TIN NHÂN  QUẢ - TẠO PHƯỚC ĐỨC -  SỐNG CHÂN THƯỜNG

 searchvn.net                                                                                                                            TRỞ VỀ

 
 

Từ Thanh Mai tự
nghĩ về Pháp Loa thiền sư

Đặng Văn Sinh

H́nh này không phải h́nh chùa Thanh Mai, mà là chùa Keo, nếu bạn nào có được h́nh của Thanh Mai thiền tự xin vui ḷng cho chúng tôi xin một bản, cám ơn nhiều ! Phusa.

Thiền sư Pháp Loa

 

 Lặng lẽ leo từng bậc dốc lên dăy Tam Ban, một ḿnh trong rừng chiều nhạt nắng, tôi thầm nghĩ, gần ba phần tư thiên niên kỷ, trải bao thăng trầm lịch sử, cùng với sự xoay vần của trời đất, vạn vật đă biến đổi đến vô cùng. Khoảng thời gian ấy đủ để "mấy lần băi bể thành nương dâu" ( Kỷ độ thương hải biến vi tang điền )* như lời tiên nữ Ma Cô nói với tiên ông Lă Động Tân trên đảo Doanh Châu trong "Thần tiên truyện". Tôi đi trong rừng thu, lá vàng rơi nhẹ cuốn theo làn heo may đầu mùa, thỉnh thoảng gợn lên những thanh âm xào xạc, nghe sao mà buồn. Đó là nỗi buồn chẳng rơ căn nguyên của một người cầm bút đă quá tuổi "tri thiên mệnh" đang thả hồn phiêu diêu vào tâm trạng hoài cổ. Dưới chân tôi là ḍng suối nhỏ âm thầm luồn lách  chảy giữa thung sâu. Trên đầu tôi là những  ngọn thông già x̣e ra tựa chiếc ô lớn, mọc lô xô, chạy vát từ con đường viền phần cực bắc thôn Thanh Mai đến lưng chừng núi rồi đột nhiên quặt sang phải,vẽ thành một ṿng  cung xanh phản chiếu ánh tà dương lấp lóa.

 

 Lang thang trong rừng thông, một ḿnh suy ngẫm. Lá thông khẽ ŕ rào, phảng phất mùi nhựa hăng hắc lan tỏa, dễ gợi cho tâm thức kẻ hành hương chạnh ḷng nhớ về thời quá văng.

 

Con đường quanh co, uốn lượn, luồn lách dưới tán rừng già, không ít đoạn dốc cheo leo, mệt đến đứt hơi nhưng đẹp như cổ tích. Tôi không thích con đường mới mở dù nó thẳng hơn, ngắn hơn, ít dốc và tiện lợi hơn cho khách thập phương. Đoạn đường mới này, nh́n từ xa, bệch bạc như một lát cắt vụng về, làm mất đi vẻ tự nhiên của dải rừng đầu nguồn, đă từ lâu, vốn rất hài ḥa với cảnh quan ngôi chùa cổ. Ở đây là cả một vấn đề triết lư. Những danh lam thắng cảnh, những di tích lịch sử, nhất là lịch sử tôn giáo mang tầm quốc gia, muốn lưu giữ được vẻ đẹp nguyên thủy truyền lại cho các thế hệ mai sau, không thể can thiệp thô bạo bằng những nghị quyết duy ư chí của một nhóm người thiển cận ở tầm văn hóa thấp mà phải có cái nh́n của những kiến trúc sư, những họa gia bậc thầy để nối dài, mở rộng, tạo chiều sâu không gian trong một tổng thể thẩm mỹ vừa đa dạng vừa tôn thêm vẻ linh thiêng.

 

Chẳng biết người đặt nền móng đầu tiên cho công cuộc kiến tạo Thanh Mai thiền tự có phải là vị tổ thứ hai của thiền phái Trúc lâm hay không. Nếu dúng như thế th́ quả Pháp Loa có "con mắt đạo" như Điều Ngự thiền sư đă nhận xét khi lần đầu gặp ngài ở hương Cửu La, lộ Nam Sách Giang. Dấu tích c̣n lại của  ngôi cổ tự được khởi công từ đầu thế kỷ XIV vẫn như c̣n ngổn ngang đâu đây, khiến cho những khách thập phương đa cảm, đa t́nh bùi ngùi nhớ đến một thuở huy hoàng của đạo Thích Ca thời Trần với hàng ngàn ngôi chùa, hàng vạn tăng đồ cùng các bậc thiền sư khuông quốc đạo cao đức trọng.

