TIN NHÂN  QUẢ - TẠO PHƯỚC ĐỨC -  SỐNG CHÂN THƯỜNG

 ĐẠO TRÀNG TÂY TẠNG                                                                                                              TRỞ VỀ

Google

 KINH

THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG

 Người dịch :

THUBTEN OSALL LAMA - NHẪN TẾ THIỀN SƯ

 

QUYỂN III

F. THU SÁU NHẬP

Kinh : “Lại nữa, Anan, như sao là Lục Nhập vốn là Như Lai Tạng Diệu Chân Như Tánh ?

Thông rằng : Lục Nhập cũng gọi là Lục Xứ, là cái chỗ để cho Cảnh do đó mà Nhập vào vậy. Ở đây chỉ lấy Căn làm Nhập. Lục Căn sao lại là Diệu Chân Như Tánh ? Chẳng phải là “Một Căn đă trở về nguồn th́ sáu Căn đều thành Giải Thoát” sao ? Bởi thế, sáu Căn tức đó là Phật Tánh vậy.

Vua Dị Kiến hỏi tôn giả Ba La Đề : “Cái ǵ là Phật ?”

Tổ đáp : “Thấy Tánh là Phật”.

Vua hỏi : “Thầy thấy Tánh chăng ?”

Tổ đáp : “Tôi thấy Phật Tánh”.

Vua hỏi : “Cái Tánh ở chỗ nào ?”

Tổ nói : “Tánh ở trong tác dụng”.

Vua hỏi : “Ấy là tác dụng nào mà tôi không thấy ?”

Tổ nói : “Nay hiện là tác dụng mà vua tự chẳng thấy”.

Vua hỏi : “Hiện nơi tôi có chăng ?”

Tổ nói : “Vua mà tác dụng th́ không có ǵ chẳng phải là đó; vua mà chẳng dùng, Thể ấy khó thấy”.

Vua hỏi : “Như khi đang dùng th́ xuất hiện mấy chỗ ?”

Tổ đáp : “Như khi xuất hiện th́ hiện có tám chỗ”.

Vua nói : “Xin v́ tôi nói ra tám chỗ xuất hiện ấy”.

Tổ Ba La Đề nói bài kệ :

“Ở thai làm Thân

Ở đời làm Người

Ở mắt là Thấy

Ở tai là Nghe

Ở mũi Ngửi mùi

Ở miệng Đàm Luận

Ở tay Cầm Nắm

Ở chân Đi Chạy

Hiện khắp đồng đều pháp giới

Thâu lại trong một vi trần

Tỏ hiểu, biết đó là Phật Tánh

Không hiểu, lại gọi là tinh hồn”.

Vua nghe xong bài kệ, tâm liền khai ngộ.

Ông Tŕnh Minh Đạo đọc Trung Dung có câu thơ “Diều bay tận trời. Cá nhảy trong vực”, nói rằng “Trên dưới đều rơ ràng vậy”. Đây là Ông Tử Tư quả là v́ người mà gắng sức. Biết được th́ đời sống quá đổi tự do. Chẳng biết, th́ chỉ là “Đùa giỡn với tinh hồn”. Những lời nói ấy, người học vẫn thường nghe. V́ sao vua Dị Kiến lại tỏ ngộ, nhỉ ?

Thiền sư Phật Nhật Tài thượng đường : “Gió mưa tiêu điều lấp kín Tai ông ! Lá rụng lại qua lấp kín Mắt ông ! Hương mùi loạn xạ lấp kín Mũi ông ! Lạnh nóng, ngọt bùi lấp kín Lưỡi ông ! Áo gấm ấm mát lấp kín Thân ông ! Vọng tưởng điên đảo lấp kíp ư ông ! Này chư vị thiền đức, cho dù các ông có lật lại được chăng nữa th́ cũng là đống xương đất bằng ! Tham!”

Chỗ này chẳng tham th́ không được !

 

Kinh : “Anan, tức nơi tṛng mắt kia, ngó sững sanh ra mỏi ḷa. Cả hai cái : con mắt và sự mỏi ḷa đều là cái tướng sinh mỏi ḷa do nh́n chăm chăm của Bồ Đề.

“Nhân nơi hai thứ vọng trần sáng và tối phát ra cái Thấy ở bên trong, thu nạp các trần tướng mà gọi là cái Thấy. Cái Thấy này rời ngoài hai Trần sáng và tối, rốt ráo không có tự thể.

“Thật vậy, Anan, phải biết rằng cái Thấy đó chẳng phải từ nơi sáng, nơi tối mà đến, chẳng phải từ căn mắt mà ra, chẳng phải từ hư không mà sanh. V́ sao thế ? Nếu từ cái sáng mà đến, th́ khi tối đă theo cái sáng mà diệt, lẽ ra không thấy được cái tối ! Nếu từ cái tối mà đến th́ khi sáng phải theo cái tối mà diệt, lẽ ra không thấy được cái sáng ! Nếu do căn mắt mà sanh, hẳn không có sáng, có tối th́ cái Thấy như vậy vốn không tự tánh. Nếu do hư không mà ra th́ ngó tới trước phải thấy các trần tượng, quay về phải thấy con mắt ! Lại nữa, hư không mà tự thấy nào có liên quan ǵ đến chỗ thâu nhập của ông.

“Thế nên, phải biết Nhăn Nhập là hư vọng, vốn chẳng phải tính Nhân Duyên, chẳng phải tính Tự Nhiên.

Thông rằng : Ngó sững chặp lâu th́ mắt mỏi mà phát ḷa, nên thấy hoa đốm loạn xạ, cái căn mắt phân biệt cũng là cái tướng ḷa ở trong Giác Tánh Bồ Đề, nên nói “Cả con mắt và cái ḷa đều là cái tướng mỏi sanh ra ḷa của Bồ Đề”. Mượn con mắt ḷa tạo thành sắc ấm để ví dụ là Nhăn Nhập hư vọng vậy. Nếu mắt chẳng mỏi, tướng ḷa tự là không, nguyên một Tinh Minh lấy đâu mà vọng ? Cái Thấy này ĺa ngoài hai trần sáng, tối rốt ráo không tự thể. Rơ ràng hiển bày cái Chân Kiếân Vô Sanh, chẳng v́ thấy sáng, thấy tối mà có, chẳng v́ ĺa sáng, tối mà không. Chân Kiến là Chân Thật, c̣n cái Thấy này là hư vọng, có thể thấy rơ ràng vậy.

Đoạn trước nói “Hoa đốm chẳng phải từ hư không sanh, chẳng từ con mắt sanh ra” chỉ thẳng sắc ấm vốn không. Ở đoạn này, nói “Tánh Thấy chẳng từ hư không sanh cũng chẳng do con mắt sanh ra” để chỉ bày Nhăn Nhập là hư vọng. Vọng vốn không tự tánh, Đương Thể tức Chân. Nên nói “Tức là Như Lai Tạng Diệu Chân Như Tánh” vậy.

Tổ Triệu Châu nói : “Cầm chắc Càn Khôn Nhăn, làu làu chẳng lọt mảy lông. Mong ông hiểu thấu, ông lại làm ǵ nữa ?”

Ngài Thiên Đồng nêu ra rằng : “Trở lại đầu mối được chưa ? Dù cho ông ở trong ấy hiểu được bảy lỗ, tám hang đi nữa, ta cũng biết ông chẳng ra khỏi cái nôi mây kết tróùi của Tổ Triệu Châu đâu !”

Lại có nhà sư hỏi Tổ Cửu Phong Kiền : “Như thế nào là con Mắt Càn Khôn ?”

Tổ Phong nói : “Càn Khôn ở trong ấy !”

Nhà sư hỏi : “Con Mắt Càn Khôn ở đâu ?”

Tổ Phong nói : “Chánh đó là con Mắt Càn Khôn”.

Sư hỏi : “Lại có chiếu sáng không ?”

Tổ Phong nói : “Chẳng nhờ đến thế lực của ba loại ánh sáng”.

Sư hỏi : “Đă chẳng nhờ sức của ba loại ánh sáng th́ nhờ vào đâu mà chiếu sáng, mà gọi là con Mắt Càn Khôn ?”

Tổ Phong nói : “Nếu chẳng như thế th́ trước sọ khô thấy quỷ ma vô số !”

