TIN NHÂN  QUẢ - TẠO PHƯỚC ĐỨC -  SỐNG CHÂN THƯỜNG

 searchvn.net                                                                                                                            TRỞ V"

 
 

 

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất và Phong Trào Tranh Đấu

Sallie B. King

Nguyên Hảo dịch

 

Phong trào tranh đău Phật Giáo không có tính cách toàn bộ. Quan điểm của các tăng ni khác nhau và những chủ trương khác nhau cũng nẩy sinh. Một nhân chứng về những biến cố nầy, ông Don Luce, nêu lên tính chất của phong trào tranh đău Phật Giáo gồm có ba nhóm tác động chính: (1) nhóm thấy rơ nhất và tích cực nhất trong vận động chính trị là khối Ấn Quang, trong đó ba vị lănh đạo là Thích Trí Quang, Thích Tâm Châu và Thích Thiện Minh. Khối nầy không đứng về phe Sài g̣n cũng không ủng hộ Mặt trận giải phóng.  Đây là khối có thể kêu gọi dân chúng xuống đường, có thể duy tŕ hay lật đổ các chính phủ. Chiến tranh càng leo thang th́ khối nầy càng trở nên đối lập với chính phủ Sài g̣n và Hoa kỳ; dầu vậy họ không bao giờ ủng hộ Mặt trận giải phóng. (2) Thích Nhất Hạnh, Trường Thanh Niên Phụng Sự Xă Hội và một số người trong Viện Đại Học Vạn Hạnh thuộc nhóm thứ hai. Bề ngoài họ rất gần gũi với nhóm thứ nhứt, nhưng ít phẩn nộ hơn và ôn hoà hơn. Trong khi có một số người trong nhóm nầy cũng tham dự vào những cuộc xuống đường, Nhất Hạnh ít có khuynh hướng đó. (3) Cũng có một nhóm ủng hộ Mặt trận giải phóng, mặc dù việc làm của họ không được tuyên bố. Thêm vào ba nhóm nấy, dĩ nhiên có những tăng ni không muốn tham gia vào chính trị hay các loại hoạt động.

            Trong những trang sau đây, tôi xin tŕnh bày sơ lược  về những hoạt động của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất trong giai đoạn 1963-1966. Nhất Hạnh có thể đă không hoàn toàn tán đồng với những việc đă xảy ra. Tuy vậy, ông là một người lănh đạo quan trọng trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, làm những việc mà ông nhận thấy phù hớp với mục đích chính của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, và đă đóng góp lớn về mặt lư thuyết cho chương tŕnh hành động của GHPGVNTN. Trong khi đó, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất cũng là tổ chức, hơn tổ chức nào khác, bồi đắp cho Nhất Hạnh trên cương vị một tín đồ Phật giáo xă hội. Như vậy, mối liên hệ giữa Nhất Hạnh và GHPGVNTH có tính cách tương quan thành tựu, mặc dù hai bên không thể được nhận diện một cach đơn giản.