 

Con mắt thiền sư định vị ngôi chùa cũng là con mắt của một nhà phong thủy. Theo truyền thống, tất cả các ngôi chùa, dù là Tỳ ni đa lưu chi, Vô ngôn hay phái Thảo Đường đều tọa lạc trên đỉnh cao, và nhất thiết mặt tiền tọa hướng chính tây, nơi khởi nguồn của đạo Phật. Riêng chùa của Trúc Lâm thiền tông, một chi phái thuần túy Đại Việt do Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông sáng lập lại quay về hướng chính nam. Và độc đáo hơn nữa, Thanh Mai thiền tự c̣n tọa lạc ở lưng chừng dăy Tam Ban, chính giữa ṿng cung, ôm lấy long mạch, khiến cho vận số hanh thông, có thể truyền đạo pháp đến muôn đời sau.

 

Lệch về tây bắc một chút là dăy Báo Đức, thấp hơn ngọn Tam Ban nhưng choăi rộng ra thành tấm b́nh phong thiên nhiên bền vững như bức trường thành. Trên núi Báo Đức vẫn c̣n di tích ngôi mộ cụ Nguyễn Phi khanh, thân sinh vị anh hùng dân tộc Nguyễn Trăi.

 

Thiên nhiên chẳng phải vô t́nh đă dành cho cư dân vùng Đông Bắc này một nơi tịnh địa tích tụ khí thiêng sông núi để các vị cao tăng chọn làm chốn tu hành. Thế đất lành và ư nguyện chúng sinh do Trời Phật run rủi, từ khoảnh khắc hạnh ngộ, đă khuyến chư tăng cùng thiện nam tín nữ, phát tâm bồ đề, rộng ḷng công đức góp phần vào sự nghiệp kiến tạo Phật đường. Đó là một quần thể kiến trúc ṭa ngang dăy dọc bề thế mang những nét đặc thù của Phật giáo Đại Việt ở vào thời kỳ lịch sử hưng thịnh nhất Đông Nam Á.

 

Khởi thủy, chùa đă có quy mô khá lớn thuộc dạng kiến trúc nội công ngoại quốc**, gồm ṭa tam quan sừng sững với những cột lim cỡ hai người ôm kê trên các phiến đá xanh chạm trổ hoa văn đỡ gác chuông sơn son chạm nổi long ly quy phượng, lợp ngói mũi hài. Tiếp đến là ṭa Tam Bảo lộng lẫy vàng son, Như Lai cùng chư phật ngự trên ṭa sen thiếp vàng lấp lánh giữa Đại Hùng bảo điện. Nhà Tổ thuộc lớp thứ ba cấu trúc như một cung điện nguy nga, hai bên tả hữu là các gian giải vũ thờ mười tám vị La Hán ḿnh vàng. Những phế tích c̣n lại của một thời đă qua bất giác gợi lên trong tôi nỗi nhớ bâng khuâng, nỗi buồn man mác, nhất là khi lần ṃ đọc được những ḍng chữ Hán đă khá mờ do thời gian và mưa nắng bào ṃn trên tấm bia "Tam Tổ thực lục" dựng vào năm Đại Trị thứ năm (1358) đời Trần Dụ Tông ghi công tích vô lượng của ba vị Tổ Thiền phái Trúc Lâm.