Hợp hai tắc này lại mà xem xét, nếu mà có nương nhờ th́ đó chính là chỗ rỉ giọt(), cho dù có hiểu được cũng là trước mắt thấy quỉ. Chỉ nơi một câu “Con Mắt Càn Khôn ở tại chỗ nào ?” mà trộm thấy suốt được th́ mới nắm chắc. Tướng mỏi sanh ḷa từ chỗ nào mà khởi ra thế ?

 

Kinh : “Anan, ví như có người lấy hai ngón tay bịt chặt lỗ tai, do căn tai mỏi, trong đầu hóa ra có tiếng. Cả hai cái : lỗ tai và cái mỏi mệt, đều là tướng lâu mà sanh ù mỏi của Bồ Đề.

“Nhân nơi hai thứ vọng trần động và tĩnh phát ra cái Nghe ở trong, thu nạp cái trần tượng đó mà gọi là cái Nghe. Cái Nghe đó rời hai trần động tĩnh rốt ráo không có tự thể.

“Thật vậy, Anan, ông nên biết cái Nghe đó không phải từ nơi động, nơi tĩnh mà đến, không phải từ lỗ tai mà ra, không phải nơi hư không mà sanh. Tại sao thế ? Nếu cái Nghe ấy từ nơi tĩnh mà đến th́ khi động phải theo cái tĩnh mà diệt, lẽ ra không nghe được cái động. Nếu từ nơi động mà đến th́ khi tĩnh sẽ theo cái động mà diệt, lẽ ra không nghe thấy cái tĩnh. Nếu do lỗ tai mà sanh, hẳn là không có động, không có tĩnh, th́ cái Nghe như vậy vốn không có tự tánh. Nếu do hư không mà ra, th́ đă có tánh nghe, chắc không phải là hư không nữa. Lại nữa, hư không mà tự nghe nào có liên quan ǵ đến chỗ thâu nhập của ông ?

“Vậy, nên biết rằng Nhĩ Nhập là hư vọng, vốn chẳng phải tánh Tự Nhiên, chẳng phải tánh Nhân Duyên.

Thông rằng : Từ Nhăn Nhập đến Ư Nhập đều như hoa không, nên nói “Đều là cái tướng mỏi mệt sanh ra của Bồ Đề”. Căn Tai mỏi ù, th́ trong đầu có ra tiếng. Giác Tánh Bồ Đề phát sanh mỏi, ắt trong tai thành có cái Nghe. Cái Nghe này hư vọng mà sanh ra, cũng như hoa không vậy. Cái Nghe này rời hai vọng trần động và tĩnh th́ rốt ráo không có tự thể. Trần đến th́ có, trần đi th́ không. Cái Nghe ấy vốn không gốc gác nên gọi là hư vọng. Cái Nghe hay phân biệt được động, tĩnh nên chẳng từ cảnh mà sanh. Cái Nghe thật linh mẫn, c̣n hư không th́ trơ trơ, nên chẳng phải từ hư không mà ra. Như cái Thể Nghe của Nhĩ Căn, mỗi mỗi đều có mặt, sao lại nói là không tự tánh ? V́ ĺa ngoài tiền trần ắt là vô phân biệt. Nếu có phân biệt, đáng lẽ phải chỉ ra được. Nay không thể chỉ ra, th́ biết là không tự tánh. Nghiệm xét cái Nghe ở nơi cảnh, ở nơi căn, ở nơi hư không đều không có cái Thể nhất định để t́m ra được, tức là cái Nghe hư huyễn này vốn chẳng phải tính Nhân Duyên, chẳng phải tính Tự Nhiên, bèn là tức huyễn tức chơn vậy. Nếu mà có Nhân Duyên hay Tự Nhiên khá được th́ cái Nghe ấy bèn là pháp sanh diệt, sao có thể gọi đó là Diệu Chân Như Tánh ?

Có vị tăng hỏi Ngài Huyền Sa : “Nhờ Ḥa Thượng dạy “Cái Tánh Nghe cùng khắp pháp giới”. Ngài Tuyết Phong đánh trống ở trong ấy v́ sao chẳng nghe ?”

Tổ Sa nói : “Ai biết chẳng nghe ?”

Lại có vị tăng hỏi Tổ Tào Sơn : “Gần bạn đạo nào để được hằng nghe chỗ chưa nghe ?”

Tổ Sơn nói : “Cùng chung nhau một cái trùm che khắp hết”.

Hỏi : “Cái này cũng như là Ḥa Thượng được nghe. Như sao là hằng nghe ở chỗ chưa nghe ?”

Tổ Sơn nói : “Chẳng đồng với gỗ đá”.

Hỏi : “Cái nào là trước, cái nào là sau ?”

Tổ Sơn nói : “Chẳng thấy nói “Hằng nghe ở chỗ chưa nghe” sao ?”

Thế mới biết, hằng nghe ở chỗ chưa nghe th́ cái Nghe này cùng khắp vậy.

 

Kinh : “Anan, ví như có người bịt gấp hai lỗ mũi. Bịt lâu thành ra mỏi mệt, th́ ở trong mũi nghe có cảm giác lạnh. Nhân những cảm xúc như vậy mà phân biệt được là thông, là bít, là rỗng, là đặc cho đến các mùi thơm, thối. Cả hai cái : Ngửi và cái mỏi mệt, đều là cái tướng bịt lâu phát mỏi của Bồ Đề.

“Nhân nơi hai thứ vọng trần thông và bít phát ra cái Ngửi ở trong, thu nạp các trần tượng mà gọi là cái Ngửi. Cái Ngửi đó rời ngoài hai trần thông và bít rốt ráo không có tự thể. Thế nên, phải biết cái Ngửi ấy chẳng phải từ thông, bít mà đến, chẳng phải nơi căn mà ra, chẳng từ hư không mà phát sanh. Tại sao thế ? Nếu từ cái thông mà đến th́ khi bít, cái Ngửi đă mất rồi làm sao mà biết được cái bít ? Nếu nhân cái bít mà có th́ khi thông, không c̣n cái Ngửi làm sao biết được các mùi thơm, thối ? Nếu từ lỗ mũi sanh ra hẳn không có cái thông, cái bít th́ cái Ngửi như vậy vốn không tự tánh. Nếu do hư không mà ra th́ cái Ngửi đó phải xoay lại ngửi được lỗ mũi của ông ! Lại nữa, hư không mà tự ngửi được nào có liên quan ǵ đến chỗ thâu nhập của ông ?

“Vậy, nên biết rằng Tỷ Nhập là hư vọng, vốn chẳng phải là tánh Nhân Duyên, chẳng phải là tánh Tự Nhiên.

Thông rằng : Bịt mũi là bịt ngừng hơi thở, khí không ra vào. Cái lạnh nhân nín thở mà có, không nín th́ không có. Nhân nín thở mà biết có thông, bít, rỗng, đặc. Nhân thông, bít mà phân biệt các mùi thơm, thối. Cái Ngửi đó, rơ ràng nhân hư vọng mà có vậy. Như chẳng có cái thông, bít, cái Ngửi thấy đó hiện đang ở chỗ nào ? Ở tai th́ gọi là cái Nghe thấy, ở mũi th́ gọi là cái Ngửi thấy. Công năng lớn nhỏ có thể thấy được. Cái Nghe th́ đâu cũng khắp, cái Ngửi th́ phát ra do tiếp xúc với tiền trần. Tuy nhiên, căn mũi là hư vọng, vốn không có chỗ chỉ ra được, huống là cái việc hướng thượng nằm ngay trên mũi ḿnh, lại càng khó sờ nắm !

Có vị tăng hỏi thiền sư Hải Yến ở chùa Chửng Mê rằng : “Như thế nào là chùa xưa một lư hương ?”

Tổ nói : “Qua nhiều đời không có người ngửi”.

Hỏi : “Người ngửi như thế nào ?”

Tổ nói : “Sáu Căn đều chẳng đến”.

Ngài Ba Lăng Giám() ban đầu ra mắt Tổ Vân Môn.

Tổ Vân Môn nói : “Ḥa Thượng Tuyết Phong nói “Mở cửa ra th́ Đạt Ma đến”, tôi hỏi ông làm sao đây ?”

Ngài Giám nói : “Ở trên lỗ mũi Ḥa Thượng !”

Tổ Môn nói : “Địa Thần nổi dữ, cầm núi Tu Di đập một cái, nhảy tót lên trời Phạm Thiên, bứt phá lỗ mũi của Đế Thích. Ông v́ sao mà hướng về trong nước Nhật Bản ẩn ḿnh ?”

