TIN NHÂN  QUẢ - TẠO PHƯỚC ĐỨC -  SỐNG CHÂN THƯỜNG

 ĐẠO TRÀNG TÂY TẠNG                                                                                                              TRỞ VỀ

Google

 KINH

THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG

 Người dịch :

THUBTEN OSALL LAMA - NHẪN TẾ THIỀN SƯ

 

PHẦN THỨ NHẤT : PHẦN TỰA

DUYÊN KHỞI CỦA

KINH LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG

Đề tựa : Núi Nam Nhạc, Quan Trương Kim Giản tên là Tăng Phụng Nghi, Thuấn Trưng Phụ.

Xưa, Ngài Thiên Thai Trí Giả theo học Đạo thiền sư Huệ Tư ở núi Nam Nhạc, đắc Pháp Hoa Tam Muội, thấy được pháp hội Linh Sơn nghiễm nhiên chưa tan. Từ đó xem Kinh, Luật hoát nhiên thông suốt. Đến khi Ngài giải thích ư nghĩa sáu Căn trong sạch trong kinh Pháp Hoa th́ trầm ngâm rất lâu. Có một vị tăng người Ấn nói với Ngài : “Chỉ có kinh Thủ Lăng Nghiêm là nói rơ ràng công đức của sáu Căn, đủ để y chứng”. Từ đó, Ngài Trí Giả khao khát ngưỡng mộ. Suốt mười sáu năm, mỗi sáng tối hướng về phương Tây lễ bái. Ở phía trái chùa Thiên Thai ở núi Nam Nhạc vẫn c̣n Đài Kinh. Sau Ngài hơn một trăm năm, kinh Lăng Nghiêm mới vào Trung Quốc. Kinh do Tể Tướng Pḥng Dung ghi chép, văn tự tao nhă, bởi thế các bậc học sĩ đại phu đều tụng kinh này. Tôi từng ba lần đến Bái Kinh Đài, lần nào cũng bồi hồi chẳng muốn về, thầm than : “Người xưa ngưỡng mộ kinh này hơn mười mấy năm mà chẳng được thấy. Nay Lăng Nghiêm bày đầy th́ người ta lại chẳng hề xem ! Tại sao thế ?”. Nhơn đó, tôi bèn phát tâm viết bộ Lăng Nghiêm lên đá, thuê thợ chạm rồi xếp thành một ṭa thạch thất, khiến người đến viếng Bái Kinh Đài sẽ đọc được mà đều nói : Kinh đă đến đây rồi ! Như là v́ Ngài Trí Giả mà bổ sung cho một sự thiếu sót. Vừa cầm bút định viết, chợt nghĩ : chỗ ta viết đây là chữ, chẳng phải là nghĩa vậy ! Ngài Trí Giả mong bộ Kinh này đến đây là mong người người hiểu nghĩa của Kinh. Như Ngài Huyền Sa Sư Bị, nhân đọc Lăng Nghiêm mà phát minh tâm yếu, đó là thâm nhập vào nghĩa vậy. Cho đến thiền sư Linh Nham An, Trường Thủy Tuyền, Trúc Am Khuê, Hoàng Long Nam, Thiệu Long An Dân... đều do Lăng Nghiêm mà ngộ. Như vậy là các Ngài đă không cô phụ sự truyền sang của bộ kinh này. Nếu theo văn mà giải nghĩa, chú thích câu chữ, đến mấy mươi nhà mà nghĩa kinh càng ngày càng xa, đó là lỗi lầm do chẳng cầu ở tâm ḿnh. Nếu tỏ ngộ tự tâm, th́ tuy là kinh này chưa đến, mà chỗ y giáo lập nghĩa của Ngài Trí Giả, mỗi mỗi đều hợp với Lăng Nghiêm. Không ngộ được tự tâm, tuy là có kinh Lăng Nghiêm trước mặt, th́ cũng như kinh ở tại Ấn vậy. Tức là kinh điển đầy nhà mà nào có ích ! Việc nhà của các thiền sư là quét sạch văn tự kiến giải cho là chẳng đủ để sùng thượng, thật có lư lắm thay ! Nhưng khi tiếp dẫn hàng sơ cơ, xuất lời thổ khí, lời lẽ ư tứ thật tợ Lăng Nghiêm. Cho đến sự phát minh hướng thượng, chứng nhập Bồ Đề, th́ cùng với hai mươi lăm chỗ chứng viên thông, cơ duyên không khác. Tức là chẳng tụng Lăng Nghiêm, mà Lăng Nghiêm đă sẵn đủ hiện giờ. Tức là Lăng Nghiêm chưa đến cơi này, mà cơi này chẳng phải là chưa có Lăng Nghiêm.

Tôi chẳng biết tự lượng sức, góp khắp lời của Tông Môn, phối hợp vào kinh văn. Hoặc để thầm hợp, hoặc để cùng thấy, hoặc suy rộng ư kinh, hoặc bày tỏ chỗ chưa bày tỏ. Tôi cũng không ngờ ḿnh làm nổi. Trong khoảng trời đất làm sao có được thứ nghị luận này. Âu cũng do túc nguyện nhiều đời vậy.

Đây là tôi nhờ các vị Lăo Túc để làm rơ nghĩa kinh chứ chẳng phải tự do tôi, và lấy Thiền Tông để soi sáng kinh chớ chẳng phải lấy văn tự kiến giải mà giảng. Bèn đặt tên là Tông Thông(). Tông Thông cùng với Thuyết Thông. Phải tự đắc Bản Tâm th́ mới cùng với các bậc Lăo Túc mặc áo gặp nhau. Chẳng những một hội Lăng Nghiêm nghiễm nhiên chưa tan, mà Ngài Trí Giả đến nay cũng vẫn c̣n đó.

Bài văn tán ngợi rằng :

Sáu vạn ba ngàn lời mười trang

Giáo, Hạnh, Lư; Không, Giả, Trung quán

Viên thông Hoa tạng Tín Hạnh giải

Chứng rồi Định Huệ xứ Niết Bàn

Phá Vọng hiển Chân, Chân Nhất thật

Phản văn nung Ấm, Ấm tiêu tan

Tội lỗi vô minh mười phương ngục

Tội ấy băng tiêu, tọa Phật tràng.

Nam mô Lăng Nghiêm Hội Thượng Chư Phật, Chư Đại Bồ Tát, Chư Thánh Hiền Tăng.

 

 

QUYỂN I

ĐẠI PHẬT ĐẢNH, NHƯ LAI MẬT NHÂN, TU CHỨNG LIỄU NGHĨA, CHƯ BỒ TÁT VẠN HẠNH, KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG.

Đời Đường, Ngài Bát Lạt Mật Đế, sa môn xứ Thiên Trúc, dịch; Ngài Di Già Thích Ca, Sa môn xứ Ô Trường, dịch ngữ. Trần Chánh Nghị Đại Phu Pḥng Dung, Bồ Tát Giới đệ tử chép.

Đời Minh, Bồ Tát Giới đệ tử Tiền Phụng Huấn Đại Phu, Lễ Bộ Từ Tế Thanh Sử Tư Viên Ngoại Lang, Nam Nhạc Tăng Phụng Nghi, Tông Thông.

Thông rằng : Kinh này tại sao lại đặt tên là “Đại Phật Đảnh, Như Lai Mật Nhân, Tu Chứng Liễu Nghĩa, Chư Bồ Tát Vạn Hạnh, Thủ Lăng Nghiêm” ? Kinh chép : “Khi ấy, Đức Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử từ trong đại chúng, rời khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ chân Phật mà thưa rằng : “Phải gọi kinh này tên ǵ ? Tôi cùng với chúng sanh làm thế nào phụng tŕ ?”

Phật dạy Ngài Văn Thù Sư Lợi rằng : “Kinh này tên Đại Phật Đảnh, Tát Đát Đa Bát Đát Ra (Bạch Tán Cái), ấn báu vô thượng, Hải Nhăn trong sạch của mười phương Như Lai. Cũng gọi là cứu hộ người thân, độ thoát A Nan, và Tánh Tỳ kheo ni ở trong hội này, đắc tâm Bồ Đề, bước vào biển Biến Trí. Cũng gọi là “Như Lai Mật Nhân, Tu Chứng Liễu Nghĩa”. Cũng gọi là “Đại Phương Quảng, Diệu Liên Hoa Vương, Thập Phương Phật Mẫu Đà La Ni chú”. Cũng gọi là “Quán Đảnh Chương Cú, Chư Bồ Tát Vạn Hạnh, Thủ Lăng Nghiêm”. Ông nên thọ tŕ”.

Đoạn kinh trên gồm nhiều nghĩa, chỉ cần ba chữ “Đại Phật Đảnh” là bao gồm hết. Bởi v́ Phật Đảnh thần chú, tức là mười phương Phật Mẫu Đà La Ni chú, tức là Quán Đảnh Chương Cú, tức là độ thoát Anan và Tỳ kheo ni Tánh, do đó khỏi lập lại. Chú này là “Ma Ha Tát Đát Đa Bát Đát Ra”, dịch là “Đại Bạch Tán Cái”, là cái Lọng Trắng Lớn Che Trùm. Ṛng trắng phau trong sạch, trùm che hết thảy, nên gọi là lớn. Đại Phật Đảnh thần chú này, chẳng thể nghĩ bàn, mới gọi là Nhân Địa Bí Mật() của Như Lai, cái Liễu Nghĩa của Tu Chứng. Vạn Hạnh của Bồ Tát do đây mà sẵn đủ, nên cả thảy rốt ráo bền chắc vậy. Pháp có thể Tiệm mà không thể Đốn, th́ không thể gọi là Đại. Có thể Đốn mà không thể Viên, th́ cũng không gọi là Đại (lớn) được. Nay nói là Mật, là Liễu, tức là đă gồm nghĩa Đốn. Nói là Tu Chứng, nói là Vạn Hạnh là ngầm nghĩa Viên. Duy cái pháp môn Viên Đốn() nầy, cùng với Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh và Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, không khác. Từ Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng cho đến Diệu Giác là đă bao gồm trong Hoa Nghiêm; c̣n Nhĩ Căn Viên Thông trọn cùng phẩm Phổ Môn tương ứng. Gồm đủ chỉ thú của hai bộ kinh trên, kinh Lăng Nghiêm thật rộng lớn biết bao !

Chưa ngộ, th́ chuyển Cái chẳng có Sanh Diệt thành ra Cái Sanh Diệt, tức chẳng phải Liễu Nghĩa. Ngộ rồi, th́ chuyển Cái Sanh Diệt thành ra Cái Chẳng Có Sanh Diệt, tức là nghĩa “Hết thảy rốt ráo kiên cố”. Cho nên, một đường đi lên(), không ngộ th́ không được. Thế th́ Chú và Ngộ liên quan thế nào, Ngộ và Chú quan hệ với nhau ra sao, mà đều cũng gọi là Đại Phật Đảnh ? Chú không thể nghĩ bàn, Ngộ cũng không thể nghĩ bàn. Chú tức là cảnh giới của Ngộ, Ngộ tức là cảnh giới của Chú. Đây là chỗ “Ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ tuyệt”, thấy do ĺa cái Thấy, th́ cái Thấy là siêu việt. Cho nên giữ cái Phật Đảnh, ĺa cái Tướng Thấy của ḿnh là vậy. Các ḍng giống của Phật Đảnh, một phen vượt lên nhập thẳng vào, đó là pháp môn cực tôn cực quư vậy. Hiệp Luận đặt tên là Tôn Đảnh v́ lẽ này.

Có vị tăng hỏi Ngài Hoàng Bá rằng : “Vô Biên Thân Bồ Tát() v́ sao chẳng thấy Đảnh Tướng của Như Lai ?”

Ngài Bá đáp : “Thật không thể thấy. V́ sao thế? Vô Biên Thân Bồ Tát tức là Như Lai, không thể trở lại thấy. Chỉ cần ông không tạo ra cái Phật Kiến th́ không rơi vào Phật Biên. Không tạo ra cái Thấy Chúng Sanh th́ không lạc vào giới hạn chúng sanh. Không gây ra cái Thấy Có th́ không lạc vào giới hạn của cái Có. Không tạo ra cái Thấy Không th́ không rơi vào giới hạn của cái Không. Không tạo ra cái Thấy của phàm phu th́ không rơi vào giới hạn của phàm phu. Không tạo ra cái Thấy của Thánh th́ không rơi vào giới hạn của Thánh. Chỉ Không tất cả mọi cái Thấy, tức là Vô Biên Thân. Nếu có chỗ Thấy, tức là ngoại đạo. Ngoại đạo th́ ham các cái Thấy. Bồ Tát nơi mọi cái Thấy mà chẳng động. Như Lai là nghĩa Như của tất cả các Pháp, nên nói “Di Lặc cũng là Như()”. Như tức là không có Sanh ra, Như tức là không có Diệt mất. Như tức là không có Thấy, Như tức là không có Nghe. Đảnh tức là Viên (tṛn), cũng không có cái thấy Viên, nên chẳng rơi vào biên giới của Viên. Bởi thế, thân Phật là Vô Vi, không rơi vào giới hạn. Tạm lấy Hư Không làm thí dụ. Tṛn đầy như Hư Không rộng lớn, không thiếu không dư. Hăy nhàn nhă vô sự, chớ gắng gượng biện biệt cảnh giới giác ngộ, biện biệt th́ thành Thức”.

Lại có vị tăng hỏi Tổ Bá Trượng : “Bồ Tát Vô Biên Thân không thấy Đảnh Tướng của Như Lai là v́ sao ?”

Tổ Trượng rằng : “V́ gây ra cái Thấy Hữu Biên, cái Thấy Vô Biên, nên chẳng thấy được Đảnh Tướng Như Lai. Chỉ như bây giờ đây trọn không có cả thảy cái Thấy Hữu Vô, cũng không phải là không có cái Thấy, th́ đó là thấy Đảnh Tướng”.

Xem hai vị tôn túc nói ra nghĩa Phật Đảnh, thật như viên ngọc tṛn lăn trên bàn. Nếu biết chỗ ấy mới cho là trên cửa Đảnh, có được con mắt lẻ(). Đă nói là Như Lai Mật Nhân, tức chẳng cậy mượn sự Tu Chứng. Lại nói Tu chứng liễu nghĩa() là để phân biệt với Chẳng có liễu nghĩa() vậy. Như Lai, ấy là nói về quả vậy. Kinh Kim Cang : “Nếu có người nói “Như Lai có đến, có đi, có ngồi, có nằm”, th́ người ấy chẳng hiểu nghĩa chỗ ta nói. V́ sao thế ? Như Lai là không từ chỗ nào đến, cũng không đi về đâu, nên gọi là Như Lai”. “Đến không từ chỗ nào, đi không về đâu”, quả là vật ǵ ? Thế mới gọi là Mật vậy. Phật Đảnh Thần Chú là Mật Ngữ của Như Lai, th́ hai cái Mật (Mật Ngữ và Như Lai) đó không phải là hai. Lấy cái Mật này làm Nhân, tức lấy cái Mật ấy đắc quả. Như đóa bông sen, nhân quả đồng thời sẵn đủ. Dùng cái này mà tu, th́ tu mà không tu. Dùng cái này để chứng, th́ chứng mà không chứng. Kinh nói “Nào mượn sự cực nhọc tu chứng”, đây tức là ư chỉ của Liễu Nghĩa. Nếu không được như thế là v́ chưa liễu ngộ vậy.

Xưa, Huệ Minh đuổi kịp Đức Lục Tổ để dành y bát.

Tổ dạy : “Ông đă v́ Pháp mà đến, hăy an dừng các duyên, không sanh một niệm, ta sẽ v́ ông mà nói”.

Ông Huệ Minh im lặng hồi lâu, Tổ nói : “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, ngay khi ấy, là Bản Lai Diện Mục() của Minh Thượng Tọa”.

Ông Huệ Minh nghe xong, đại ngộ.

Lại hỏi : “Ngoài lời mật, ư mật ấy, c̣n cái ư mật nào không ?”

Tổ đáp : “Đă nói cùng ông, tức chẳng phải Mật. Nếu ông soi trở lại, th́ Mật ở tại bên ông”.

Thầy Minh thưa : “Tôi mặc dầu ở Huỳnh Mai, mà thật chưa tỏ ngộ được mặt mũi của ḿnh. Nay nhờ ơn chỉ bày, như người uống nước, lạnh nóng tự biết. Nay hành giả tức là thầy của tôi vậy”.

Tổ dạy : “Ông đă như vậy, th́ nay tôi và ông cùng một thầy Huỳnh Mai. Hăy khéo tự hộ tŕ”.

Ngài Hoài Nhượng ban đầu ra mắt Đức Trung Sơn An thiền sư, hỏi : “Thế nào là ư Tổ Sư từ phương Tây() đến ?”

Tổ An nói : “Sao không hỏi cái ư của chính ông?”

Ngài bèn hỏi : “Thế nào là ư của chính ḿnh ?”

Tổ Sơn đáp : “Cần quán xét cái Mật Nhiệm tạo nên cái Dụng”.

Hỏi : “Như thế nào là cái Mật Nhiệm tạo nên cái Dụng ?”

Tổ Sơn dùng mắt mở, nhắm chỉ bày đó.

Sư Nhượng không lănh hội được. Tổ Sơn bèn bảo Ngài ra mắt Đức Lục Tổ.

Tổ hỏi : “Từ đâu đến ?”

Sư Nhượng đáp : “Tung Sơn”.

Tổ hỏi : “Vật ǵ đó ? Đến thế nào ?”

Sư chẳng đáp dược.

Trải qua tám năm, mới bạch với Tổ rằng : “Tôi đă có chỗ am hiểu”.

Tổ hỏi : “Như thế nào ?”

Ngài đáp : “Nói giống như một vật là chẳng trúng !”

Tổ hỏi : “Lại có thể tu chứng chăng ?”

Đáp rằng : “Tu chứng th́ chẳng phải là không, mà ô nhiễm th́ chẳng thể được”.

Tổ rằng : “Hay lắm ! Cái chẳng có ô nhiễm ấy, là chỗ hộ niệm của chư Phật. Ông đă y vậy, ta cũng y vậy”.

Như hai vị tôn túc ấy, khế hợp sâu xa cái Mật Ư, được Tu Chứng Liễu Nghĩa vậy.

Sau, có vị sư hỏi Tổ Bá Trượng : “Trước đến giờ, chư Tổ đều có Mật Ngữ trao truyền cho nhau là thế nào ?”

Tổ đáp : “Không có lời Mật. Như Lai không có Bí Mật Tạng. Chỉ như bây giờ soi tỏ ư nghĩa cho rơ ràng, t́m kiếm h́nh tướng, rơ là bất khả đắc, đó là Mật Ngữ. Từ bậc Tu Đà Hoàn (Nhập Lưu) trở lên cho đến Thập Địa, bất quá chỉ có Chữ và Lời (Ngữ Cú), c̣n là thuộc về pháp Trần Cấu hết thảy. Chỉ có lời nói, c̣n trọn cả đều nằm trong phiền năo. Chỉ có lời nói, c̣n trọn cả đều thuộc về Bất Liễu Nghĩa. Chỉ có lời nói, tức chẳng được chấp nhận vậy. Liễu Nghĩa Giáo đều chẳng phải là ǵ hết thảy (Phi), th́ c̣n t́m kiếm Mật Ngữ nào ?”

Theo chỗ thấy của Tổ Bá Trượng, th́ một chữ Mật cũng phải mửa ra luôn, Liễu Nghĩa Giáo cũng chẳng lập, mới có thể gọi là hướng lên ngàn Phật Đảnh mà đi.

Các vị Bồ Tát muôn Hạnh chưa ĺa tu chứng th́ sao lại gọi là “Hết thảy rốt ráo kiên cố” ? Sở dĩ như vậy v́ các Bồ Tát chưa tới địa vị Quán Đảnh, phải có tu, có chứng. Đến địa vị Quán Đảnh rồi, tức là siêu nhập đồng đẳng bậc Diệu Giác, th́ có cái ǵ tu chứng ? Các Hành tuy vô thường, nhưng từ trong Diệu Giác lưu xuất ra tất cả sự pháp, đương xứ tịch diệt, nên gọi là rốt ráo kiên cố.

Kinh nói “Có cái Tam Ma Địa() (Chánh Định), gọi là Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Vương, sẵn đủ muôn Hạnh. Mười phương Như Lai do một cửa này mà siêu xuất, đây là con đường Diệu Trang Nghiêm”. Tam Ma Đề này là Đại Định Thủ Lăng Nghiêm, lối Diệu Trang Nghiêm sẵn đủ muôn Hạnh, chẳng phải rời ĺa muôn Hạnh mà riêng có cái gọi là Định. Tất cả đều Định, nên gọi là tất cả sự rốt ráo kiên cố. Đức Phó Đại Sĩ, ngày th́ kinh doanh gây tạo, đêm th́ hành Đạo. Thấy Đức Thích Ca, Đức Kim Túc, Đức Định Quang ba vị Phật phóng quang phủ lên ḿnh Ngài. Đại Sĩ mới nói : “Ta được Định Thủ Lăng Nghiêm”. Thuở đó, kinh này chưa đến mà tên Định đă nêu, lạ lùng thay.

Tứ Tổ Đạo Tín() dạy Ngài Lại Dung ở núi Ngưu Đầu rằng : “Trăm ngàn pháp môn đều quy về Tâm, hằng sa Diệu Đức gồm tại nguồn Tâm. Tất cả Giới Môn, Định Môn, Huệ Môn, thần thông biến hóa đều tự sẵn đủ, chẳng rời tâm ông. Hết thảy Phiền Năo, Nghiệp Chướng xưa nay rỗng rang vắng lặng. Hết thảy Nhân Quả đều như mộng huyễn. Chẳng có ba cơi để ĺa, không có Bồ Đề nào để t́m cầu. Người cùng chẳng phải người, Tánh Tướng b́nh đẳng. Đại Đạo rỗng suốt, tuyệt nghĩ, tuyệt lo. Cái Pháp như thế, ông nay đă được, tuyệt không thiếu hụt, cùng Phật không khác, nào có Pháp nào khác nữa. Ông chỉ mặc dùng tự tại, chớ khởi Quán Hạnh, cũng chẳng lóng Tâm, chẳng khởi Tham Sân, chẳng giữ lo buồn, thênh thang vô ngại, mặc ư dọc ngang. Chẳng làm các điều thiện, không gây các điều ác. Đi, đứng, nằm, ngồi, chạm mắt gặp duyên, thảy đều là Diệu Dụng của Phật. Vui sướng không lo nên gọi là Phật”.

Được nghe thế, Ngài Lại Dung mở ra một chi phái, gọi là Quán Đảnh Chương Cú.

Ngài Pháp Nhăn dạy : “Tu hành trải qua ba đời sáu chục kiếp, bốn đời một trăm kiếp hay tăng kỳ kiếp cho đến thành quả mà cổ nhơn c̣n nói là chẳng bằng một niệm duyên khởi Vô Sanh, siêu quá hàng Tam Thừa Quyền Học”. Nên chi nói rằng : Gảy móng tay mà viên thành tám vạn Pháp Môn, trong sát na dứt hết ba a tăng kỳ kiếp. Trong Thiền Tông quả có chuyện kỳ đặc đó, há phải vạn hạnh đầy đủ, rồi sau mới đắc Định Thủ Lăng Nghiêm ư ?

Kinh là Thường Đạo vậy. Cuốn Thuyết Văn Giải Tự viết : “Dệt vải có sợi dọc (kinh), sợi ngang (vĩ) : sợi dọc th́ thường hằng, mà sợi ngang th́ thay đổi. Kinh này do Ngài Long Thọ ở dưới Long Cung mặc tụng đem lên. Vua Ngũ Thiên() trân trọng giữ kín chẳng có truyền ra. Há chẳng biết rằng quyển kinh này người người sẵn có, đâu có ai không ! Thế mới là Thường Đạo, nào phải là bí mật”.

Có vị tăng hỏi Ngài Thủ Sơn : “Tất cả Chư Phật đều do kinh này mà có ra. Thế nào là kinh này ?”

Tổ Sơn đáp : “Nói nhỏ ! Nói nhỏ !”

Vị tăng hỏi : “Thọ tŕ thế nào ?”

Tổ Sơn rằng : “Chẳng nhiễm ô”.

Ngài Đầu Tử() tụng rằng :

“Nước chảy Côn Luân, núi nổi mây

Người đến, tiều ngư chẳng có hay

Nếu biết núi cao, sông tràn nước

Ắt chẳng quăng ŕu với bỏ dây”.

 

(Thủy xuất Côn Luân, sơn khởi vân

Điếu nhân, tiều phụ muội lai nhân

Chỉ tri hồng lăng, nham loan khoát

Bất khẳng phao ty khí phụ cân)

Tổ Dược Sơn b́nh thường không cho người ta xem kinh. Có lần tự Ngài xem kinh. Một vị tăng hỏi : “Ḥa Thượng b́nh thường không cho người xem kinh, sao Ḥa Thượng lại xem ?”

Tổ Sơn rằng : “Ta chỉ cần che mắt”.

Vị tăng hỏi : “Tôi bắt chước Ḥa Thượng được không ?”

Tổ Sơn nói : “Ông muốn xem th́ phải suốt qua tấm da trâu() đă”.

Cho nên, rơ được chỗ che mắt này, th́ mới được cái Diệu của sự Thọ Tŕ. Mà có xuyên thủng mới chẳng nhiễm ô vậy.

 

TỰA CHUNG

 

Kinh : Như thế, tôi được nghe, một thời Phật ở tịnh xá Kỳ Hoàn, thành Thất La Phiệt, cùng với chúng đại Tỳ kheo một ngàn hai trăm năm mươi vị, đều là bậc Vô Lậu() Đại A La Hán.

Thông rằng : Tất cả các kinh đều mở đầu bằng “Như thị ngă văn nhất thời”. Đây là Đức Anan tuân theo ư chỉ của Đức Phật, kết tập các kinh, trước xướng sáu chữ này, giải tan mọi nghi ngờ. Như thị, như thị ấy là chỉ có thể tự tin lấy, không cần ngôn thuyết. Nếu hiểu được cái Pháp Như Thị, là chỗ phó chúc bí mật của Phật Tổ, tức là những lời ḷng ṿng sau này, đều là lời cước chú chua thêm vậy.

Có vị tăng vào tham lễ quốc sư Huệ Trung, sư hỏi : “Làm sự nghiệp ǵ ?”

Tăng đáp : “Giảng kinh Kim Cang”.

Sư hỏi : “Hai chữ đầu hết là cái ǵ ?”

Đáp : “Như thị”.

Sư hỏi : “Đó là cái ǵ ?”

Tăng không đáp được.

Sư bảo : “Than ôi ! Vậy th́ lấy ǵ mà giảng kinh ?”