 

Sinh thời, Pháp Loa thiền sư, tục danh là Đồng Kiên Cương, quán tại hương Cửu La, lộ Nam Sách Giang (nay thuộc làng Cổ Pháp, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương). Tương truyền vào năm Giáp Thân (1284), lúc ngài ra đời có mùi hương lạ lan tỏa khắp nhà. Thứ hương trời ấy cứ phảng phất măi bảy ngày sau mới tan đi. Là người mộ đạo từ bé, trong tâm đă có sẵn chân như, lục độ, như một cơ duyên, nhân chuyến Điều Ngự thiền sư đi thuyết pháp qua hạt Nam Sách, Đồng Kiên Cương đến yết kiến xin được xuất gia đầu Phật. Thượng hoàng Trần Nhân Tông thoáng nh́n đă nói : " Người này có con mắt đạo, sau này ắt có pháp khí", bèn nhận làm đệ tử và đặt tên cho là Thiện Lai. Thiện Lai tu hành chăm chỉ, hiểu thấu giáo lư nhà Phật, đặc biệt là học thuyết của phái Trúc Lâm nên được Thái thượng hoàng yêu mến thường cho ngồi hầu bên cạnh mỗi khi lên đàn giảng kinh. Năm Bính Ngọ đời Trần Anh Tông, niên hiệu Hưng Long thứ mười ba (1306), tại tăng viện Kỳ Lân Côn Sơn, Điều Ngự thiền sư truyền cho ngài Giới Thanh văn và Bồ tát, lại ban pháp hiệu là Pháp Loa. Có người bàn rằng, chữ "Loa" ( ),tiếng Hán nghĩa là con ốc. Thượng hoàng Nhân Tông ngụ ư xem Thiền sư như một chiếc tù và dùng để khuếch trương sự nghiệp hướng thiện, diệt ác, cứu khổ cứu nạn, hoằng dương đạo pháp đối với trăm họ của Thiền phái Trúc Lâm. Năm Hưng Long thứ mười lăm (1308), tại chùa Siêu Loại (nay thuộc huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh), Điều Ngự Trần Nhân Tông làm lễ trao quyền nối ḍng thừa kế cho Pháp Loa có sự chứng kiến của hoàng đế Trần Anh tông. Như vậy, Pháp Loa trở thành vị tổ thứ hai của Trúc Lâm Phật phái lúc ngài mới hai mươi lăm tuổi.

 

Đọc "Tam tổ thực lục",xem tấm bia khắc năm Vĩnh Thịnh thứ 10 (1714) đời vua Lê Hy Tông gắn trên Viên Thông bảo tháp ( ), mới thấy công nghiệp của Pháp Loa thật lớn lao. Trước hết, Thiền sư là một vị chân tu hiểu thấu lẽ biến dịch của trời đất bằng một nhân sinh quan nhập thế tiến bộ. Ngài đă ḥa đồng một cách nhuần nhuyễn giữa đạo pháp và nhân sinh, kiến tạo một mô h́nh Phật giáo mang đậm màu sắc Đại Việt. Trong hơn hai mươi năm, với tư cách là người đứng đầu Thiền phái Trúc Lâm, Pháp Loa đă xây được trên tám trăm chùa, trong đó, chùa Quỳnh Lâm (nay thuộc huyện Đông Triều tỉnh Quảng Ninh) là một tăng viện lớn vào bậc nhất của trung tâm Phật giáo thời ấy. Bằng vào pháp giới vô biên và tấm ḷng từ bi vô lượng của ḿnh, tuy viên tịch ở tuổi bảy mươi, nhưng ngài đă độ được hàng vạn tăng ni, riêng chùa Thanh Mai có hai Quốc sư và một Pháp tổ. Với kiến thức uyên bác, tâm đạo huyền diệu, Pháp Loa c̣n chủ tŕ dịch và cho khắc ván in bộ kinh Đại Tạng từ chữ Phạn...

 

Phía sau Tháp Viên Thông, trên một khoảnh đồi khá rộng, nối với b́a rừng là một sườn dốc, xưa kia trồng toàn thanh mai hoa trắng tinh khiết, tượng trưng cho cốt cách của các bậc chân tu. Loài hoa cao quư ấy giờ chỉ c̣n sót lại vài cây gầy guộc, lẻ loi giữa đại ngàn nhưng cũng đủ cho ḷng du khách bâng khuâng. Nh́n những cánh hoa trắng muốt, mỏng manh, âm thầm tỏa hương trong cảnh tà huy, tôi chợt thấy phút giây này ḿnh như đốn ngộ, những ư niệm về sân, si, ái, ố, hỷ, nộ...trở thành thành thứ ngoài thân, một t́nh cảm khác lạ nhuốm màu từ bi bác ái bất chợt xuất hiện chỉ trong một sát na***.