Ngài Giám nói : “Ḥa Thượng không lừa dối người th́ tốt”.

Tổ Môn nói : “Ở trên lỗ mũi của lăo tăng, lại làm sao ?”

Ngài Giám không có lời đáp. Tổ Môn nói : “Hăy biết ông chỉ là phường “Học nói”.

Nếu tham suốt được lời nói của Tổ Vân Môn th́ thật như nửa đêm rờ trúng lỗ mũi, xưa nay chỉ ở trên mặt !

 

Kinh : “Anan, ví như có người dùng lưỡi liếm mép, liếm măi sanh ra mỏi. Nếu người đó đang bệnh th́ thấy có vị đắng, c̣n người không bệnh th́ có chút vị ngọt. Do cảm xúc ngọt, đắng mà hiện ra có căn lưỡi, khi không động th́ vẫn có tánh nhạt. Cả cái Nếm cùng cái Mỏi đều là cái tướng lâu mà sanh mỏi của Bồ Đề.

“Nhân hai thứ vọng trần nhạt và ngọt đắng phát ra cái Nếm ở bên trong, thu nạp các trần tượng đó mà gọi là cái Nếm Biết. Cái Nếm Biết này ngoài hai vọng trần nhạt và ngọt đắng kia, rốt ráo không có tự thể.

“Thật vậy, Anan, phải biết rằng cái Nếm Biết được đắng, nhạt như vậy không phải từ ngọt đắng mà đến, không phải nhân tánh nhạt mà có, cũng không từ căn lưỡi mà ra, cũng không từ hư không mà sanh. V́ sao thế ?

“Nếu từ các vị ngọt, đắng mà đến th́ khi nhạt, cái Nếm Biết đă diệt mất làm sao biết được vị nhạt ? Nếu từ cái nhạt mà ra, th́ khi ngọt, cái Nếm Biết đă mất rồi làm sao biết được vị ngọt đắng ? Nếu do cái Lưỡi sanh ra, hẳn không có những vị ngọt, đắng và nhạt, th́ cái Căn Biết Mùi Vị đó rơ là vốn không tự tánh. Nếu do hư không mà ra th́ hư không tự nếm biết, chẳng phải lưỡi ông biết được vị. Hơn nữa, hư không mà tự biết th́ có liên quan ǵ đến chỗ thâu nhập của ông đâu ?

“Vậy, nên biết rằng, Thiệt Nhập là hư vọng, vốn chẳng phải là tánh Nhân Duyên, chẳng phải là tánh Tự Nhiên.

Thông rằng : Cái Căn biết Mùi đây, biết ngọt, biết đắng, biết nhạt. Vị ngọt, đắng, nhạt không thường c̣n nên cái Căn Nếm Biết cũng tùy theo mà thay đổi. Cái Biết Vị này không phải từ ngọt, đắng, nhạt mà đến, không phải từ hư không mà ra th́ c̣n dễ biết, nhưng tại sao không từ lưỡi mà sanh ? Cái lưỡi vốn không mùi vị, nên không có tự tánh khá được. Chỉ do tiếp xúc với mùi vị mà nếm biết sanh ra, mùi vị hết th́ phải diệt, vốn đều là hư vọng. Bám chấp mà cho là có th́ không biết nó ở đâu ra ! Bám chấp mà cho là không th́ lại rơ ràng ra đó ! Cho nên mới nói là Diệu. Ở đây mà chẳng biết mùi vị là cái ǵ th́ không có đủ sức để bàn luận vậy.

Ngài Sam Sơn đang lựa rau quyết, Tổ Nam Tuyền nhặt lên một cọng, nói : “Cái này dùng rất tốt”.

Ngài Sơn nói : “Không những cái này mà món ngon trăm vị hắn ta cũng chẳng thèm đoái tới”.

Tổ Tuyền nói : “Tuy là như thế, mỗi cái phải nên nếm qua mới được”.

Ngài Huyền Giác nói rằng : “Đó là lời tương kiến hay không phải là lời tương kiến ?”.

Ngài Thiên Đồng nói : “Hỏi lấy Nam Tuyền Vương Lăo Sư, ai ai cũng chỉ ăn một cọng rau”.

Có thể nói là biết mùi vị vậy.

 

Kinh : “Anan, ví như có người dùng bàn tay lạnh rờ bàn tay nóng. Nếu bên lạnh nhiều hơn th́ bên nóng lạnh theo. Nếu bên nóng nhiều hơn th́ bên lạnh thành nóng lên. Như vậy, do cảm xúc nhận biết trong lúc hợp lại mà rơ sự nhận biết lúc rời ra. Cái thế chênh lệch giữa nóng và lạnh này thành là do mỏi mệt mà có ra cảm xúc. Cả hai thứ : Thân biết cảm xúc và cái Mỏi đều là cái tướng sanh mỏi do chăm chú của Bồ Đề.

“Nhân nơi hai thứ vọng trần ĺa và hợp phát ra cái Hay Biết ở bên trong, thu nạp các trần tượng đó mà gọi là cái Biết Cảm Xúc. Cái Biết như vậy ĺa ngoài hai trần ĺa và hợp, trái và thuận kia, rốt ráo không có tự thể.

“Thật vậy, Anan, phải biết rằng cái Cảm Xúc đó không phải từ cái ĺa, cái hợp mà tới, không phải từ nghịch thuận mà có, chẳng phải do nơi thân căn mà ra, cũng không phải do hư không mà sanh ra. V́ sao thế ?

“Nếu từ hợp mà đến, th́ khi ĺa, cái biết đă mất rồi, làm sao biết được cái ĺa. Đối với hai tướng nghịch thuận th́ cũng như thế. Nếu từ thân căn mà có ra, hẳn không có những tướng ĺa, hợp, nghịch, thuận th́ cái Biết Cảm Xúc của thân vốn không có tự tánh. Nếu từ hư không mà sanh ra th́ hư không tự biết lấy, nào có liên quan ǵ đến chỗ thâu nhập của ông ?

“Thế nên, phải biết Thân Nhập là hư vọng, vốn chẳng phải tánh Nhân Duyên, chẳng phải tánh Tự Nhiên.

Thông rằng : Cái Biết do hợp lại mà có th́ khi ĺa ra bèn không có. Nhưng ĺa ra rồi mới biết Cảm Xúc là Thuận hay Nghịch. Cái Biết do đụng chạm với thân này, hơi khác với cái Biết ở lưỡi. Tùy theo cái thế tương quan mà có hơn thua. Ví như cái nóng chạm cái lạnh, mà nóng mạnh hơn, th́ cái lạnh nóng lên và ngược lại. Lạnh và nóng can thiệp nhau, hai tướng thành ra, chẳng có cái cảm xúc mỏi nhọc th́ chẳng có việc nóng lạnh ấy. Cảm xúc dễ chịu th́ nói là thuận, cảm xúc nghịch với thân th́ gọi là trái nghịch. Nếu không có bốn tướng : ĺa, hợp, thuận, nghịch, chỉ c̣n mỗi cái thân th́ cái Biết Cảm Xúc này ở tại nơi nào ? Cho nên mới nói vốn là không tự tánh. Tức là cái Biết của thân này không do trần mà sanh, không do căn thân mà có ra, hẳn chẳng phải phân biệt mà biết. Không phải từ hư không mà sanh ra, hẳn chẳng phải là Tự Nhiên. Chẳng phải Nhân Duyên, chẳng phải Tự Nhiên, gọi đó là Diệu Chân Như Tánh. Cái chuyện Thấy, Nghe, Hay, Biết ở trên là năm cái Thức bên ngoài, do đối với Cảnh mà biết, chẳng phải là cái Biết của ư thức phân biệt. Tất cả đều là chỗ bày biện của Như Lai Tạng Tánh vậy.

Có nhà sư hỏi Tổ Động Sơn : “Lạnh, nóng đến làm sao mà trốn tránh ?”

Tổ Động Sơn nói : “Sao chẳng ở trong chỗ không nóng lạnh ?”

Hỏi : “Như thế nào là chỗ không hề nóng lạnh ?”

Tổ Sơn nói : “Lạnh th́ lạnh chết Xà Lê, nóng th́ nóng chết Xà Lê !”

Lại Tổ Tào Sơn hỏi một nhà sư : “Nóng như thế này, hướng về chỗ nào trốn tránh ?”

