TIN NHÂN  QUẢ - TẠO PHƯỚC ĐỨC -  SỐNG CHÂN THƯỜNG

 ĐẠO TRÀNG TÂY TẠNG                                                                                                              TRỞ VỀ

Google

 

AI TRI ÂM ĐÓ MẶN MÀ VỚI AI

            Thiền là Bát Nhă. Và Bát Nhă là giải thoát. Đạo Phật, dầu nh́n ở mức độ nào hay khía cạnh nào cũng phải có căn bản là giải thoát. Phật là người giải thoát khỏi tam giới. Tổ Bồ Đề Đạt Ma, nếu không vác cây gậy trên vai đi qua biển sanh tử mà không ướt gót chân th́ đă không được gọi là Tổ Sư Thứ Nhất của Thiền Đông Độ.

Biết mọi pháp thế gian đều là Phật Pháp, nhưng nếu có một pháp nào không từ gốc vô trụ, th́ pháp đó là phi pháp, là pháp phạm giới. Kinh Duy Ma Cật, phẩm Quán Chúng Sanh dạy: “Tùng vô trụ bổn, lập nhất thiết pháp.”

Cho nên giải thoát là giới hạnh của một vị Thầy. Giới của một Thiền Sư, không phải là những bó buộc, câu thúc trong một loại h́nh đời sống vật chất nào đó. Không thể dùng giới luật theo nghĩa thế tục là những bó buộc câu thúc để áp dụng cho một người đă giải thoát. Đă giải thoát sao c̣n phải bó buộc vào những h́nh tướng không giải thoát? Đối với người giải thoát, giới luật của vị ấy chính là sự giải thoát. Đối với người thật sự tự do, th́ giới luật của họ chính là niềm tự do vô thượng đó. 

*   *   * 

Nhóm “Thất Tử” chúng tôi, kẻ th́ ở xa, người ở gần th́ lại mới được yêu cầu đóng góp một bài viết về Thầy Tịch Chiếu Thiền Sư. Bảy người chúng tôi thế nào cũng phải có một cái ǵ, dù nhỏ nhoi, để có mặt trong tập san, để gọi là nhớ ơn Thầy. Kẻ viết bài nầy phải đành liều đại diện cho đàn anh, v́ hắn nhỏ tuổi nhất mà cũng ít gần Thầy hơn hết. Với thời gian quá gấp rút, người viết chỉ giới hạn vào một nét của Thầy, đó là tính cách giải thoát của Thầy, mà Thầy th́ biết bao nhiêu là tính cách, như ngọc ma ni đủ vạn màu, Hồ đến hiện Hồ, Hán đến hiện Hán. Những điều nói ra đây của người viết chỉ là v́ ngại ḿnh yếu sức không thể đại diện đàn anh, kẻ tại gia không thể đại diện cho người xuất gia, và cũng sợ những thiếu sót không nêu lên được những tính cách và trạng huống nổi bậc trong hành trạng giải thoát của Thầy. Và nếu nhớ ơn Thầy bằng một bài viết nhỏ th́ lại là người phản bội. Ôi, phải chăng dám mạnh dạn đảm đương trách nhiệm và bổn phận là một tính cách giải thoát mà người viết học được ở Thầy?

Nói đến chuyện trả ơn, từ lâu anh em chúng tôi đă quan niệm rằng, nếu Thầy đă cho chúng ta đường đi và sự sống trên đường đạo, th́ chúng tôi cũng trả lại cho cuộc sống gồm những ai đó, đường đi và sự sống đă tạo ra con người ḿnh. Ánh sáng th́ không cần ai trả ơn, nhưng ta có thể trả ơn ánh sáng bằng cách tự thắp lên ánh sáng ở nơi ḿnh, và từ ngọn đèn tự tâm ấy, thắp lên ánh sáng ở những người khác. Đó là nghĩa Vô Tận Đăng trong Kinh Duy Ma Cật.

Khi giới hạn bài viết trong vài câu chuyện nhỏ biểu lộ tính cách giải thoát của Thầy, tôi chỉ xin nói trong quan hệ giữa Thầy và đệ tử, c̣n những mối quan hệ khác th́ xin không đề cập đến v́ không biết ǵ.