 

Văn cảnh Thanh Mai, Khách thập phương  không thể ngờ, xung quanh chùa vẫn c̣n đó một "rừng phong thu đă nhuốm màu quan san". Không thể biết cây phong Thanh Mai mọc tự nhiên hay do bàn tay con người trồng nên nhưng quả thật đó là chuyện hy hữu đă vô t́nh tạo nên vẻ đẹp tuyệt vời giữa cánh rừng nhiệt đới. Số lượng phong không nhiều, lại mọc rải rác trên sườn núi nhưng trong một buổi chiều hơi sương lăng đăng, bất giác làm ta mơ màng liên tưởng về chốn bồng lai mỗi khi có ngọn gió thu lướt nhẹ, rừng phong xào xạc thả dần xuống thảm cỏ những phiến lá đỏ ối nhuốm màu hoàng hôn.

 

Chiều dần buông. Bóng ṭa cổ tháp đổ nghiêng vào sườn núi. Những cây quéo cổ thụ vẫn vô t́nh trước thế gian biến cải, vươn tán lên trời cao đón ánh hoàng hôn tím nhạt. Cây đại già trơ cành khẳng khiu khoác lớp vỏ sù ś nhuốm bụi thời gian như đang trầm mặc hồi tưởng về một thuở huy hoàng của đạo Thích Già. Chúng chẳng những là nhân chứng của tạo hóa hiện diện suốt chiều dài lịch sử bảy trăm năm mà dường như c̣n là nơi lưu giữ hồn thiêng cha ông thuở nào đang âm thầm nh́n xuống cơi trần bụi bặm từ chín tầng trời. Nh́n cảnh chùa, như một sự liên tưởng bất chợt, tôi nhớ đến hai câu thơ của Bà huyện Thanh Quan:

Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương

                               (Thăng Long thành hoài cổ)

 

Cho đến trước năm 2003, trên nền ṭa cổ tự bề thế vào hàng nhất nh́ của quần thể kiến trúc Phật giáo Trúc Lâm ngày nào, được nhân dân thôn Thanh Mai, xă Hoàng Hoa Thám, huyện Chí Linh cùng với một số nhà hảo tâm xây cất tạm thời một ngôi nhà cấp bốn để các già làng có chỗ cầu kinh niệm Phật. Ngày ấy, ngắm những pho tượng Phật mới tô, tôi cứ thấy có cái ǵ dài dại, thiếu trang nghiêm nếu không nói là bôi bác tùy tiện. Ấy vậy mà chùa đă được nhà nước cấp bằng công nhận di tích lịch sử văn hóa quốc gia ngày 21 tháng giêng năm 1992. Đành rằng, qua bao cơn binh lửa, chùa đă mấy phen hoang phế rồi lại được trùng tu, tôn tạo hẳn là không thể giữ nguyên lối kiến trúc cổ thời Trần, nhưng dù vật đổi sao dời, cho đến đầu những năm năm mươi của thế kỷ XX, hầu hết tượng Phật cùng những đồ tế tự vẫn gần như c̣n nguyên vẹn. Vậy mà, sau khi ḥa b́nh lập lại, những nhà quản lư đất nước, thông qua chủ trương "chống mê tín dị đoan", coi "tôn giáo là thứ thuốc phiện ru ngủ nhân dân" đă ra lệnh phá hủy Thanh Mai thiền tự. Đội quân phá chùa, hầu hết xuất thân từ thành phần cố nông, không viết nổi tên ḿnh, vốn là các "ông, bà" cốt cán, trên không sợ trời, dưới không sợ đất, chỉ sợ mỗi "anh Đội", trong Cải cách ruộng đất đă gây bao đau thương tang tóc cho đồng bào, giờ lại được sử dụng như những chiến binh xung kích tấn công vào thánh thần, thành lũy cuối cùng của "bọn phản động đội lốt thầy tu", để xây dựng một xă hội xă hội chủ nghĩa tốt đẹp trên nửa phần đất nước( Bản thân người viết bài này, những năm ấy c̣n là học sinh tiểu học, cũng bị nhà  trường bắt đi phá đ́nh chùa dưới sự chỉ đạo của ông xă đội trưởng. Người lớn th́ tháo ngói, dỡ nhà lấy gỗ làm trụ sở ủy ban và đóng bàn ghế, trẻ con th́ khênh tượng Phật gom thành một đống đốt hoặc vứt xuống ao nổi lềnh phềnh). Sau cuộc triệt hạ có một không hai trong lịch sử phật giáo, nhân danh "tư tưởng vô thần", pho tượng Pháp Loa bằng vàng ṛng tay cầm bông hoa sen bỗng nhiên biến mất. Tượng Phật Thích Ca, chất liệu đồng đen, vốn là biểu tượng linh thiêng bất khả xâm phạm cũng không cánh mà bay. Chưa hết, những đồ tế khí may mắn thoát khỏi cơn cuồng nộ của chủ nghĩa cực đoan ngày ấy, th́ những năm sau này, lại rơi vào tầm ngắm của bọn đạo chích. Ṭa cửu long đồng điếu, được chạm trổ rất tinh xảo, nặng đến 87 kg "thăng thiên" vào một ngày đẹp trời nào đó làm dư luận xôn xao là những ví dụ sinh động.

