy của ḿnh...

xXx

Rời Hà nội một buổi sớm tháng ba sương mỏng, trên các cành bàng trơ trụi, những lá xanh bát đầu nhú ngọn. Mùa xuân ấm áp đang đến thật gần. Đó là cái ấm áp của thời tiết hay là cái ấm ấp của tinh thần Bi Trí Dủng của tiền nhân thấm vào thân tâm suốt ba tuần lễ nay ? Có vào chùa Trấn Quốc sát cạnh Hồ Tây, ngôi chùa đă có từ 15 thế kỷ, với bao thế hệ quốc sư, có trèo những bậc đá lên đ́nh cao trên ngàn mét của núi Yên Tử, có nh́n thấy chùa Một Cột là một đóa sen nở giữa ḷng Hà Nội, mới h́nh dung được tại sao có những cuộc đời hùng vĩ và bao la đến thế, mới cảm nhận được cái sức sống diệu kỳ nào đă đẩy cuộc đời các vị thành những ngọn sóng thời đại cao như thế. Cái sức sống ấy, nói như Trần Nhân Tông là Ềmỗi lần đua ra là một lần mới lạỂ, hay nói như Vạn Hạnh là Ềnhậm vận thịnh suy nào sợ hăi, thịnh suy đầu cỏ hạt sương maiỂ, hay nói theo kinh điển là Bồ tát tạng, Vô tận tạng...

Chính v́ có những con người đă lặn cả thân tâm ḿnh vào trong biển cả Phật pháp để bung tỏa sức sống ấy vào trong mọi lănh vực của cuộc đời mà đă có những thời đại như thời đại Lư Trần, những thời đại đă sống và đă được sống bằng tất cả rạo rực hân hoan tươi mới cao đẹp của ḿnh. Sức sống diệu kỳ ấy vẫn c̣n đó , vẫn thường trụ như vậy, pháp nhĩ như thị, luôn luôn sẳn sàng cho bất cứ ai muốn phóng lặn vào để đem lại tươi mới, cao đẹp và hạnh phúc thật sự cho ḿnh và cho người.

Cách đây 700 năm, ở đăt Thăng Long này, đă có một người như thế, đă nhờ sức sống kỳ diệu của đạo Phật mà nâng cuộc đời ḿnh lên đồng thời nâng cả thời đại ḿnh lên thành một đỉnh cao không ai có thể phủ nhận, và của đỉnh cao của Trí Huệ và Đại Bi đă nói lên một câu, một câu làm vỡ tung cả cuộc đời ḿnh thành muôn lời nguyện, kết hợp cuộc đời hữu hạn của ḿnh với sinh mệng không cùng của dân tộc, và v́ thế nó đă nói lên được toàn bộ sinh mệnh của đăt nước, một câu nói của một người mà cũng như là bất kỳ đứa con nào của Tổ quốc :

Xă tắc hai phen phiền ngựa đá

Non sông ngh́n thuở vững âu vàng.                                

 

Copyright ©2005 FITEC & SearchVN. All rights reserved.