            Sức mạnh chinh trị của Phật tử Việt nam đầu tiên được thế giới chú ư là vào năm 1963 với cuộc tranh đấu chống chế độ Diệm. Ngô đ́nh Diệm, tổng thống Nam Việt nam, là một người theo Thiên chúa giáo, và dĩ nhiên, theo Hoa kỳ. Cá tính và t́nh cảm hướng mạnh về Thiên chúa giáo, được củng cố bởi người em trai, Ngô đ́nh Nhu, và người em dâu, Bà Nhu, đă đặt ông đứng ngoài 80 phần trăm dân chúng Việt nam, những người, ít nhất cũng trên danh nghĩa, là những Phật tử. Vào ngày 8 tháng Năm, 1963, Phật tử ở Huế treo cờ Phật giáo như là một phần trong đại lễ kỷ niệm ngày Đản sinh của Đức Phật. Treo cờ tôn giáo theo đúng nghĩa luật pháp là không hợp pháp, nhưng điều nầy từ trước đă được bỏ qua, và cờ Vatican chỉ được treo về sau để đón người anh của Diệm. V́ lư do nầy, cờ Phật giáo bị hạ bệ. Chiều hôm đó, một đám đông tụ tập tại đài phát thanh khi một chương tŕnh phát thanh Phật giáo không được phát. Thích Trí Quang ở bên trong thảo luận với cấp lănh đăo đài phát thanh và thỉnh thoảng xuất  hiện để trấn an đám đông. Đám đông tiếp tục kéo đến càng lúc càng đông thêm. Nhân viên chính phủ đến ra lệnh cho đám đông giải tán. Sau đó không lâu, quân đội nả súng bắn vào đám đông. Tám người thiệt mạng, gồm bảy trẻ em và một phụ nữ. Diệm tuyên bố rằng đó là do Việt công ném lựu đạn, mặc dù cuốn phim chiếu lại cho thấy quân đội chính phủ đă bắn vào. Khi dân chúng Hoa kỳ nh́n thấy những biến cố nầy trên đài truyền h́nh, sự ủng hộ của Hoa kỳ cho chính phủ Diệm bắt đầu suy giảm.

            Biến cố nầy thúc đẩy quần chúng Phật tử Việt nam và đưa những tu sĩ  cấp tiến vào những vị trí lănh đạo trong Giáo Hội Phật Giáo. Vào ngày 10 tháng Năm, trên mười ngàn người tham gia cuộc biểu t́nh ở Huế. Tu sĩ Phật giáo đ̣i hỏi được b́nh đẳng trước pháp luật với Giáo hội Cơ đóc, chấm dứt bắt bớ, được tư do tín ngưỡng, và bồi thường cho gia đ́nh của tám nạn nhân bị bắn chết vào tối 8 tháng Năm. Diệm không thi hành những đ̣i hỏi nầy và bắt giam nhiều tu sĩ và sinh viên.

            Nên nhớ rắng khởi đầu, chính sự đàn áp và phá rối Giáo hội Phật Giáo và tín tín ngưỡng của họ từ phía chính quyến mà người Phật tử đứng lên chống lại. Sự chống đối chính phủ để được tự do tín ngưỡng từ trước đă xảy ra trong lịch sử. Tuy nhiên, cuộc đău tranh leo thang vào mức độ lật đổ một chính phủ và cuốc đấu tranh chống lại một lực lượng quân sự lớn nhất thế giới, khi chiến tranh Việt nam đương hồi khốc liệt, hiếm khi xảy ra.

            Vào ngày 11 tháng Sáu, tỳ kheo Thích Quảng Đức tự thiêu để phản đối chính phủ. Ngày hôm sau, những bức h́nh chụp vi tu sĩ đang thiêu trong lửa được đăng tải trên trang đầu của các nhật báo Hoa kỳ, làm choáng váng quần chúng Hoa kỳ. Dưới áp lực của Hoa kỳ,  Diệm kư một thỏa ước chấp thuận những đ̣i hỏi của Phật giáo, nhưng ông không thi hành. Sự căng thằng triếp tục gia tăng, số lượng tăng, ni, sinh viên xuống đường, đ́nh công, tuyệt thực để phản đối ngày càng đông đảo. Các chùa là trung tâm của những hoạt động nầy. Diệm, dưới ảnh hưởng của Nhu, đồng hóa phong trào Phật giáo với những hoạt động của Mặt trận giải phóng của Cộng sản và tiếp tục chính sách khủng bố và bắt giam. Thêm nhiều vụ tự thiêu của Phật tử xảy ra, mà bà Nhu nói xỏ là "barbecue" như được giới truyền thông Hoa kỳ loan tin.