 

Từ nhiều năm nay, trùng tu chùa Thanh Mai không chỉ là ước vọng của riêng nhân dân Hoàng Hoa Thám. Với một đơn vị hành chính vài ngàn dân, phương thức sản xuất chủ yếu là nông nghiệp ở một vùng bán sơn địa, ngân sách eo hẹp th́ đây là việc làm quá sức của địa phương tuy rằng đă có không ít cuộc vận động quyên góp từ khắp trong Nam ngoài Bắc đến cả những tấm ḷng thơm thảo của đồng bào Việt Nam xa Tổ quốc. Nhưng lực bất ṭng tâm, công tŕnh quá lớn mà khả năng tài chính lại có hạn.

 

Hết ngày dài rồi lại đêm thâu, những tưởng tấm bằng công nhận di tích lịch sử văn hóa phủ dầy bụi đă rơi vào quên lăng th́ bất ngờ, năm 2005 bộ Văn hóa -Thông tin duyệt kế hoạch trùng tu Thanh Mai thiền tự với khoản ngân sách đáng kể. Có điều số tiền ấy về được đến địa phương cũng thật lắm nỗi gian truân, bởi nó phải ṿng vo qua nhiều cửa ải, mà mỗi cửa ải ấy, muốn "thông đồng bén giọt", khổ chủ nhất nhất phải tuân theo thứ luật bất thành văn, trích vài chục phần trăm "phết phẩy" nằm ngoài sổ sách để "bôi trơn cơ chế"... Thứ nữa, cũng c̣n phải tính đến một vài quan chức địa phương, sau khi được vinh thăng đảm nhận trọng trách quốc gia, chợt giật ḿnh nhớ đến luật nhân quả, sợ con cháu sau này khát nước v́ các vị đă chót ăn mặn, bèn bỏ ra vài trăm triệu (nhỏ như con thỏ), xây ngôi nhà Tổ rồi trang trí nội thất nhằm mua trước tấm vé qua cửa thiên đường. Cho đến nay, tất cả các hạng mục công tŕnh đều đă hoàn thành trong đó quan trọng nhất là nhà tiền tế, Tam Bảo và tháp Viên Thông.

 

Điều  đáng lưu tâm là, phần lớn kết cấu công tŕnh trùng tu đều được làm bằng gỗ quư, đặc biệt là lim xanh, một loại thiết mộc vĩnh cửu cùng thời gian được các hiệp thợ lành nghề gia công theo công nghệ cổ truyền. Nh́n những cây cột tam quan khoát năm, khoát bảy, được bào gọt mịn màng cùng với hệ thống xà ngang, xà dọc, câu đầu, con kê, chồng diềm, hàng kẻ... đỏ tươi ánh màu hoa văn tự nhiên do vân gỗ tạo nên, bất giác tôi h́nh dung đến sự hữu hạn của đời người với sự trường tồn của một tôn giáo có số tín đồ đông đảo nhất ở Việt Nam, chí ít là về mặt tâm linh.