Lại c̣n thiền sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn() hỏi một vị ṭa chủ : “Hai chữ Như Thị là tất cả khoa văn, vậy th́ bản văn là làm sao ?”

Vị ṭa chủ()û không đáp được.

Đức Ngũ Vân đáp thay rằng : “Lại chia làm ba đoạn rồi”.

Hăy nói chỗ Đức Ngũ Vân mở lời, là khoa văn hay là bản văn ?

Chữ Tỳ Kheo có ba nghĩa : Khất Sĩ; là Phá Ác; là Bố Ma (làm cho ma sợ). Chữ A La Hán cũng có ba nghĩa là Ứng Cúng, là Sát tặc (giết giặc), là Vô Sanh. Đại là để phân với Tiểu. Lậu cũng có ba loại : Vô Minh Lậu, Dục Lậu và Hữu Lậu.

Kinh nói “Ông thường nghe trong Luật của Ta có ba nghĩa quyết định tu hành, đó là Nhiếp Tâm làm Giới, do Giới sanh Định, nhờ Định phát Huệ. Đó là ba môn Vô Lậu Học. Cấm Răn (Giới) tức là không lọt ra cái Ham Muốn Dâm Dục (Dục Lậu), Yên Tĩnh (Định) ắt không có Phiền Năo (Hữu Lậu), sáng tâm (Huệ) ắt không có Vô Minh Phiền Năo”. Ba món Vô Lậu này gọi là nghĩa quyết định. Tựa hồ lấy Huệ làm chỗ cực tắc. Nên Đức Động Sơn nói với Ngài Tào Sơn rằng : “Ở thời mạt pháp, người ta phần nhiều là Huệ Khô Khan (Càn Huệ()). Để phân biệt thiệt hay giả, th́ có ba loại rỉ chảy (sấm lậu) : Một là, Kiến()sấm lậu : chưa ĺa phàm phu, sa vào trong biển độc. Hai là, T́nh sấm lậu : vướng mắc vào thuận nghịch, chỗ thấy không được quân b́nh. Ba là, Ngữ sấm lậu : cứu xét chỗ huyền diệu mà mất đi Tông chỉ, sau trước Cơ Trí đều mê muội tối tăm, trí dơ lưu chuyển. Đối với ba loại này, thầy phải nên biết”.

Trong cái Càn Huệ, lại chia làm ba thứ này, nếu không có con Mắt Pháp phân biệt th́ không thể chiếu phá. Do đó, bậc A La Hán hồi hướng về Đại Thừa, hẳn phải tư duy quán xét lời dạy của Ngài Động Sơn, th́ mới đầy đủ cái nghĩa Vô Lậu vậy.

 

Kinh : Các vị Phật Tử trụ tŕ, khéo vượt lên các Hữu. Ở các quốc độ, thành tựu uy nghi. Theo Phật chuyển pháp luân, kham lănh xứng đáng di chúc của Phật. Nghiêm tịnh Giới Luật để mở rộng khuôn phép cho ba cơi. Hiện thân vô số, cứu thoát chúng sanh, tột đời vị lai, khỏi các Trần ràng buộc.

Thông rằng : Trụ Tŕ là cái Giác Tánh Thường Trụ (hằng c̣n), hay nắm giữ (tŕ) vạn Pháp. Đoạn kinh này chỉ mười mấy chữ, thật bao quát hết ư chỉ của cả bộ kinh. Nói rằng “Khéo vượt lên các Hữu”, tức là Ngũ Ấm, Lục Nhập, Mười Hai Xứ, Mười Tám Giới, cho đến bảy Đại đều chẳng có thể làm chướng ngại, th́ nghĩa “Phá Vọng” đă đầy đủ hết. Nói rằng “Thành tựu uy nghi”, tức là dựng lập Đạo Tràng, ba món tiệm thứ. Năm mươi lăm địa vị, tức là con đường Bồ Đề, th́ nghĩa “Hiển chơn” đă đầy đủ. Nói rằng “Diệu kham di chúc” th́ hai mươi lăm pháp môn viên thông đều chứng Tự Tánh, đồng kham thọ kư thành Phật, mà cái tông chỉ “Kiến Tánh” tự c̣n. Nói rằng “Mở rộng khuôn phép trong ba cơi”, th́ bộ kinh này phù tŕ Giới Luật, dặn ḍ cẩn thận bốn Cấm Giới, Thập Thiện và chín loại Định để nêu rơ quy tắc cho ba cơi. Ngài Anan thị hiện dâm sự để mở đầu bộ kinh là cũng v́ vậy. Nói “Ứng thân vô lượng”, là dạy các vị Bồ Tát và A La Hán hiện thân trong đời mạt pháp, hóa làm đủ thứ h́nh dạng, cứu vớt các chúng sanh luân hồi vậy. V́ pḥng ngừa cho chúng sanh đời mạt pháp khỏi các ma sự, “Siêu khỏi các Trần ràng buộc”, chứng đến chỗ viên thông. Thật là lời dặn ḍ khuôn mẫu sau chót của Như Lai vậy.

Ngài Phong Huyệt Chiểu thiền sư có lời dạy rằng : “Nếu lập một mảy trần(), dẫu nước nhà đang hưng thịnh, lăo quê này cũng buồn rầu. Không lập một mảy trần, dẫu nước nhà sụp đổ, lăo quê này cũng vui ca”.

Ngài Tuyết Đậu dựng cây trụ trượng lên mà nói : “Lại c̣n có vị tăng cùng sống cùng chết nào không ?”, ư chỗ lập trần là ở đó. Tụng rằng : “Lăo tăng dạy dỗ chẳng nhướng mày. Mong cho nhà nước vững nền ngay. Mưu thần dũng tướng giờ đâu tá. Vạn dặm gió trong, chỉ tự hay.”

Ngài Tuyết Đậu ở trong cửa Phật sự, chẳng bỏ một Pháp. Ngài Thiên Đồng ở nơi Thực Tướng chẳng thọ một mảy trần. Hai Pháp song hành b́nh đẳng, cùng một chỗ xuất ra.

Tụng rằng :

“Sông Vị trắng trong thả nhợ câu

Nào giống Di Tề chết đói đâu

Chỉ tại mảy trần sanh lắm vẻ

Nghiệp tốt, danh cao, khó bỏ thay”.

Lại c̣n Tổ Trường Khánh nói rằng : “Mọi chuyện giống như ngày nay là bởi Lăo Hồ() có chỗ cho người ta ngưỡng vọng”.

Tổ Bảo Phước nói : “Mọi sự giống như ngày nay là v́ Lăo Hồ tuyệt hết mọi chỗ cho người ta ngưỡng vọng”.

Ngài Thiên Đồng dạy thêm : “Giàu, ngàn miệng ăn vẫn cho là ít. Nghèo, một thân này vẫn hận là nhiều”.

Xét chỗ khai thị của các vị tôn túc, tất cả đều v́ người, nào có khác với tâm cứu độ chúng sanh đời sau của Phật, Tổ. Nên sao chép lại để làm cái pháp Trụ Tŕ().

Kinh : Các vị là : Đại Trí Xá Lợi Phất, Ma Ha Mục Kiền Liên, Ma Ha Câu Si La, Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử, Tu Bồ Đề, Ưu Ba Ni Sa Đà làm Thượng Thủ. Lại có vô số các vị Bích Chi Vô Học và Sơ Tâm đồng đến chỗ Phật giảng đạo. Nhằm ngày các vị tỳ khưu măn hạ Tự Tứ, các vị Bồ Tát từ mười phương đến, xin Phật giải quyết nghi hoặc, kính vâng Đức Từ Nghiêm, thỉnh cầu Nghĩa Thâm Mật.

Đức Như Lai trải pháp tọa, ngồi khoan thai, v́ cả Pháp Hội mà tỏ bày cái mật nhiệm sâu xa. Chúng hội trong sạch, được việc chưa từng có.

Thông rằng : Đây là nói về chỗ bắt đầu của kinh. Nói là các vị Bồ Tát thỉnh cầu Mật Nghĩa, mà chẳng có nói cái ǵ là mật. Nói đức Phật tỏ bày cái thâm áo, mà chẳng nói cái ǵ là thâm áo, th́ làm sao chúng hội thanh tịnh lại được chỗ chưa từng có ?

Xưa, Đức Thế Tôn một hôm lên ṭa pháp. Đức Văn Thù bạch chùy rằng : “Hăy xem rơ Pháp Vương Pháp. Pháp Vương Pháp như thế()”.

Đức Thế Tôn bèn xuống pháp ṭa.

Tổ Thiên Đồng tụng :

“Một đoạn của nhà có thấy không

Miên man trời đất chạy thoi nhanh

Gấm cổ dệt thành, bao Xuân sắc

Ngại ǵ tiết lộ bởi Đông Quân()”.

Ngài Tuyết Đậu tụng rằng :

“Thánh chúng đương nhiên ắt hiểu ngay

Pháp Vương, Pháp Lệnh chẳng như đây

Hội này mà có Thiền gia khách

Văn Thù nào phải hạ một chùy”.

Nếu đối với chỗ Đức Thế Tôn lên ṭa yên ngồi mà đă rơ thông tin tức, mới thật diệu khế cái Áo Mật, mà chẳng cần nhờ đến lời lẽ phiền phức vậy.

Hàng Bích Chi, c̣n có hạng Sơ Phát Tâm là học tṛ của hàng Bích chi.

“Hưu Hạ Tự Tứ” là trong Luật có dạy ba ngày ra Hạ là Mười Bốn, Mười Lăm và Mười Sáu tháng Bảy.

 

Kinh : Tiếng của Phật ḥa nhă như tiếng chim Ca Lăng Tần Già, vang khắp mười phương. Hằng sa Bồ Tát dến chốn đạo tràng, có Ngài Văn Thù Sư Lợi làm Thượng Thủ.

Thông rằng : Chim Ca Lăng Tần Già khi c̣n trong trứng đă đủ tiếng hay, các loài chim khác không so sánh kịp. Thí dụ cho Đốn Giáo vào ngay ḍng giống Phật, không cần mượn tu tập, Tam Thừa không b́ kịp. Phật dùng âm thanh này để dạy cho hàng căn cơ Đốn Ngộ.

Thuở xưa, có lần Ngài Mục Kiền Liên muốn cùng tột âm thanh của Phật, dùng hết thần lực, đi qua hằng sa cơi, đến một cơi Phật có Báo Thân rất lớn. Ngài chống trượng đi trên miệng bát cơm của chư vị cơi đó. Các đệ tử ở đấy đều thưa với đức Phật cơi đó : “Tại sao lại có loại trùng giống hệt con người ?”

Đức Phật kia đáp : “Đó là Mục Kiền Liên, đệ tử của phật Thích Ca ở cơi Ta Bà. Chớ thấy h́nh vóc nhỏ nhoi mà xem thường !” Rồi đức Phật hỏi Ngài Mục Kiền Liên đến đây làm ǵ.

Ngài trả lời là muốn cùng tột âm thanh của Phật.

Đức Phật dạy : “Âm thanh của Phật vô tận, ông không thể cùng tột được đâu”.

Ngài Mục Kiền Liên bèn trở về.

Nên nói “Khắp hết mười phương” là đúng vậy.

Hằng sa Bồ Tát mỗi mỗi đều có chỗ ở, như những cơi kể trong kinh Hoa Nghiêm, vũ trụ vô cùng, chỗ nào mà chẳng phải là Trụ Xứ của Bồ Tát ? Nay nghe âm thanh Phật, các Bồ Tát đi đến với Phật.

Văn Thù tức là Diệu Đức, để bày tỏ cái Thiệt Trí. Mở bày Đốn Giáo th́ đúng là Cơ của Ngài, nên Ngài làm Thượng Thủ.

Xưa, Ngài Vô Trước Văn Hỷ thiền sư đến động Kim Cương ở núi Ngũ Đài chiêm bái Đức Văn Thù. Ngài gặp một ông già đang dắt trâu đi và mời Ngài vào chùa.

Ông già gọi : “Sa di !” Th́ có một đồng tử ứng tiếng dạ, chạy ra tiếp. Ông già thả trâu đi, dắt thiền sư lên nhà khách. Nhà cửa đều chói lọi ánh vàng. Ông già ngồi lên giường, chỉ một cái đôn gấm mời Ngài ngồi.

Ông nói : “Ông từ đâu tới ?”

Sư Văn Hỷ đáp : “Phương Nam”.

Ông hỏi : “Phật Pháp ở phương Nam trụ tŕ thế nào ?”

Sư đáp : “Đời mạt Pháp các Tỳ Kheo ít phụng tŕ Giới Luật”.

Ông hỏi : “Chúng nhiều ít ?”

Sư đáp : “Hoặc ba trăm, hoặc năm trăm”.

Sư Văn Hỹ trở lại hỏi : “Phật Pháp ở đây trụ tŕ thế nào ?”

Ông già trả lời : “Rồng rắn lẫn lộn, phàm Thánh ở chung”.

Sư hỏi : “Chúng nhiều ít ?”

Ông đáp : “Trước ba ba, sau ba ba()”. Ông kêu đồng tử đem trà và váng sữa() lại. Sư dùng xong, tâm ư thông suốt.

Ông già cầm chén pha lê lên hỏi : “Phương Nam có thứ này không ?”

Sư đáp : “Không có”.

Ông hỏi : “B́nh thường lấy ǵ uống trà ?”

Sư không đáp được.

(Tiếc thay ! Đang khi ấy chỉ nên đập nát nghiến cái chén pha lê ! )

Văn Hỷ thấy trời đă tối, bèn hỏi ông ở lại một đêm được chăng.

Ông già nói : “Ông c̣n cái tâm chấp không thể ở lại”.

Sư nói : “Tôi đâu có tâm câu chấp”.

Ông già hỏi : “Ông đă thọ Giới chưa ?”

Sư đáp : “Thọ Giới đă lâu”.

Ông già nói : “Nếu không có cái tâm chấp, th́ thọ Giới để làm ǵ ?”

Sư cáo từ. Ông già bảo đồng tử tiễn Ngài về.

Ngài hỏi đồng tử : “Trước ba ba, sau ba ba là nhiều ít ?”

Đồng tử gọi lớn : “Đại Đức !”

Sư ứng tiếng dạ.

Đồng tử nói : “Đó là nhiều ít ?”.

Sư Hỷ lại hỏi : “Đây là chỗ nào ?”

Đáp rằng : “Đây là động Kim Cương, chùa Bát Nhă”.

Sư Văn Hỷ mới tỉnh ngộ ra rằng ông già tức là Văn Thù vậy. Không thể ra mắt trở lại dược nữa, bèn cúi đầu trước đồng tử, xin một lời nói để từ biệt.

Đồng tử đọc bài kệ :

Trên mặt không sân : đồ cúng dường

Trong miệng không sân : xuất Diệu Hương

Trong tâm không sân là châu báu

Không dơ, không nhiễm tức Chân Thường.

Nói xong, cả người lẫn chùa đều ẩn mất.

Thầy Hỷ sau tham học với Tổ Ngưỡng Sơn, chóng ngộ tâm khế, giữ chức Điển Ṭa(). Khi nấu ăn, Đức Văn Thù thường hiện h́nh trên nồi cháo. Sư Văn Hỷ lấy cái đũa tre quậy cháo đánh mà nói rằng : “Văn Thù tự mặc Văn Thù. Văn Hỷ tự mặc Văn Hỷ”.

Đức Văn Thù bèn nói bài kệ :

“Bầu đắng rễ cũng đắng,

Dưa ngọt tận cuống ngọt

Tu hành ba đại kiếp

Lại bị lăo tăng từ (chối)”.

Thấu đến Trong Ấy() lại c̣n nói có tâm câu chấp nữa ư ?

Tổ Tuyết Đậu tụng rằng :

“Ngàn đỉnh nhấp nhô một màu lam

Ai là Văn Thù để đối đàm

Nực cười Thanh Lương() nhiều ít chúng

Trước ba ba sau cũng ba ba”.

Chỗ này mà thấu thoát() được mới cho gặp mặt Đức Văn Thù.

 

DUYÊN KHỞI CỦA KINH

Kinh : Khi ấy, vua Ba Tư Nặc nhân ngày kỵ (giỗ) phụ vương, mở tiệc chay mời Phật thọ trai. Tự Ngài đứng nơi cung dịch nghinh rước Đức Như Lai, dọn bày các món ăn quư báu, rồi thân đến rước Phật và các vị Đại Bồ Tát. Trong thành lại có các trưởng giả, cư sĩ cùng dự lễ Trai Tăng chờ Phật đến chứng minh. Phật khiến Ngài Văn Thù phân lănh các vị Bồ Tát và A La Hán đi đến nhà các trai chủ.

Duy có Ông Anan trước đă nhận lời mời riêng, đi xa chưa về, không kịp dự hàng tăng chúng. Ông về một ḿnh, không có Thượng tọa hay A xà lê cùng đi, và ngày ấy cũng không được ai cúng dường. Lúc bấy giờ, ông mang b́nh bát vào trong một thành, trên đường đi tuần tự khất thực. Ban đầu, trong ḷng cầu được một người bố thí tối hậu để làm trai chủ, không kể sang hèn, đều hành tâm Từ b́nh đẳng. Phát tâm viên thành cho tất cả chúng sanh được vô lượng công đức.

Ông Anan đă biết đức Phật quở ông Tu Bồ Đề và Ông Đại Ca Diếp làm bậc A La Hán, mà tâm chẳng b́nh đẳng. Ông kính vâng lời khai thị của Phật, ĺa thoát mọi nghi báng. Đi đến bên thành, thong thả vào cửa, nghiêm chỉnh oai nghi, kính giữ phép hóa trai.

Thông rằng : Vua Ba Tư Nặc cùng các vị trưởng giả, cư sĩ đồng thời cùng dự lễ Trai Tăng, sao ân cần như vậy ? V́ công đức Trai Tăng rất lợi ích. Phật có thuyết cho Ông Cấp Cô Độc về quả báo của bố thí: hoặc là bố thí nhiều mà quả báo ít, hoặc là bố thí ít mà quả báo nhiều. Cúng dường cho ngàn vị Phật, không bằng cúng dường cho một vị Tịnh Hạnh. Cho đến cúng dường trăm ngàn vị Phật không bằng cúng dường cho một Đạo Nhân Vô Tâm.

Kinh Bốn Mươi Hai Chương nói rằng : “Phật dạy : cho một trăm người ác ăn không bằng cho một người thiện ăn. Cho một ngàn người thiện ăn không bằng cho một người giữ Ngũ Giới ăn. Cho một vạn người giữ Ngũ Giới ăn không bằng cúng dường một vị Tu Đà Hoàn. Cúng dường một trăm vạn vị Tu Đà Hoàn không bằng cúng dường một vị Tư Đà Hàm. Cúng dường một ngàn vạn vị Tư Đà Hàm không bằng cúng dường một vị A Na Hàm. Cúng dường một ức vị A Na Hàm không bằng cúng dường một vị A La Hán. Cúng dường mười ức vị A La Hán không bằng cúng dường một vị Bích Chi Phật. Cúng dường một trăm ức vị Bích Chi Phật không bằng cúng dường ba đời Chư Phật. Cúng dường ngàn ức ba đời Chư Phật không bằng cúng dường cho một vị Không niệm, Không Trụ, Không Tu, Không Chứng”.

Đại lược hai đoạn trên tương đồng với nhau.

Có vị sư hỏi Tổ Lạc Phổ() : “Cúng dường trăm ngàn vị Phật chẳng bằng cúng dường một vị đạo nhân không tâm (Vô Tâm). Trăm ngàn chư Phật có lỗi ǵ ? Người đạo nhân Vô Tâm có đức ǵ ?”.

Tổ đáp : “Một mảnh mây trắng qua trước hang. Biết bao chim chóc lạc ổ về”.

Ngài Đơn Hà() tụng rằng :

“Thập Đắc bơ thờ không tỏ hiểu

Hàn Sơn() uể oải chẳng biết về

Trước tiếng (thanh tiền) một câu viên âm đẹp

Ngoài vật ba núi mảnh trăng soi”.

(Thập Đắc số dung phi giác hiểu

Hàn Sơn lại đọa bất tư quy

Thanh tiền nhất cú viên âm mỹ

Vật ngoại tam sơn phiến nguyệt quy).

Câu ba : Viên Âm là tiếng vọng trải khắp mầu nhiệm, thuộc ẩn.

Câu bốn là hiển.

Đây là riêng tụng về đạo nhân Vô Tâm đó vậy.

Ông Cam Chi hành giả một ngày kia vào chỗ Ngài Nam Tuyền() bày Trai cúng, gặp Tổ Huỳnh Bá làm Thủ Ṭa(). Ông xin được bố thí tiền của().

Tổ Bá nói : “Tài Thí và Pháp Thí đều không sai biệt”.

Ông Cam Chi nói : “Nói thế nào để tiêu được cái của cúng của tôi ?” Bèn ra về.

Một lát, lại trở vào, nói : “Xin được thí tài”.

Tổ Bá nói : “Tài Thí và Pháp Thí đều không sai biệt”.

Ông Cam Chi bèn dâng cúng.

Lại một ngày nọ, ông vào chùa dọn cháo, xin Tổ Nam Tuyền tụng niệm cho. Tổ Tuyền mới bạch chùy(), nói : “Xin đại chúng v́ chồn, trâu già mà niệm Ma Ha Bát Nhă Ba La Mật Đa”.

Ông Cam Chi bèn phất tay áo đi ra.

Dùng cháo xong, Tổ Tuyền hỏi thầy Điển Ṭa() : “Hành giả đâu rồi ?”

Đáp : “Liền khi năy đi rồi”.

Tổ Tuyền bèn đập nát cái nồi.

Ngài Sớ Sơn() tụng rằng :

“Một ḿnh bày cháo khoe anh tuấn

Nào hay vương lăo lại phong lưu

Đập tan nồi cháo bày vụng xấu

Chồn với trâu già một lượt thâu”.

Như Ông Cam Chi mới đáng gọi là có thể cúng dường đạo nhân Vô Tâm vậy.

Hành khất có năm nghĩa : một là, trong chứng b́nh đẳng, ngoài không thấy tướng giàu nghèo. Hai là, rời cái tâm tham lam kiêu mạn ngă theo điều lợi. Ba là, có sức Đại Định, chẳng có sợ các độc dữ của nhà gái dâm. Bốn là, ĺa bỏ sự nghi ghét của phàm phu. Năm là, phá chỗ phân biệt của Nhị Thừa. Đức Duy Ma Cật nói rằng : “Nơi ăn mà b́nh đẳng, th́ nơi pháp cũng b́nh đẳng. Chẳng luận sang hèn, dơ sạch đều chứng Bồ Đề. Đó là viên thành vô lượng công đức của tất cả chúng sanh”. Ông Tu Bồ Đề th́ bỏ nghèo theo giàu. Ông Đại Ca Diếp th́ bỏ giàu theo nghèo. Thế tức là ḷng Từ chẳng quân b́nh, chẳng gọi là ḷng Từ b́nh đẳng. Nhưng khi Ông Anan trong tâm vừa khởi niệm như thế, là đă rơi vào ư thức phân biệt, bèn thuộc về cái kế sanh nhai của nhà quỷ, nên ma mới có cơ hội.

Làm sao sánh được với sự hành khất như thế này : thuở trước, có vị Ḥa Thượng, thường dùng gậy quảy một cái bao bố với cái nệm rách. Bao nhiêu đồ dùng đều bỏ hết ráo trong cái bao ấy. Vào chợ búa xóm làng, thấy vật ǵ th́ xin. Hoặc thịt chua cá mặn, vừa lấy th́ bỏ vào miệng, c̣n lại th́ bỏ trong bao. Đời ấy người ta gọi là Trường Đinh Tử. Một hôm, có vị tăng đi trước mặt, Sư bèn vỗ vào lưng, vị tăng quay đầu lại.

Sư nói : “Cho ta một đồng tiền”.

Tăng nói : “Nói được th́ cho ông một đồng tiền”.

Sư bỏ cái bao bố xuống, khoanh tay mà đứng sững.

Lại một ngày nọ, Ngài đứng ở chợ. Có vị tăng hỏi : “Ḥa Thượng tại Trong Ấy() làm cái ǵ ?”

Ngài đáp : “Đồng với “con người”“.

Tăng rằng : “Đến rồi vậy, đến rồi vậy”.

Ngài nói : “Ông chẳng phải là con người ấy đâu”.

Tăng hỏi : “Thế nào là con người đó ?”

Ngài đáp : “Cho ta một đồng tiền !”

Ngài có bài kệ :

“Một bát cơm ngàn nhà

Cô thân muôn dặm xa

Mắt xanh, người ít thấy

Mây trắng hỏi đường qua”.

(Nhất bát thiên gia phạn

Cô thân vạn lư du

Thanh mục đỗ nhân thiển

Vấn lộ bạch vân đầu).

Nếu khế hợp được chỗ ấy, có thể nói là được Nghi Thức của Chư Phật vậy.

Một hôm, đức Phật bảo Anan : “Đă đến giờ, ông nên vào thành đi tŕ bát().

Anan vâng lời. Thế Tôn nói : “Ông đă ôm giữ bát th́ phải y theo Nghi Thức của bảy vị Phật đời quá khứ”.

Ông Anan mới hỏi : “Như thế nào là Nghi Thức của bảy vị Phật đời quá khứ ?”

Thế Tôn gọi lớn : “Anan !”.

Ông Anan ứng dạ.

Thế Tôn rằng : “Ôm bát đi !”

Ôi, nếu Ông Anan sớm hiểu chỗ này, th́ đâu có việc Ma Đăng Già !

 

Kinh : Khi đi khất thực, Ông Anan đi qua nhà người dâm nữ Ma Đăng Già, bị phép huyền thuật của cô ta, là tà chú Ta T́ Ca La của ngoại đạo, bắt vào giường riêng dựa kề vuốt ve làm cho ông gần phá giới thể.

Đức Như Lai biết Ông Anan mắc phải dâm thuật, dùng trai xong liền trở về. Vua cùng đại thần, trưởng giả cư sĩ đều đi theo Phật, mong được nghe Pháp yếu.

Khi ấy, trên đỉnh Thế Tôn phóng ra ánh sáng rực rỡ Vô Úy, trong hào quang hiện ra ṭa sen báu ngh́n cánh, trên có Hóa Thân của Phật ngồi kiết già, tuyên thuyết thần chú khiến Ngài Văn Thù Sư Lợi đem chú này đến giúp đỡ, tiêu diệt tà chú rồi đưa Ông Anan và nàng Ma Đăng Già về chỗ của Phật.