Tính cách giải thoát là ḥn đá thử vàng trong Đạo Phật. Dựa vào mức độ giải thoát, có thể hiểu được mức độ tu chứng của một người tu Đạo. Mà giải thoát là giải thoát khỏi bốn tướng: ngă, nhân, chúng sinh và thọ mạng. Cho nên khi muốn hiểu Thầy, không nên xem ở h́nh tướng ăn uống, y phục… mà nên xem ông đă giải thoát khỏi cái tướng ta, tướng người, tướng chúng sanh, và tướng thọ mạng hay chưa?

Lần đầu lên chùa, tối đó nơi nhà khách, trong ánh đèn dầu lù mù, Thầy dạy: “Ḿnh đi đụng đầu vào mấy cây cột rồi ḿnh giận, đập cây cột. Đâu phải lỗi cây cột!” Mỗi thái độ phiền năo ở đời là do ḿnh. Do tâm thức ḿnh tạo ra tướng ta, người, chúng sinh, thọ mạng. Bốn tướng ấy xung đột nhau, nghĩa là ḿnh tự khởi dấy nó lên: đây là ta, kia là người… Xung đột, mâu thuẫn, gây ra đau khổ triền miên. Nên đau khổ cũng chính là sự mắc kẹt vào các xung đột, mâu thuẫn. Giải thoát là giải thoát khỏi những hư vọng do chính ḿnh tạo ra. Bởi thế, Thầy thường nói: “Ai trói buộc ông?”

Có lần Thầy nói: “Cái không của ông chỉ bằng cái chén, c̣n cái không chân thật th́ bao gồm núi, sông, trời, đất. Hay là ông sợ cái không ấy mà không dám giải thoát?”

Sự giải thoát của Thầy là sự giải thoát của Trí Tuệ Bát Nhă: Tất cả là Không. Từ đó là sự vô trụ đối với tất cả: gia đ́nh, đệ tử, chùa chiền, và cả Đạo nữa. Tất cả các pháp là không, nên không nắm giữ, không buông bỏ, không tạo tác, không t́m cầu, không tăng, không giảm. Cái Không chân thể ấy ḿnh không “quán” được, không tạo ra nó được, không làm sạch, bôi dơ nó được. Khi tôi cố gắng đêm đêm ngồi thiền, Thầy bảo: “Tại sao lại phải tạo lập một bầu trời trong bầu trời?”

Toàn tướng vốn không, vậy t́m cầu, thêm bớt, nắm bắt làm ǵ? Dụng công để đạt Đạo là tṛ ngồi đợi hoa đốm ở không trung biến thành trái chín!

Lúc mới về chùa, Thầy dạy tôi giải câu: “Đương thể không tịch.” Phải gần một năm tôi mới thưa vơí Thầy: “Trong tánh không tịch, chỉ có tự tánh tự chiếu, không có tướng ta, tướng người, tướng chúng sanh, tướng cảnh giới.” Tôi biết tu từ đó.

Nhớ lại lời Thầy kể chuyện Sư Ông trong một kỳ thi ở Tây Tạng, có vị sư dự thi được gọi lên, giám khảo đưa ra một cái chén ngọc, vị sư đưa tay cầm, vị giám khảo thả rơi cái chén bể tan tành.

Thể của Đạo Phật là Không, tu trong Đạo Phật là Nhẫn. Trong Kinh Nhân Vương Hộ Quốc Bát Nhă Ba La Mật Đa, Bồ Tát đạt đến Tánh Không bằng 13 cấp bậc Nhẫn, từ Tam Hiền đến Thập Địa đều ở trong Nhẫn mà hành. V́ Vô Sanh mà Nhẫn, v́ Nhẫn nên Vô Sanh. Đó là Đệ Bát Địa Bồ Tát Vô Sanh Pháp Nhẫn.

Nếu không Nhẫn, Thầy làm sao sống được giữa cơi ác thế? Không thấu suốt Tánh Không làm sao thản nhiên trước mọi dư luận? Nếu không ở trong Vô Trụ, làm sao Thầy có thể lập nên các pháp điên đảo mà không ra ngoài Phật Pháp? Chỉ có người thấu đạt Tánh Không mới “nhậm vận thịnh suy vô bố úy”, ở giữa thăng trầm mà vẫn thản nhiên. Có lần Thầy nói với một đệ tử: “Ông thích làm thầy lắm, nhưng ai ra trước là thầy, chứ thầy bà ǵ. Mọi danh tướng chỉ là hoa đốm. Đại dương là đại dương không cần gọi tên là sóng hay nước.”