            T́nh trạng đi đến chỗ tận cùng, nh́n về phía Phật giáo, vào đêm 21 tháng Tám, khi các lực lượng vũ trang của Diệm tấn công vào các chùa ở Sài g̣n, Huế, và những thành phố khác ở miền Nam Việt nam. Trong cuộc tấn công, tất cả các tu sĩ Phật giáo đều bị trục xuất khỏi chùa, 1,420 tu sĩ bị bắt giữ, nhiều người bị giết chết, có vào khoảng ba mươi người bị thương và chùa chiền bị lục soát. Từ lúc nầy, cuộc đảo chánh do các tướng lănh miền Nam Việt nam chuẩn bị trở nên nghiêm trọng. Ở Hoa kỳ, chính phủ Kennedy nhận thấy tính chất tai hại của những hành động của Diệm trong một quốc gia có 80 phần trăm dân số là tín đồ Phật giáo và lo âu về ḷng tin của thành phần Phật tử chính yếu trong quân lực nếu những sự hy sinh và biểu t́nh tiếp tục xảy ra. Trước t́nh trạng nầy, chính phủ Hoa kỳ khuyến khích những người đang chuẩn bị đảo chánh. Chống đối và bắt giam vẫn tiếp tục trong tháng Chín và tháng Mười.

            Vào ngày 8 tháng Mười, Thích Nhất Hạnh, lúc nầy đang ở tại Đại học Columbia, tŕnh những văn kiện về sự chà đạp nhân quyền ở Nam Việt nam lên Liên Hiệp Quốc; Hội đồng Liên Hiệp Quốc nhận trách nhiệm điều tra. Vào ngày 27 tháng Mười trong khi Liên Hiệp Quốc đang điều tra, một tu sĩ Phật giao tự thiêu. Cuối cùng, vào ngày 1 tháng Mười Một, cuộc đảo chánh xảy ra, một cuộc đảo chánh không rơi một giọt máu ngoại trừ việc thủ tiêu Diệm và người em là Nhu.

            Chế độ mới, do tướng Dương Văn Minh lănh đạo, không để mất th́ giờ trong việc thiết lập mối liên hệ gắn bó với tín đố Phật giáo. Ngay ngày đàu tiên chấp chánh, Minh thả tự do cho 75,000 tù nhân chính trị, trong đó gồm cả các tu sĩ Phật giáo.

            Trong thời gian nầy, một hội nghị Phật giáo được tổ chức trong bốn ngày để thống nhất Phật giáo Nam tông (Thượng tọa - Tiểu Thừa) và Bắn tông (Đại thừa) và kết quả là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ra đời.

            Chúng ta thấy động cơ nền tảng trong việc bảo vệ những điều kiện cho sự tu tập Phật pháp một cách tự do và chính thực. Ở đây chúng ta thấy rằng v́ điều kiện xă hội và chính trị có thể ảnh hưởng xâu xa vào đời sống tôn giáo, không phải chỉ điều chỉnh mà thôi, nhưng bổn phận của người Phật tử là dấng thân vào để tạo ảnh hưởng trên điều kiện xă hội và chính trị để có được sự tự do tôn giáo.

            Thời gian nắm chánh quyền ngắn ngủi của Minh được ghi nhận hai điều là những mối liên hệ tốt đẹp với tín đồ Phật giáo và sự không muốn tiếp tục theo đuổi chính sách leo thang quân sự, muốn t́m một giải pháp chính trị, có thể một chính phủ "trung lập" không đứng về khối nào. "Trung lập" trong thời gian nầy rất được lưu ư. Hoa kỳ rất không thích đả động đến trung lập hay một giải pháp chính trị, nghĩ rằng như vậy Hoa kỳ sẽ thua và cộng sản Bắc Việt sẽ thắng. Là tiếng nói đại diện cho đa số nhân dân Việt nam, phong trào Phật giáo bắt đầu dần dần ḥa ḿnh với "giải pháp trung lập" (từ chối đứng về phía Bắc Việt hay Nam Việt) và một giải pháp chính trị, không phải là quân sự, để chấm dứt chiến tranh. Đây là căn bản đưa đến sự phân cách giữa những mục đích của chính phủ Hoa kỳ và mục đích của phong trào Phật giáo Việt nam. Với sự chống đối chính sách theo đuổi chiến tranh của Hoa kỳ, phong trào Phật giáo cũng được quần chúng đồng hóa với phong trào yêu nước, được biểu hiện trong việc phản kháng sự chi phối của ngoại bang, bấy giờ là Hoa kỳ.