Thông rằng : Bộ Hiệp Luận nói : “Đức Phật thương xót chúng sanh bị trôi lăn trong Tam Giới đều do mắc vào Dục”. Trong các thứ Dục, chỉ có cái Dâm Dục là nặng hơn hết, nên bộ kinh này mở đầu bằng việc cô Ma Đăng Già. Để nhấn mạnh là nếu bị ch́m đắm vào đó là một hoạn nạn lớn, mà diệt trừ được lại là một lợi ích lớn. Ví như chăn dê th́ đánh ở sau, nên hễ có cơ hội là răn nhủ cẩn thận.

“Có vị tỳ kheo ni tên là Bảo Hương, thọ Bồ Tát giới mà lại lén làm chuyện dâm, lại nói xằng rằng Dâm Dục chẳng phải giết hại hay trộm cắp nên chẳng có sự trả Nghiệp. Liền từ nữ căn sanh ra ngọn lửa lớn rồi dần dần thiêu luôn cả cơ thể, đọa vào Vô Gián địa ngục.

“C̣n Ngài Ô Sắc Ma th́ nghe Phật dạy rằng người đa dâm như đống lửa lớn, nên tu mà hóa Tánh Dâm thành Hỏa Quang Tam Muội, chứng quả A La Hán. Ngài nói rằng : “Các phiền năo đă tiêu, sanh ra ngọn lửa quư báu, lên bậc Vô Thượng Giác”.

“Ôi ! Vô Thượng Giác là địa vị Phật mà nhờ quán sát Dâm Tánh th́ có thể lên được ! Địa ngục Vô Gián là đường dữ mà v́ theo chuyện dâm nên đang c̣n sống mà đă bị đọa vào. Luận về mười loại Tập Nhân th́ Dâm Tập đứng đầu. Nói là Dâm Tập đứng đầu v́ đó là sự giao tiếp, phát sinh từ sự cọ xát, nên có ngọn lửa rất mạnh phát ra ở bên trong. Cớ nên Phật bảo sự Hành Dâm gọi là Lửa Dục. Sau mới đến những tội Tham Lam, Kiêu Mạn. Trong Bộ Luật, nói về ba Nghĩa Quyết Định Tu Hành, đó là nhiếp tâm làm Giới, nhân Giới sanh Định, nhân Định sanh Huệ, gọi là ba Vô Lậu Học(). Sự đoạn trừ Sát, Đạo, Dâm, Vọng th́ kinh này nói Đoạn Dâm trước hết.

“Lại nữa, Quán Thế Âm Bồ Tát tự kể về ba mươi hai Ứng Thân thuyết pháp của Ngài, nói rằng : “Phạm Thiên Vương nhờ Dục tâm được Minh Ngộ mà cùng với Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn đồng gọi là Giải Thoát(), c̣n hai mươi tám hạng kia chỉ có tên thành tựu mà thôi”. Lại năm thứ Mùi Cay() là thứ làm phát Dâm, tăng Oán Giận nên dạy lập ba món Tiệm Thứ để đoạn trừ, gọi là Tăng Tiến Đệ Nhất. Lại dạy rằng phải quán sát Dâm Dục hơn cả rắn độc, nếu thành tựu được Cấm Giới th́ với con mắt thịt của cha mẹ sinh ra có thể thấy suốt cả mười phương”.

Đó là gặp cơ hội th́ dặn ḍ kỹ lưỡng vậy. Bộ Luận này quả đă uốn nắn cho ngay ngắn toàn thể mạch lạc của kinh, dặn ḍ kỹ lưỡng, tỏ liễu sâu xa chỗ mở dạy của bộ kinh mà lấy việc dứt ĺa cái Dâm Dục làm đầu, khiến cho người ta sợ hăi đến dựng tóc gáy, lạnh xương sống. Tuy nhiên, người chứng Thật Trí, th́ thấy tất cả Thanh, Sắc đều như huyễn như mộng, việc dữ kia chẳng có bóng dáng nào cả ở trong ấy.

Kinh Bốn Mươi Hai Chương nói “Người nhiều Ái Dục như kẻ cầm đuốc đi ngược gió, tất phải bị cháy tay”. Thiên Thần dâng Ngọc Nữ để thử Phật, muốn xem đạo ư Ngài ra sao. Phật nói : “Cái bao da chứa đồ dơ kia đến đây làm ǵ. Hăy đi đi ! Ta chẳng dùng đến”. Vị Thiên Thần rất kính trọng, thưa hỏi ư đạo. Phật dạy cho, liền đắc quả Tu Đà Hoàn.

Lại c̣n Kinh Duy Ma Cật có đoạn : “Ông Xá Lợi Phất hỏi Thiên Nữ : “Sao cô chẳng chuyển thân nữ ?”

“Thiên nữ đáp : “Từ mười hai năm nay, tôi t́m cầu h́nh tướng người nữ mà chẳng thể được. Vậy th́ phải chuyển cái ǵ ? Ví như một nhà huyễn thuật, tạo ra một người nữ huyễn. Như có người hỏi cô ấy : “Sao cô không chuyển thân nữ đi ?” Người ấy hỏi có đúng không ?”

“Xá Lợi Phất trả lời : “Không đúng ! Huyễn không có tướng nhất định, th́ có ǵ mà chuyển”.

“Thiên Nữ nói : “Tất cả Chư Phật cũng lại như thế. Hết thảy đều không có định tướng, tại sao lại hỏi không chuyển thân nữ ?”

“Liền đó, Thiên Nữ dùng thần thông biến Ông Xá Lợi Phất thành Thiên Nữ và Thiên Nữ th́ hóa thân thành như Xá Lợi Phất; rồi hỏi rằng : “Sao ông chẳng chuyển thân nữ ?”

“Ông Xá Lợi Phất trong h́nh tướng thân nữ đáp rằng : “Không hiểu sao tôi lại biến thành thân nữ ?”

“Thiên Nữ nói : “Nếu Ông Xá Lợi Phất có thể chuyển thân nữ này, th́ hết thảy người nữ cũng có thể chuyển. Như Xá Lợi Phất chẳng phải là người nữ mà lại hiện thân nữ, tất cả người nữ lại cũng như thế, tuy hiện thân nữ mà chẳng phải là người nữ. Thế nên, đức Phật nói rằng : “Tất cả các pháp chẳng phải nam, chẳng phải nữ”.

“Thiên Nữ liền thu lại thần lực, Ông Xá Lợi Phất trở lại như cũ.

“Thiên Nữ bảo : “Này, Ông Xá Lợi Phất, sắc tướng thân nữ bây giờ ở đâu ?”

“Xá Lợi Phất nói : “Sắc tướng thân nữ không có ở đâu mà không đâu chẳng có”.

“Thiên Nữ nói : “Tất cả các pháp lại cũng như thế, không có ở đâu mà không đâu chẳng có”.

Ôi ! Thần lực của Thiên Nữ có thể chuyển Ông Xá Lợi Phất, c̣n chú Tiên Phạm Thiên chẳng thể hủy phá Giới Thể của Ông Anan. Nghĩa hai đoạn kinh có thể so sánh cho rơ ràng vậy.

 

Kinh : Anan thấy Phật, cúi lạy buồn khóc, căm hận ḿnh từ vô thủy đến nay một bề nghe rộng nhớ nhiều, chưa toàn đạo lực. Tha thiết xin Phật dạy cho những Pháp Xa Ma Tha (Chỉ), Tam Ma (Quán), Thiền Na (Thiền, Chỉ Quán Viên Tu) vi diệu, là những phương tiện tu hành đầu tiên nhờ đó mười phương Như Lai đắc thành Bồ Đề.

Lúc ấy, lại có hằng sa Bồ Tát, Đại A La Hán và Bích Chi Phật, từ mười phương đến, thảy đều mong nghe lời Phật dạy, lui về chỗ ngồi, yên lặng lănh thọ Thánh chỉ.

Thông rằng : Ông Anan phát ra lời hỏi đây, là cái xương sống của toàn bộ kinh. Từ đầu đến cuối, Thế Tôn trả lời không bỏ sót chỗ nào. “Xa Ma Tha” gọi là Chí Tĩnh(), là Không Quán. “Tam Ma Bát Đề” gọi là Lực Dụng Biến Hóa (Như Huyễn), là Giả Quán. “Thiền Na” là Tịch Diệt, nghĩa là chẳng giữ cái huyễn hóa cũng chẳng trụ tướng Tịnh, tức là Trung Quán. Kinh Viên Giác nói : “Tịch tỉnh Xa Ma Tha, như kính soi muôn tượng. Như Huyễn Tam Ma Đề, như mầm giống dần dần tăng trưởng. Thiền Na là Tịch Diệt, như tiếng vang trong chuông. Ba loại diệu Pháp Môn gọi là Giác Tùy Thuận, nhờ chúng mà mười phương Như Lai cùng chư Đại Bồ Tát được thành đạo. Viên chứng được cả ba thứ là rốt ráo Niết Bàn”.

Ông Anan một bề nghe nhiều học rộng, chứ nếu vẫn tu tập ba Pháp Môn này th́ đâu c̣n phải hỏi. Nay ông bị huyễn thuật ắt là trước đây các công phu Quán Hạnh, Thiền Định đều chẳng được ǵ, nên mới nghĩ mười phương Như Lai hẳn phải có điều vi diệu về các thứ này. Xét một chữ “Diệu”, tợ hồ phảng phất thoáng thấy : nào phải mượn đến sự tu hành khó nhọc lao khổ ! Chỉ v́ chẳng biết cái phương tiện ban đầu hết là do Ngộ Nhập đó vậy.

Kinh Viên Giác cũng có nói “Chỉ trừ bậc Đốn Giác, th́ không theo Pháp Môn”. Vốn có một Pháp Môn Đốn Ngộ, chỉ lấy việc Thấy Tánh (Kiến Tánh) làm Tông. Cho nên, nếu thấy được Tánh, th́ Vô Tâm đối với Chỉ, Quán mà Chỉ Quán tự có sẵn. Không thấy Tánh, tuy hằng ngày có tu Chỉ Quán cũng khó địch với cảnh ma. Chỉ có “Thấy Tánh” mới được “Diệu” vậy. Đoạn kinh sau có nói đến Diệu Minh Chân Tâm, Biển Diệu Trang Nghiêm, Diệu Minh Minh Diệu... đều để trả lời cho ư nghĩa của chữ Diệu, mà chấm dứt bằng bài kệ :

“Gọi đó : Diệu Liên Hoa

Kim Cương Vương, Bảo Giác

Như huyễn Tam Ma Đề

Khẩy tay, vượt Vô Học

Pháp này là Vô Thượng

Một đường trực nhập Niết Bàn

Của mười phương chư Phật”.

Pháp Đốn Ngộ này, chẳng phải các loại Chỉ Quán, Thiền Định tầm thường có thể so sánh.

Thuở xưa, Ngài Tuyết Phong ba lần tham yết Tổ Đầu Tử(), chín lần thưa hỏi Tổ Động Sơn(), cũng đă là bậc đa văn. Kế thế Tổ Đức Sơn rồi, cùng Tổ Nham Đầu đến núi Ngao Sơn ở Lễ Châu. Gặp lúc tuyết rơi, Tổ Đầu mỗi ngày chỉ lo ngủ, c̣n Ngài Tuyết Phong cứ một mạch tọa thiền.

Một hôm, Ngài kêu lớn rằng : “Sư huynh, Sư huynh ! Dậy đi chớ !”

Tổ Nham Đầu rằng : “Làm cái ǵ ?”

Ngài đáp : “Đời này chẳng lo xong th́ gặp cái lăo Văn Thúy ấy sẽ bị lăo trói đấy. Ngày nay đă đến đây, vậy mà chỉ lo ngủ”.

Tổ Nham Đầu hét to : “Cây cột phướn, ngủ đi ! Hằng ngày cứ ngồi như ông Thổ Địa trong làng rồi sau nầy đi làm nam nữ ma mị nhà người !”

Ngài tự chỉ vào ngực mà nói : “Tôi đây trong cái ấy chưa yên, chẳng dám tự dối ḿnh”.

Tổ Nham Đầu nói : “Tôi sắp nói rằng ngày sau ông sẽ hướng lên đỉnh núi trơ trụi trên tảng đá kết thảo am, xiển dương đại giáo, sao ông lại nói như thế?”

Ngài nói : “Tôi ở trong ấy quả thật không yên”.

Tổ Nham Đầu() nói : “Nếu ông thật như thế, th́ cứ theo chỗ thấy của ông, mỗi mỗi nói ra hết đi. Đúng, tôi sẽ chứng minh cho. Không đúng, tôi sửa sang đẽo gọt cho”.

Ngài nói : “Mới đầu, tôi đến tham yết Ngài Giám Quan(), nghe buổi giảng nêu lên cái nghĩa Sắc Không, bèn có chỗ vào”.

Tổ Nham Đầu nói : “Chuyện ấy đă ba mươi năm rồi, rất kỵ nêu lại !”

Ngài nói : “Lại thấy bài kệ của Tổ Động Sơn :

“Rất kỵ t́m nơi khác

Mỗi mỗi càng cách xa

Y nay chính là ta

Ta giờ chẳng phải y”.

(Thiết kỵ tùng tha mích

Điều điều dữ ngă sơ

Cừ kim chính thị ngă

Ngă kim bất thị cừ).

Tổ Nham Đầu nói : “Nếu cho là như thế th́ tự cứu cũng chẳng xong”.

Ngài lại nói : “Sau đến hỏi Ngài Đức Sơn() : “Việc xưa nay trong Tông Thừa người tu học có được phần nào chăng ?” Tổ Đức Sơn đánh cho một gậy, mà rằng: “Nói ǵ vậy ?” Khi ấy, tôi như thùng vỡ đáy”.

Tổ Nham Đầu hét to : “Ông há chẳng nghe nói, “Từ cửa mà vào ắt chẳng phải là của báu nhà ḿnh”, sao ?”

Ngài hỏi : “Ngày sau như thế nào mới phải ?”

Tổ Nham Đầu đáp : “Ngày sau mà muốn hoằng dương đại giáo, mỗi mỗi đều từ trong ngực ḿnh tuôn ra. Ngày sau hăy cùng ta mà trùm trời trùm đất đi”.

Ngài Tuyết Phong nghe xong đại ngộ, bèn làm lễ, mừng rỡ la lên rằng : “Sư huynh ơi, hôm nay mới đúng là Ngao Sơn() thành đạo”.

Kỳ diệu thay, kỳ diệu thay. Đâu phải cứ một bề ngồi thiền mà có được thứ thoại đầu này !

 

 

PHẦN THỨ HAI : PHẦN CHÁNH TÔNG

 

CHƯƠNG I

CHỈ BÀY CHÂN TÂM

 

MỤC MỘT :

GẠN HỎI CÁI TÂM

 

I- NGUYÊN DO CỦA THƯỜNG TRỤ VÀ LƯU CHUYỂN.

Kinh : Phật bảo Ông Anan : “Ông với Ta đồng phái, t́nh như anh em ruột. Khi ông mới phát tâm, th́ ở trong Phật Pháp, thấy tướng tốt ǵ mà bỏ được những ân ái sâu nặng của thế gian?”

Ông Anan bạch Phật : “Tôi thấy ba mươi hai tướng của Như Lai tốt đẹp lạ thường, h́nh thể sáng suốt như ngọc lưu ly. Thường tự suy nghĩ : tướng ấy không thể do Dục Ái sanh ra. V́ sao ? Thứ dâm dục nhơ nhớp, tanh hôi kết cấu, máu mủ xen lộn, làm sao sanh được thân vàng chói trong sạch sáng ngời như vậy, nên tôi khao khát ngưỡng mộ xuống tóc mà theo Phật”.

Thông rằng : Ông Anan nhờ có cái suy nghĩ này làm gốc rễ cho tâm đạo ban đầu, nên khi gặp huyễn thuật, chẳng có quá đỗi hoa mắt mê loạn, dù đă vào nhà dâm mà chưa phá hủy Giới Thể. Nhưng chỉ lấy ba mươi hai tướng tốt mà thấy Như Lai, không khỏi dùng Sắc mà thấy, lấy Tiếng mà cầu, nên c̣n trong tà giải, đối với Chân Pháp Thân của Phật c̣n xa xôi lắm. Thiền sư Tùy Châu Pháp Vi thượng đường() rằng: “Cái Pháp Thân không có h́nh tướng, chẳng thể dùng âm thanh t́m cầu. Diệu đạo tuyệt hết lời nói, đâu phải lấy văn tự mà hiểu. Cho dù siêu Phật, vượt Tổ vẫn c̣n rơi vào thềm bực. Dù cho có nói diệu, bàn huyền rốt cuộc cũng treo môi răng. Cần phải : chỗ công đức chẳng hưởng chút công lao, h́nh ảnh vết tích chẳng c̣n lưu lại; cây khô hang lạnh() rốt thảy vô tri; người huyễn ngựa gỗ, t́nh thức đều không. Chừng ấy mới thỏng tay vào chợ, chuyển thân loài khác. Không thấy đạo, th́ : “Nơi đất vô lậu nào ở được. Đành về cát lạnh khói sương nằm”“.

Đối với chỗ này tỏ hiểu th́ nào phải đợi thấy cái thân vàng chói trong sạch mới gọi là Như Lai ư ?

 

Kinh : Phật dạy : “Lành thay, Anan ! Các ông phải biết : tất cả chúng sanh từ vô thủy đến nay, sống chết nối nhau, đều do không biết cái Chân Tâm Thường Trụ(), Thể Tánh vốn trong sạch sáng suốt, mà lại dùng các Vọng Tưởng. Các tưởng này chẳng chân thật, nên mới có sự chuyển động trôi lăn.

Thông rằng : Ông Anan ân cần, tha thiết thưa hỏi Pháp Môn Vi Diệu Xa Ma Tha, Tam Ma, Thiền Na là những phương tiện ban đầu nhờ đó mười phương Như Lai đắc thành Chánh Giác. Chính là muốn biết cái Chân Tâm Thường Trụ, Tánh Thể trong sạch sáng suốt, là cái Bản Thể Bất Diệt không bị xoay chuyển luân hồi. Ông đă nói “Tướng ấy chẳng phải do Ái Dục sanh ra”, là đă hiểu rơ rằng Dục Ái nhơ nhớp, Vọng Tưởng tạp loạn chính là cái gốc rễ Sanh Tử từ vô thủy đến giờ. Cho nên Phật mới khen rằng “Lành thay !” Cái Chân Tâm Thường Trụ, vốn không sanh ra và diệt mất. Vừa khởi vọng tưởng liền nhập luân hồi. Không phải chỉ có Dục Ái nặng nề, nghiệp dữ đa mang đều chẳng phải chơn, mà bậc Thanh Văn, Duyên Giác chưa hết ḷng chấp trước th́ cũng đều là Vọng. Vọng tưởng hết sạch th́ Tánh Thể sáng suốt, vốn tự Vô Sanh, làm sao mà có luân chuyển. Toàn cả bộ kinh đều phát minh ư chỉ này. Cho nên, biết cái Chân Tâm Thường Trụ, tức là Thấy Tánh, Thấy Tánh th́ Vô Sự vậy.

Ngài Linh Vân() thượng đường dạy : “Hỡi các nhân giả, hễ có dài có ngắn là chẳng có Thường. Hăy xem bốn mùa hoa cỏ, hoa nở lá rơi. Xưa nay trời người bảy nẻo, Đất Nước Gió Lửa, thành hoại chuyển vần, nhân quả nối nhau, ba đường ác khổ, mảy lông cọng tóc chưa từng thêm bớt, chỉ có cái gốc thần thức là thường c̣n. Hạng Thượng Căn gặp bạn lành soi sáng, ngay đây là Giải Thoát, trước mắt là đạo tràng. Bực Trung, bực Hạ si mê ám độn, chẳng soi suốt được, mê ch́m trong ba cơi, luân chuyển tử sinh. Đức Thích Tôn v́ họ, tất cả Trời người, mà dạy dỗ chứng minh, tỏ bày con đường Vô Thượng. Các ông lại am hiểu chăng ?”

Có vị tăng hỏi : “Làm sao để ra khỏi Sanh Lăo Bệnh Tử ?”

Ngài đáp :

“Núi xanh nguyên chẳng động

Mặc t́nh mây qua lại”.

(Thanh sơn nguyên bất động

Phù vân nhậm khứ lai).

Câu này đủ để chú thích đoạn kinh trên. Không thể thêm bớt một chữ.

 

Kinh : “Nay ông muốn học đạo Bồ Đề Vô Thượng, phát minh Chơn Tánh th́ phải lấy Tâm Ngay Thẳng (Trực Tâm) mà trả lời chỗ Ta hỏi. Mười phương Như Lai đồng một con đường mà ra khỏi Sanh Tử đều là bởi Tâm Ngay Thẳng. Tâm mà nói là Ngay Thẳng, tức là từ địa vị đầu tiên cho đến cuối cùng, suốt trong khoảng giữa, cứ như thế, một mực không có những tướng quanh co.

Thông rằng : Hiệp Luận nói : “Ở đây, đặc biệt nói là Chân Phát Minh Tánh, vậy th́ cũng có Vọng Phát Minh Tánh sao ? Có chứ. Làm sao để phân biệt ? Đáp : Vô tâm tùy mặc xoay vần mà khắp biết, vốn mầu nhiệm sáng soi mà hằng vắng lặng, ấy là Chân Phát Minh Tánh”. Chỗ nói “Mười phương Như Lai đều cùng một đường mà ra khỏi Sanh Tử đều do Trực Tâm” là thế. C̣n nghịch với thời tiết, bỏ lỡ nhân duyên, lấy vọng tưởng mà gắng gượng hiểu biết, là Vọng Phát Minh Tánh. Chỗ nói “Dùng các vọng tưởng, vọng tưởng này chẳng chân thật nên có luân hồi” chính là thế. Vốn là một Thể, nhưng bởi v́ không có tự tánh, không có thời gian, nên tùy chỗ dùng mà có sai khác đó thôi. Tùy mặc xoay vần, hằng hằng vắng lặng mà Hay Biết, ắt hợp với Bổn Tánh() nhiệm mầu. Nghịch thời lỡ duyên mà Biết, ắt hợp với Trần Cảnh hư vọng.

Ngài Mă Minh() dạy : “Cái Bổn Tánh vốn trong sạch, bởi v́ Vô Minh bất giác mà hiện ra tướng tâm ô nhiễm. Tuy có tâm ô nhiễm, Bổn Tánh vẫn thường sáng suốt trong sạch. Cái tướng của tâm ô nhiễm là vô minh đang hiện hành. C̣n Bổn Tánh sáng sạch là cái Trí Thể Bất Động”.

Có vị tăng hỏi Tổ Vân Am : “Luận Tạp Hoa nói : Cái vô minh đang hiện hành tức là Như Lai Bất Động Trí. Điều này thật khó tin, làm sao hiểu được ?”

Khi ấy có một đồng tử đang quét đất.

Tổ Am bèn gọi. Đồng tử quay đầu lại.

Tổ Am nói : “Chẳng phải là Bất Động Trí đó sao ?”

Lại hỏi : “Cái Phật Tánh của ngươi như thế nào ?”

Đồng tử nh́n qua trái, qua phải, như không vậy rồi bỏ đi.

Tổ Am nói : “Chẳng phải là vô minh hiện hành đó sao ?”

Chân Phát Minh Tánh ấy, như ánh sáng của hạt minh châu, thường tự soi hạt châu. Đức Khổng Tử dạy “Không nghĩ quấy”, là cũng gần giống vậy. C̣n Vọng Phát Minh Tánh th́ ví như phương Đông trời sắp sáng, trong khoảng lờ mờ, có chút bóng sắc. Kinh Dịch nói “Chỗ mờ tối hỗn tạp mà sáng”, là gần giống vậy.

 

Kinh : “Anan, nay Ta hỏi ông : “Đương khi ông do ba mươi hai tướng của Như Lai mà phát tâm th́ ông lấy cái ǵ mà thấy và cái ǵ ưa thích?”

Thông rằng : Đây là chỗ từ từ dẫn dụ trước hết của Thế Tôn. Đức Thế Tôn há chẳng biết rằng “Sự Thấy thuộc về con mắt, ưa thích thuộc về cái tâm” hay sao ? Nhưng cái “Thấy Có” đó, là cái Thấy về h́nh tướng hữu vi. Cái “Có chỗ ưa thích” ấy, là cái ưa về h́nh tướng hữu vi. Nên hỏi ai thấy, ai yêu, cốt để Anan ngay lúc ấy nhận ra và nắm lấy con người thực xưa nay của ḿnh vậy. Nếu có thể hồi quang phản chiếu, t́m cầu cái Thấy ấy, chợt hiểu Bất Khả Đắc, hết thảy ưa muốn vốn chưa từng có gốc rễ, tức th́ nhập ngay vào Định Thủ Lăng Nghiêm. Thế chẳng khoái sao ? Về sau, nhà Thiền hay dùng cái cơ chốt này.

Có nhà sư hỏi Tổ Bá Trượng() : “Như sao là Phật?”

Tổ Trượng hỏi : “Ông đó là ai ?”

Đáp : “Tôi đây vậy”.

Tổ Trượng rằng : “Ông biết cái Tôi đó chăng ?”

Đáp : “Rơ ràng vậy”.

Tổ Trượng bèn dựng đứng cây phất tử() lên, rằng: “Ông lại thấy chăng ?”

Đáp : “Thấy”.

Tổ Trượng bèn chẳng thốt lời nào.

Chỗ hỏi của vị tăng là Phật, mà Tổ Trượng lại chẳng nói ǵ đến Phật, chỉ ở Chỗ Thấy của vị tăng mà nhắc nhở. Một tắc này, rơ ràng bày tỏ được cái khuôn mẫu của Lăng Nghiêm.

 

Kinh : Anan bạch Phật : “Thưa Thế Tôn, sự ưa thích đó là dùng cái tâm và con mắt của tôi. Do mắt thấy tướng tốt của Như Lai, tâm sinh ưa thích, nên tôi phát tâm nguyện ĺa bỏ sanh tử”.

Phật bảo Ông Anan : “Như chỗ ông nói, thật do tâm và con mắt mà có ưa thích. Nếu không biết tâm và mắt ở đâu, th́ chẳng dẹp được trần lao. Ví như bậc quốc vương bị giặc xâm lăng, phát binh đánh dẹp, th́ binh ấy cần nhất phải biết chỗ ở của kẻ giặc. Khiến ông bị luân hồi, th́ tâm và mắt là thủ phạm. Nay ta hỏi ông : “Tâm và mắt ấy hiện ở chỗ nào ?”