Sư đáp : “Trốn vào trong vạc nước sôi, ḷ lửa !”

Tổ hỏi : “Trong vạc nước sôi, ḷ lửa làm sao trốn tránh ?”

Sư đáp : “Các khổ không thể đến !”

Đây là những lời trong nhà, như ra từ một miệng.

Ngài Tuyết Đậu tụng rằng :

“Buông tay lại đồng vách núi muôn tầm

Chánh, Thiên nào cần đến việc an bài

Cổ điện lưu ly trăng chiếu sáng

Nực cười binh mạnh bắc thang lên không !”.

(Thùy thủ hoàn đồng vạn nhận nhai

Chánh Thiên hà tất tại an bài

Lưu ly cổ điện chiếu minh nguyệt

Nhẫn tuấn hàn lư không thượng giai).

Rơ được ư này th́ Thơng tay vào chợ cũng đồng là Núi cô riêng đứng một ḿnh(). Về nguồn rơ Tánh và Sai Biệt Trí đều chẳng khác nhau. Chẳng khế hợp sâu xa với Tông Tào Động, chưa dễ nói được chỗ này.

 

Kinh : “Ví như có người mỏi mệt th́ ngủ. Ngủ chán th́ thức dậy. Xem trần cảnh th́ nhớ, hết nhớ th́ quên. Các thứ Sanh, Trụ, Dị, Diệt điên đảo này hấp thu những kết tập thói quen đưa vào bên trong, mỗi mỗi liên tục, gọi đó là Ư Căn. Cả hai cái : Ư và Mỏi Mệt, đều là tướng phát mỏi do chăm chú của Bồ Đề.

“Nhân hai thứ vọng trần sanh và diệt kết tập cái Biết ở bên trong, thu nhóm nội trần, dùng thấy, nghe chảy ngược vào trong, chảy không chỗ đến, mà gọi là cái Ư Hay Biết. Cái Ư Hay Biết này rời ngoài hai trần thức và ngủ, sanh và diệt rốt ráo là không có tự thể.

“Thật vậy, Anan, nên biết rằng cái Căn Hay Biết đó chẳng từ thức hay ngủ mà đến, chẳng phải từ sanh diệt mà có, chẳng phải nơi căn ư mà có ra, cũng chẳng phải hư không sanh. Tại sao thế ?

“Nếu từ nơi thức mà đến, th́ khi ngủ đă theo cái thức diệt mất, lấy ǵ để thành ra cái ngủ mê ? Nếu quả là lúc sanh mới có, th́ lúc diệt đă không c̣n, lấy ai mà thọ cái diệt ? Nếu từ cái diệt mà có, th́ khi có cái sanh : cái diệt không có, có ai để biết cái sanh ? Nếu từ căn mà ra th́ hai tướng thức và ngủ theo thân mà có mở, có khép. Nếu rời ngoài hai tướng thức, ngủ này th́ cái Ư Hay Biết đó cũng giống như hoa đốm trên không, rốt ráo là vô tự tánh. Nếu từ hư không mà sanh ra, th́ hư không tự biết lấy, dính dáng ǵ đến chỗ thâu nhập của ông ?

“Vậy, nên biết rằng : Ư Nhập là hư vọng, vốn chẳng phải tánh Nhân Duyên, chẳng phải tánh Tự Nhiên.

Thông rằng : Trong mộng hiện cảnh, bởi ngủ nên có ra, cái thân thơ thới mà là hư giả. Đă tỉnh thức, chẳng rơ là giả, rồi nhận mà tưởng nhớ đến, cho là chân thật, chuyện ấy là điên đảo vậy. Các h́nh tướng hữu vi cũng thế. Động tâm th́ sanh ra cảnh, đă là hư vọng lại do cái thức phân biệât nhớ giữ mà cho là thật có, th́ đều là điên đảo. Nhớ đến th́ sanh ra, quên đi th́ diệt mất, nên bốn tướng sanh, trụ, dị, diệt rơ ràng, rời rạc trôi ra chẳng ngừng, sát na sát na liên tục nối tiếp, đó là Ư Căn.

Khi ư chẳng duyên ra, thức ngủ là một. Cầu lấy cái tướng thức ngủ c̣n chẳng thể có, huống là có các tướng Sanh, Trụ, Dị, Diệt sao ? Ngay khi cái ư cùng theo pháp tướng duyên ra, thu nạp các tập khí vào trong đă thành ngay cái tướng mỏi mệt. Thế nên cái Bồ Đề mà bất giác khởi động để thành ra cái ư, thế là lọt vào chỗ mỏi nhọc của thế trần.

Bộ Tông Cảnh Lục() nói rằng : “Các giác quan níu giữ lấy Cảnh bên ngoài, niệm niệm chảy vào cơi ư”.

 Từ ngoài đưa vào trong nên gọi là chảy ngược ḍng. Cái ư đă có chỗ duyên, tức “Thức xem trần cảnh th́ nhớ”, gọi làm cái sanh. C̣n câu “Chảy không chỗ đến” là nói trong khi ngủ mê, các căn không duyên với trần th́ không có ngoại trần chảy vào trong đất ư, ư cũng không có chỗ duyên gặp, nên kinh nói “Khi ngủ th́ hết nhớ mà quên”, đó là sự diệt vậy.

Phân ra như thế h́nh như là gượng ép, bởi v́ trong ngủ cũng có mộng, trong thức cũng có quên, nghĩa là thức hay ngủ đều có hai tướng sanh và diệt, làm sao mà cho là khi thức chỉ thuộc về sanh, c̣n ngủ chỉ thuộc về diệt ư ? Theo ngu ư của tôi : cái Thấy, Nghe của tai, mắt th́ thuận chiều ra đến bên ngoài; c̣n cái Thấy, Nghe của ư căn th́ ngược chiều chảy vào trong. Khi ư căn hấp thu nội trần, mắt như có thấy, tai như có nghe, ẩn hiện dường như không dấu vết, chảy vào chỗ mà thấy, nghe không đến được, chỉ có ư căn biết được mà thôi, chẳng phải là chỗ tai mắt đến được vậy. Bởi thế, năm căn mỗi cái đều có vị trí của nó, mà ư căn th́ vô h́nh, chỉ nương gởi vào các tướng thức, ngủ, sanh, diệt mà thôi. Ĺa ngoài thức ngủ, sanh diệt không lấy ǵ thấy cái ư được. Do đó, ở kinh không nói “Nếu từ căn sanh th́ hẳn không có thức, ngủ, sanh, diệt”, mà lại nói “Nếu từ căn sanh th́ hai tướng thức, ngủ tùy theo cái ư mà có mở, khép”. Cái ư mà đă ĺa ngoài hai tướng này th́ cái Ư Hay Biết này tuy có sanh, có diệt cũng giống như không hoa, có chỗ nào để nương vào mà tỏ bày cái ư ! Ư đă ĺa h́nh tướng, h́nh tướng cũng rời ư, rốt chẳng có tướng thức, ngủ, sanh, diệt làm sao có tự tánh ư ? Nên mới nói do căn sanh ra là chẳng đúng vậy. Mở Khép, hai chữ này h́nh dung hai tướng thức, ngủ rất kỳ diệâu. Thức th́ H́nh mở ra, ngủ th́ H́nh khép lại. Cái thức, ngủ, sanh, diệt này là cái chỗ ở của ư. Cho nên kinh mới nói là “Lấy ǵ để làm ra cái ngủ mê ?”, “Lấy ai mà thọ cái diệt ?”, thật chẳng phải là Trí vậy. Thế là cái Ư Hay Biết này chẳng phải từ Nhân Duyên sanh, chẳng phải từ Tự Nhiên mà sanh, tức đó là cái Bản Thể của Vô Trụ, mà không gọi ấy là Diệu Chân Như Tánh th́ gọi là cái ǵ ?

Ban đầu, Tổ Ngưỡng Sơn hỏi Tổ Quy Sơn : “Như sao là Trụ Xứ Chân Thật của Phật ?”

Tổ Quy Sơn nói : “Hăy suy nghĩ chỗ nhiệm mầu của cái Vốn Không Suy Nghĩ, trở lại suy nghĩ chỗ Vô Cùng Linh Diệu, niệm hết bèn đó là Nguồn, Tánh Tướng đều thường trụ, Sự Lư không hai là Chân Phật Như Như”.