            Chế độ của tướng Minh bị lật đổ vào ngày 30 tháng Giêng năm 1964. Sự không đồng tâm trong giới tướng lănh miền Nam Việt nam và sự bất tín nhiệm tướng Minh của Hoa kỳ, cả hai đóng vai tṛ trong cuộc đảo chánh. Người lên thay tướng Minh là tướng Nguyễn Khánh, ban đầu hợp tác chặc chẽ với các nhân vật và chính sách Hoa kỳ, nhưng ông đă đi quá xa ra ngoài những mong muốn của quần chúng Việt nam, trong đó tinh thần phản chiến và trung lập đang mạnh. Đó là vấn đề quan tâm lớn của Washington. Tổng thống Johnson ra lệnh cho đại sứ Lodge rằng nhiệm vụ kế tiếp là "đập tan tư tưởng trung lập bất cứ nơi nào nó ló cái đàu ghê tởm của nó ra và từ đây tôi nghĩ rằng không có ǵ quan trọng hơn là chấm dứt sự nói về trung lập bất cứ nơi nào chúng ta có thể bằng bất cứ phương tiện nào chúng ta có thể."

            Vào ngày 16 tháng Tám, Khánh công bố một hiến pháp mới sửa đổi chính phủ (Hiến chương Vủng Tàu), cho phép ông có những quyền hành mới, giàm bỏ những quyền tự do dân sự một cách gay gắt. Những cuộc biểu t́nh chống đói do Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất lănh đạo đă diễn ra và lập tức được giới sinh viên nhiệt liệt đáp ứng. Vào ngày 24 tháng Tam, Khánh họp với ba vị lănh đạo cao cấp GHPGVNTN là Thích Trí Quang, Thích Tâm Châu, và Thích Thiện Minh. Giới lănh đạo Phật giáo đ̣i hủy bỏ Hiến chương Vủng Tàu, thiết lập một chính phủ dân sự, bảo đảm tự do tôn giáo và báo chí, và sắp xếp một cuộc bầu cử vào ngày 1 tháng Mười Một năm 1965. Sự nhượng bộ của Khánh không đáp ứng những yêu cầu của Phật giáo và những cuộc biểu t́nh tiếp tục diễn ra.

            Tướng Hoa kỳ là ông Wesmoreland sợ rằng Thích Trí Quang, phát ngôn nhân của Phật Giáo, "đă không nhắc lại, không chịu lên án Cộng sản" và quan sát thấy rằng mặc dù quân đội tiếp tục là "nhân tố sức mạnh chính trong lúc nầy, nó có thể bị vô hiệu hóa..." do phong trào Phật giáo. Một bản báo cáo của cơ quan t́nh báo Hoa kỳ phản ảnh sự ít hiểu biết của Hoa kỳ về những động cơ Phật giáo, nói rằng Trí Quang "có khả năng liên minh với Cộng sản bất cứ lúc nào bằng một sự liên minh có lợi cho những tham vọng chính trị và những mục tiêu tôn giáo của ông - hai việc mà ông coi như chỉ là một."  Bản báo cáo diễn tả ông như "một nhà ái quốc cực đoan, băn khoăn muốn thấy Hoa kỳ rút khỏi Việt nam trong thời gian sớm nhất... Kết quả là một giải pháp điều đ́nh hay trung lập nào có thể đüa đến sự ra đi của Hoa kỳ đều đáng ghi nhấn dưới mắt ông."  Đó là sự hiểu biết của Hoa kỳ về sự mong muốn của Phật giáo vào một giải pháp ḥa b́nh, một sự chấm dứt chém giết và thoát khỏi sự thống trị của ngoại bang. Nói một cách khác, bất cứ chính phủ nào được Hoa kỳ chấp nhận, họ muốn theo đuổi chiến tranh, đều không được nhân dân Việt nam chấp nhân, họ muốn chấm dứt chiến tranh. Chính phong trào Phật giáo nói lên tiếng nói bất măn của quần chúng đối với chính sách và những hành động của Hoa kỳ.