Thông rằng : Chỗ hỏi của Thế Tôn là riêng tỏ về chỗ Hướng Thượng Nhất Lộ(). Nói “Lấy cái ǵ mà thấy, lấy ai ưa thích”, rơ ràng là chỉ thẳng mặt trăng. Chỗ đáp của Ông A Nan chưa rời khỏi thường t́nh, chỉ biết hợp theo Trần mà chẳng biết hợp với Giác. Xoay lưng lại với Giác mà hiệp theo Trần, là lỗi của ai ? Sáu Giặc (sáu Căn) làm môi giới, tự cướp lấy của báu nhà ḿnh. Cho nên, chỗ Ông Anan nói “Tâm và Mắt”, chỉ là Căn và Thức, lôi kéo theo trần lao, lưu chuyển cùng sanh tử. Cái Thường Trụ Chân Tâm() như vua trong nước, v́ bị giặc xâm lấn, nên vốn trong sạch mà gọi là dơ, vốn sáng soi mà gọi là mờ ám. Tâm và mắt thật là lũ giặc của Chân Tánh vậy. Do đó, phải thấu đến cùng sào huyệt của chúng mà diệt trừ. Nghịch ḍng trôi lăn, giữ tṛn Chân Tánh, Lục Dụng (sáu Thức) chẳng hiện hành, mà phát ra sự sáng rỡ trong sạch vốn có, sáu Căn đồng dùng thay lẫn cho nhau, con mắt thịt do cha mẹ sanh ra thấy suốt mười phương, th́ c̣n đâu các lỗi bị lưu chuyển nữa !

Thiền sư Tử Hồ Tung có đêm la lớn : “Có cướp ! Có cướp !”

Đệ tử choàng dậy tranh nhau đuổi bắt. Ngài chụp lại một người, nói rằng : “Bắt được một tên rồi”.

Người đệ tử ấy nói : “Không phải đâu, chính là tôi đây”.

Ngài buông ra nói rằng : “Chính là()”.

Chỉ bởi v́ chẳng chịu nhận lấy đó thôi !

Cho nên, nếu chịu nhận lấy th́ giặc cướp tức là con cái. Chẳng thể kham lấy, con cái trở lại làm giặc. Đoạn thuyết thoại này đối với chuyện vị quốc vương đem binh trừ giặc, thật là một phen hư lộng, riêng cho bực có mắt đó thôi.

 

II- CHẤP TÂM Ở TRONG THÂN

Kinh : Ông Anan bạch với Phật : “Thưa Thế Tôn, tất cả mười loài chúng sanh ở thế gian đều cho cái Thức Tâm Hay Biết là ở trong thân. Thiết nghĩ, th́ con mắt như hoa sen xanh của Như Lai cũng ở trên mặt Phật. Nay tôi thấy con mắt vật chất của tôi cũng ở trên mặt tôi. Như vậy th́ cái Thức Tâm thật ở trong Thân”.

Phật bảo Ông Anan : “Hiện nay ông ngồi trong giảng đường của Như Lai. Ông hăy xem rừng Kỳ Đà ở đâu ?”

- Thưa Thế Tôn, giảng đường cao lớn thanh tịnh này ở trong vườn Cấp Cô Độc, c̣n rừng Kỳ Đà hiện thật ở ngoài giảng đường.

- Anan, nay ông ở trong giảng đường, th́ ông thấy cái ǵ trước tiên ?

- Thưa Thế Tôn, tôi ở trong giảng đường, trước hết là thấy Như Lai, sau đó là đại chúng, rồi nh́n ra ngoài thấy vườn rừng.

- A Nan, do đâu ông thấy được vườn rừng ?

- Thưa Thế Tôn, do các cửa giảng đường mở rộng, nên tôi ở trong này mà thấy được ra ngoài xa.

Thông rằng : Phù Căn Tứ Trần() cũng giống như sáu Căn, đây chỉ về Nhăn Căn mà thôi. Đất, Nước, Lửa, Gió : Tánh chúng xưa nay vốn trong sạch; mà Tướng của Đất, Nước, Lửa, Gió mỗi mỗi đều dao động như bụi bặm, gọi là Trần. Khi sáu Căn tạo thành th́ nương theo tứ Trần này : sáu Căn ch́m vào trong, bốn Đại trôi nổi ở bên ngoài, cho nên gọi là Phù Căn Tứ Trần. Với cả mười loài, Thức Tâm đều ở trong, mắt ở trên mặt th́ không nói cũng biết rồi. Con mắt của Như Lai ở trên mặt, nhưng không dám xác quyết Thức Tâm là ở trong, v́ Như Lai đă rời ĺa cái Thức rồi, v́ cái Pháp Thân th́ tṛn đầy không có trong hay ngoài vậy. Anan nói ra thật đắn đo, mà người dịch cũng cẩn thận. Thế Tôn muốn bày rơ cái nghĩa “Tâm chẳng ở trong”, nên trước hết lấy giảng đường, rừng vườn, cửa nẻo làm ví dụ. Giảng đường ví như trong thân, vườn rừng ví như ngoại vật, cửa nẻo ví như lục căn. Nếu Ông Anan là người tỏ suốt, thấy được con người đích thực của Anan, vốn chẳng thuộc giảng đường, chẳng thuộc vườn rừng, chẳng thuộc cửa nẻo, th́ ông sẽ đến đi tự tại, không làm ǵ có trong có ngoài. Nếu chấp chặt tâm này, lầm lạc cho là ở trong Sắc Thân, lấy tạng phủ làm nhà nhốt kín, lấy sáu căn làm cửa nẻo, ôm lấy ngoại cảnh làm vườn rừng, rồi nghĩ rằng ngoài những thứ đó th́ không có chỗ an thân. Một mai, nhà hư cửa nát, cảnh đổi, cái Thấy tiêu vong, th́ c̣n chỗ nào để an được. Thế Tôn tuy nương theo chỗ b́nh thường biện biệt thứ tự trong ngoài, cũng chỉ rơ ràng sắc thân vốn như huyễn, chẳng phải là chỗ để bám chấp được. Như giảng đường, cửa cái, cửa sổ đối với ta chẳng có tương can ǵ.

Ngài Trí Huy Thiền sư trước khi tịch có bài kệ :

“Ta có một căn nhà

Xây lợp bởi mẹ cha

Tám mươi năm lui tới

Gần đây rơ sắp hoại

Sớm liệu dời nơi khác

Nào có chuyện ghét thương

Đợi lúc kia sập nát

Đây kia không ngăn ngại”.

(Ngă hữu nhất gian xá

Phụ mẫu vị tu cái

Văng lai bát thập niên

Cận lai giác tổn hoài

Tảo nghị di biệt xứ

Sự thiệp hữu tắng ái

Đăi tha tồi hủy thời

Bỉ thử vô pḥng ngại).

Rồi ngồi kiết già mà đi. Đó là thương ghét đều quên, đến đi không trở ngại, cái Năng Kiến() đă tiêu vong th́ c̣n nói ǵ đến chuyện trong ngoài nữa.

 

Kinh : Khi ấy, Đức Thế Tôn ở giữa đại chúng, đưa cánh tay sắc vàng xoa đầu Ông Anan, dạy ông và đại chúng rằng : “Có Pháp Tam Ma Đề, tên là Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Vương, gồm đủ muôn hạnh. Mười phương Như Lai, đều do một pháp môn là con đường Diệu Trang Nghiêm ấy mà siêu xuất. Nay ông hăy nghĩ kỹ !”

Ông Anan đảnh lễ, kính vâng lời Phật dạy.

Thông rằng : Một pháp môn siêu xuất này rơ ràng chỉ ra con đường Đốn Ngộ cốt ở chỗ chuyển Thức thành Trí. Tinh thuần dùng Kim Cang Càn Huệ mới có thể nói là con đường đạo Chân Thật. Sau này, trong kinh có nói : “Diệu Pháp này, vô lượng Chư Phật trong hằng sa kiếp đời quá khứ, nhờ khai ngộ cái tâm này mà được đạo Vô Thượng. Thức Ấm tận hết, th́ ngay đây các Căn của ông có thể dùng thay cho nhau được(). Từ trong chỗ dùng thay nhau đó mà có thể thấu vào Kim Cương Càn Huệ của Bồ Tát. Cái Tâm thuần nhất tṛn sáng ở trong phát chiếu ra, như ngọc lưu ly trong sạch, ngậm mặt trăng quư báu ở trong. Như vậy rồi vượt lên hàng Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hành, Thập Hồi Hướng, Tứ Gia Hạnh Tâm, đến chỗ tu hành của Kim Cương Thập Địa Bồ Tát, đến địa vị Đẳng Giác Tṛn Sáng, nhập vào cái Biển Trang Nghiêm Mầu Nhiệm của Như Lai, tṛn đầy cái Đạo, quy về trong cái Vô Sở Đắc”.

Đầu đuôi ứng nhau, tất lấy việc siêu xuất Thức Ấm làm cái quy tắc rốt ráo. Đức Thế Tôn thấu suốt rằng sự tiếp nối nhau của sanh tử thế gian chỉ là sự tiếp nối nhau của mỗi mỗi vọng tưởng, mê mờ chẳng hề biết quay trở lại. Thức Ấm hết ráo, đó là Chân Tâm Thường Trụ, hiện bày trước mắt, Thể Tánh trong sạch sáng soi, cùng Phật không khác. Cho nên, phá được Thức Ấm, tức nhập Đốn Môn. Ông Anan tuy thông minh học rộng, rốt cuộc chẳng ra khỏi thức t́nh phân biệt. Thức t́nh chưa trừ, chỉ là ở chỗ “Có đắc”. Mà chứng Bồ Đề, chỉ ở tại chỗ “Không đắc”. Cho nên, phần sau của kinh, nơi bảy chỗ hiển bày cái Tâm, Ông Anan mỗi mỗi cứ lấy chỗ “Có đắc” mà tự trói, c̣n Thế Tôn th́ thảy thảy đều lấy chỗ “Không đắc” mà quét sạch. Kinh Lăng Già nói : “Có tướng để đắc là Thức, không có tướng để đắc là Trí”. Đây thật là Đốn Môn liền chứng Bồ Đề vậy.

Đức Nhị Tổ Thần Quang(), chặt tay trước mặt Sơ Tổ Đạt Ma cầu xin pháp môn An Tâm.

Tổ nói : “Đem cái tâm lại đây ta an cho !”

Ngài Thần Quang thưa : “T́m hết tâm rồi, rốt là không thể đắc() !”

Sơ Tổ nói : “Ta an tâm cho ông rồi đó”.

Nếu Ông Anan có thể tin được bảy chỗ trưng bày tâm đều bất khả đắc, th́ y bát đâu có riêng truyền cho Ông Ca Diếp !

 

Kinh : Phật bảo Ông Anan : “Như lời ông nói: ở giảng đường, do cửa mở rộng nên ông thấy được vườn rừng ở xa. Liệu có chúng sanh nào ở trong giảng đường, không thấy Như Lai mà lại thấy được ngoài giảng đường không ?”

Ông Anan thưa : “Thưa Thế Tôn, ở trong giảng đường không thấy Như Lai mà lại thấy được rừng suối bên ngoài, thật không có lẽ đó”.

Phật dạy : “Anan, ông cũng như thế. Cái tâm linh của ông, hết thảy đều rơ biết. Nếu hiện nay cái tâm rơ biết đó của ông thật ở trong thân, th́ trước hết nó phải rơ biết trong thân thể. Vậy có chúng sanh nào, trước thấy bên trong thân rồi sau mới thấy những vật ở bên ngoài không ? Dầu không thấy được tim, gan, t́, vị nhưng móng tay mọc, tóc dài ra, gân chuyển, mạch nhảy, đúng ra phải rơ, sao lại không biết ? Đă không biết bên trong, làm sao biết được bên ngoài ? Vậy nên biết rằng ông nói cái tâm hay rơ biết đó trụ ở thân, không có lẽ nào như vậy”.

Thông rằng : Do mắt thấy mà tâm biết, chẳng rời căn trần, do bởi phía trong mà biết phía ngoài, đó là cái thấy b́nh thường thế tục. Đức Thế Tôn bèn ở nơi cái thấy thường t́nh mà bác bỏ rằng “Đă không biết phía trong làm sao ở phía trong ?” Tuy người có Trí cũng phải khuất phục bởi lư luận này. Thật ra, tim gan t́ vị, không ǵ mà chẳng biết rơ. Móng tóc gân mạch, không ǵ mà chẳng hay. Nếu không hay biết, th́ hóa ra chỉ là một vật ù ĺ vậy sao ?

Ngài Phó Đại Sĩ() có bài kệ :

“Đêm đêm ôm Phật ngủ

Sáng sáng cùng Phật dậy

Đứng ngồi vẫn theo nhau

Nói nín đồng vừa vặn

Mảy tơ chẳng ĺa nhau

Tương tự như h́nh, bóng

Muốn biết chỗ Phật ở

Lời nói âm thanh đó”.

(Dạ dạ bảo Phật miên

Triêu triêu hoàn cọng khởi

Khởi tọa trấn tương tùy

Ngữ mặc đồng cư chỉ

Túng hào bất tương ly

Như thân ảnh tương tự

Dục thức Phật khứ xứ

Chỉ giá ngữ thanh thị).

Theo lời nói này đây, th́ nói rằng “Cái tâm rơ biết ở trong Thân” cũng chẳng phải là không đúng !

Ngài Vân Môn() nói rằng : “Luận Bảo Tạng nói “Trong trời đất, giữa vũ trụ, có một vật báu, ẩn tại Non H́nh (thân thể). Cầm lồng đèn hướng vào trong Phật điện, đem ba cửa đến để trên lồng đèn, để làm ǵ?”

Ngài tự thay thế mà nói : “Theo vật, ư dời”.

Lại nói : “Mây nổi sấm động”.

Ngài Tuyết Đậu() tụng rằng :

Xem đi,

Bến cổ ai kia nắm cần câu

Mây trùng trùng, nước mênh mông

Trăng sáng, bông lau, anh tự thấy !.

Đoạn công án này nói cái Năng Tri Tỏ Biết và cái Bổn Giác Tṛn Sáng rất dễ lẫn lộn, cũng tương tợ như trăng sáng và bông lau, nên cần soi xét phân biệt. Nếu soi xét phân biệt ra được, th́ không chỉ lồng đèn và lộ trụ(), mà c̣n đốn triệt được Tâm Tông của Tổ Vân Môn, và cái vật báu trong thân cũng cùng với Tăng Triệu() khế hợp.. Đâu phải là bọn ma mị tinh hồn giỡn cợt tầm thường có thể mượn lời mà nói được.

 

III- CHẤP TÂM Ở NGOÀI THÂN

Kinh : Ông Anan cúi đầu bạch Phật : “Tôi nghe lời Phật dạy như vầy, mới rơ tâm tôi thật ở ngoài thân. Tại sao như thế ? Ví như đèn thắp trong pḥng, trước hết phải chiếu trong pḥng, sau mới do cửa chiếu sáng ngoài sân. Tất cả chúng sanh không thấy bên trong thân mà chỉ thấy bên ngoài, cũng như ngọn đèn, để ở ngoài pḥng, không thể chiếu sáng trong pḥng. Nghĩa ấy rơ ràng, chắc là không lầm, chưa biết có đúng với liễu nghĩa của Phật hay không ?”

Phật bảo Ông Anan : “Vừa rồi, các tỳ kheo theo Ta đi khất thực trong thành Thất La Phiệt, nay đă về rừng Kỳ Đà. Ta đă thọ trai rồi, giờ ông hăy xem trong chúng tỳ kheo, khi một người ăn th́ các người khác có no không ?”

Ông Anan bạch Phật : “Thưa Thế Tôn, không. V́ rằng các tỳ kheo tuy là A La Hán nhưng thân xác khác nhau, làm sao một người ăn mà các vị kia no được”.

Phật bảo Ông Anan : “Nếu cái tâm tỏ hiểu, thấy biết của ông thật riêng ở ngoài thân, th́ thân và tâm ở ngoài nhau, chẳng dính líu ǵ với nhau. Vậy th́ cái ǵ tâm biết th́ thân không thể hay, cái ǵ thân hay th́ tâm không thể biết. Nay Ta đưa tay nhu nhuyễn lên cho ông xem, khi mắt ông thấy th́ tâm ông có phân biệt không ?”

Ông Anan bạch Phật : “Thưa Thế Tôn, đúng vậy”.

Phật bảo Ông Anan : “Nếu thân và tâm cùng hay biết một lúc th́ làm sao tâm lại ở ngoài thân ? Vậy, phải biết rằng ông nói cái tâm rơ biết trụ ở ngoài thân, thật không thể có điều ấy”.

Thông rằng : Chỗ thấy của Ông Anan chưa chân thật nên không tránh khỏi việc theo lời mà sanh ra sự hiểu biết. Cái tri giải sanh ra theo lời nói ấy chính là chỗ ở của thức t́nh. Đức Thế Tôn cốt nhổ dứt cái thức căn nên mỗi mỗi đều chặt bỏ, khiến cho Ông Anan không có chỗ để bám víu. Đấy mới thật là giống như quốc vương đi dẹp giặc, biết chỗ của giặc mà diệt trừ.

Ông Anan cho rằng cái tâm ở ngoài thân, là đúng với chỗ liễu nghĩa của Phật, chẳng phải là không có kiến thức đâu. Bởi v́ cái tâm ấy, ngầm ẩn nơi Trời th́ là Trời, ngầm ẩn nơi Đất bèn là Đất, cùng khắp vũ trụ, rộng trải nhiều đời, chứ đâu phải ràng buộc măi trong một thân này. Thế nên ông mới nói “Tỉnh ngộ biết cái tâm tôi thật ở ngoài thân”. Lại thêm “Nghĩa ấy rơ ràng, chắc là không lầm”.

Đức Thế Tôn lấy ví dụ “Người khác ăn tất chẳng phải ta no”, để chỉ rằng nếu cái tâm ở ngoài th́ có quan hệ ǵ đến thân ta. Cái thân mạng là h́nh tướng, nên ăn chẳng thể tương thông, làm sao người này ăn người kia no được. C̣n cái tri giác là thần nhiệm, trong ngoài nào có trở ngại được. Chỉ v́ Ông Anan chấp chặt “Tâm ở ngoài”, như một vật sáng, chỉ chiếu bên ngoài mà không thể chiếu bên trong. Thế th́ ngoài thân là tâm, c̣n trong thân chẳng phải là tâm sao ! Nếu tâm ở ngoài thân, th́ thân không thể biết : như người khác ăn, ta chẳng thấy no. Nhưng mắt thấy cái ǵ, tâm liền phân biệt ngay cái ấy, thế th́ cái tâm ấy lại chẳng thường ở trong ư ? Cho nên nói ở ngoài là sai lầm.

Ngài Tào Sơn() một hôm nghe tiếng chuông, bèn nói : “Ối chà, ối chà !”

Có nhà sư hỏi : “Ḥa Thượng làm sao thế ?”

Ngài bảo : “Đánh trúng tâm ta”.

Nhà sư không có chỗ đối lại.

Ngài Ngũ Tổ Giới nói thay rằng : “Làm tâm của thằng giặc hoảng hồn() !”

Ngài Phó Đại Sĩ có bài kệ :

“Xóm làng các Phật, tại thế giới

Bốn biển núi sông, sanh đầy khắp

Phật với chúng sanh đồng một Thể

Chúng sanh là giả danh của Phật

Như cần thấy Phật : xem ba quận

Rừng ruộng, nhà vườn, ở khắp nơi

Hoặc ở không trung bay quanh quẩn

Hoặc cho sông núi tiếng vang lừng

Hoặc kết bạn bè đi khắp xứ

Hoặc lại cô đơn bước một ḿnh

Hoặc khiến ban ngày xuôi ngược chạy

Hoặc khiến ban đêm đi gác canh

Hoặc đen, hoặc đỏ, rồi hoặc trắng

Hoặc tía, hoặc hồng với vàng, xanh

Hoặc to hoặc nhỏ mà mới dưỡng

Hoặc trẻ hoặc già lúc xưa sanh

Hoặc có cây đàn trên lông cánh

Hoặc mang đèn đóm ở thắt lưng

Hoặc giữa hư không bay loạn xạ

Hoặc sanh cây cỏ mặc tung hoành

Hoặc vô ngôn hạnh mà ra cửa

Hoặc vào hang đất tạm kư sanh

Hoặc xoi lỗ cây làm quê quán

Hoặc kết cỏ cây làm thành, ổ

Hoặc dệt vơng lưới làm đường thôn

Hoặc nằm đất đá làm thềm ốc

Chư Phật Bồ Tát đều như thế

Cái ấy tên là Xá Vệ thành”.

Nơi này mà khế chứng() th́ nói cái tâm Giác Liễu Năng Tri trụ ở ngoài thân cũng không phải là chẳng trúng vậy !

 

IV- CHẤP TÂM NÚP SAU CON MẮT

Kinh : Ông Anan bạch Phật : “Thưa Thế Tôn, như lời Phật dạy : v́ không thấy bên trong thân, nên tâm không ở trong thân. V́ thân và tâm cùng biết một lần, không thể rời nhau nên tâm không riêng ở ngoài thân được. Nay tôi suy nghĩ, biết tâm ở một chỗ!”

Phật bảo : “Chỗ ấy ở đâu ?”

Ông Anan bạch Phật : “Cái tâm Hay Biết ấy đă không biết bên trong mà lại thấy bên ngoài. Theo như tôi xét nghĩ, th́ nó nấp sau con mắt. Ví như có người lấy chén lưu ly úp vào hai con mắt, con mắt tuy là có vật úp vào nhưng không bị trở ngại, con mắt ấy vừa thấy th́ liền phân biệt được ngay. Cái tâm hay biết của tôi không thấy bên trong là v́ tâm ấy ở nơi con mắt; nhưng lại thấy bên ngoài rơ ràng không ngăn ngại, v́ tâm nấp sau con mắt”.

Phật bảo Ông Anan : “Theo chỗ ông nói : tâm nấp sau con mắt như con mắt nấp sau chén lưu ly. Vậy th́ người kia đang khi lấy chén lưu ly úp vào hai mắt, trông thấy núi sông th́ có trông thấy chén lưu ly không ?”

- Thưa Thế Tôn, đúng thế, người ấy đương khi lấy chén lưu ly úp vào hai con mắt thật có thấy chén lưu ly.

Phật bảo Ông Anan : “Nếu tâm ông nấp sau con mắt như con mắt nấp sau chén lưu ly, th́ khi trông thấy núi sông sao không trông thấy con mắt? Nếu thấy con mắt, th́ con mắt cũng là ngoại cảnh, không thể mắt liền thấy mà tâm liền biết được. Nếu không thấy được con mắt, th́ sao lại nói rằng tâm nấp sau con mắt như con mắt nấp sau chén lưu ly ? Vậy, nên biết rằng ông nói cái tâm Hay Biết nấp sau con mắt như con mắt nấp sau chén lưu ly, thật không đúng vậy”.

Thông rằng : Luận Bát Thức Quy Củ nói “Kẻ ngu khó phân biệt được Căn và Thức”. Vậy th́ Căn và Thức khó phân biệt từ xưa rồi. Nếu nói Căn chẳng phải là Thức th́ Căn tự là Căn, Thức tự là Thức. Thức thường thấy cái Căn. Nếu nói Căn tức là Thức, th́ người chết kia, con mắt cũng hiện c̣n, tại sao chẳng thấy. Cho nên biết rằng năm Căn chỉ là vật sắc trong suốt soi cảnh vật mà thôi, c̣n Thức th́ hiểu biết phân biệt. Chủng Tử và Hiện Hành của hai thứ huân tập chẳng giống nhau. Năm Căn tức là sắc pháp, là Tướng Phần của Thức Thứ Tám, đủ cả hai nghĩa Chấp (Giữ) và Thọ (Lănh), có tánh vô kư và trắng sạch suốt. Năm Thức thuộc về tâm pháp, tức là Kiến Phần của Thức Thứ Tám, đủ cả ba Tánh (Thiện, Ác, Vô Kư), hay hiểu biết rơ ràng gọi là Tánh Cảnh thuộc về Hiện Lượng, nên Luận nói “Tánh Cảnh, Hiện Lượng thông ba tánh”. Đến Thức Thứ Sáu mới có Phân Biệt, thuộc về Tỷ Lượng(), Phi Lượng(). Đây là chỗ phân biệt giữa Căn và Thức.

Ông Anan nói rằng “Căn ấy vừa thấy liền phân biệt ngay” là đúng. Nhưng nói tiếp “Cái tâm nấp ở trong Căn như chén lưu ly úp lên mắt”, th́ sai. V́, nếu quả như khi chén lưu ly úp lên mắt, th́ mắt thấy núi sông cũng thấy được chén lưu ly, cũng thế, tâm khi thấy núi sông, cũng phải thấy con mắt. Nay tâm chẳng thấy con mắt, tức là rơ ràng tâm chẳng phải ngầm ẩn trong con mắt. Ví dụ để so sánh của ông chẳng chân thật, chính thuộc Phi Lượng. Xét chỗ chỉ bày của Ông Anan th́ cái tâm Tri Giác chỉ là sáu Thức Phân Biệt vậy. Sáu Thức này do đâu khởi ra ? Đó là do sự truyền tống, chuyển đưa của Thức Thứ Bảy và do sự hàm tàng, chứa giữ của Thức Thứ Tám. Dầu cho sự phân biệt dễ bỏ, mà Hành Ấm khó trừ. Dầu cho Hành Ấm dễ tiêu, mà chủng tử khó chuyển hóa.

Nay đối với sáu Thức Phân Biệt mà Ông Anan c̣n chưa biết chỗ ở của chúng, huống hồ lại biết được cái Thức Thứ Bảy và Thức Thứ Tám ? Chỗ ở c̣n không biết, nói ǵ đến chuyện đem binh đi đánh dẹp ?

Kinh này mới đầu phá hang ổ của sáu Thức, nên mới có bảy chỗ trưng bày của Tâm. Sau cùng công kích các cơ quan đầu năo của Thức Thứ Tám, cho đến lúc Thức Ấm hết sạch. Đây là đại lược việc chuyển Thức thành Trí. Văn sau của kinh nói rằng “Tuy để được Sáu tiêu() hết, dường c̣n chưa mất cái Một()”. Đến khi Một, Sáu đều tiêu, rồi không chỗ dựa, mới nh́n lại cái đoạn “Nấp trong con mắt giống như lấy chén lưu ly mà úp” này, lại không phát ra một tiếng cười lớn hay sao ! Tuy nhiên, nếu khéo thí dụ, th́ không ǵ mà chẳng được !.

Xưa, Trung Ấp Hồng() thiền sư, có Ngài Ngưỡng Sơn đến tạ ơn truyền Giới, xong rồi hỏi rằng : “Cái nghĩa Phật Tánh như thế nào ?”

Tổ Ấp đáp : “Tôi sẽ nói một ví dụ cho ông : giống như cái nhà có sáu cửa sổ, trong ấy có nhốt một con khỉ lớn, ở ngoài có con khỉ lớn kêu rằng : “Đười ươi”, th́ con ở trong liền ứng đáp. Y vậy, cả sáu cửa đồng kêu vang, đồng ứng đáp”.