Biết tôi thích ngôi nơi cửa sổ nh́n ra hàng trúc, có chiều Thầy đem cái quần rách phơi che tầm nh́n, rồi cười cười đi vào. Đă là không th́ có ǵ là dơ sạch, đẹp xấu… Thậm chí làm ǵ có sanh có diệt.

Ngày xưa Sư Ông bảo Thầy trồng cây mít. Khi cây lớn lên, Sư Ông bảo chặt nó đi. Thấy có tướng là có vướng mắc, có sanh tử luân  hồi. Không tướng th́ giải thoát.

Có lần một đệ tử hỏi Thầy “Sao Thầy cứ hắc hủi hai thằng ấy để nó bỏ đi hoài vậy?” Thầy bảo Thầy đạo tạo đệ tử để lợi ích cho đời, chứ có nhằm ǵ đến Thầy đâu. Thầy chẳng hề mong chờ ở đệ tử điều ǵ cả.

Khi có người hỏi Thầy: “Tại sao Thầy để anh ấy ra đi mặc dù Thầy đă nói anh ấy là một đệ tử có thể nối Pháp?” Thầy bảo: “Thầy như người đi đường, không nhớ tới ai, ai hỏi thăm th́ trả lời, xong rồi th́ thôi.”

Có lần một vị Sư hỏi: ‘Thầy dụng công như thế nào? Khi nào tụng Kinh, khi nào ngủ?” Thầy đáp: “Tôi ngủ cả ngày. Tụng Kinh cũng ngủ, ăn cũng ngủ, đi cũng ngủ, ngồi cũng ngủ, ngủ cũng ngủ.”  Ôi Na già, định vô phân biệt. B́nh thường tâm là Đạo! Thật ra với Thầy th́ đóng được, mở được. Trải ra được, thâu lại được. Như thế mới tự tại. Như thế mới Bát Nhă. “Ai hay không có có không thế nào!”

Có một vị Sư hỏi Thầy “Bây giờ là thời mạt pháp …” Thầy bảo “Pháp mạt hồi nào?” Chỉ người thấu đạt Pháp mới không thấy tăng giảm, dơ sạch… Đệ tử ca ngợi Thầy như nước đổ lá môn, đệ tử ghét giận Thầy như trồng hoa trên đá. Trơn như hư không, cứng như kim cương, như thế là vô tâm chăng?

Có lần tôi hỏi “Tre xanh đâu chẳng phải là Pháp Thân, hoa vàng đâu chẳng phải là Bát Nhă, là thế nào?” Thầy cầm một cộng lông lên thổi phù. Nào Tánh, nào Tướng, tào lao hết!

Những khi Thầy đi một ḿnh trên con đường từ rẫy về chùa, khuôn mặt Thầy là nỗi hân hoan của trời đất, là vẻ xanh tươi của cây cỏ bốn mùa… Thầy nói: “Người thấy Tánh th́ nh́n một chiếc lá rụng cũng thấy vui tràn bờ.” Có những lúc Thầy ngồi một ḿnh trong vườn, không quá khứ, không hiện tại, không tương lai, vô niệm, vô tướng, vô trụ … như Bát Nhă, đích thực là Bát Nhă vậy.

Một người bạn có lần hỏi Thầy về một đoạn kể trong Pháp Bảo Đàn Kinh, sau khi trả lời xong, Thầy đưa hai tay lên trời nói: “Có ǵ đâu!” Nh́n Thầy trong tư thế ấy, quần cụt, ở trần, bên hàng rào dây thép gai, hai tay đưa lên khoảng không, đầu nghiêng nghiêng, lắc lắc, mới thấy được h́nh ảnh của Bát Nhă là ǵ.

Đó là một vài sự kiện mà tôi có thể nói được về Thầy. Người đọc có thể suy nghĩ: gần gũi Thầy trên 10 năm mà chỉ có thế thôi sao? Thưa bạn, có những điều về Thầy mà không thể nói được. Tốt nhất là mỗi người tự tiếp xúc với Thầy và tự ḿnh t́m hiểu lấy. Bởi v́ Đạo học là cái ǵ của riêng ḿnh, chân thật nhất của ḿnh.

Thầy chưa hề đặt chiếc dép lên đầu mà đi ra cửa như Tổ Triệu Châu. Nhưng trong từng cử chỉ của Thầy trong đời sống hàng ngày, không cử động nào mà không phải là Bát Nhă, không sự việc nào mà chẳng vô sanh.