            Dưới cái nh́n của Thích Nhất Hạnh, Hoa kỳ không thể chiến thắng được trong trận chiến nầy, v́ mỗi "thành công" trong thời gian ngắn của Hoa kỳ - giết người Cộng sản Việt nam - làm cho quần chúng Việt nam giận ghét và như vậy đưa đến sự thất bại  của Hoa kỳ trong thời gian dài. Ông viết "Tôi biết điều nầy khó thấy đối với người Hoa kỳ,  nhưng sự việc là quân đội họ càng giết thêm người Việt nam, và họ càng đưa nhiều quân vào Việt nam, th́ càng chắc chắn rằng họ hủy hoại điều họ đang cố gắng xây dựng."

            Dĩ nhiên sự đối lập với nổ lực chiến tranh của Hoa kỳ không phải là toàn bộ việc làm của Phật giáo, điểm đặc biệt là họ không đứng về phía nào, cả miền Bắc và miền Nam, cả Cộng sản và Tư bản.

            Ḷng ước mong chấm dứt sự thống khổ của những người không có quyền lực là động cơ sâu xa nhất của những nhà phản chiến Phật giáo. V́ cả hai phe Mặt trận giải phóng và chính phủ dựa Hoa kỳ ở Sài g̣n đều theo đuổi chiến tranh, Phật tử không đứng về phía nào, nhưng đứng về phía những nạn nhân cùng chia xẻ với họ: quần chúng Việt nam.

            Vào tháng Giêng 1965, khi Hoa kỳ thông qua ngân sách để nâng quân số miền Nam Việt nam từ 560,000 đến 660,000 người, th́ sự chống đói của Phật giáo và sinh viên cũng bùng nổ. Những cuộc biểu t́nh khổng lồ xảy ra ở Sài g̣n, Đà lạt, Nha trang, Huế và Đà nẳng. Những người biểu t́nh chống Hoa kỳ cũng như chống chiến tranh và tấn công vào những cơ quan truỳền thông Hoa kỳ ở Sài g̣n và Huế.

            Trước t́nh h́nh đó, các nhà phân tích cơ quan t́nh báo Hoa kỳ tuyên bố rằng Phật tử đă "có đủ sức mạnh làm tê liệt những sắp xếp chính trị mà những nhà lănh đạo của họ muốn chống lại."  Đại sứ Taylor tuyên bố rằng tín đồ Phật giáo "ở trong vị thế mà uy tín và ảnh hưởng ngày càng gia tăng trong nước," họ có thể "tạo ra một bầu không khí có tính dẫn truyền cho những áp lực về một sự dàn xếp hoà b́nh." Vào đàu năm 1965, sự yếu đuối của quân lực, sự phân hóa chính trị ở Nam Việt nam, và sự lớn mạnh nhanh chóng của phong trào Phật giáo cộng lại làm cho giới lănh đạo Hoa kỳ nghĩ rằng một chính phủ trung lập ở Nam Việt nam đă hiện hữu. Khánh, cáu kỉnh với vai tṛ của Mỹ ở Việt nam, thỏa thuận với giới lănh đạo Phật giáo hạ bệ thủ tướng mà họ chống đối kịch liệt về việc quá lệ thuộc vào Hoa kỳ. Ông cũng bắt đầu bí mất nói chuyện với Mặt trận giải phóng. Điều nầy tỏ ra quá đáng đôi với các viên chức Hoa kỳ và một số tướng lănh Việt nam, và Khánh bị hạ bệ sau đó không lâu.

            Chiến tranh ngày càng gia tăng và thêm nhiều toán quân Hoa kỳ vào Việt nam, nhiều người thường dân ở Nam Việt nam bị giết chết trong nỗ lực làm giảm Cộng sản. Một người thuộc phe diều hâu trong quốc hội Hoa kỳ nói trong đầu năm 1966: "trung b́nh hai người thường dân bị giết cho một người Việt cộng, và ... trong những chiến dịch truy t́m Việt cộng gần đây, tỷ lệ là sáu người thường dân cho một đîch quân."  Điều nầy dẫn đến hậu quả một số lượng khổng lồ người dân tỵ nạn ở Nam Việt nam và, như Nhất hạnh nêu ra, sự tiếp tục mạnh lên của tinh thần phản chiến, do người tín đồ Phật giáo khơi dậy.