Ngài Ngưỡng Sơn() lễ tạ rồi đứng lên thưa rằng : “Nhờ ơn Ḥa Thượng thí dụ, không ǵ chẳng rơ. Lại c̣n có một sự : nếu con khỉ ở trong mê ngủ, con khỉ lớn ở ngoài muốn cùng gặp nhau, th́ làm sao ?”

Tổ Ấp bước xuống khỏi chỗ ngồi, nắm tay Ngài Ngưỡng Sơn nhảy múa mà nói : “Đười ươi cùng ông gặp nhau rồi đó. Ví như con ṭ ṿ làm tổ trên lông nheo con muỗi, hướng về ngă tư đường mà hô hoán rằng : “Đất rộng người thưa, tương phùng ấy ít”.

Tổ Vân Cư() Tích nói rằng : “Khi ấy mà Trung Ấp không được một lời nói ấy của Ngưỡng Sơn, th́ làm ǵ có Trung Ấp !”

Tổ Trung Thọ Trù nói : “Có người nào định được đạo lư này chăng ? Nếu định chẳng được th́ chỉ là kẻ bắt tay chơn của tinh hồn làm tṛ hư lộng. Nghĩa Phật Tánh ở tại chỗ nào ?”

Thiền sư Huyền Giác() nói : “Nếu chẳng phải là Ngưỡng Sơn, làm sao được thấy Trung Ấp. Hăy nói đâu là chỗ Ngưỡng Sơn được gặp Trung Ấp ?”

Tổ Thiên Đồng tụng rằng :

Nhà tuyết ngũ vùi năm sắp hết

Cửa rêu đêm chẳng mở, thâm u

Vườn rừng khô lạnh xem biến đổi

Gió xuân thổi dậy luật Đồng Khôi().

Bài tụng này rơ ràng ca ngợi chỗ ngủ của Ngài Ngưỡng Sơn, chẳng đọa vào sự khô chết. Đó tức là chỗ Ngài Trung Ấp và Ngưỡng Sơn gặp nhau, quả là cái cảnh giới Một, Sáu điều tiêu, nhưng cái chuyện “Vườn rừng biến thái như luật Đồng Khôi” với lại “Tay chân tinh hồn” th́ khác nhau biết bao !

 

V- CHẤP NHẮM MẮT THẤY TỐI LÀ THẤY BÊN TRONG THÂN

Kinh : Ông Anan bạch Phật : “Thưa Thế Tôn, nay tôi lại nghĩ như vầy : trong thân thể chúng sanh nầy, tạng phủ ở bên trong, khiếu huyệt ở ngoài, có tạng th́ tối, có khiếu th́ sáng. Nay tôi trả lời với Phật rằng : mở mắt thấy sáng, gọi là thấy bên ngoài. Nhắm mắt thấy tối, gọi là thấy bên trong. Nghĩa ấy thế nào ?”

Phật bảo Ông Anan : “Đương khi ông nhắm mắt thấy tối, th́ cái cảnh tối ấy là đối với con mắt hay không đối với con mắt”. Nếu đối với mắt th́ cái tối ở trước mắt sao lại thành ở trong thân ? C̣n cái tối đó thành ở trong thân th́ khi ở trong pḥng tối, không có ánh sáng của mặt trời, mặt trăng hay của đèn, th́ cái ǵ ở trong nhà tối đó đều là phủ tạng của ông hết hay sao ? C̣n nếu cái tối không đối với Mắt, th́ làm sao thành ra có thấy ? Nếu cho rằng rời cái thấy sáng bên ngoài th́ thành ra cái thấy tối đối với bên trong, nhắm mắt thấy tối gọi là thấy bên trong thân, th́ khi mở mắt thấy sáng sao lại không thấy cái mặt ? Nếu không thấy cái mặt th́ cái thấy tối đối với bên trong cũng không thành được. C̣n như thấy được cái mặt, th́ cái tâm Hay Biết ấy và con mắt đều ở giữa hư không, sao lại thành ở trong thân được ? Nếu tâm và con mắt ở giữa hư không th́ tất nhiên không phải là thân thể của ông, v́ không lẽ hiện nay Như Lai thấy mặt ông cũng là thân của ông hay sao ? Và như thế th́ con mắt của ông đă biết mà thân của ông lại chẳng biết. Thế là theo lời nói chấp trước của ông, thân và mắt ở riêng như thế đều có Tánh Biết, th́ ông lại có hai Tánh Biết, rồi chính một thân ông sẽ thành hai đức Phật hay sao ? Vậy, phải biết rằng ông nói thấy tối gọi là thấy bên trong thân, thật không có lẽ ấy”.

Thông rằng : Ông Anan chỉ v́ nghi vướng vào lời nói “Chẳng thể thấy bên trong” mà sanh ra bao nhiêu là suy đoán. “Nấp sau con mắt” đă chẳng phải, th́ “Cái thấy tối xoay vào trong” lại đúng hay sao ? Cái “Thấy tối” này lại càng suy ra nhiều suy tính hơn. Ông Anan tuy chưa tỏ lời mà Đức Thế Tôn mỗi mỗi đem ra phá sạch. Ban đầu là hỏi cái cảnh tối đó là đối với mắt hay không đối với mắt. Nếu đối với mắt th́ thành cảnh ở ngoài, c̣n nếu không đối với mắt th́ chẳng thấy được, th́ cái tối đó không thể gọi là ở trong vậy. Đă cho là cái Thấy của “Năng Kiến” là do nh́n trở lại chứ không nhờ con Mắt, th́ nếu nhắm mắt nh́n vào trong thấy tối, ắt mở mắt quay lại nh́n cũng có thể thấy mặt. Mặt không thấy được, làm sao thấy được cái tối, vậy th́ cái Thấy ấy không thể thấy bên trong. Nếu lại dùng tâm thức im lặng suy xét, đây là tạng phủ, đây là mặt mày, mà gọi là cái Thấy, th́ cái tâm Nhăn ấy, chẳng phải ở tại hư không sao?

Nếu cho là Tâm, mắt vốn ở tại hư không, có thể thấy mặt mày của ḿnh, th́ thân của Như Lai cũng là thân của ông sao ? Nếu cho rằng cái Thấy của Như Lai là cái Thấy của ông, thân Như Lai là thân của ông th́ một thân Anan có thể thành hai vị Phật sao ?

Từ cái chỗ “Thấy bên trong” này mà sanh ra bao nhiêu là suy tính. Cái “Thấy đối với bên trong” đă chẳng thể thành, th́ thấy tối không thể gọi là “Thấy bên trong” được. Tuy nhiên, cái Năng Kiến ấy nó vốn tự tối, vậy th́ ai thấy đó ?

Ngài Vân Môn hạ lời : “Người người tự có quang minh cả. Khi xem chẳng thấy, tối thui thui. Thế nào là quang minh của người người ?”

Tự trả lời thay rằng : “Kho bếp ba cửa”.

Lại nói : “Việc tốt chẳng bằng không”.

Ngài Tuyết Đậu tụng rằng :

“Tự chiếu bày độc sáng

V́ ông thông một đường

Hoa tàn cây không bóng

Khi xem ai chẳng thấy

Thấy, chẳng thấy

Cỡi ngược trâu, hề, vào Phật điện”.

(Tự chiếu liệt cô minh

Vi quân thông nhất tuyến

Hoa tạ thụ vô ảnh

Khán thời thùy bất kiến

Kiến bất kiến

Đảo kỵ ngưu hề nhập Phật điện).

Nếu hiểu được chỗ “Cỡi ngược trâu vào Phật điện”, th́ nói “Thấy tối tức là thấy bên trong” cũng không phải là không đúng !

 

VI- CHẤP TÂM HỢP VỚI CHỖ NÀO TH̀ LIỀN CÓ Ở CHỖ ẤY

Kinh : Ông Anan bạch Phật : “Tôi thường nghe Phật chỉ dạy tứ chúng : Do tâm sanh nên thảy thảy pháp sanh. Do pháp sanh nên thảy thảy tâm sanh”. Nay tôi suy nghĩ th́ cái Thể Suy Nghĩ đó thật là tâm tánh của tôi, hễ hợp với chỗ nào th́ tâm liền có ở chỗ đó, chứ không phải ở trong, ở ngoài hay ở chặng giữa”.

Phật bảo Ông Anan : “Nay ông nói rằng : do Pháp sanh nên các thứ tâm sanh, hễ hợp với chỗ nào th́ tâm liền có ở chỗ đó. Cái tâm ấy nếu không có tự thể th́ không thể hợp được, chứ nếu không có tự thể mà vẫn hợp được th́ Giới Thứ Mười Chín cùng Trần Thứ Bảy hợp lại được hay sao ? Nghĩa ấy không đúng.

“C̣n nếu có tự thể th́ khi ông lấy tay tự găi thân ông, cái tâm biết găi của ông ở trong thân ra hay từ ngoài vào ? Nếu từ trong thân ra, th́ phải thấy trong thân. C̣n nếu từ ngoài vào, th́ trước hết phải thấy cái mặt”.

Ông Anan bạch Phật : “Thấy là con Mắt, c̣n tâm th́ Biết chứ không Thấy như con Mắt, nói tâm thấy là không đúng nghĩa”.

Phật dạy : “Nếu con mắt thấy được, th́ khi ông ở trong pḥng, cái cửa có thấy được không? Lại những người chết rồi vẫn c̣n con Mắt, lẽ ra phải thấy được vật, mà nếu thấy được vật th́ sao gọi là chết ?

“Anan, lại nếu cái tâm hay biết của ông phải có tự thể th́ có một thể hay có nhiều thể ? Nay tâm ở nơi thân ông, thể ấy cùng khắp cả ḿnh hay không cùng khắp ? Nếu tâm có một thể th́ ông lấy tay găi một chi, lẽ ra cả tứ chi đều biết, mà nếu đều biết th́ lại không biết găi ở chỗ nào. Nếu biết chỗ găi th́ cái thuyết một thể của ông tự nhiên không thành. Nếu như có nhiều thể th́ thành ra nhiều người, c̣n biết cái thể nào là thể của ông. Nếu cái thể ấy là cùng khắp th́ lại như trước kia, không biết được chỗ găi. C̣n nếu như không cùng khắp th́ khi ông chạm trên đầu, đồng thời cũng chạm dưới chân, hễ đầu có biết, lẽ ra chân phải không biết, nhưng hiện nay ông lại không phải như thế”.

“Vậy, nên biết rằng “Hễ hợp với chỗ nào, tâm liền ở chỗ đó”, thật không có lẽ ấy”.

Thông rằng : Chạm đầu : đầu biết, chạm chân : chân biết, há chẳng phải là “Hễ hợp với chỗ nào, tâm liền tùy có ở chỗ đó” hay sao ? Nhưng nếu thế th́ ở chỗ không hợp, th́ tâm hoàn toàn không có. Đó chẳng phải là tà kiến “Đoạn, Thường” hay sao ? Đức Thế Tôn hẳn không vô cớ trách rầy chuyện này.

Chỉ ở nơi một chữ “Hợp” mà biện rơ chỗ sai lầm. Hợp tức phải là có tự thể. Nếu không có tự thể, nghĩa Hợp không thành. Cũng như không có Trần Thứ Bảy, tất không có Giới Thứ Mười Chín. C̣n nếu có tự thể, th́ thể này đă chẳng phải từ ngoài vào, lại cũng chẳng phải từ trong ra. Cái tâm thể ấy là một thể hay nhiều thể ? Ở nơi thân con người, nó là thể biến khắp hay là thể không biến khắp ? Lấy tay găi một chi, th́ cái Biết tùy do găi mà có, nếu cái Biết ấy là một thể th́ phải ở khắp nơi, c̣n nếu là nhiều thể th́ thành ra nhiều người ! Cái Biết ấy nếu có ở khắp nơi th́ khi găi không rơ chỗ găi; c̣n nếu không ở khắp nơi th́ khi găi lại có chỗ không biết. Có bốn điều trên đều chẳng phải, tức là cái tự thể không định được, vậy do đâu mà hợp ? Nói là “Tùy chỗ mà hợp” ấy, th́ hợp với một thể ư ? Hợp với nhiều thể ư ? Hợp với thể biến khắp ư ? Hợp với Thể chẳng biến khắp ư? Hợp với kia th́ bỏ đây, hợp với đây th́ bỏ kia. Vả chăng phải một, chẳng phải nhiều, chẳng phải khắp, chẳng phải không khắp, mà cuối cùng chẳng có thể hợp. Đă không thể hợp, làm sao thấy “Cái tùy theo mà có” ?

Đức Thế Tôn tuy biện biệt cái sai lầm của thuyết “Hễ hợp với chỗ nào, tâm liền tùy có ở chỗ đó”, nhưng cũng chỉ bày cái diệu mầu của Chân Tâm vô thể. Vô thể ắt vô hiệp, Tâm Cảnh chẳng đến nhau, ngay đây Giải Thoát(), vốn tự Vô Sanh. Thế th́ làm sao nói được “Pháp sanh th́ thảy thảy tâm sanh” ? “Tâm sanh th́ thảy thảy pháp sanh” cùng với ư chỉ “Tam Giới Duy Tâm” không khác, nên không cần phải biện luận. “Pháp sanh th́ thảy thảy tâm sanh” th́ tâm vốn Vô Sanh, nhân Cảnh mà có soi chiếu, cũng tự là không bệnh.

Nhưng Ông Anan dẫn lời dạy của Phật để chứng minh là “Hợp với chỗ nào, tâm liền có ở chỗ đó”, th́ ấy là cái tâm theo sóng đuổi sóng, chẳng phải cái tâm hiện cảnh mà tịch diệt vậy. Nên ngộ được cái tâm vô thể th́ sự hiện cảnh không làm ngăn ngại, nên duyên khởi mà Vô Sanh là vậy.

Có nhà sư hỏi Tổ Giáp Sơn() : “Khi dẹp Trần thấy Phật th́ sao ?”

Tổ Sơn rằng : “Chính liền vung kiếm ! Nếu không vung kiếm, ngư ông nghỉ ổ !”

Nhà sư đem hỏi Tổ Thạch Sương() : “Dẹp Trần thấy Phật th́ như thế nào ?”

Tổ Sương đáp : “Hắn không quốc độ, chỗ nào gặp hắn ?”

Nhà sư trở về nói lại y vậy cho Tổ Giáp Sơn.

Tổ Sơn thượng đường nói rằng : “Cái bày vẽ của môn đ́nh() chẳng như lăo tăng. Thấu lư, luận sâu c̣n cách Thạch Sương trăm bước !”

Ngài Thiên Đồng tụng rằng :

Phất thanh kiếm lớn tẩy binh oai

Dẹp loạn công đầu ấy là ai ?

Một sớm, khí trần thanh (trọng) bốn biển

Rủ y (áo), trời đất tự vô vi.

Ngài Đơn Hà tụng rằng :

Một câu khế lư, ngọc reo vang

Nội ngoại long lanh, mắt lạnh tràn

Cơi Vô Lậu ấy dừng chẳng được

Trong bóng trăng hoa khó thấy thay !

Một tắc này đây, “Dẹp trần thấy Phật”, mà tự ḿnh c̣n chẳng thấy, huống là hợp với trần mà t́m Phật, t́m Giác th́ thật là quá sức điên đảo ! Tuy nhiên, một mặt trăng hiện khắp tất cả mặt nước. Tất cả mặt trăng dưới nước thu nhiếp vào một mặt trăng. Th́ sự “Tùy chỗ mà hợp” lo ǵ chẳng có !

 

VII- CHẤP TÂM Ở CHẶNG GIỮA

Kinh : Ông Anan bạch Phật : “Thưa Thế Tôn, trong khi Phật nói Thực Tướng với các vị Pháp Vương Tử như Ngài Văn Thù, Thế Tôn cũng nói ràng “Tâm không ở trong, cũng không ở ngoài”. Theo tôi suy nghĩ : tâm ở trong thân, sao lại không thấy bên trong; tâm ở bên ngoài thân th́ thân và tâm sao lại không cùng biết. Không biết bên trong nên tâm không thể ở bên trong. Thân và tâm cùng biết nên nói tâm ở ngoài là không đúng lư. Nay thân và tâm cùng biết, lại không thấy bên trong thân, nên tâm phải ở chặng giữa !”

Phật bảo Ông Anan : “Ông nói “Ở chặng giữa”, th́ cái Giữa ấy chắc không lẫn lộn và không phải không có chỗ. Nay ông nhận định cái Giữa ấy chỗ nào, ở nơi cảnh hay ở nơi thân ? Nếu ở nơi thân mà ở một bên th́ không phải là ở giữa, c̣n nếu ở giữa thân th́ cũng là ở trong thân rồi. Nếu cái giữa ấy ở nơi cảnh th́ có thể nêu ra được hay không nêu ra được ? Không nêu ra được th́ cũng như không có, c̣n nếu nêu ra được th́ lại không định được. V́ sao ? Ví như có người lấy một cây nêu, nêu một chỗ làm cái Giữa, th́ phương Đông nh́n qua, cái nêu lại ở phương Tây, phương Nam lại thấy thành phương Bắc. Cái Giữa nêu ra đă lẫn lộn th́ tâm phải tạp loạn”.

Ông Anan bạch Phật : “Cái Giữa của tôi nói chẳng phải là hai thứ ấy. Như Đức Thế Tôn đă nói : Nhăn Căn duyên nơi Sắc Trần sanh ra Nhăn Thức. Nhăn Căn có phân biệt, Sắc Trần vô tri, Nhăn Thức sanh ở giữa th́ tâm ở tại đó”.

Phật dạy : “Nếu tâm ông ở giữa Căn và Trần, th́ cái thể của tâm ấy gồm cả hai bên hay không gồm cả hai bên ? Nếu gồm cả hai bên th́ vật và tâm thể xen lộn, vật th́ vô tri khác với tâm thể tỏ biết, thành ra hai bên đối địch lẫn nhau, lấy cái ǵ làm cái ở giữa ? Gồm cả hai cũng không được, v́ như thế th́ chẳng phải là biết hay không biết, tức là không có thể tánh, lấy cái ǵ làm cái tướng ở giữa ?

“Vậy, nên biết rằng ông nói cái tâm là ở chặng giữa, thật không có lẽ ấy”.

Thông rằng : Đến đây, Ông Anan mới bày tỏ ra là Thức sanh ở chính giữa. Nói rằng sáu Thức phân biệt ở giữa Căn và trần, so với cái thuyết núp trong con mắt th́ có căn cứ hơn. Nhưng chỗ gọi là ở giữa đó, đă không ở trong lại chẳng ở ngoài, chỉ do Căn và Cảnh giao nhau, từ giữa đó mà có cái Thức phân biệt, bèn cho là tâm. Thật ra, không biết rằng ba thứ Căn, Trần, Thức nương nhau mà thành lập, như những cành lau gác lên nhau, vốn không có tự tánh. Nay xác định nó mà nói là ở giữa, vậy nếu cái giữa đó có vị trí th́ gồm cả Căn và Trần hay không gồm ? Nếu gồm, th́ Căn biết mà Trần lại vô tri, sự đối địch lập ra mà cái ở giữa không thành. Nếu không gồm, th́ chẳng phải biết, chẳng phải không biết, không có tự thể nên cái ở giữa cũng không thành. Vậy cái giữa ở đâu? Nên nói tâm ở chặng giữa là sai vậy.

Nếu luận về Chân Tâm, th́ cũng gồm cả hai, cũng chẳng gồm cả hai. Sao gọi là gồm cả hai ? Trong Như Lai Tạng, vốn có đủ cả Kiến Phần và Tướng Phần. Như sau này, kinh nói : Tánh của Sắc là Chân Không(), Tánh Không là Chân Sắc, thế th́ làm sao có sự lộn xộn, tạp loạn được. Sao gọi là không gồm cả hai ? V́, đó là Cái Linh Quang độc sáng, vượt khỏi Căn Trần, th́ Căn không có chỗ gặp, nào từng không thể tánh sao ? Như tin được rằng cái tâm này chẳng phải biết cũng chẳng phải không biết, vốn không tự tánh, cũng không có cái Tướng ở chính giữa, mới biết rơ sâu xa Cái Chính Giữa là ra sao.

Vị quốc vương xứ Đông Ấn sau khi thỉnh Tổ Thứ Hai Mươi Bảy là Ngài Bát Nhă Đa La thọ trai xong, bèn hỏi rằng : “Mọi người đều chuyển() kinh, chỉ có thầy tại sao không chuyển ?”

Tổ đáp : “Bần đạo thở vào chẳng ở trong ấm, giới; thở ra chẳng dính dáng với các duyên. Thường chuyển kinh ấy trăm ngàn vạn ức quyển, chứ chẳng phải một hai quyển đâu !”

Vua bèn lễ bái.

Ngài Thiên Đồng tụng rằng :

“Trâu mây giỡn nguyệt sáng miên man

Ngựa gỗ chơi xuân chẳng buộc ràng

Dưới mày ngọc lạnh xanh đôi mắt

Nào phủng da ḅ()ø mới khán kinh”.

Lại tụng tiếp :

“Rơ ràng tâm siêu muôn kiếp trống

Anh hùng ra sức phá ṿng vây

Trời nhiệm lời yếu chuyển linh cơ

Hàn Sơn quên mất đường xưa lại

Thập Đắc song song nắm tay về”.

Đây là thói nhà() của Tổ Sư, chẳng lập hai bên, không an trụ trung đạo, đạo lớn rỗng suốt nhiệm mầu, chân tông không bám chấp, chính là Thứ Nhất. Cho nên, đó chẳng phải là chỗ sáu Thức, Căn và Trần đến được. Như hai Ngài Hàn Sơn, Thập Đắc : đi, đến tự tại, thong dong, nhàn nhă, trong ḷng dạ tuyệt không c̣n một mảy tơ T́nh Thức, đủ để cùng Tổ Thứ Hai Mươi Bảy tương kiến.

 

VIII- CHẤP TÂM KHÔNG DÍNH DÁNG VÀO ĐÂU TẤT CẢ

Kinh : Ông Anan bạch Phật : “Thưa Thế Tôn, trước đây, tôi thấy Phật với bốn đại đệ tử là Đại Mục Kiền Liên, Tu Bồ Đề, Phú Lâu Na và Xá Lợi Phất cùng chuyển Pháp luân, Phật thường dạy : cái Tâm Tánh Hiểu Biết Phân Biệt cũng chẳng ở trong, cũng chẳng ở ngoài, cũng chẳng ở chính giữa, đều không ở chỗ nào cả, tất cả không dính bám, tạm gọi là tâm. Nay tôi không dính bám, th́ gọi là tâm chăng ?”

Phật bảo Ông Anan : “Ông nói “Cái tâm Tánh Hiểu Biết Phân Biệt đều không ở đâu tất cả”. Vậy các vật tượng thế gian như hư không và các loài dưới nước, trên đất, bay, chạy, nghĩa là tất cả sự vật mà ông cho là không dính bám đó, là có hay không có ? Không có, th́ đồng với lông rùa sừng thỏ, có ǵ để gọi là không dính bám ? Đă có cái không dính bám th́ không thể gọi là không. Không có tướng th́ tức là không, chẳng phải không mà lại có tướng. Có tướng th́ có chỗ ở, làm sao lại không dính bám được ?

Vậy, nên biết rằng ông nói cái không dính bám vào đâu tất cả là tâm hiểu biết, thật không có lẽ đó”.

Thông rằng : Cái không dính bám của Ông Anan dẫn ra đó, chưa từng chẳng phải. Nhưng hiểu cho rơ hai chữ “Tất cả”, th́ cái “Vô Trước” ấy là đối với Cảnh mà có. Cảnh mà có th́ có vô trước, c̣n cả hai đều không có, th́ hóa ra đoạn diệt ! Nói sao cũng mâu thuẫn. Nếu tất cả vật tượng đều không có, th́ c̣n có chỗ nào nữa để mà không dính bám ? Mà đă có Cái không dính bám th́ vật tượng không thể nói là không có ! Nếu không có Tướng không dính bám, th́ mới có thể nói là không có tất cả vật tượng. Có Sự không dính bám, tức là có Tướng rồi. Có tướng không dính bám, tức là có tâm ở đó rồi. Tâm đó ở Chỗ không dính bám th́ sao lại gọi là “Đều không ở chỗ nào cả”. Tâm đă có chỗ ở th́ sao lại nói là “Không dính bám” ? Trước th́ ở nơi cái Năng để làm rơ cái Sở, chẳng thể gọi là không có. Tiếp sau, là dùng cái Sở để làm rơ cái Năng; cái Tướng đă có ắt phải có cái hiện hữu, nên cái nghĩa Vô trước không thành được.

Xưa, Nghiêm Dương tôn giả hỏi Tổ Triệu Châu(): “Một vật chẳng có đem lại th́ như thế nào ?”

Tổ Châu rằng : “Buông bỏ đi”.

Ông Nghiêm rằng : “Một vật chẳng có đem lại, th́ buông bỏ cái ǵ ?”

Tổ Châu nói rằng : “Thế th́ vác lên mà đi !”

Tôn giả nghe xong, đại ngộ.

Ngài Hoàng Long() tụng rằng :

“Một vật chẳng mang lại

Hai vai vác chẳng nổi

Vừa nghe, rơ lỗi ḿnh

Trong ḷng vui không xiết

Độc ác đă quên rồi

Rắn cọp là tri kỷ

Rỗng rang ngàn trăm năm

Gió mát chưa ngừng thổi”.

Ngài Thiên Đồng tụng rằng :

Chẳng ngờ tế hạnh trước trao tay

Từ rơ ḷng quê, thẹn gơ đầu

Phá thoát, ngang lưng ŕu cán mục

Rửa trong (sạch) phàm cốt, với tiên chơi”.

Bài tụng này th́ Vô Trước cũng không, nên tự do, tự tại. Phần nhiều đều ở nơi cảnh, th́ thấy có Vô Trước, ĺa Cảnh tức là không Vô Trước. Ở nơi Tánh thấy Vô Trước, th́ cái Vô Trước đó tức là Tự Tánh. Dầu c̣n chỉ một cái ư Vô Trước, bèn là hỏng hết vậy. 

 

MỤC HAI :

CHỈ RƠ TÁNH THẤY

 

I. CẦU ĐI ĐẾN CHỖ CHÂN THẬT

Kinh : Bấy giờ, Ông Anan ở trong đại chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai áo phải, đầu gối phải chấm đất, chắp tay cung kính mà bạch Phật rằng : “Tôi là em nhỏ nhất của Như Lai, nhờ Phật thương yêu, nay tuy đă xuất gia, c̣n ỷ lại nơi ḷng thương của Phật. V́ thế, học rộng nghe nhiều mà chưa được quả Vô Lậu, không chiết phục nổi chú Ta Tỳ La, theo chỗ nó chuyển mà ch́m nơi nhà dâm. Nguyên do v́ không biết đường đến nơi Chân Tế (Phật Tánh Tự Tâm). Cầu xin Thế Tôn Đại Từ thương xót, chỉ bày cho chúng tôi con đường Chánh Định, cũng khiến cho những kẻ không tin trừ bỏ ác kiến”.