Ngài Ngưỡng Sơn ngay dưới lời mà đốn ngộ.

Sau này, có vị sư tên Tư Ích hỏi Tổ Ngưỡng Sơn : “Thiền tông đốn ngộ, rốt ráo cái ư vào cửa là như thế nào ?”

Tổ Ngưỡng nói : “Ư ấy rất khó. Nếu thật là môn hạ của Tổ Tông, thượng căn thượng trí, một nghe ngàn ngộ, đắc Đại Tổng Tŕ. C̣n căn nhỏ, trí hèn nếu chẳng ở trong thiền định th́ đến vào trong ấy ắt phải hoang mang !”

Hỏi : “Ngoài một đường ấy ra, lại c̣n có chỗ khác để vào không ?”

Tổ Ngưỡng đáp : “Có”.

Hỏi : “Như sao là phải ?”

Tổ nói : “Ông là người xứ nào ?”

Đáp : “Người xứ U Châu”.

Hỏi : “Ông c̣n nghĩ đến xứ ấy chăng ?”

Đáp : “Thường vẫn nhớ nghĩ”.

Tổ Ngưỡng nói : “Cái suy nghĩ ấy là tâm, cái chỗ suy nghĩ là cảnh. Xứ ấy nào nhà cửa, vườn rừng, ngựa xe... đầy dẫy. Ông hăy xoay sự suy nghĩ trở lại để suy nghĩ cái tâm ấy, thật có bao nhiêu thứ đó chăng ?”

Đáp : “Tôi đến trong ấy toàn chẳng thấy có ǵ !”

Tổ Ngưỡng nói : “Tín vị th́ phải, nhưng nhân vị th́ chưa phải”.

Hỏi : “Ngoài cái ấy ra, riêng c̣n có ư hay không?”

Tổ nói : “Riêng có, riêng không th́ chẳng kham được vậy”.

Hỏi : “Đến trong đó, làm ǵ là phải ?”

Tổ Ngưỡng nói : “Cứ theo chỗ ông hiểu, chỉ được một cái huyền, được an nhiên mặc áo, về sau tự xem”.

Ngài Thiên Đồng tụng rằng :

“Không có ngoài, nên dung chứa

Không có ngại, nên an ḥa

Tường vách chất ngất

Cửa khóa trùng trùng

Rượu thường vui mà dẹp khách

Cơm tuy no mà chẳng cày

Độât nhiên ra khỏi hư không, hề, cánh mầu cuốn gió

Đạp lật lại biển cả, hề, sấm tiển rồng chơi”.

Bài tụng này là Đầu sào trăm thước cần tiến bước. Không thể chấp bám cảnh giới của ngộ, tự cho là đủ. Nếu chỉ tuyệt không thấy có một lời, chỉ làm rỗng không ư căn, th́ đối với cái chỗ Chân Phật Như Như c̣n rất xa lắm lắm.

 

G. THU MƯỜI HAI XỨ

Kinh : “Lại nữa, Anan, như sao là mười hai Xứ vốn là Như Lai Tạng Diệu Chân Như Tánh ?

Thông rằng : Mới đầu, ở trong năm Ấm th́ dùng phép tỷ dụ để phá t́nh chấp, v́ ngũ Ấm vốn không, nếu không so sánh th́ khó hiển bày. Tiếp đến, ở trong sáu Nhập chỉ ra cái sự việc giả để hiển bày cái vọng tướng của chúng. Sáu Nhập vốn vọng, nên dùng vọng để dẫn đến vọng, có thể suy ra mà thông hiểu. Đoạn này nói đến Mười Hai Xứ cho đến đoạn sau là Bảy Đại th́ lấy ngay cái cảnh thấy, nghe trước mắt mà chỉ bày cái Như Lai Tạng Tánh của chúng. Thật là mỗi cơi Phật độ, mỗi hạt trần rành rành không hở sót vậy.

Đức Tam Tổ Tăng Xán nói : “Chẳng ghét sáu trần. Liền đồng Chánh Giác”, là đă thấy sâu xa chỗ này vậy.

Thiền sư Kim Sơn Thiện Minh thượng đường nói với đại chúng rằng : “Người xưa nói : Ở mắt là thấy, ở tai là nghe, ở mũi là ngửi hương, ở lưỡi là bàn luận, ở thân là cảm xúc, ở ư là bám níu. Tuy nhiên như thế là chỉ thấy đầu dùi nhọn, chẳng thấy đầu đục vuông !

“Nếu là Kim Sơn tôi ắt chẳng phải thế : Có mắt mà nh́n chẳng thấy, có tai mà lắng chẳng nghe, có mũi mà chẳng biết mùi, có lưỡi mà chẳng hề đàm luận, có thân mà chẳng biết cảm xúc, có ư mà chẳng bám níu. Một niệm tương ưng, sáu căn liền giải thoát. Dám hỏi các vị thiền đức : Thử nói xem là đối với lời trước là đồng hay khác ? Nếu có bậc cụ nhăn th́ xin bước ra làm cho rơ thông tin tức. C̣n nếu không có, xin v́ các ông mà giải nghĩa trùng trùng. Buông mở ra th́ riêng thông xe, ngựa. Nắm tóm lại th́ mảy lông cũng chẳng c̣n. Nếu là bậc thiền gia cự phách th́ kham hết mọi trái phải, phân chia”.

Một đoạn chỉ bày này quả là cùng đoạn kinh trên trùng trùng giải thích.

 

Kinh : “Anan, ông hăy xem rừng cây Kỳ Đà và các suối ao đó. Ư ông thế nào ? Như thế là sắc trần sanh ra cái Thấy hay là cái Thấy sanh ra sắc tướng ?

“Anan, nếu Nhăn Căn sanh ra sắc tướng, th́ khi thấy hư không không có sắc tướng lẽ ra cái tánh của sắc đă tiêu mất rồi. Mà đă tiêu mất th́ tỏ rơ hết thảy đều không. Sắc tướng đă không th́ lấy ǵ rơ được tướng hư không ? Đối với hư không th́ cũng như vậy.

“Lại nếu sắc trần sanh ra cái Thấy, th́ khi thấy hư không bèn không có sắc, cái Thấy hẳn tiêu mất. Tiêu mất th́ tất cả đều không, lấy ǵ mà rơ được hư không và sắc tướng ?

“Thế nên, phải biết cái Thấy cùng với sắc, không đều không có xứ sở. Tức Sắc Trần và cái Thấy, cả hai Xứ đó đều hư vọng, vốn chẳng phải tánh Nhân Duyên, chẳng phải tánh Tự Nhiên.

Thông rằng : Ở đoạn trước dựa trên sáu Nhập để phá sáu căn th́ tuy dùng sáu trần để đối biện mà ư chánh vẫn ở tại căn. Hiện đây là nói về Mười Hai Xứ, th́ tuy là phá cả căn lẫn trần, mà chánh là phá cái trần. Sau này, nói về Mười Tám Giới, th́ chỉ chuyên phá cái Thức. Đoạn trước về sáu Nhập th́ luôn luôn có câu “Đều là tướng phát mỏi do chăm chú của Bồ Đề”, đó là từ trên Căn mà nói. Đoạn này nói “Hăy xem rừng Kỳ Đà và các suối ao” là từ trên Sắc mà khởi nói.

Nếu nói là sắc sanh ra cái Thấy, th́ chắc hư không chẳng sanh ra cái Thấy. Vậy lấy cái ǵ giúp thấy sắc, lại rơ thấy hư không ? Nếu nói là con mắt sanh ra sắc tướng, th́ chắc là nó không thể sanh ra tướng hư không, th́ cái ǵ giúp hiển bày sắc, lại hiển bày hư không ? Do đây mà nói : Con mắt không thể sanh ra sắc, con mắt vốn tự tịch diệt, nào cùng với sắc ư ? Sắc không thể sanh ra con mắt, sắc vốn tự tịch diệt, đâu cùng với mắt ư ? Chỉ lấy hư không mà h́nh dung ra sắc th́ sắc trần tự phá. Cái Thấy cùng với sắc, không đều không có xứ sở. Sắc là Không mà cái Thấy cũng Không đó vậy. Sắc và cái Thấy đều Không, lấy ǵ làm Nhân Duyên, lấy ǵ làm Tự Nhiên, th́ chẳng gọi đó là Tánh Chân Như sao ?