            Không muốn trực tiếp đối diện với Hoa kỳ và bị cấm đề cập đến vấn đề trung lập hay những phương pháp ḥa giải, giới lănh đạo Phật giáo nhắm vào tinh thần chống chiến tranh trong việc đ̣i ḥi bầu cử. Chính phủ Sài g̣n bị áp lực của quần chúng hứa tổ chức bầu cử, nhưng một cách mơ hồ và không xác định. Tín đồ Phật giáo tiếp tục đ̣i hỏi. Tuy nhiên việc bầu cử bị Hoa kỳ chống đối mạnh, họ nghĩ rằng "nếu một hội đồng được bầu cử lên nắm chính quyền ở Sài g̣n, họ sẽ điều đ́nh với Hà nội qua điện thoại trong ṿng một tuần lễ."

            Vào giữa tháng Ba, ở Đà nẳng, Huế, Sài g̣n, những cuộc biểu t́nh lớn của quần chúng diễn ra yêu cầu chính phủ quân sự từ nhiệm và cho tổ chức bầu cử. Quân đội Nam Việt nam ở phía Bắc (nhất là những khu vực Đà nẳng và Huế) tỏ ra rất nhiệt tâm với những yêu sách nấy. Tướng lănh các nơi nấy từ chối không đem quân đội chống đàn áp phong trào theo lịnh của chính phủ Sài g̣n. Để hoăn binh, chính phủ Sài g̣n húa một số cam kết với các lănh tụ Phật giáo Thích Trí Quang và Thích Tâm Châu, nhưng về sau họ không giữ lời hứa. Những cuộc biểu t́nh lại bùng lên ở Huế và Sài g̣n. Những cuộc biểu t́nh ở Sài g̣n được các vị lănh đạo trong cộng đ̣ng Thiên chúa giáo Nam Việt nam tham gia. Phong trào nói lên tinh thần sự bài Mỹ.

            Cuối cùng chính phủ Sài g̣n không c̣n kiểm soát được khu vực phía Bắc miền Nam Việt nam. Đến ngày 2 tháng Tư, tổng thống Johnson được báo cáo rằng ở Huế và Đà nẳng, "cảnh sát, nhân viên hành chánh, và nhiều đơn vị thuộc Sư đoàn Một hoàn toàn đứng về phe tranh đấu" và "chủ đề bài Mỹ càng ngày càng lan rộng." Với sự thúc giục, kế hoạch và sự hậu thuẩn của Hoa kỳ, chính quyền Sài g̣n mang quân đội do tướng Kỳ đích thân chỉ huy ra Đà nẳng để đàn áp phong trào phản kháng, xử dụng một căn cứ của Hoa kỳ làm bàn đạp. Tuy nhiên, một sĩ quan địa phương là tướng Nguyễn Văn Chuẩn, không cho phép quân đội Sài g̣n rời căn cứ. Một vị tướng khác chỉ huy địa phận Huế cũng tuyên bố chiến đấu. Kỳ buộc phải rút lui. Một cách công khai, Kỳ cam kết những nhượng bộ trước tín đồ Phật giáo, và hứa rút quân ra khỏi Đà nẳng. Kỳ hứa sẽ tiến hành bầu cứ quốc hội trong ṿng từ ba đến năm tháng, quân đội sẽ rút lui ngay sau khi bầu cử và tiến hành một giải pháp chính trị. Trên căn bản những hứa hẹn nầy, mà họ biết rằng đại sứ Lodge tán thành, Trí Quang và các nhà lănh đạo Phật giáo khác kêu gọi ngưng các cuộc biểu t́nh.