Thưa như vậy xong, rạïp cả ḿnh xuống đất, cùng tất cả đại chúng hết ḷng mong nghe lời Phật dạy.

Thông rằng : Xét chỗ thấy của Anan lúc ấy dường chưa thể đè bẹp thức t́nh để đến chỗ trong lặng không dao động, chỉ v́ chưa được Vô Lậu(). Mới đầu th́ cho cái tâm Giác Liễu Năng Tri là có vật, nên mới nói “Ở trong, ở ngoài, ở nơi Căn”. Đến khi đă biết là chẳng phải vật, nhưng c̣n cho là có Thức, nên mới nói là “Tùy chỗ Hiệp mà có”, “Thức sanh ở chặng giữa”. Đến lúc cái Tri, cái Thức đều tiêu hết, rồi mới tin là “Chẳng có dính bám (Vô Trước)”. Nhưng đă có cái ư “Không dính bám” th́ cũng đă dính bám rồi vậy. Nhưng tất cả không có dính bám mới chỉ đoạn trừ được cái Thức Thứ Bảy, chứ chưa đến cái địa vị lặng lẻ. Mà dù có đến được địa vị lặng lẻ, th́ vẫn c̣n ngồi trong hang ổ của Thức Thứ Tám, chỗ ngoại đạo gọi là Minh Đế(). Nếu con đường tu Định chỉ là phương tiện bờ mé của việc chuyển Thức thành Trí, mà Thánh giải c̣n tuyệt chẳng dung chú niệm, huống ǵ là lại bám lấy phàm t́nh để bị kéo lôi ? Cho nên, t́nh phàm ư Thánh đều hết, th́ Chân Thường hiển lộ, mới gọi là Chân Tế. Thấu suốt Chân Tế mới không bị dâm thuật chuyển đảo. Chẳng phải chỉ tự ḿnh hiểu biết hẳn hoi đầy đủ chỗ Tịch Tịnh() mà c̣n giúp cho hết thảy phàm phu chưa đủ ḷng tin phá trừ được ác kiến vậy.

Ngài Đoan Sư Tử đọc Lăng Nghiêm có bài tụng :

“Bảy chỗ bày Tâm, tâm chẳng thỏa

Ngơ ngác Anan không liếc tới

Hiện mà bày được, thấy vô tâm

Ấy chính trong bùn rửa đất cục”.

Có thể nói là bực có con mắt đầy đủ.

 

II. PHÓNG QUANG NÊU RA TÁNH THẤY VIÊN MĂN SÁNG SUỐT

Kinh : Bấy giờ từ mặt Đức Thế Tôn phóng ra các thứ hào quang, ánh sáng rực rỡ như trăm ngh́n mặt trời. Khắp các thế giới của chư Phật, sáu thứ chấn động. Các cơi nước nhiều như vi trần của mười phương hiện ra trong một lúc. Oai thần của Phật khiến các thế giới hợp lại thành một thế giới. Trong thế giới này, tất cả các vị Bồ Tát hiện có đều an trụ ở nước ḿnh chấp tay nghe lời Phật dạy.

Thông rằng : Phóng quang động địa, xưa cho là cảnh giới không thể nghĩ bàn, nhưng cũng có thể hiểu được. Các đạo gia, tinh thần đầy đủ, vững chắc, th́ trong đêm tối, mắt vẫn có sáng tỏ mà không vật ǵ chẳng thấy. Huống hồ Đức Thế Tôn nhiều kiếp thành tựu, th́ hào quang chẳng có chói lọi rực rỡ sao ? Hạng cầu đảo vận động nguyên khí có thể kêu mây mưa xuống, huống là Pháp Thân thanh tịnh của Thế Tôn không bờ không bến th́ khắp các thế giới của chư Phật chẳng chấn động sao ? Thế Tôn dựng cây cờ Pháp lớn, tất trước tiên phải có chỗ tỏ bày. Chỗ nói là “Khiến tất cả các thế giới hợp lại thành một cơi” là đă ẩn cái ư Hội Vọng quy Chơn vậy. Nếu là hạng thượng căn() lợi trí th́ thấy ánh sáng như thế, nh́n sự việc như thế, liền được Bổn Tâm, chứng Vô Sanh Nhẫn.

Thiền sư Viên Chiếu() lên ṭa giảng, nói rằng : “Hăy xem ! Ánh sáng tốt lành rực rỡ, chiếu sáng cả Đại Thiên thế giới. Trăm ức vi trần cơi nước, trăm ức đại hải, trăm ức núi Tu Di, trăm ức mặt trời, mặt trăng, trăm ức bốn Châu thiên hạ, cho đến cơi Phật vi trần đều ở trong ánh sáng phát hiện ra cùng một lúc. Các nhân giả ! Có thấy chăng ? Nếu thấy được, th́ chính các ông đang tự thân ở trong ánh sáng tốt lành ấy. Không thấy được, đừng nói là ánh sáng tốt lành chẳng có chiếu soi. Hăy tham !”

Ai ai cũng đều có ánh sáng này. V́ sao Tổ Viên Chiếu thấy c̣n mọi người chẳng thấy ? Đó là ngộ với chẳng ngộ vậy. Pháp Tánh vốn khắp cả, vọng trần chẳng ngăn cách được. Cái Trí Cảnh vốn tṛn đầy, thức t́nh nào ngăn ngại được. Nếu ngộ Tự Tâm, bèn biết hết thảy, đấy đều là việc trong nhà.

 

III. HAI THỨ CĂN BẢN

Kinh : Phật bảo Ông Anan : “Hết thảy chúng sanh từ vô thủy đến nay, đủ thứ điên đảo, mầm giống Nghiệp tự nhóm lại như chùm quả ác xoa. Những người tu hành không thành được Bồ Đề Vô Thượng, đến nỗi riêng thành Thanh Văn, Duyên Giác hoặc thành ngoại đạo, Chư Thiên, Ma Vương, hay bà con quyến thuộc của Ma. Tất cả đều do không biết hai loại căn bản, lầm lộn tu tập, cũng như nấu cát mà muốn thành món ngon, dầu trải qua số kiếp nhiều như bụi, rốt cũng chẳng được.

“Thế nào là hai loại căn bản ? Anan, một là, Cội Gốc (Căn Bản) của Sanh Tử vô thủy. Tức là ông hiện giờ và các chúng sanh dùng cái tâm Bám Níu Theo Duyên (Tâm Phan Duyên) mà làm Tự Tánh. Hai là, cái Thể bản lai thanh tịnh Bồ Đề Niết Bàn vô thủy. Tức là cái Chân Tâm vốn sáng soi của ông hiện giờ, hay sanh các duyên nhưng ông lại duyên theo các tướng duyên đó mà bỏ quên nó. V́ các chúng sanh bỏ quên cái Vốn Tự Sáng này nên tuy trọn ngày sử dụng nó mà chẳng tự biết, uổng oan lạc vào sáu nẻo.

Thông rằng : Bảy chỗ bày cái tâm, đều là chẳng phải, v́ dùng Tâm Phan Duyên làm tự tánh.

Ông Anan cũng biết cái tâm này chưa được Vô Lậu, không chiết phục nổi chú Ta Tỳ La, mà c̣n bị nó chuyển. Ông nói : “Nguyên do là v́ không biết chỗ vào Chân Tế, là cũng đă lờ mờ trộm thấy cái Thể trong sạch của Bồ Đề Niết Bàn (Niết Bàn là Tịch Diệt), nên xin Phật chỉ bày. Do đó, Thế Tôn phân tích rơ ràng mà dạy cho. Trước, Phật đă dạy : Dùng các vọng tưởng, các tưởng này chẳng chân thật, nên mới bị luân chuyển. Điều đó, ở đây Ngài dạy : Dùng Tâm Phan Duyên mà làm Tự Tánh, đó là cái gốc rễ của sanh tử từ vô thủy đến nay vậy. Trước, Phật dạy: Đều chẳng biết cái Chơn Tâm chẳng sanh chẳng diệt, tánh nó chẳng ô nhiễm, thể nó vốn sáng suốt. Tức ở đây là : Bồ Đề Niết Bàn, vốn thể nó trong sạch, đó là gốc rễ chẳng sanh chẳng diệt xưa nay vậy.

Xoay chuyển nơi sống chết : Hoặc, Nghiệp, Khổ ba thứ này sanh ra, đồng nhau tụ hợp giống như chùm trái ác xoa. Không những Thiên Ma, ngoại đạo chắc chắn ở trong luân hồi, mà ngay cả Thanh Văn Duyên Giác tu tập lầm lộn, đều gọi là điên đảo.

Tại sao thế ? V́ lấy Sanh Diệt làm Nhân Địa tu hành vậy. Mà cái Nguyên Minh vốn sáng soi, sinh ra các duyên th́ vốn tự chẳng sanh chẳng diệt, chỉ v́ duyên theo cái Sở mà bỏ quên nó.

Như đoạn sau, kinh nói rằng “Tánh Nguyên Minh ấy chiếu mà sanh ra cái Sở. Cái Sở đă riêng lập th́ Tánh Chiếu Soi bị bỏ quên”, th́ ư chỉ cũng giống đoạn này. Đấy tức là nguyên do sanh ra các vọng tưởng, mà đă lạc vào vọng tưởng, bèn mất đi Bản Tánh. Quên mất cái Nguồn Gốc Sáng Suốt này, nên rơi vào các nẻo, mà không thành Bồ Đề Vô Thượng.

Có vị khách làm Thượng Thơ ra mắt Tổ Trường Sa.

Tổ Sa gọi : “Thượng Thơ !”

Vị này lên tiếng dạ.

Tổ Sa nói : “Đă chẳng phải là bổn mạng Thượng Thơ đó sao ?”

Thượng Thơ rằng : “Chẳng thể ĺa bỏ. Nhưng nay vừa đối diện, lại riêng có chủ nhân thứ hai rồi”.

Tổ Sa nói : “Gọi Thượng Thơ là Chí Tôn được không ?

Nói rằng : “Như thế, suốt cả khi không đối, đă không phải là chủ nhân của đệ tử sao ?”

Tổ Sa nói : “Chẳng phải chỉ khi đối hay không đối, mà từ đời vô thủy đến nay, đó là cái Căn Bản sanh tử của ông vậy”.

Lại tụng rằng :

“Cái người học đạo chẳng biết Chân

Chỉ bởi xưa nay nhận Thức Thần

Gốc rễ tử sanh, từ vô thủy

Kẻ si lại gọi Bổn Lai Nhơn”.

(Học đạo chi nhơn bất thức Chơn

Chỉ vị tùng lai nhân Thức Thần

Vô thủy kiếp lai sanh tử bổn

Si nhơn hoán tác Bổn Lai Nhơn).

Như vậy th́ chủ nhơn xưa nay, do đâu mà biết ???

Phẩm Xuất Hiện của kinh Tạp Hoa nói : “Phật tử, không có chúng sanh nào mà không vốn đủ Trí Huệ Như Lai, chỉ v́ bám giữ lấy vọng tưởng điên đảo mà chẳng chứng() được. Nếu ĺa vọng tưởng, th́ Nhất Thiết Trí, Tự Nhiên Trí, Vô Ngại Trí, tự hiển bày trước mắt”.

Ngài Thiên Đồng tụng :

“Trời che đất chở, nên khối, thành ḥn

Khắp pháp giới nhưng không bờ mé

Chẻ lân hư mà không ở trong

Nuốt trọn huyền vi

Nào phân sau, trước.

Phật, Tổ đến đây trả nghiệp miệng

Hỏi lấy Nam Tuyền, Vương Lăo Sư()

Người người ăn chỉ rau, một cọng”.

Đă là chuyện ai ai cũng có, sao chẳng thể cùng chứng Bồ Đề mà đến nỗi riêng thành Thanh Văn, Duyên Giác ?

Kinh Viên Giác nói : “Tất cả chúng sanh vọng thấy có lưu chuyển. Chán ghét lưu chuyển, lại vọng thấy có Niết Bàn. Do vậy mà chẳng nhập vào cái Giác vốn trong sạch. Chẳng phải Giác cản chống lại người-nhập. V́, chỉ có người-nhập, chẳng phải cái Giác có sự nhập”.

Nhưng, biết chọn giữ lấy cái Căn Bản Không Sanh Không Diệt, ngoài sự đại triệt ngộ, th́ không thể.

 

IV. NƯƠNG CÁI THẤY, GẠN HỎI CÁI TÂM.

Kinh : “Anan, nay ông muốn biết đường tu Xa Ma Tha, nguyện ra khỏi sống chết, th́ Ta lại hỏi ông. Liền đó, Như Lai đưa cánh tay kim sắc lên, co năm ngón lại, bảo Ông Anan : “Ông có thấy không ?”

Ông Anan đáp : “Có thấy”.

Phật bảo : “Ông thấy cái ǵ ?”

Anan trả lời : “Tôi thấy Như Lai đưa tay lên, co ngón thành nắm tay sáng ngời, sáng chói tâm và mắt của tôi”.

Phật hỏi : “Ông lấy cái ǵ mà thấy ?”

Anan trả lời : “Tôi và đại chúng đều lấy con mắt mà thấy”.

Phật bảo Ông Anan : “Nay ông trả lời : Như Lai co ngón tay làm thành nắm tay sáng ngời, chói tâm và con mắt của ông. Con mắt ông th́ thấy, c̣n ông lấy cái ǵ làm tâm đối với nắm tay chói sáng của Ta ?”

Ông Anan thưa : “Nay Như Lai gạn hỏi tâm ở chỗ nào, mà tôi th́ lấy tâm suy nghĩ xét t́m. Tức là Cái Năng Biết Suy Nghĩ đó, tôi lấy nó làm tâm”.

Phật bảo : “Ôi, Anan ! Cái đó chẳng phải là Tâm ông đâu”.

Ông Anan hoảng hốt rời chỗ ngồi, đứng dậy chắp tay mà thưa rằng : “Cái ấy không phải là tâm tôi th́ gọi là cái ǵ ?”

Phật bảo Ông Anan : “Đó là cái Tưởng tạo nên các tướng hư vọng của tiền trần, nó làm mê lầm Chân Tánh của ông. Do từ vô thủy cho đến nay, ông nhận tên giặc đó làm con, mất đi cái Vốn Là Thường Hằng (Nguyên Thường) của ông nên phải chịu luân hồi”.

Thông rằng : Đây là lần dẫn dụ từng bước lần thứ hai của Thế Tôn. Ngài hỏi “Ông nay có thấy không ?” Anan đáp “Thấy”. Chỉ ở chỗ này mà đột nhiên tỉnh ngộ, bèn thấy Bản Tánh Nguyên Minh, chẳng cho phép luận bàn, chẳng đợi chỗ xếp đặt. Bồ Đề Niết Bàn vốn tự đầy đủ, vừa mống khởi phân biệt đă lọt vào tỷ lượng(), bị buộc vào sự sai sử của Lục Thức, ch́m sâu vào trí thức, bỏ mất Chân Tánh xa lắm vậy. Cho nên Phật mới quở rằng “Cái đó chẳng phải là tâm của ông”. Nếu trong khi bị quở, rỗng rang mà tự mất bặt, bỗng nhiên hồi quang, th́ ngay liền đó là Bổn Giác tự tại. Chứ sao lại nói “Rời cái Hay Biết (Giác Tri) đó, th́ hoàn toàn không có ǵ” ? Cái giác tri đó, đối đăi với Trần Tướng trước mắt mà có phân biệt, trần mất th́ không có nữa, nên gọi là “Cái Tưởng hư vọng bám chấp lấy tướng”. C̣n cái Bổn Giác th́ chẳng nương theo Trần mà sanh diệt theo, nên mới gọi là Chân Tánh. Nhưng Chân Tánh chỉ có một mà thôi. V́ cái giác tri này che đậy cái Bổn Giác trước mắt, nên cái giác tri ấy thật là tên giặc của Bổn Giác. Nếu nhận cái giác tri đó làm Tự Tâm, tức là nhận giặc cướp làm con, bỏ cái chẳng sanh diệt mà ôm lấy cái sanh diệt, th́ sự luân chuyển c̣n nghi ngờ ǵ. Tuy nhiên, ĺa cái giác tri hay biết này mà t́m riêng cái Bổn Giác ở nơi khác, lại không thể được.

Ngài Thiên Đồng nêu sơ lược rằng : “Nếu cái hay suy nghĩ đó là tâm của ông, tức là nhận giặc làm con!”

Ngài Tu Sơn Chủ nói : “Nếu cái hay suy nghĩ đó chẳng phải là tâm của ông, tức là nhận giặc làm con!”

Ngài Thiên Đồng đưa ra rằng : “Như giờ hăy xét là con, là giặc : mua nón vừa đầu, ăn cá bỏ xương”.

Bèn như Thiên Đồng, lại chọn lựa không ?

Đức Lục Tổ() dạy : “Phàm phu tức là Phật, phiền năo tức là Bồ Đề. Niệm trước mê là phàm phu, niệm sau ngộ là Phật. Niệm trước bám cảnh là phiền năo, niệm sau ĺa cảnh, tức là Bồ Đề”. Điều này cũng như nói lật sấp lật ngữa cũng là bàn tay vậy.

Ngài Vĩnh Gia nói : “Thật tánh của Vô Minh tức là Phật Tánh. Huyễn hóa không thân tức Pháp Thân”. Quả là tỏ suốt cái cửa Bất Nhị vậy.

 

Kinh : Ông Anan bạch Phật : “Thưa Thế Tôn, tôi là em yêu của Phật, v́ ḷng mến mộ Phật nên tôi xuất gia. Tâm tôi nào phải chỉ cúng dường Như Lai, mà c̣n khắp trải hằng sa quốc độ, thừa sự Chư Phật và các thiện trí thức. Phát đại dũng mănh làm tất cả những pháp sự khó làm, đều dùng cái tâm này. Dầu cho hủy báng Chánh Pháp, đời đời lui sụt căn lành, cũng bởi cái tâm này.

“Nay Phật phát minh cái này chẳng phải là tâm, tôi bèn không có tâm, giống như gỗ đá. Ĺa cái giác tri này, rốt chẳng c̣n ǵ nữa. Tại sao Như Lai nói cái ấy không phải là tâm ? Tôi thật kinh sợ. Cùng với đại chúng đây, không ai là không nghi hoặc. Xin Phật rủ ḷng từ bi, chỉ bày cho người chưa ngộ”.

Thông rằng : Ông Anan t́nh thức và sở kiến khô kiệt, mới nói là “Không có Tâm”, giống như gỗ đá. Chỗ này chính là nên thừa thọ đảm đương, th́ đỡ được biết bao tâm lực. Sá ǵ một cái giác tri mà cứ ôm giữ lấy, sao chẳng chịu bỏ quách.

Xưa, thầy Đại Lăng, mới đầu đến tham vấn Đức Mă Tổ.

Ngài hỏi : “Đến đây cầu ǵ ?”

Đáp : “Cầu Tri Kiến Phật”.

Tổ nói rằng : “Phật không có tri kiến, tri kiến() là Ma. Ông từ đâu tới ?”

Bạch rằng : “Từ Nam Nhạc() đến”.

Tổ nói rằng : “Ông từ Nam Nhạc đến, mà chưa biết tâm yếu của Tào Khê(). Ông mau trở về đó, chẳng nên đi nơi khác”.

Thầy Lăng trở về Tổ Thạch Đầu, bạch hỏi : “Thế nào là Phật ?”

Tổ Thạch Đầu() nói rằng : “Ngươi không có Phật Tánh”.

Thầy Lăng nói rằng : “Các loài cựa quậy, bay nhảy lại ra làm sao ?”

Tổ Đầu nói : “Các loài cựa quậy, bay nhảy đều có Phật Tánh”.

Bạch rằng : “Huệ Lăng này v́ sao không có ?”

Tổ Đầu nói : “V́ ông không chịu nhận lănh”.

Thầy Huệ Lăng nghe xong, tin nhập.

Về sau, hễ có người học đạo đi đến, đều nói rằng: “Đi đi ! Ngươi không có Phật Tánh”.

Sự tiếp cơ dạy dỗ đại khái như thế. Há đâu phải ĺa cái giác tri là không có ǵ nữa sao ?

 

Kinh : Khi ấy, Thế Tôn khai thị cho Ông Anan và đại chúng, muốn cho được Vôâ Sanh Pháp Nhẫn. Nơi ṭa sư tử xoa đầu Ông Anan mà nói : “Như Lai thường nói : các pháp sanh ra đều duy tâm hiện. Tất cả nhân quả, thế giới, vi trần đều do tâm mà thành thể. Anan, như trong các thế giới, hết thảy sự vật hiện có, cả đến ngọn cỏ, lá cây, sợi dây, thắt nút....t́m hỏi nguồn gốc th́ đều có thể tánh. Ngay cả hư không c̣n có tên, có tướng, huống là cái Chân Tâm sáng suốt, trong sạch, nhiệm mầu, tánh của hết thảy tâm mà lại không có tự thể sao ?

“Nếu ông quyết chấp cái phân biệt giác quan, hiểu biết là Tâm th́ cái tâm ấy phải rời hành tướng của các trần : Sắc, Hương, Vị, Xúc, Pháp... riêng có Toàn Tính. Chứ như hiện nay, ông vâng nghe pháp âm của Ta, đó là nhân cái Tiếng mà có phân biệt : dầu cho có diệt hết tất cả cái Thấy, Nghe, Hay, Biết, bên trong giữ lấy trống rỗng u nhàn, th́ đó cũng c̣n là sự phân biệt bóng dáng pháp trần() mà thôi.

“Ta không bảo ông chấp cái ấy không phải là tâm, nhưng ông phải chính nơi tâm ông, suy xét chín chắn. Nếu rời tiền trần mà có tánh phân biệt, th́ đó mới là Chân Tâm của ông. C̣n nếu cái tánh phân biệt mà ĺa tiền trần không có tự thể, th́ nó chỉ là sự phân biệt bóng dáng tiền trần. Tiền trần không thường trụ, vậy khi chúng biến diệt, th́ cái tâm nương vào tiền trần ấy cũng đồng như lông rùa sừng thỏ, ắt Pháp Thân của ông cũng đồng với đoạn diệt. C̣n ǵ để chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn ?”

Thông rằng : Chỗ các pháp sanh ra, là độc chỉ do tâm biến hiện, như bóng h́nh trùng trùng đều độc chỉ trong cái gương hiện bày ra. Sáu trần như h́nh, cái phân biệt (Thức Tâm) như bóng. Bóng nhờ h́nh mà có, tâm thức nhờ cái trần mà có. Cái này đây ắt là sự phân biệt bóng dáng tiền trần(). Dao động thuộc về tiền trần, yên tịnh thuộc về pháp trần. Cho nên, ở trong giữ cái trống rỗng u nhàn th́ tuy không có bóng dáng tiền trần nhưng vẫn c̣n cái bóng dáng trống rỗng u nhàn, đó c̣n là sự phân biệt bóng dáng của pháp trần.

Cái chấp ấy là cái Thức, mà chẳng phải là cái Bổn Giác Chân Tâm Thường Trụ. Chân Tâm Thường Trụ ĺa khỏi tất cả phân biệt, như cái gương lớn tṛn sáng() ĺa khỏi cả hai thứ Động (sáu Trần) và Tĩnh (Thức). Cái Tâm này vốn tự không nhiễm, nên nói là Tịnh, nhiễm mà chẳng nhiễm, nên nói là Diệu Tịnh. Tất cả nhân quả, thế giới nhiều như vi trần, nhân nó mà lập thành, nó cũng là cái Bổn Tánh của vọng tâm tạo thành chín Cơi(). Nên nói là cái Tánh của cả thảy Tâm. Nếu thấy Tâm này, th́ ĺa phân biệt mà an trụ Tự Tánh, đó là cái Tự Tánh không tùy theo phân biệt mà hoặc có hoặc không. Sắc ĺa Thức phân biệt như trần ĺa bóng, liền là Bản Thể của gương, Thể của gương không theo bóng của trần mà sanh mà diệt. Nếu chấp cái Giác Tri Phân Biệt làm Tự Tánh, tức là chấp bóng làm gương vậy. Cái Hay Biết Phân Biệt đó, đối với trần th́ có, ĺa trần th́ không, như bóng trong gương, vốn không tự thể, rốt là đoạn diệt, như thế làm sao chứng Vô Sanh ? Cho nên, phải biết cái Tâm tự có bản thể, chẳng phải đoạn diệt.

Đoạn trước, Phật quở “Cái đó chẳng phải là Tâm ông”, v́ cái chỗ Ông Anan nh́n nhận chỉ là cái tâm đoạn diệt giả dối, chẳng phải là cái tâm Xưa Nay Chân Thật vậy. Chứ đâu phải thật không có tâm ư ?

Tổ Huyền Sa() Sư Bị thượng đường rằng : “Hiện có một thuyết cho là : linh linh, sáng sáng là cái Trí Tánh linh đài, hay thấy, hay nghe, hướng vào trong miếng ruộng-thân ngũ uẩn làm chủ tể. Đó là kẻ dối gạt lớn của thiện trí thức, biết chăng ? Ta nay hỏi các ông, nếu nhận cái linh linh sáng sáng đó là cái Chân Thật của các ông, th́ tại sao khi ngủ mê, lại chẳng c̣n là sáng sáng linh linh nữa ? Nếu lúc ngủ mê chẳng có th́ tại sao lại có cái lúc sáng sáng, linh linh? Có hiểu chăng ? Cái đó gọi là nhận giặc làm con, là căn bản của sanh tử, tập khí duyên ra Vọng Tưởng. Các ông muốn biết căn do ư ? Ta nói cho nghe: Cái sáng sáng linh linh chỉ do tiền trần Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp mà có phân biệt, rồi nói bậy đó là cái sáng sáng linh linh. Nếu không tiền trần, th́ cái sáng linh linh này của các ông, cũng như lông rùa sừng thỏ.

“Này các ông, cái Chân Thật ở tại chỗ nào ? Nay các ông muốn thoát khỏi cái chủ tể của ruộng-thân ngũ uẩn, chỉ cần biết nắm lấy cái Thể Kim Cang Bí Mật của các ông. Cổ nhân hướng về các ông mà nói : Trọn thành Chánh Biến, khắp đầy Pháp Giới. Nay ta chút phần v́ các ông, người Trí có thể qua thí dụ mà hiểu được. Các ông có thấy mặt trời của Nam Diêm Phù Đề không ? Cái chỗ sanh sống của người đời : làm lụng, kinh doanh, nuôi sống sinh mạng, đủ thứ tâm hành, không ǵ chẳng nhờ ánh sáng mặt trời mà thành lập. Vậy mà cái thể của mặt trời có chăng bấy nhiêu tâm hành ? Vậy mà có chỗ nào mà không cùng khắp ?