Thầy thường nói với tôi là Thầy rất thích kinh Viên Giác. Yếu chỉ của Viên Giác là: Tri huyễn tức ly, ly huyễn tức giác. Và khi tôi nói thích câu: “Huyễn nhân tác vi, bổn nhi vô tác” th́ Thầy cũng thích lắm. Có phải rằng khi chơi đùa mà không biết tṛ đùa là ǵ th́ vào địa ngục nhanh như tên bắn. Khi vọc lửa mà không biết tánh lửa là ǵ th́ thế nào cũng bỏng tay!

Thầy, một nông dân suốt đời cày ruộng bằng chiếc cày không lưỡi. Sáng sáng chiều chiều vác cái cuốc không cán qua rẫy múa may. Con nuôi, con thật đầy đàn mà cứ vặt lông rùa đem về buôn bán sinh nhai. Ai có hỏi điều ǵ th́ đem lông rùa ra mà thổi. Ai có hỏi pháp yếu th́ dựng đứng cây chổi lên trời lặng im không nói. Ai có hỏi con đường ngàn thánh không truyền th́ cầm cây gậy vạch vạch lên không trung. Ngồi nói chuyện với ai th́ tay cầm cây gơ, gơ bàn, gơ ly, gơ chén … Nghe chăng? Không nghe chăng?  Dẫu làm những tṛ quỷ thuật như thế mà chẳng che dấu được con cháu. Dẫu Thầy có phủi tay, ta không có một pháp để dạy người th́ vạn tượng đă rành rành, không thể che dấu. Cho nên dù có bày tṛ ma mị đến đâu th́ linh cốt xá lợi vốn đă nằm nơi từng thước cây, tấc đất. Dẫu không nói một lời nào th́ lưỡi đă tuột ra ngoài khe suối, ngọn cây.

Ôi! Có Tịch mà không Chiếu th́ khô định mgoại đạo.

Có Chiếu mà không Tịch th́ loạn hụê phàm phu.

Vừa Tịch vừa Chiếu là lời của đứa con nít vo ve học đ̣i định huệ song tu.

Không Tịch không Chiếu là cảnh giới vô gián địa ngục.

Vậy th́ Thầy ở đâu??

-          Đế quán pháp vương pháp. Pháp vương pháp như thị.

-          Rành rành trăm ngọn cỏ, rành rành ư Tổ sư!

T́m Tây Tạng ở đâu??

-          Hăy kiếm Tạng ở miền Nam Cực.

Bây giờ và ngàn sau nữa t́m Thầy ở đâu??

-          Hăy t́m Thầy ở nơi chốn mà Tổ Triệu Châu đă chỉ:

Nơi nào có Phật hăy đi qua, nơi nào có Phật đừng đứng lại. 

*    *    * 

Một lần lang thang trên phố Đà Nẳng, tôi thỉnh được một pho tượng nhỏ Đức Di Lặc bằng đá màu hồng, tôi đem về tặng Thầy. Thầy đặt tượng trên bàn Tổ.

Hồi đó, tôi không biết tại sao tôi thích tượng Di Lặc và tại sao Thầy lại quí nó và đặc vào một chỗ riêng như thế. Bây giờ đă 10 năm qua, tôi đă hiểu hơn. Tôi và Thầy đều thích tượng đó như một lời hẹn ḥ thầm lặng. Kính mến Đức Di Lạc tức là kính mến tương lai.

Đứng trên căn bản trí vô phân biệt th́ quá khứ, hiện tại, tương lai đều bất khả đắc. Nhưng trong căn bản trí có hậu đắc trí hay sai biệt trí. Và với hậu đắc trí th́ quá khứ, hiện tại, tương lai đều có ư nghĩa riêng của nó. Nếu tương lai có ư nghĩa th́ bổn phận của chúng ta là t́m ra ư nghĩa đó và sống với ư nghĩa đó. Tương lai không phải của riêng ḿnh mà là của thời đại và dân tộc ḿnh.

Với quá khứ Tây Tạng là Sư Ông, hiện tại là Thầy, tất cả chúng ta hân hoan xác tín sự rực rỡ của tương lai.

Nam mô Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật.

Nguyễn Thế Đăng

(Minh Diệu)

 

Copyright ©2005 FITEC & SearchVN. All rights reserved.