Xưa, Tổ Ngưỡng Sơn chỉ con sư tử ở ngoài tuyết nói : “Có vượt qua được cái sắc này không, nhỉ ?”

Tổ Vân Môn nói : “Hiện giờ nên cùng nhau đẩy ngă cho xong”.

Ngài Tuyết Đậu nói : “Chỉ biết đẩy ngă, chẳng biết đỡ dậy”.

Ngài Phật Giác tụng rằng :

“Một sắc không qua chỉ bày người

Trong cơi bạc trắng luống than van

Vượt ngoài “xô ngă” và “đỡ dậy”

Cũng tựa gió Đông đón sáng Xuân”.

(Nhất Sắc vô quá chỉ thị nhân

Bạch ngân thế giới lư tần thân

Siêu nhiên thôi đảo hoàn phù khởi

Tranh tợ Đông phong hú nhật tân).

Ngài Thiên Đồng tụng rằng : “Một ngă một dậy, sư tử sân tuyết. Khéo không phạm đến nhưng chứa ḷng nhân. Mạnh mẽ ở chỗ làm mà thấy nghĩa. Ánh sáng trong suốt soi mắt mà tựa người mê. Rơ ràng đổi thân sa vào địa vị. Là kẻ thầy tu, rơ không nương gởi, cùng tử cùng sanh, nào đây, nào đó ? Tin ấm nứt cây mai, hề, Xuân đến lạnh cành. Gió mưa lay rụng lá, hề, Thu lặng mưa đầy”.

Tổ Vạn Tùng nói : “Đă kêu là Sắc ắt cùng với con mắt mà đối nhau. Cái Sắc vượt qua màu trắng, chỉ là một Vô Sắc, nên không có với mắt đối nghịch”.

Tổ Vân Môn nói : “Sở dĩ nói “Hiện nên cùng đẩy ngă”, v́ nếu hướng về chỗ trắng, chỗ không trắng mà nhận lấy th́ thật đă rơi vào trong cơi Vô Sắc. Ngài Tuyết Đậu sở dĩ riêng chỉ ra một con đường để sống lại, ấy là hướng về chỗ xô ngă mà dạy đỡ dậy”.

Tổ Phật Nhăn nói : “Nếu ở trong ấy mà giúp đỡ nâng cho đứng dậy th́ liền sanh có thứ lớp”.

Như các vị tôn túc đối với một sắc tướng nhỏ nhặt mà c̣n cần phá sạch hết ráo, huống ǵ là trước mắt thấy có đủ thứ sao ?

 

Kinh : “Anan, ông lại nghe trong vườn Kỳ Đà này, khi thức ăn dọn rồi th́ đánh trống, khi chúng nhóm lại th́ đánh chuông. Tiếng chuông, tiếng trống trước sau nối tiếp nhau. Ư ông thế nào ? Như vậy là cái Tiếng đến bên cái Nghe hay cái Nghe đến chỗ cái Tiếng ?

“Anan, nếu như cái tiếng đó đến bên cái Nghe, th́ cũng như ta khất thực trong thành Thất La Phiệt, ở rừng Kỳ Đà không có ta nữa. Cái tiếng đó đă riêng đến bên cái Nghe của Ông Anan, th́ lẽ ra Ông Mục Liên, Ông Ca Diếp không cùng nghe được một lần. Huống ǵ trong này có một ngàn hai trăm năm mươi vị Sa môn, một khi nghe tiếng chuông th́ đồng đến chỗ ăn cơm cả.

“Lại như cái Nghe của ông đến chỗ cái tiếng, th́ cũng như ta đă về rừng Kỳ Đà rồi, trong thành Thất La Phiệt không c̣n ta nữa. Vậy, khi ông nghe tiếng trống, cái Nghe của ông đă đến nơi tiếng trống rồi, th́ khi có lúc tiếng chuông phát ra, đáng lư ông không thể cùng nghe, huống nữa, ông c̣n nghe được cả tiếng voi, ngựa, ḅ, dê và nhiều tiếng khác. C̣n nếu chúng không đi đến với nhau th́ lại là không có nghe ǵ cả.

“Thế nên, phải biết rằng cái Nghe và cái Tiếng đều không có xứ sở. Tức cái Nghe và Thanh Trần, hai Xứ đều hư vọng, vốn chẳng phải tánh Nhân Duyên, chẳng phải tánh Tự Nhiên.

Thông rằng : Câu “Cũng như Ta khất thực trong thành Thất La Phiệt, tại rừng Kỳ Đà không có Ta nữa” để thí dụ cho cái Tiếng đến bên cái Nghe, th́ các chỗ khác không c̣n có cái tiếng, vậy sao một ngàn hai trăm năm mươi vị Sa môn lại c̣n cùng nghe? Câu “Cũng như ta đă về rừng Kỳ Đà rồi, trong thành Thất La Phiệt không c̣n có ta nữa” để thí dụ cho cái Nghe đến chỗ cái tiếng th́ các chỗ khác phải không c̣n cái Nghe, vậy th́ tại sao lại nghe tiếng voi, ngựa, ḅ, dê và nhiều tiếng khác nữa ? Câu “Nếu không đi đến với nhau” tức là rơi vào ngoan không. Nghĩa Nghe không thành lập được, th́ cái Tiếng và cái Nghe đều không có dấu tích. Uyển chuyển mà cùng khắp, gặp chỗ đều thông suốt, có xứ sở nào đâu? Cho là Nhân Duyên, th́ không có chỗ Duyên. Cho là Tự Nhiên, th́ cũng chẳng có chỗ nào mà Tự. Ngay ấy là hư vọng, bèn là không có ǵ chẳng phải là Chân Thể, nên gọi đó là Tánh Chân Như Nhiệm Mầu vậy.

Tổ Huyền Sa nhân có người đang tham học, nghe thấy tiếng chim én, bèn nói : “Bàn sâu Thật Tướng, khéo thuyết Pháp Yếu !”

Liền xuống ṭa giảng.

Khi ấy, có một vị sư hỏi thêm : “Thưa, tôi chẳng hiểu”.

Tổ Sa nói : “Đi đi, ai tin được ông !”

Lại có Tổ Báo Từ lên ṭa giảng, nghe chim tu hú kêu, bèn hỏi nhà sư : “Tiếng ǵ thế ?”

Sư đáp : “Tiếng chim tu hú”.

Tổ Từ nói : “Nếu muốn không chiêu vô gián nghiệp, chớ báng Như Lai Chánh Pháp Luân”.

Rồi xuống ṭa.

Tất cả âm thanh là Phật Thanh. Thế c̣n hiểu được.

C̣n, Tổ Huyền Sa nói : “Trong chuông không có tiếng trống, trong trống không có tiếng chuông, chuông trống chẳng có xen lẫn nhau, mỗi mỗi không sau trước”.

Hiểu thế nào ? Đây là ư chỉ Vô Sanh Duyên Khởi. Ngộ đó th́ cái chỗ nói là Thật Tướng, là Pháp Yếu, có thể thấy rồi.

 

Kinh : “Anan, ông hăy ngửi mùi hương chiên đàn trong lư này. Hương ấy, nếu đốt đến một thù th́ cả thành Thất La Phiệt, trong bốn mươi dặm đều đồng thời ngửi được mùi thơm. Ư ông thế nào ? Mùi thơm ấy sanh ra do cây chiên đàn, do nơi mũi ông, hay sanh từ hư không ?

“Anan, nếu mùi thơm ấy sanh ra do mũi ông, đă nói là từ mũi sanh ra, tất phải từ lỗ mũi mà ra, lỗ mũi không phải chiên đàn, làm sao trong lỗ mũi lại có được mùi thơm chiên đàn ? Lại đă gọi rằng ông ngửi mùi thơm, th́ mùi thơm phải vào trong lỗ mũi; c̣n nói là trong lỗ mũi phát ra mùi thơm, nói thế là không đúng nghĩa. Nếu sanh ra do nơi hư không, th́ tánh hư không là thường c̣n, mùi thơm lẽ ra cũng phải thường có, cần ǵ phải đốt cây chiên đàn khô trong lư rồi mới có ? Nếu mùi thơm sanh ra từ cây chiên đàn, th́ cái chất thơm ấy nhân đốt mà thành khói, nếu mũi ngửi được là do khói xông đến mũi. Tại sao khói đó xông lên khoảng không chưa được bao xa mà trong ṿng bốn mươi dặm đều đă ngửi thấy ?