“Muốn biết cái Thể Kim Cang, cũng phải nh́n như thế. Chỉ như hiện đây, núi sông, đất rộng, mười phương cơi nước, sắc không, sáng tối, cho đến thân tâm các ông, không có cái ǵ mà chẳng trọn nhờ cái Oai Quang Viên Thành ấy của các ông mà hiển bày. Ngay đến Trời, người, chúng sanh, Nghiệp Báo, Hữu T́nh, Vô T́nh không có cái ǵ chẳng trọn nhờ cái Oai Quang của các ông. Cho đến chư Phật, thành Đạo, thành Quả, tiếp vật lợi sanh, không ǵ mà chẳng trọn nhờ Oai Quang của các ông. Như cái Thể Kim Cương ấy, có phàm phu cùng chư Phật không ? Có tâm hành của các ông không ? Không thể nói là không có, bèn tận dụng được vậy. Biết không ?”

Tổ Huyền Sa nhờ xem Lăng Nghiêm mà phát minh tâm địa. Do đó, Ngài ứng cơ nhạy bén, thầm hợp với khế kinh. Đoạn Ngài nói ở trên, mỗi mỗi đều chẳng khác ư chỉ của kinh, cho đến nói “Tất cả đều nhờ vào lực của Oai Quang”, cùng với câu kinh “Các pháp sinh ra là duy một tâm hiện” lại càng thần diệu.

Lại nữa, Tổ Trúc Am Khuê(), kế pháp của Tổ Phật Nhăn, cùng với người bác là cư sĩ Tŕ Nhất, cùng thích Lăng Nghiêm.

Tổ Trúc Am Khuê nói : “Nếu rời tiền trần mà có tánh phân biệt, đó chính là căn bản của sanh tử”.

Cư sĩ hoảng hồn, nói : “Phật nói lầm hay sao ?”

Tổ Am nói : “Phật cố nhiên là không lầm. Nhưng hiện giờ cái tâm đối diện hỏi han của cư sĩ quả thật ở đâu ?”

Cư sĩ bèn tán thán rằng : “Phật nói : hiểu cái Đệ Nhất Không, gọi là Sư Tử Hống, Ngài làm rồi mà không vướng mắc đấy”.

Tổ Am, sau đó thượng đường mà rằng : “Khi thấy mà có tướng thấy, cái thấy ấy chẳng phải là cái Thấy Chân Thật (Chánh Kiến). Thấy do ĺa tất cả tướng thấy, cái thấy ấy là siêu việt (Giải Thoát)(). “Hoa rơi hữu ư theo gịng nước. Gịng nước vô t́nh đưa hoa rơi”. Các thứ có thể trả về được dĩ nhiên chẳng phải là ông. C̣n ông không thể trả về được, nếu chẳng phải là ông, th́ là ai ? “Thường hận xuân đi không chỗ kiếm. Chẳng hay trở lại chốn xưa ra”. Hét lên một tiếng mà rằng : “Ba mươi năm sau, chớ nói Phật, Tổ dạy hư con cái nhà người !”

Theo chỗ thấy của Tổ Trúc Am, th́ ĺa tiền trần cũng không có cái Tự Tánh Phân Biệt nào nữa để được. Người tự khéo chuyển Lăng Nghiêm th́ một đoạn chân phong “Thấy do ĺa thấy, thấy ấy siêu việt” có thể cùng với Tổ Huyền Sa đồng tham vậy.

 

V. CHỈ RƠ TÍNH THẤY KHÔNG PHẢI LÀ CON MẮT

Kinh : Khi ấy Ông Anan cùng tất cả đại chúng lặng im, ngơ ngác.

Phật bảo Ông Anan : “Hết thảy những người tu học trong thế gian, hiện tuy thành được chín bậc Định thứ lớp mà chẳng được hết lậu() để thành A La Hán, đều do chấp lấy cái vọng tưởng sanh tử này mà lầm cho là chân thật. Thế nên, ông nay tuy được đa văn mà không thành quả Thánh”.

Thông rằng : Chín bậc Định th́ sau này có nêu ra : Tứ Thiền, Tứ Không... Nhưng chỉ nói quả vị mà không nói cách tu. Đây nói là người tu hành chín bậc Định thứ lớp, v́ từ một bậc thiền này sang bậc thiền kia, theo thứ tự mà tu. Như Đại Bát Nhă nói “Ĺa Dục, Ác, Bất Thiện Pháp, có t́m có xét. Ĺa th́ sanh Hỷ, Lạc, nhập Sơ Thiền. T́m, xét đă vắng lặng, trụ ở trong tâm trong sạch hoan hỷ. Không t́m, không xét nghĩ, Định sanh ra Hỷ, Lạc, nhập Nhị thiền. Ĺa Hỷ trụ Xả, đầy đủ niệm chánh tri, thân thọ lănh sự vui trong sạch bậc Thánh, nói được xả được, đầy đủ niệm lạc trụ nhập Tam Thiền. Dứt vui dứt khổ, trước là cái vui vẻ, lo buồn biến mất, không Khổ không Lạc, niệm Xả thanh tịnh, nhập Tứ Thiền. Vượt lên cả Sắc Tưởng, diệt tưởng có đối tượng, chẳng tư duy hết thảy các Tưởng, nhập vào Không Vô Biên là Không Vô Biên Xứ Định. Vượt lên tất cả Không, nhập Thức Vô Biên là Thức Vô Biên Xứ Định. Vượt lên tất cả Thức Vô Biên, nhập Vô Sở Hữu Xứ Định. Vượt Vô Sở Hữu Định, nhập Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Định. Vượt tất cả Phi Tưởng Phi Phi Tưởng, nhập Diệt Thọ Tưởng Định”.

Đó là chín phép Định theo thứ lớp, đều là cái công dụng Hữu Vi, ưa thích thiện quả hữu vi nên nói là “Mê những cơi Trời hữu lậu, hiểu đấy là vô vi”. V́ cái mê chấp ấy, nhập vào cái thức vi tế sanh diệt vọng tưởng mà tu, chưa thể thấy được Chân Tánh Vô Sanh, Hiện Tiền Tịch Diệt (Niết Bàn) chính là Pháp Vô Vi Chân Thật, nên chưa được hết hữu lậu. Như bậc Đại A La Hán, đă chứng Diệt Thọ Tưởng Định, nên gọi là Vôâ Lậu. Nay tại sao trong chín cấp Định thứ lớp cũng chứng Diệt Thọ Tưởng Định mà lại gọi là hữu lậu ? V́ có vọng tưởng mà chứng Niết Bàn, nên dù có được Diệt Tận Định vẫn chưa phải là chân thật.

Tổ Hoàng Bá nói rằng : “Cả thảy chúng sanh luân hồi, sanh tử chẳng ngừng nghỉ là do ư duyên khởi tạo cái tâm trong sáu nẻo chẳng ngừng, đến nỗi khiến chịu bao nhiêu thứ khổ.

“Kinh Duy Ma nói : Loài người khó dạy, tâm như khỉ vượn, nên phải dùng biết bao pháp môn để chế ngự tâm này, sau mới điều phục. Bởi v́ tâm sanh th́ thảy thảy pháp sanh, tâm diệt th́ thảy thảy pháp diệt.

“Cho nên, phải biết rằng tất cả các pháp đều do tâm tạo, cho đến Trời người sáu nẻo, địa ngục, Tu La đều do tâm tạo. Như nay chỉ học Vô Tâm, dứt ngay các duyên, không sanh vọng tưởng phân biệt, không người không ta, không Tham, Sân, không Yêu Ghét, không Hơn Thua. Chỉ cần trừ bỏ hết bấy nhiêu thứ vọng tưởng, th́ Tự Tánh vốn xưa nay vẫn là trong sạch, đó gọi là tu hành Bồ Đề, Pháp, Phật...(). Nếu chẳng hiểu như thế, th́ dù cho học rộng, cần khổ tu hành, ăn cây mặc cỏ, mà chẳng biết Tự Tâm, đều gọi là tà hạnh, đều làm Thiên Ma ngoại đạo, các thần đất, nước. Tu hành mà thế, nào có ích ǵ ?”

Tổ Chí Công dạy : “Bản thân là do tâm tạo ra, nào phải trong chữ nghĩa t́m cầu. Như hiện giờ chỉ rơ biết Tự Tâm, tuyệt dứt tư duy vọng tưởng th́ trần lao, phiền năo tự nhiên chẳng sinh”.

“Kinh Duy Ma nói : Chỉ để một cái giường, nghỉ ngơi tật bệnh mà nằm, là tâm chẳng khởi vậy. Như người nằm bệnh, các duyên đều hết, vọng tưởng tiêu ma, đó là Bồ Đề.

“C̣n nếu giờ đây trong tâm phân vân chẳng định, th́ dầu cho có học đến Tam Thừa, Tứ Quả, Thập Địa cũng chỉ là hướng trong phàm Thánh mà ngồi. Các hành trọn quy về vô thường, thế lực đều có lúc hết. Như bắn tên lên không, hết đà rơi xuống, lại rơi vào ṿng sanh tử luân hồi. Tu hành kiểu đó là chẳng hiểu ư Phật, uổng công nhọc mệt, há chẳng là lầm to ?”

Tổ Chí Công lại nói : “Chưa gặp bậc Minh Sư ra đời, uống thuốc pháp Đại Thừa cũng uổng”.

Than ôi ! Thuốc pháp Đại Thừa c̣n chẳng thể giúp, huống là chín bậc Định thứ lớp ? Nên phải biết: tu tập lầm lạc, khó thành quả Thánh.

 

Kinh : Ông Anan nghe xong lại đau xót khóc lóc, năm vóc gieo xuống đất, quỳ thẳng chấp tay mà bạch Phật : “Từ khi tôi theo Phật phát ḷng xuất gia, ỷ lại oai thần của Phật, thường tự nhủ : chẳng nhọc đến ḿnh tu, Như Lai sẽ ban cho ḿnh Pháp Chánh Định, mà chẳng biết rằng thân tâm không thể thay thế. Bỏ mất Bản Tâm của ḿnh, nên tuy thân thể xuất gia, tâm chẳng nhập đạo. Ví như đứa con cùng khổ, bỏ cha trốn lánh. Ngày nay mới biết : dù có đa văn, nếu chẳng tu hành th́ có khác ǵ người chưa được nghe, như người nói chuyện ăn th́ rốt cuộc chẳng được no.

“Thưa Thế Tôn, chúng tôi giờ đây bị hai Chướng buộc ràng, là do chẳng biết cái Tâm Tánh Tịch Thường. Độc chỉ cầu xin Như Lai xót thương kẻ cùng đường, mà khai phát cái Tâm Diệu Minh, mở con mắt đạo cho tôi”.

Thông rằng : Bỏ cha trốn đi th́ ở kinh Pháp Hoa cũng có ví dụ. Cùng đường ở phương xa, mong được chỉ cho hạt châu trong áo, dần dần có ư muốn về nhà.

Hai cái Chướng là Phiền Năo Chướng và Sở Tri Chướng. Phiền Năo Chướng th́ chướng ngại tâm, tâm chẳng giải thoát, kết nghiệp mà thọ quả báo. Sở Tri Chướng ngăn trở cái Tánh Sáng (Huệ). Tánh Sáng bị buộc ràng, chẳng hiểu Pháp Không vậy.

Anan biết rơ bị hai Chướng ràng buộc, lại cũng biết cái gọi là Tâm Tánh Tịch Thường, cớ sao con Mắt Đạo chẳng mở ra ? Thấu thoát quả là khó khăn lắm vậy.

Có nhà sư bạch hỏi Tổ Dược Sơn : “Kẻ học nhơn định trở về quê th́ như thế nào ?”

Tổ Sơn nói : “Cha mẹ ông khắp ḿnh sưng đỏ, nằm trong rừng gai góc, ông về chỗ nào ?”

Sư hỏi : “Như thế tức là chẳng về ư ?”

Tổ rằng : “Ông lại cần phải về. Nếu ông về ta chỉ cho ông món ăn làm thuốc tốt đẹp để đi đường”.

Sư rằng : “Xin nói”.

Tổ Sơn nói : “Hai buổi thượng đường, không cắn bể một hột gạo”.

Sau, có vị sư bạch hỏi Tổ Lạc Phổ : “Kẻ học nhơn định trở về quê th́ như thế nào ?”

Tổ Phổ rằng : “Nhà tan, người mất, ông về chốn nào ?”

Sư rằng : “Như vậy tức là chẳng về ư ?”

Tổ Phổ rằng : “Trước sân tuyết sót (tuyết tàn), mặt trời tan. Trong thất bụi hồng, ai bảo quét”.

Lại đọc bài kệ :

“Ḷng quyết về quê cũ

Cỡi thuyền qua Ngũ Hồ

Nhổ sào trăng sao lặn

Dừng chèo mặt trời cô

Mở neo ĺa bến ngụy

Trương buồm ra ḍng Chơn

Đến nơi, người mất sạch

Khỏi làm đứa ngu (trong) nhà”.

Tổ Đơn Hà tụng rằng :

“Quê nước thái b́nh nẻo chẳng xa

Về, hứng miên man, ư vô bờ

Buông tay, nhà đến : nơi nào có ?

Bóng trăng lồng điện báu lưu ly”.

(Thái b́nh hương quốc lộ không xa

Quy hứng du tu tư mạc nhai

Tát thủ đáo gia hà xứ hữu

Lưu ly bảo điện tỏa thiềm hoa).

Các vị lăo túc một phen chỉ ra phương tiện về nhà. Đáng gọi là con mắt Đạo mở sáng, thật biết cái Tâm Tánh Tịch Thường vậy.

 

Kinh : Liền khi ấy, Như Lai từ chữ VẠN (   ) ở ngực, phóng ra ánh sáng báu. Hào quang ấy rực rỡ, có trăm ngàn sắc, chiếu khắp cùng một lúc tất cả thế giới chư Phật mười phương, số như vi trần. Hào quang rưới khắp đảnh các Như Lai của mười phương cơi báu, xoay về soi đến Ông Anan và cả đại chúng.

Phật bảo Ông Anan : “Ta nay v́ ông dựng cờ Pháp lớn, cũng khiến cho tất cả chúng sanh của mười phương được cái Tâm Tánh nhiệm mầu, vi mật, sáng sạch và được con Mắt Trong Sạch (Thanh Tịnh Nhăn).

Thông rằng : Trước th́ từ mặt phóng ra ánh sáng, mười phương cơi nước đồng thời khai hiện, khiến tất cả thế giới hợp thành một cơi, là biểu thị Chân Vọng chẳng hai. Chỉ bày hai loại Căn Bản, th́ lấy Đoạn Vọng làm đầu v́ vọng tưởng chẳng dứt th́ dù đến chín bậc Định thứ lớp cũng chẳng thành quả Thánh. Cái mặt mũi ấy có thể nghiệm xét mà thấy như soi gương vậy. Nay từ chữ VẠN (   ) ở ngực phóng ra ánh sáng, rưới đảnh của chư Như Lai rồi trở về chiếu Anan và đại chúng, là biểu thị Thánh phàm chẳng hai. Chỉ bày rằng tiền trần tự tối, cái Thấy nào có thiếu hụt. Nhẫn đến cái đầu tự động chao, cái Thấy hoàn toàn chẳng động. Bàn tay tự mở, nắm; cái Thấy không có trải ra, cuốn lại. Đó là chỉ ra một đường hướng thượng, người người sẵn đủ, khả dĩ an ấn (truyền pháp yếu) vậy.

Xưa, Tổ Ngưỡng Sơn đang ngồi, có vị tăng đến làm lễ. Tổ Sơn chẳng đoái hoài.

Vị tăng mới hỏi Tổ : “Biết chữ chăng ?”

Tổ đáp : “Tùy phận”.

Tăng bèn đi quanh phía phải một ṿng rồi nói : “Đó là chữ ǵ ?”

Tổ Sơn vẽ trên đất chữ thập ( ) đáp lại.

 Vị tăng lại đi quanh phía trái một ṿng rồi hỏi : “Đó là chữ ǵ ?”

 Tổ Sơn đổi chữ thập ( ) thành chữ Vạn ( ).

Vị tăng vẽ tướng ṿng tṛn, rồi dùng hai tay nâng lên như bàn tay của Tu La trong thế Nhật Nguyệt, nói : “Đây là chữ ǵ ?”

 Tổ Sơn bèn vẽ tướng   đáp lại.

Vị tăng làm ra cái tướng Đức của Phật Lâu Chí.

Tổ Sơn rằng : “Như thế, như thế. Đây là chỗ hộ niệm của Chư Phật. Ông cũng như thế, ta cũng như thế. Hăy khéo tự hộ tŕ”.

Vị tăng lễ tạ, bay lên không mà đi mất.

Lúc ấy, có một vị đạo nhân thấy được.

Sau đó năm ngày, bạch hỏi Tổ Ngưỡng Sơn.

Tổ hỏi : “Ông có thấy không ?”

Đạo giả đáp : “Tôi thấy người ấy ra cửa pḥng lên không đi mất”.

Tổ rằng : “Đó là vị A La Hán bên Tây Thiên, đến thử đạo ta đó”.

Đạo giả nói : “Tôi tuy thấy đủ thứ Tam Muội mà chẳng rành rẻ cái Lư”.

Tổ Ngưỡng Sơn rằng : “Để tôi v́ ông dùng nghĩa mà giải thích ra. Đây là tám loại Tam Muội : ấy là Giác Hải() biến làm Nghĩa Hải(), Thể đồng như nhau. Cái Nghĩa này có Nhân có Quả; Tức Thời, Khác Thời; Tổng Tướng, Biệt Tướng chẳng rời Ẩn Thân Tam Muội”.

Nếu biết cái Tam Muội Giác Hải biến ra Nghĩa Hải của Ngài Ngưỡng Sơn, th́ chữ Vạn nơi ngực của Phật phóng ra ánh sáng quư báu cũng là Diệu Dụng trong cái Bất Tư Ngh́, ắt phải được cái Tâm Tánh Diệu Mật Sáng Sạch làm cội gốc vậy.

Tổ Quy Sơn từng hỏi Tổ Ngưỡng Sơn : “Chỗ Diệu Tịnh Minh Tâm, theo ông hiểu làm sao ?”

Tổ Ngưỡng đáp : “Núi sông đất đai, nhật nguyệt tinh tú”.

Tổ Quy nói : “Ông chỉ được cái Sự”.

Tổ Ngưỡng rằng : “Ḥa Thượng vừa hỏi cái ǵ đó?”

Tổ Quy : “Cái Diệu Tịnh Minh Tâm”.

Tổ Ngưỡng : “Kêu là cái Sự không được sao ?”

Tổ Quy rằng : “Như thế, như thế”.

Chỉ do Tổ Ngưỡng Sơn hiểu được cái Diệu Tịnh Minh Tâm, được con mắt trong sạch, cho nên cái Tam Muội rơ nghĩa chữ (Tự Tam Muội), vượt xa hẳn tầm thường.

 

Kinh : “Ông Anan, trước đây ông đă trả lời Ta rằng thấy nắm tay chói sáng. Sự chói sáng ấy của nắm tay do đâu mà có ? Làm sao thành ra nắm tay ? Ông lấy cái ǵ mà thấy ?”

Thông rằng : Đây là lần dẫn dụ từ từ thứ ba của Thế Tôn, có thể nói là tâm Lăo Bà() quá tha thiết. Trước đă hỏi “Ông lấy ǵ thấy ?” Ông Anan trả lời “Đều lấy mắt mà thấy” để rồi bị Phật quở nhận giặc làm con. Đến đây hỏi lại “Ông lấy ǵ thấy ?”, chính là muốn Ông Anan hồi quang phản chiếu để hốt nhiên thấy được cái Kiến Tính Minh Nguyên(), chẳng do con Mắt. Tiếc thay, ông chẳng tỉnh ngộ được.

Có vị tăng đứng hầu Tổ Trường Sa.

Tổ lấy gậy chỉ trên đất trước mặt một điểm bất kỳ nào đó rồi hỏi : “Có thấy không ?”

Đáp rằng : “Thấy”.

Hỏi như vậy ba lần, vị tăng cũng ba lần trả lời như vậy.

Tổ Sa nói : “Ông cũng thấy ta cũng thấy. V́ sao lại nói là không hiểu ?”

Ngày khác, lại lấy cây gậy cắm trên đất, hỏi Tổ Trường Sanh : “Tăng thấy, tục thấy, nam thấy, nữ thấy, c̣n ông thấy làm sao ?”

Đáp rằng : “Ḥa Thượng có thấy Kiến Xứ (chỗ thấy) của Kiểu Nhiên (Trường Sanh) không ?”

Tổ Trường Sa nói : “Người hiểu nhau khắp thiên hạ, nhờ có câu trả lời này của Kiểu Nhiên, bèn cùng Huyền Sa thấy mặt !”

Phải chi Ông Anan tự biết cái Kiến Xứ ấy chẳng có cái Kiến (Thấy) nào đến được, th́ đâu đến nỗi Thế Tôn phải cực nhọc lắm lời !

 

Kinh : Ông Anan thưa : “Toàn thân Phật như vàng Diêm Phù Đàn, sáng ngời như núi báu, do Thanh Tịnh sanh ra nên có ánh sáng. Quả thật, tôi lấy mắt mà thấy năm ngón tay Phật co nắm lại, đưa ra cho đại chúng coi, nên có tướng nắm tay”.

Phật bảo Ông Anan : “Như Lai hôm nay, xác thật dạy ông. Những người có Trí cần lấy thí dụ mà được khai ngộ. Ông Anan, ví như nắm tay của Ta, nếu không có bàn tay ta th́ không thành nắm tay Ta. Nếu không có con mắt của ông th́ không thành cái Thấy của ông. Vậy th́ lấy Nhăn Căn của ông mà so với Nắm Tay của Ta, cái nghĩa có tương xứng không ?”

Ông Anan bạch Phật : “Đúng vậy, thưa Thế Tôn. Đă không có con mắt của tôi th́ không thành cái Thấy của tôi. Lấy Nhăn Căn của tôi mà so với nắm tay của Phật, sự nghĩa giống nhau”.

Phật bảo Ông Anan : “Ông nói giống nhau, nghĩa ấy không đúng. V́ sao thế ? Như người không có bàn tay th́ tuyệt nhiên không có nắm tay. C̣n người không có mắt kia, không phải hoàn toàn không thấy. Tại sao như thế ? Ông thử ra đường hỏi người mù : Anh thấy ǵ ? Những người mù chắc sẽ trả lời : Hiện nay trước mắt tôi chỉ thấy tối đen, chứ không thấy ǵ khác. Lấy nghĩa ấy mà xét th́ tiền trần tự tối, chứ cái thấy nào có hao kém ǵ ?”

Thông rằng : V́ sao Đức Thế Tôn lại lấy người mù làm ví dụ ? Bởi v́, Ông Anan chấp chặt lấy cái Thấy của con mắt làm cái Thấy Chân Thật, vậy là chẳng rời Căn và Trần, mà Thức sanh ra ở giữa.

Người mù không có mắt, sao cũng thấy tối thui ? Do đó, có thể biết rằng : chờ có Nhăn Căn mới thấy, đó là cái thấy của tiền trần phân biệt, chẳng phải là cái thấy của cái Vốn Xưa Nay Trong Sạch() vậy. Tiền trần phân biệt thuộc Thức Thứ Sáu, nên mắt c̣n th́ nó c̣n, mắt mất th́ nó mất, nên phải chờ có Căn th́ mới hiện ra được.

Cái ánh sáng trong sạch của Tâm, chẳng đợi đến cái Căn mà c̣n, chẳng tùy theo Căn mà diệt, nên nó là không sanh diệt. Đó là cái Thấy không sanh diệt của cái Vốn Xưa Nay Trong Sạch ai ai cũng sẵn đủ. Chẳng phải v́ không có mắt mà người mù không có.

Ông Anan chấp chặt là chỉ có con mắt mới thấy, th́ đó là cái Căn sanh diệt. Thế Tôn chỉ ra cái Thấy không hề thiếu hụt, đó là cái “Căn” không sanh không diệt. Đánh thức như thế, có thể nói là đă cùng cực.

Xưa, tướng quốc Thôi Công Quần ra mắt Tổ Như Hội thiền sư, hỏi rằng : “Thầy lấy ǵ mà được ?”

Tổ Hội trả lời : “Lấy Tánh Thấy mà được”.

Tổ Như Hội đang bị đau mắt.

Ông Quần chọc rằng : “Đă nói là Tánh Thấy, c̣n con mắt th́ sao đó?”

Tổ Hội rằng : “Tánh Thấy chẳng phải là con mắt, con mắt bệnh nào có hề ǵ !”

Ông Quần bèn cúi đầu tạ lỗi.

Sau này, Tổ Pháp Nhẫn nói rằng : “Con mắt ấy của Tướng Công há thấy được chỗ trả lời của Tổ Như Hội, mà c̣n can thiệp đến giáo ư hay sao ?”

 

Kinh : Ông Anan thưa : “Trước mắt những người mù chỉ thấy tối đen, sao gọi là thấy được?”

Phật bảo Ông Anan : “Các người mù không có con mắt chỉ thấy tối đen, so với người có mắt ở trong nhà tối, th́ hai cái tối đen ấy khác nhau hay không khác nhau ?”

- Thật vậy, thưa Thế Tôn, người có mắt ở trong nhà tối với những người mù, so sánh hai cái tối đen của họ, thật không khác nhau.

- Anan, nếu người mù không có mắt, thấy trước mắt hoàn toàn tối đen, bỗng nhiên được con mắt sáng th́ thấy lại nơi tiền trần đủ mọi loại sắc mà gọi là con mắt thấy; th́ người ở trong nhà tối kia, thấy trước mắt hoàn toàn tối đen bỗng nhiên được cái đèn sáng, nên thấy nơi tiền trần đủ mọi loại sắc, lẽ ra phải gọi là cái đèn thấy. Nếu cái đèn tự nó thấy được, th́ không thể gọi là đèn. Lại ngọn đèn nó thấy, th́ liên can ǵ tới ông ! Vậy, nên biết rằng : Đèn làm sáng các h́nh sắc, nhưng thấy như vậy là Mắt chứ không phải đèn. Mắt làm sáng tỏ các Sắc, nhưng Tánh Thấy như vậy là Tâm chứ chẳng phải là Mắt.