            Sau thời gian yên tĩnh được vài tuần, chính phủ Sài g̣n chuẩn bị tấn công. Vào đầu tháng Năm, Kỳ tuyên bố rằng chính phủ sẽ không thi hành hầu hết các điều đă hứa với tín đồ Phật giáo. Vào ngày 15 tháng Năm, quân đội khởi sự nhảy dù xuống Đà nẳng. Sử dụng vũ khí, chiến xa Hoa kỳ, cũng như  các căn cứ quân sự Hoa kỳ,  chuyển quân trong lúc các lực lưộng quân đội địa phương ủng hộ phong trào tranh đấu bị dụ rời xa, chính quyền Sài gỏn tiến hành dập tắt đối lập. Hàng ngàn gia đ́nh Phật tử mang bàn thờ đặt trên đường phố để ngăn chận chiến xa. Sau hai ngày "chiến đấu chua cay... quân đội của Kỳ đă chiếm được những đồn lũy của Phong trào Tranh đău, trong đó có một ngôi chùa. 700 quân địa phương ủng hộ Phong trào đău tranh đàu hàng, cùng với các tăng ni, đoàn sinh gia d́nh Phật tử, sinh viên Phật tử và nhiều thường dân." Sau những biến cố nầy, Thích Nhất Hạnh may mắn thoát khỏi một vụ ám sát, và rời Việt nam vào ngày 22 tháng Năm theo lời mời của Hội nghị Hoà hợp (Fellowship of Reconsiliation) để một đại diện cho Phật giáo trước nhân dân Hoa kỳ.

            Ở Việt nam, Kỳ quay vào tấn công tín đồ Phật giáo ở Sài g̣n, xử dụng dùi cui và hơi cay để đẩy khoảng hai ngàn tăng, ni và nhiều thường dân vào một ngôi chùa, bắt giữ khoảng hai mươi lănh tụ Thanh niên và nhiều lănh tụ công nhân. Khi các sinh viên ủng hộ Phong trào Tranh đău ở Huế đốt ṭa lănh sự Hoa kỳ và và thư viện UCIS ở đây, Kỳ quay trở ra Huế. Vào ngày 19 tháng Sáu, quân đội của Kỳ kiểm soát toàn bộ địa phận Huế, sau đó bắt giữ Thích Trí Quang và hàng trăm tu sĩ, sinh viên, học sinh Phật tử khác. Trí Quang được thả về không lâu sau đó, nhưng nhiều tu sỉ vẫn c̣n ở tù cho đến chín năm sau khi chính phủ Sài g̣n sụp đổ. Không lâu sau đó, cuộc đàn áp phong trào Phật giáo tại Sài g̣n hoàn tất. Vào ngày 25 tháng Sáu, đại sứ Henry Cabot Lodge khen ngợi chính phủ của Kỳ về việc dập tắt Phong trào Tranh đấu, cho đo là "một chiến thắng chính trị vững chắc."

            Đến đây chấm dứt những cuộc tranh đấu của phong trào Phật giáo chống lại chính phủ Nam Việt nam và Hoa kỳ. Mặc dù những cuộc tranh đấu và chống đói của Phật giáo vẫn được đa số quần chúng ủng hộ và nhiều cuộc vận động ḥa b́nh thành công, phong trào đă không c̣n đủ sức lật đổ chính quyền hay thay đổi chiều hướng cuộc chiến. Hai lư do chính là: thứ nhứt, chính phủ Thiệu-Kỳ đi theo sát chính sách của Hoa kỳ và do đó được Hoa kỳ giúp đỡ; thứ hai: phong trào Phật giáo bị chính phủ Sài g̣n đàn áp gắt gao từ tháng Năm năm 1966 cho đến khi chấm dứt chiến tranh. Những tài liệu Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất có được vào năm 1968 cho thấy rằng trong 1,870 tù nhân bị giam trong khám Chí Hoà, 1,665 người trong danh sách được thống kê hàng ngày là tín đồ Phật giáo, năm mươi người c̣n lại là Cộng sản.

 

Copyright ©2005 FITEC & SearchVN. All rights reserved.