“Thế nên, phải biết Hương Trần và cái Ngửi đều không xứ sở. Tức cái Ngửi và Hương Thơm, cả hai Xứ ấy đều hư vọng, vốn chẳng phải tánh Nhân Duyên, chẳng phải tánh Tự Nhiên.

Thông rằng : Cái Ngửi này cùng với Hương Thơm, chẳng phải mũi, chẳng phải hư không, chẳng phải gỗ chiên đàn, tức là cái Hương Xứ không có thật vậy. Thế nào mà trong ṿng bốn mươi dặm đồng thời ngửi thấy, th́ cái sức đặc biệt của mùi thơm cũng là không thể nghĩ bàn.

Táo Bách Luận : “Cây chiên đàn Ô Lạc Ca : Ô Lạc Ca là tên con rắn. Chiên đàn là cây thơm. Rắn này rất độc, nó hay sợ nóng độc, thường quấn quanh cây thơm này th́ độc khí hết. Ư nói rằng nếu có chúng sanh nghe nói cái Hương mà Tâm Cảnh đều không, vốn không thể tướng, không xứ sở, không một pháp khá được, tin mà ngộ nhập th́ tất cả phiền năo, độc khí tự nhiên đều thanh tịnh”.

Thiền sư Hương Nghiêm Trí Nhàn() có bài kệ :

“Có một lời, toàn quy củ

Định suy lường, theo bọn xấu

Đạp lên mà chẳng lầm, bèn tỉnh ngay xứ sở

Một đời tham học, sự không thành

Ân cần ôm được gốc chiên đàn”.

Bài kệ này từ đây mà ra vậy.

Tổ Chí Công() nói : “Trọn ngày lấy hương chọn lửa. Không hay thân tức Đạo Tràng”.

Ngài Thiên Đồng nêu ra : “Kẻ giỡn tinh hồn nào có giới hạn ?”

Ngài Huyền Sa nói : “Suốt ngày lấy hương chọn lửa. Chẳng hay Chơn Thật Đạo Tràng”.

Ngài Thiên Đồng nêu ra : “Thật kỳ quái : tám mươi ông vào trường ốc, chẳng phải là trẻ nhỏ giỡn chơi ? Thử nói cái lợi cái hại ở chỗ nào ? Có Trí hay chẳng có Trí, so ra trong ba mươi dặm đều đồng một tác dụng Vô Sanh, mới là có chút hào ly biện biệt ở đây”.

Người có trí hăy biện biệt.

 

Kinh : “Anan, ông thường hai thời ở trong chúng cầm b́nh bát khất thực. Trong đó, hoặc gặp những món tô lạc đề hồ, gọi là vị quư. Ư ông thế nào ? Vị ấy sanh ra ở trong hư không, do nơi cái lưỡi hay do nơi đồ ăn ?

“Anan, nếu cái Vị ấy sanh ra do nơi cái lưỡi của ông, th́ ở trong miệng ông chỉ có một cái lưỡi. Cái lưỡi lúc ấy đă thành vị tô rồi, nếu gặp cục đường phèn, lẽ ra cái Vị không thay đổi. Nếu chẳng thay đổi th́ không gọi được là biết Vị. C̣n nếu thay đổi th́ cái lưỡi không có nhiều tự thể, th́ làm sao một cái lưỡi lại biết được nhiều Vị Thể thế ?

“Nếu Vị ấy sanh ra do nơi đồ ăn, th́ đồ ăn không có sự Biết, làm sao tự nó biết Vị ? Lại như đồ ăn tự biết, th́ cũng giống như người khác ăn, nào có dính dáng ǵ đến ông, mà nói là ông biết Vị ?

“Nếu Vị ấy sanh ra từ hư không, th́ ông hăy nếm hư không xem là Vị ǵ. Nếu hư không đó mà có Vị mặên, làm mặn lưỡi ông, chắc cũng làm mặn cái mặt ông và mọi người trong cơi này : cũng giống như cá biển, đă thường thọ nhận cái mặn th́ không c̣n biết cái vị nhạt là ǵ nữa. Nhưng nếu không biết nhạt th́ lại cũng không biết mặn. Tức là không có chỗ Biết, sao gọi là biết Vị ?

“Thế nên, phải biết : các Vị và Lưỡi Biết Nếm đều không xứ sở. Tức cái Biết Nếm và các Vị, cả hai Xứ đều hư vọng, vốn chẳng phải tánh Nhân Duyên, chẳng phải tánh Tự Nhiên.

Thông rằng : Đoạn này chứng minh cái tánh của Vị, chẳng sanh ra do nơi hư không, chẳng sanh ra do nơi Lưỡi, th́ c̣n dễ biết. Nhưng sao lại nói chẳng do món ăn sanh ra ? V́, món ăn chẳng có Thức, nó chẳng tự nói : Vị của tôi ngon, Vị tôi dở. Phân biệt ngon, dở là thuôïc về căn lưỡi. Mà căn lưỡi th́ không có định thể, theo Vị mà dời đổi. Đủ biết rằng: Vị tự là vị, lưỡi tự là lưỡi. Cả hai đều lặng nhiên. Biết lưỡi cùng vị đều vắng lặng, th́ thật tin là chúng chẳng phải là Nhân Duyên, chẳng phải là Tự Nhiên mà chính là Như Lai Tạng Diệu Chân Như Tánh.

Thiền sư Thần Đảnh Nhân có lần cùng với chúng Tăng đến miền Tương Miện. Có một vị sư khởi bàn về Thiền rất trôi chảy. Trong quán Dă Phạn Sơn đă bày xong thức ăn, mà nhà sư luận nói vẫn chưa xong.

Tổ Đảnh nói : “Ba cơi duy chỉ một Tâm, muôn pháp duy chỉ là Thức. Duy Thức, duy Tâm, mắt thanh, tai sắc là lời của ai thế ?”

Nhà sư nói : “Lời của Tổ Pháp Nhăn”.

Tổ Đảnh hỏi : “Nghĩa ấy như thế nào ?”

Sư đáp : “Duy Tâm nên Căn và Cảnh không đến nhau. Duy Thức nên Thanh, Sắc khua đánh”.

Tổ Đảnh nói : “Cái Lưỡi, cái Vị có phải là Căn và Cảnh không ?”

Nhà sư đáp : “Phải”.

Tổ Đảnh lấy đũa gắp rau bỏ vào miệng, giỡn cợt nói rằng : “Nào gọi là tương nhập sao ?”

Người ngồi chung quanh đều kinh hăi. Nhà sư chẳng thể đáp lại.

Tổ Đảnh nói : “Cái vui dọc đường rốt cuộc chưa đến nhà. Kiến giải dầu vi diệu cũng chẳng gọi là thấy đạo. Tham, cần thật tham. Ngộ, cần thật ngộ. Diêm Vương chẳng sợ chuyện nói nhiều”.

Vị sư làm lễ mà cáo từ.

Tổ Huyền Sa có lần ăn trái vải, hỏi đại chúng : “Trái vải này cho là màu hồng ư ? Cho là màu đỏ ư ? Các ông làm sao đây ? Nếu nói là một màu lại là mông lung; nói là nhiều màu th́ chỉ thành cái đoạn-thường(). Các ông làm sao đây ?”

Sư Ngạn Thao nói : “Đó chỉ v́ Ḥa Thượng phân biệt”.

Tổ Sa nói : “Ngu si mơ hồ như thế có giao thiệp ǵ đâu ?”

Sư Xung Cơ nói : “Hết thảy xưa nay chỉ là một màu”.

Tổ Sa nói : “Đều là mơ hồ hết, có khi nào mà hiểu được ?”

Bèn quay qua hỏi sư Kiểu Nhiên : “Ông nói thế nào ?”

Sư Kiểu Nhiên nói : “Không thể không biết đó là trái vải”.

Tổ Sa nói : “Thật chỉ là trái vải”.

Lại nói : “Các ông như lâu nay ở trong Giá Lư (Tâm Pháp) của tôi, cùng nói ǵ mà chẳng biện nổi trắng đen, không biết lành dữ. Tôi luôn nói với các ông là : Dụng xứ chẳng hoán() cơ. Nhân sao chỉ lo đối đáp, có giao thiệp ǵ đâu !”

Người xưa nơi một miếng ăn, một thức uống đều cốt phát minh chuyện hướng thượng. Mỗi mỗi đều như thế, há phải ở chỗ đối đáp lưu loát. Cần phải thực ngộ mới cùng người sáng mắt tương kiến vậy.