 

Trong cái không gian vàng son lộng lẫy của Phật đường, dạo qua dạo lại vài ṿng, tôi chợt thấy hơi buồn khi đọc được những ḍng chữ Hán trên các tấm hoành phi, câu đối treo la liệt trên xà ngang, cột dọc. Đó phần lớn là loại chữ viết trái cựa, mất nét, nguệch ngoạc như gà bới hoặc uốn éo, vẽ vời vô lối chẳng cần biết thư pháp là ǵ. Đă thế, các nhà hảo tâm cung tiến chỉ biết bỏ tiền ra thuê thợ "vẽ" mà chẳng mấy quan tâm về nội dung, dẫn đến t́nh trạng có những câu viết  sai, thiếu chữ hoặc đối không chỉnh. Hiện tượng này khá phổ biến ở các chùa mới trùng tu, cho dù trùng tu bằng tiền chục tỷ. Hoa Yên thiền tự trên núi Yên Tử có thể xem là ngôi chùa đạt kỷ lục về sự tùy tiện chữ nghĩa. (Bản thân người viết đă từng có ư kiến đề xuất với sư trụ tŕ chùa Hoa Yên từ mấy năm trước nhưng cho đến nay vẫn không hề có sự thay đổi).

 

Các vị Tổ của Thiền phái Trúc Lâm, ở nơi Niết Bàn, giờ này, có lẽ đang hướng tuệ nhăn qua lớp lớp bụi thời gian về nơi cố tự mà gật đầu hài ḷng với lớp chúng sinh hậu thế. Hoa Yên thiền tự, Côn Sơn thiền tự, rồi giờ đây là Thanh Mai thiền tự, lần lượt được con cháu kính cẩn trùng tu, tôn tạo, tuy quy mô vẫn c̣n khiêm tốn chưa thể sánh được với công nghiệp vô lượng của các ngài, nhưng cái quư là ở tấm ḷng biết ơn đối với tiền nhân...

 

Cảnh chùa lúc tà dương  tịch mịch trong tiếng mơ nhặt khoan giục ḷng du khách hướng về cơi vô thường. Leo hết ba chặng núi, vượt ḍng suối mát nước trong vắt đến chốn thiền môn bỗng thấy tâm hồn như được thanh lọc. Những ǵ là bụi bặm của cơi trần ai dường như không theo nổi bước chân bền bỉ của con người. Bước vào đất chùa là bước vào thế giới của cơi thiện. Hỡi những khách hành hương, dù cho tâm trạng ai đó lúc này vẫn c̣n phiền muộn bởi những suy tư về cuộc sống hiện hữu đang dung dưỡng cái ác v́ thiếu thiếu ḷng nhân ái, đang nuôi béo lũ tham nhũng sống phè phỡn trên tấm lưng c̣m cơi của người nông dân chân lấm tay bùn cũng đừng vội mất niềm tin. Xin hăy cứ thành tâm làm việc thiện, Pháp Loa tôn giả sẽ phù hộ độ tŕ cho bạn lấy lại lẽ công bằng. Trong cuộc đời, thi thoảng hăy dành ít phút giây trong số ba vạn sáu ngàn ngày dài đằng đẵng cho cuộc sống tâm linh. Khoảnh khắc đến với Thanh mai thiền tự chính là để di dưỡng tinh thần, để ngồi một ḿnh bên tháp cổ thả hồn vào cơi hư vô suy ngẫm về thân phận con người.

 

Pháp Loa thiền sư, bây giờ Người ở đâu sau bảy trăm năm dâu bể?


Thanh Mai thiền tự, năm Đinh Hợi, tháng trọng đông, ngày lành
Đặng Văn Sinh

 

Copyright ©2005 FITEC & SearchVN. All rights reserved.