Thông rằng : Đây là Đức Thế Tôn phân tích rơ ràng, nên nói là “Xác thật bảo ông”. Đèn và con Mắt, đều là cái duyên cho sự thấy, thể của chúng chẳng phải Hay Thấy. Cái Hay Thấy là tâm vậy. Ở trước, nói “Cửa có thấy không ?” là đă đủ nghĩa này. Ở đây, lại lấy ngọn Đèn ví dụ là con mắt, lấy Mắt mà so với Tâm. Đèn không thể thấy, Mắt có thể thấy được sao ? Cái Thấy của con Mắt chẳng phải là Tánh Thấy. Nếu sáu Căn có thể dùng thay nhau, th́ Tai cũng thấy được vậy, đâu phải chỉ có mắt mới thấy. Chỗ Ông Anan nói : “Quả thật tôi dùng con mắt mà thấy” th́ rơ ràng chấp lấy Vọng mà làm cái Chơn. Nếu biết đèn chỉ có thể hiển cái sắc c̣n cái Năng Kiến thuộc về con mắt, th́ đă ĺa Sở Vọng. Lại biết mắt chỉ hiển sắc, c̣n Tánh Thấy thuộc về Tâm, th́ ĺa luôn cả cái Năng Vọng. Năng, Sở đều ĺa, duy chỉ một Tâm. Tâm siêu vượt khỏi con mắt nên không sanh diệt. Dùng cái Thấy không sanh diệt mà thấy nắm tay của Như Lai th́ chưa từng không thấy. Nhưng không thể nói là con mắt thấy.

Xưa, thiền sư Khô Mộc() Tổ Nguyên() theo học Ngài Đại Huệ() ở am Vân Môn. Trời sắp tối, thấy vị tăng sửa soạn đèn mới tỏ ngộ thấu đáo, làm bài kệ rằng :

“Vừa soạn đèn là lửa đến

Vô Minh bao kiếp soi phá

Về nhà đụng gặp Thánh Tăng

Suưt nữa đối mặt lầm qua

Chẳng lầm qua th́ thế nào ?

Mười lăm năm trước tưởng lạ kỳ

Y xưa, chỉ là cái đó !”.

(Dịch khởi đăng lại thị hỏa

Lịch kiếp Vô Minh chiếu phá

Quy đường chàng kiến Thánh tăng

Kỷ hồ đương diện tạ quá

Bất tạ quá, thị thậm ma

Thập ngũ niên tiền kỳ đặc

Y tiền chỉ thị giá cá).

Ngài Đại Huệ bèn tặng cho một bài kệ :

“Vách núi muôn tầm, giải phóng thân

Xưa nay như cũ, vẫn minh minh

Đói ăn khát uống toàn vô sự

Há luận người xưa, chẳng phải xưa !”.

(Vạn nhận nhai đầu giải phóng thân

Khởi lai y cựu khước tinh tinh

Cơ xan khát ẩm hồn vô sự

Há luận tích nhơn phi tích nhơn).

Ôi, việc sửa soạn đèn đâu có ăn nhằm ǵ tới chuyện tu thiền mà lại tỏ ngộ. Thế mới biết Thế Tôn nói rằng cái thấy đó là con mắt chớ chẳng phải đèn; cái Tánh Thấy là Tâm chớ chẳng phải con mắt. Nên Ngài Tổ Nguyên mới nói vừa soạn đèn là lửa đến. Như cách vách thấy sừng th́ biết chắc là trâu. Phải triệt chứng như thế mới gọi là Thấy Tánh.

 

Kinh : Ông Anan tuy được nghe lời Phật dạy như vậy, cùng với đại chúng miệng tuy im lặng nhưng Tâm chưa khai ngộ, c̣n mong Như Lai từ tâm chỉ bày, chắp tay lắng ḷng đợi Phật thương xót dạy bảo.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn duỗi tay Đâu La Miên sáng ngời, mở năm ngón tay mà bảo Ông Anan và đại chúng rằng : “Lúc Ta vừa thành đạo ở vườn Lộc Uyển có dạy nhóm Ông A Nhă Đa năm vị Tỳ kheo và bốn chúng rằng : Tất cả chúng sanh không thành Bồ Đề cùng bậc A La Hán đều do những phiền năo khách trần mê hoặc. Lúc ấy, các ông nhờ đâu mà khai ngộ, đắc thành Thánh quả ?”

Thông rằng : : Đức Thế Tôn lời thật chỉ bày rơ ràng mà Ông Anan và đại chúng c̣n chưa khai ngộ cũng v́ cơ duyên chưa dễ nhóm tụ. Do ḷng từ bi, Đức Thế Tôn c̣n e lời nói vi diệu chưa dễ hiểu được. Nhưng trong hàng tỳ kheo cũng có vị đă hiểu ngộ rồi, vậy th́ dùng chỗ đă hiểu biết d́u dẫn cho hiểu biết th́ dễ dàng ngộ nhập. Bởi thế nên dạy các vị tỳ kheo mỗi vị tự thuật lại nguyên do khai ngộ để Ông Anan dễ lănh ngộ. Đoạn sau, hai mươi lăm vị Thánh thuật lại chỗ chứng Viên Thông của ḿnh cũng là dùng cách này. Ở đây là Biết Vọng sau mới Chứng Chơn, không phải không có chỗ sâu cạn khác nhau, nhưng phương tiện dắt dẫn chỉ là một.

Nói rằng “Chẳng thành Bồ Đề đều do phiền năo khách trần làm mê lầm”, đó chính là sự đắp đổi hóa thành lẫn nhau của hai loại căn bản sanh tử, tỏ ngộ cũng không dễ.

Có vị tăng hỏi Ngài Nam Dương Huệ Trung quốc sư : “Cái ǵ là Phật ?”

Tổ đáp : “Tức Tâm là Phật”.

Hỏi : “Tâm có phiền năo không ?”

Tổ rằng : “Phiền năo, tánh tự ĺa()”.

Tăng rằng : “Há chẳng đoạn trừ sao ?”

Tổ đáp : “Đoạn trừ phiền năo, kêu bậc Nhị Thừa. Phiền năo chẳng sanh, gọi đó là Đại Niết Bàn”.

Tăng hỏi : “Ngồi thiền khán tịnh th́ như thế nào?”

Tổ đáp : “Không dơ không sạch th́ đâu cần khởi tâm khán tướng tịnh ?”

Kinh Di Lặc Thượng Sanh nói : “Không khởi tu thiền định, không vọng trừ phiền năo. Phật thọ kư cho người này thành Phật không nghi”.

Học sĩ Trần Tú Ngọc có lần hỏi Tổ Vạn Tùng() rằng : “Đức Di Lặc Bồ Tát v́ sao chẳng tu thiền định, chẳng dứt trừ phiền năo ?”

Tổ Tùng đáp : “Chân Tâm vốn tịnh, nên chẳng tu thiền định. Vọng tưởng vốn không, nên chẳng dứt ĺa phiền năo”.

Học sĩ lại đem câu này hỏi Ngài Hương Sơn Đại Nhuận Ḥa Thượng. Ngài đáp : “Tâm Thiền vốn định, chẳng trở lại tu. Phiền năo tịch diệt, chẳng cần lại đoạn”.

Học sĩ lại đem hỏi Ngài Trúc Lâm Hải Cự Xuyên. Tổ Xuyên đáp : “Vốn không có thiền định, phiền năo !”

Học sĩ nói : “Chỉ có thế này mới khoái !”

Ở chỗ này mà tin tới được, mới biết việc chỉ bày ở Lộc Viên chỉ v́ người mới học.

 

VI. Ư NGHĨA CHỦ VÀ KHÁCH

Kinh : Khi ấy, Ông Kiều Trần Na đứng dậy bạch Phật : “Tôi nay già cả, ở trong đại chúng riêng được cái danh là Hiểu. Do tôi ngộ được hai chữ Khách Trần mà thành quả. Thưa Thế Tôn, ví như người khách đi đường, vào trọ nơi quán xá, hoặc ngủ lại, hoặc ăn. Ăn, ngủ xong xếp đồ đạc lên đường không ở lại được. Nếu thật là người chủ, tự không phải đi đâu. Tôi nghĩ như vầy : Không ở yên măi được th́ gọi là Khách, c̣n ở măi th́ gọi là Chủ. Lấy cái sự Không ở yên măi được làm ư nghĩa chữ Khách. Lại như trời mới tạnh, mặt trời chiếu sáng trên cao, ánh sáng xuyên qua khe hở chiếu rơ bụi bặm trong khoảng không. Bụi trần th́ dao động, hư không lặng yên. Như vậy mà suy nghĩ: đứng lặng gọi là hư không, lay động gọi là Trần. Tôi lấy Sự lay động làm ư nghĩa chữ Trần”.

Đức Phật nói : “Chính vậy”.

Thông rằng : Khách là thí dụ cho cái thô trọng của Sở Tri ; Trần là ví dụ cho cái vi tế của phiền năo. Niệm niệm đổi dời, sanh ra rồi diệt mất chẳng ngừng, nên thí dụ như khách đi đường vào trọ quán xá. Khởi lên sự mê lầm, gây ra nghiệp, bỏ cũ theo mới, nên thí dụ là ăn, ngủ xong th́ thu dọn lên đường. Cái Chân Tánh Thường Trụ vốn chẳng có chuyện ấy, nên thí dụ như người chủ chẳng đi đâu cả. Thô chướng th́ dễ trừ mà cái mê lầm vi tế th́ khó biết, nên phải do bầu trời Bản Tánh tạnh ráo sáng trong có mặt trời Trí Huệ soi chiếu, qua khe hở của Ngũ Ấm soi rơ Bản Tánh rỗng trống, mới biết hư vọng tự rối động ở trong. Do đó, mới lấy thí dụ “Trời tạnh, mặt trời chiếu sáng, ánh sáng vào trong lỗ hở, phát hiện rơ ràng bụi bặm trong hư không”.

Phiền năo th́ rối động. Chân Tánh vốn tịch nhiên. Như ngộ được là vốn không, thường trụ chẳng động, tức biết Tâm Tánh thường tịch vậy.

Tổ Triệu Châu nói : “Các ông từ một phen thấy lăo tăng trở về sau, lại chẳng phải là người nào khác, chỉ thật là người chủ nhân ông. Cái ấy đây lại hướng ra ngoài t́m kiếm làm chi ? Chính lúc này đây, chớ chuyển đầu đổi năo. Nếu chuyển đầu đổi năo tức mất ngay vậy”.

Lại một hôm, Ngài đang quét đất, có vị tăng hỏi: “Ḥa Thượng là bậc đại Thiện Tri Thức v́ sao lại c̣n quét đất ?”

Tổ Châu nói rằng : “Bụi từ ngoài đến”.

Tăng hỏi : “Đă là chốn Già Lam trong sạch, làm sao có bụi ?”

Tổ Châu nói : “Lại một hạt bụi nữa ḱa”.

Ngài Triệu Châu, ánh sáng con mắt Ngài soi nát bốn châu thiên hạ, biện rơ nghĩa Khách Trần, chẻ vào thấu cái nhỏ nhiệm. Nếu ở chỗ này mà soi ra được rành rẽ, th́ quả thật là vị Sa Di có chủ, ở đời chẳng nhiễm, chứ đâu chỉ được mang tiếng là Giải().

 

Kinh : Khi ấy, Đức Như Lai ở giữa đại chúng nắm năm ngón tay lại. Nắm rồi lại mở, mở rồi lại nắm.

Rồi hỏi Ông Anan rằng : “Nay ông thấy ǵ?”

Ông Anan đáp : “Tôi thấy bàn tay Bách Bảo Luân của Như Lai ở giữa đại chúng lúc mở lúc nắm”.

Phật bảo Ông Anan : “Ông thấy tay ta ở giữa đại chúng khi mở khi nắm, đó là tay ta có mở có nắm hay là cái Thấy của ông có mở có nắm ?”

Ông Anan thưa : “Bàn tay báu của Phật ở giữa đại chúng khi mở khi nắm. Tôi thấy bàn tay Như Lai tự mở tự nắm, chẳng phải cái Tánh Thấy của tôi có mở có nắm”.

Phật bảo : “Cái ǵ Động, cái ǵ Tĩnh ?”

Ông Anan thưa : “Bàn tay Phật không ở yên, chứ Tánh Thấy của tôi c̣n không có tĩnh, lấy ǵ gọi là không ở yên được ?”

Phật dạy : “Đúng thế”.

Thông rằng : Ông Kiều Trần Na nhờ ngộ hai chữ Khách Trần, chỉ rơ biết được cái bờ mé của phiền năo. Đức Thế Tôn ắt chỉ ngay (Trực Chỉ) cái Bồ Đề mà nói. Trước hết là ở nơi ngoại cảnh mà biện rơ cái Chân Tánh. Cảnh có nắm mở mà cái Thấy th́ không động hay tĩnh, đây là chỗ người ta dễ biết. Đức Thế Tôn nhân cái chỗ dễ biết đó mà dẫn dắt. Quả nhiên, Ông Anan tin là cái tay có nắm có mở, c̣n cái Thấy không có nắm mở, mà nói “Tánh Thấy của tôi c̣n không có cả cái tĩnh, lấy ǵ gọi là không ở yên ?” T́m tướng động tĩnh tuyệt chẳng thể được. Cũng gần thấy được vị chủ nhân thường trụ rồi. Nếu không phải là sự thức tỉnh vi diệu của Thế Tôn làm sao được như vậy.

Xưa, có Ngài Tây Đường() hỏi Tổ Bá Trượng : “Về sau, ông làm sao khai thị cho người ?”

Tổ Trượng dùng tay mở nắm lại hai lượt.

Ngài Tây Đường hỏi : “Lại làm cái ǵ ?”

Tổ Trượng lấy ngón tay điểm ba cái.

Thử nói cái hiển dụng như thế của Tổ Bá Trượng là hợp với cơ phong của Lăng Nghiêm hay không, hay là có đạo lư ǵ khác ?

Lại như Ḥa Thượng Câu Chi, thuở mới trụ am, có vị ni tên là Thực Tế đến am, đi thẳng vào chẳng hề cất nón, cầm tích trượng đi quanh thiền sàng ba ṿng, rồi bảo : “Nói được th́ bỏ nón”.

Hỏi vậy ba lần, thầy Câu Chi không có chỗ đáp được. Vị ni bèn đi.

Thầy Câu Chi nói : “Trời sắp tối rồi, hăy nghĩ lại một đêm”.

Ni sư nói rằng : “Nói được th́ ở lại”.

Thầy Câu Chi lại không có chỗ đáp lại. Ni sư bèn đi.

Sư Câu Chi than rằng : “Ta tuy có cái h́nh tướng trượng phu mà không có khí phách của trượng phu !” Bèn nổi ḷng hăng tức muốn rơ biết việc này, định bỏ am đi các nơi tham hỏi.

Đêm ấy, vị thần Núi bảo rằng : “Chẳng nên ĺa đây, ngày mai sẽ có vị Bồ Tát xác phàm đến đây v́ Ḥa Thượng nói pháp”.

Hôm sau, Tổ Thiên Long đến am, Ngài Câu Chi nghinh lễ rồi kể lại đầy đủ câu chuyện. Tổ Thiên Long chỉ dựng đứng một ngón tay mà khai thị cho. Ngài Câu Chi hoát nhiên đại ngộ.

Từ đó về sau, hễ có ai hỏi, Ngài chỉ dựng đứng một ngón tay. Khi sắp thị tịch, Ngài nói với chúng rằng : “Ta được nơi Ngài Thiên Long một ngón tay Thiền, suốt đời dùng chẳng hết. Có hội chăng ?” Rồi dựng lên một ngón tay mà tịch.

Ngài Thiên Đồng tụng rằng :

“Lăo Câu Chi một ngón tay Thiền

Hai mươi năm dùng măi không cùng

Tin có đạo nhân, nhiều phương thuật

Rơ không tục vật, trước mắt nh́n

Chỗ được quá giản dị

Ban bày khắp rộng thay !

Đại thiên sát hải uống đầu lông

Vô hạn rồng, lân vào tay kẻ ?

Nhậm Công() trân trọng nắm cần câu”.

Ngài Tuyết Đậu tụng rằng :

“Rất khen, thương lắm lăo Câu Chi

Vũ trụ xưa nay chẳng có ǵ

Từng hướng đại dương buông gỗ nổi

Sóng đêm khúc gỗ tiếp rùa đui”.

Kinh Pháp Hoa : “Như con rùa một mắt gặp lỗ bộng của khúc gỗ trôi nổi, không bị nạn chết ch́m”. Đức Thế Tôn từ lúc mở nắm ngón tay cho đến đây, không chỗ nào là không chỉ bày Tri Kiến() của Phật, khiến người được chỗ yên ổn. Sao lại chẳng bắt chước cái kế của con rùa đui ?

 

Kinh : Lúc ấy, Như Lai từ trong bàn tay phát ra một đạo hào quang báu qua bên phải Ông Anan, Ông Anan liền quay đầu trông qua bên phải. Phật lại phóng ra một đạo hào quang qua bên trái Ông Anan, Ông Anan lại quay đầu trông qua bên trái.

Phật bảo Ông Anan : “Hôm nay đầu ông v́ sao dao động ?”

Ông Anan thưa : “Tôi thấy Như Lai phát hào quang báu qua bên phải rồi qua bên trái, nên tôi trông qua bên phải và bên trái, đầu tự dao động”.

- Ông Anan, ông xem hào quang của Phật mà dao động cái đầu qua phải qua trái. Đó là đầu ông động hay là cái Thấy động ?

- Thưa Thế Tôn, đầu tôi tự động chứ Tánh Thấy của tôi th́ dừng đứng c̣n chẳng có, lấy ǵ mà dao động ?

Phật dạy : “Đúng vậy”.

Thông rằng : Đoạn này là ở trong thân mà biện rơ cái Chân Tánh : đầu tự dao động, c̣n cái Thấy (Tâm Tánh) không chỗ động. So với đoạn trước, tay tự nắm mở, c̣n cái Thấy không có chỗ động th́ lại càng vi mật. Ở nơi thân của một người, có thấy động tức là đầu động, làm sao nói được là đầu tự động lay mà cái Thấy th́ không động ? Cái tùy theo đầu mà có phải có trái ấy là T́nh Kiến. Cái chẳng theo đầu mà có động có tĩnh là Chân Kiến (cái Thật Tánh). T́nh Kiến thuộc Thức, nên có khởi có diệt. Chân Kiến thuộc Tánh, vốn không làm, không dừng lại. Làm sao nghiệm chuyện này ? Đầu có động, có tĩnh th́ có thể thấy được, cái Thấy không có động tĩnh để có thể chỉ ra. Bởi thế, nên biết cái không có động tĩnh để chỉ ra được, đó là Chân Kiến. Trước đây, Ông Anan chấp Thức làm Tâm, chỉ biết T́nh Kiến mà cho là cái Thấy. Nay nhờ phương tiện chỉ dạy của Như Lai, cái Trí Sáng tạm hiện ra, mới tin hiểu đầu tự dao động c̣n cái Thấy th́ không chỗ động. Cái Tánh Thấy vốn chẳng động này, th́ động cũng như thế, tĩnh cũng như thế; khi thấy chẳng phải có, khi không thấy chẳng phải là không, trong ấy c̣n không có cái ngừng yên, có ǵ mà dao động. Đó là cái Thể Không Tịch Ly Trần vậy. Ông Anan đối theo đây mà biết Tánh đó vậy. Đă nói là biết Tánh, sao c̣n lắm thứ đa nghi ? Ấy v́ Ông Anan nhờ Phật đưa bàn tay ra, rồi phóng ánh sáng, lại nắm mở bàn tay, so sánh với đầu dao động. Cái Thấy bàn tay nắm mở không động, cái Thấy của đầu day qua phải qua trái cũng không động. Đây là cái biết do suy nghĩ đo lường chứ không phải là sự nhiệm mầu của tự ḿnh tỏ ngộ. “Theo cửa mà vào, chẳng phải của báu trong nhà”, ở đây lại càng rơ ràng tin hiểu.

Thiền sư Vô Nghiệp ban đầu ra mắt Đức Mă Tổ, bạch hỏi rằng : “Văn học của Tam Thừa đă nghiên cứu sơ lược ư chỉ. Từng nghe Thiền Tông nói “Tức Tâm là Phật”, thật chưa hiểu được”.

Đức Mă Tổ nói : “Chỉ cái tâm chưa hiểu đó là phải (tức thị), ngoài ra không có vật nào khác”.

Sư Nghiệp hỏi : “Thế nào là mật truyền tâm ấn của Tổ Sư từ Tây sang ?”

Đức Mă Tổ nói : “Đại Đức đang ồn ào không ở yên ở trong ấy, hăy đi, khi khác đến”.

Sư Nghiệp vừa đi ra, Đức Tổ gọi : “Đại Đức !”

Sư Nghiệp quay đầu lại.

Ngài Mă Tổ nói : “Đó là cái ǵ ?”

Sư Nghiệp liền lănh ngộ, bèn lễ bái.

Ngài nói rằng : “Cái gă ngu này, lễ bái làm chi vậy ?”

Lại có thiền sư Ngũ Duệ Linh Mặc từ xa đến ra mắt Ngài Thạch Đầu, rồi hỏi : “Một lời hợp nhau th́ ở, chẳng hợp th́ đi”.

Tổ Đầu cứ ngồi. Sư Duệ bèn đi.

Tổ Đầu theo sau, gọi : “Xà Lê !”

Sư Duệ quay đầu lại.

Tổ Đầu nói : “Từ sanh đến tử, chỉ là cái Ấy, quay đầu chuyển năo làm ǵ !”

Sư Duệ ngay dưới câu nói đại ngộ, bèn bẻ ném cây trụ trượng mà ở lại.

Hăy nói hai Ngài Vô Nghiệp và Ngũ Duệ quay đầu, chuyển năo th́ liền ngộ, so với Ông Anan là nhiều, ít ?

 

Kinh : Lúc bấy giờ Như Lai bảo với cả đại chúng : “Như các chúng sanh lấy cái dao động mà gọi là Trần, lấy cái không ở yên mà gọi là Khách, th́ các ông hăy xem Ông Anan : đầu tự dao động mà cái Thấy không có chỗ động; lại hăy xem bàn tay Ta tự mở tự nắm mà cái Thấy không duỗi không co. Cớ sao các ông hiện nay lại lấy cái động làm thân, lấy cái động làm cảnh, từ đầu đến cuối niệm niệm sanh diệt, bỏ mất Chân Tánh, làm việc điên đảo, mất chỗ Chân Thật, nhận Vật làm Ḿnh, luân hồi trong ấy, tự ḿnh chọn lấy sự trôi nổi đổi thay ?”

Thông rằng : Bàn tay của Phật chẳng dừng trụ, mà Tánh Thấy thường trụ, đó là Chủ Nhân Ông chân thật. Đầu tự dao động, Tánh Thấy không động, thật là cái Thể Chơn Không. Nay chẳng nhận Chủ mà nhận Khách, chẳng nhận cái Không mà nhận cái Trần, há chẳng phải là làm chuyện điên đảo hay sao? Cũng v́ niệm niệm sanh diệt, phiền năo nối nhau, đến nỗi bỏ mất Chân Tánh, chẳng nên đạo Bồ Đề, là do Khách Trần mê hoặc mới đến nỗi như thế.

Kinh Viên Giác nói “Lầm nhận bốn Đại làm thân tướng của ḿnh, bóng dáng sáu Trần duyên ảnh làm tâm tướng của ḿnh”. Chính là chỗ ở đây nói “Lấy cái động làm thân, lấy cái động làm cảnh, nhận vật làm ḿnh”. Đă nhận cái vọng động chạy theo cảnh đó làm Tự Tâm, th́ cái Chân Tâm Bất Động bèn mê trong cái trôi lăn, nên gọi là “Bỏ mất” chứ chẳng phải nói Bỏ mất là không hiện c̣n vậy. Giống như nước đă thành băng, tánh nước biến mất.

Đoạn trước, nói “Hay sanh cái duyên, nhưng duyên theo cái Sở nên bỏ mất. Bỏ mất cái Vốn Tự Sáng này, tuy suốt ngày dùng mà chẳng tự giác, uổng oan sa vào các nẻo”. Như thế th́ làm sao mà ra khỏi sanh tử ? Cho nên nói “Luân hồi xoay chuyển trong đó, tự chọn giữ lấy cái trôi nổi xoay vần”. Trước, nói “Tất cả chúng sanh từ vô thủy đến nay, sanh tử nối nhau, đều do không biết cái Chân Tâm Thường Trụ, Tánh Thể Sáng Sạch. Dùng các vọng tưởng, những tưởng này chẳng chân thật nên có luân chuyển”. Chính là nói chỗ này.

Xưa, Tổ Động Sơn hỏi một vị tăng : “Ông tên ǵ?”

Đáp : “Tôi đây”.

Tổ Sơn hỏi : “Vậy cái ǵ là Chủ Nhơn Ông của thầy Xà Lê ?”

Đáp : “Cái Thấy đối diện”.

Tổ Sơn rằng : “Khổ thay, khổ thay ! Người đời nay hết thảy đều như thế này. Chỉ nhận ra lừa trước, ngựa sau() đấy thôi mà lấy làm cái Chính Ḿnh. Phật Pháp ch́m đắm là do đó vậy. Chủ trong Khách() c̣n chưa phân biệt được, làm sao phân biệt nổi Ông Chủ trong Chủ (Chủ trung Chủ)”.

Vị tăng liền hỏi : “Như sao là Chủ trong Chủ ?”

Tổ Sơn nói : “Thầy Xà Lê tự nói lấy”.

Vị tăng đáp : “Tôi mà nói được th́ đó là Chủ trong Khách, c̣n như thế nào là Chủ trong Chủ ?”

Tổ Sơn nói rằng : “Nói ra th́ dễ biết bao, mà tương tục nối nhau th́ quá khó !”

Bèn khai thị bằng bài tụng :

“Ôi thấy đời nay học đạo đông

Ngàn ngàn vạn vạn nhận cửa ngoài

Cũng tợ vào kinh chầu Vua Thánh Chúa

Chỉ đến cửa triều đă vội ngừng”.

Do đây mà xét, thật Thức T́nh Phân Biệt mà so với cái Kiến Tinh Bất Động hăy c̣n cách xa mấy dặm đường, mà cái Kiến Tinh Bất Động so với Chân Tánh Tịch Thường vẫn c̣n phải tự ḿnh biện biệt. Như đoạn kinh sau nói “Thấy do ĺa Thấy, cái Thấy không b́ kịp”, th́ cơ hồ đă vượt cửa triều mà thấy Vua rồi đó.

 

GIỚI THIỆU - MỤC LỤC - QUYỂN 1 - QUYỂN 2 - QUYỂN 3 - QUYỂN 4

QUYỂN 5 - QUYỂN 6 - QUYỂN 7 - QUYỂN 8 - QUYỂN 9 - QUYỂN 10 - CHỈ MỤC

 

Copyright ©2005 FITEC & SearchVN. All rights reserved.