 

Kinh : “Anan, buổi sớm mai ông thường lấy tay xoa đầu, ư ông thế nào ? Trong việc biết xoa đó, lấy cái ǵ làm cái Biết Cảm Xúc ? Cái Biết ấy ở nơi tay hay ở nơi đầu ?

“Nếu nó ở nơi tay, mà cái đầu không biết, làm sao thành ra Cảm Xúc ? Nếu nói ở nơi đầu, mà cái tay lại vô dụng th́ làm sao gọi là Cảm Xúc ? Nếu đầu lẫn tay mỗi cái đều có cái Biết, th́ một ḿnh Anan lại có hai cái thân hay sao ? Nếu đầu và tay đều do một Cảm Xúc sanh ra th́ tay và đầu phải là một tự thể. Mà nếu chỉ có một tự thể th́ Cảm Xúc không thành được. C̣n nếu là hai thể th́ Cảm Xúc ở phía nào ? Ở bên Năng th́ không ở bên Sở, ở bên Sở th́ không có ở bên Năng. Chẳng có lẽ là hư không tạo thành Cảm Xúc cho ông ?

“Thế nên, phải biết : Cảm Xúc và Thân Căn đều không xứ sở. Tức cái Thân biết Cảm Xúc và cái Cảm Xúc, cả hai đều hư vọng, vốn chẳng phải tánh Nhân Duyên, chẳng phải tánh Tự Nhiên.

Thông rằng : Ở đây, chỉ rơ tánh Xúc là hư vọng, ở năng th́ chẳng ở sở, ở sở th́ chẳng ở năng. Năng sở đều chẳng phải, th́ Xúc tức là Tánh Chân Như.

Kinh Hoa Nghiêm nói : “Như thế, tự tánh như huyễn, như mộng, như bóng dáng rốt chẳng thành tựu. Trong Tánh Chân Như các pháp tùy duyên. Tuy là tùy duyên, các pháp quy tánh. Khi tùy duyên th́ h́nh như có hiện ra. Như xem làm huyễn thuật : không có mà có. Như nh́n cảnh mộng : không thấy mà thấy. Như xem ảnh trong nước : chẳng phải sanh ra, chẳng phải nhập vào. Như nh́n bóng trong gương: chẳng trong, chẳng ngoài. V́ Vô Tánh mà tùy duyên, nên Lư chẳng thành tựu. V́ tùy duyên mà vô tánh, nên Sự chẳng thành tựu. Lư Sự không thành tựu th́ tất cả các pháp đều không thành. Cũng như trong chiêm bao mộng thấy đánh vơ với người : cũng có cảm nhận xúc chạm, nhưng rốt ráo ai là người đánh, ai cảm thấy bị đánh ? Thế nên, tất cả các pháp đều như thế cả”.

Tổ Bửu Phước thấy có vị tăng đi lại, lấy cây gậy đánh vào cây cột lộ trụ, rồi đánh vào đầu ông tăng.

Vị này buông tiếng kêu đau.

Tổ Phước nói : “Cái ấy v́ sao chẳng đau ?”

Vị tăng không đáp được.

Tổ Huyền Giác nói thay rằng : “Ham đi th́ chống gậy”.

Lại c̣n Tổ Bửu Giác có lần hỏi Ông Chuyển Vận Phán Quan là Hạ Ỷ rằng : “Ông nói Hữu T́nh với Vô T́nh đều cùng một thể phải không ?”

Khi ấy, có con chó nằm dưới bàn hương án, bèn lấy cây thước đập xuống bàn hương án rồi lại đập con chó, nói : “Con chó Hữu T́nh th́ chạy đi, bàn hương án Vô T́nh th́ vẫn c̣n đó. Như thế nào là một thể được ?”

Ông Hạ Ỷ không thể đáp.

Tổ Bửu Giác nói : “Vừa mới tư duy liền thành dư pháp !”

Cái hiểu biết của chư vị Thánh đời trước trao truyền cho nhau đều là ư chỉ này.

 

Kinh : “Anan, ông thường trong Ư duyên với ba tánh thiện, ác và vô kư sanh ra có các pháp trần. Những pháp trần đó tức nơi tâm mà sanh ra, hay là rời ngoài tâm mà có riêng nơi chốn ?

“Anan, nếu tức nơi tâm th́ các pháp không phải là trần cảnh, như thế th́ chúng không phải là cái sở duyên của tâm, làm sao thành một Xứ được ?

“Nếu rời ngoài cái tâm có riêng nơi chốn, th́ bản tánh của pháp trần là có biết hay không có biết ? Nếu có biết th́ gọi là tâm, nhưng nếu nó khác với ông và không phải là trần cảnh, th́ cũng như là cái tâm của người khác. C̣n nếu nó tức là ông và cũng tức là tâm, th́ làm sao mà cái tâm ông lại trở thành hai ở nơi ông ?

“Nếu không có biết th́ cái pháp trần đó đă không phải là sắc, thanh, hương, vị, ly, hợp, lạnh, nóng và tướng hư không, th́ nó hiện ở chỗ nào ? Hiện nay, ở nơi Sắc Không, không thể chỉ ra nó được, chẳng lẽ trong nhân gian lại có cái ngoài hư không ? Không có cảnh sở duyên th́ ư căn do đâu mà lập thành một Xứ được ?

“Thế nên, phải biết : Pháp trần cùng ư căn đều không xứ sở. Tức ư căn và pháp trần cả hai xứ đều hư vọng, vốn chẳng phải tánh Nhân Duyên, cũng phải tánh Tự Nhiên.

Thông rằng : Ba sự thiện, ác, vô kư ngay khi đối đăi với căn th́ các sự ấy đều thật, nên gọi là Thật Cảnh. C̣n khi không đối đăi với cảnh, chỉ có một ḿnh ư thức duyên mà thôi, bèn là bóng dáng của Thật Cảnh, nên gọi là Nội Trần. Nội trần không ra ngoài ba tánh thiện, ác, vô kư duyên ra Sắc Không, hết thảy pháp, nên cũng gọi là Pháp Trần. Từ vô thủy đến nay, trong và ngoài huân tập lẫn nhau, nên nói là “Sanh thành”.

Nếu nói “Pháp tức nơi tâm”, th́ tâm là năng duyên, pháp là sở duyên làm sao mà tức được. Điều này dễ biện rơ. Nếu nói “Pháp ĺa ngoài tâm”, th́ cái pháp này thật ở đâu ? Cho pháp là có biết, th́ đồng với tâm, mà đă đồng với tâm bèn chẳng phải là trần cảnh vậy. Chẳng phải trần mà lại khác với ông, mà vẫn phải gọi là tâm, tức là cũng như tâm của người khác. Chẳng phải trần mà không khác với ông, th́ sao tâm ông lại thành hai ở nơi ông, mà gọi đó là pháp trần vậy sao ? Do đó, lấy sự Có Biết mà làm nơi chốn th́ không thể được. C̣n cho là Không Biết th́ pháp trần ấy lấy cái ǵ mà bày tỏ ra được ?

Pháp trần đă chẳng phải là các tướng Sắc Không, lại chẳng phải rời ngoài Sắc Không mà có riêng chỗ chứa lập. Ngoài sắc có hư không, hư không th́ chẳng có ǵ ở ngoài. Nếu pháp trần có cái Xứ để cho tâm duyên được th́ chắc là hư không đă có cái ở ngoài nó. Nhưng hư không làm ǵ có cái ở ngoài nó, th́ tâm duyên vào đâu ?

Sở dĩ tâm mà duyên với pháp, nghĩa là Sắc Không th́ vô tri, do tri mà hiển bày. Tri th́ có phân biệt, bèn gọi đó là pháp. Nay pháp đă vô tri, lại không nơi chốn, th́ tâm tuy là có biết, mà biết cái ǵ ? Do đó, lấy vô tri làm nơi chốn cho pháp trần th́ cũng không được. Chẳng phải có biết, chẳng phải không có biết, th́ Xứ do đâu mà lập được ? Tức nơi tâm chẳng có pháp, ĺa ngoài tâm cũng chẳng có pháp, nên pháp trần không có tự tánh vậy. Thế th́ chẳng phải hư vọng sao ? Pháp không xứ sở th́ ư căn là không. Nên gọi đó là Diệu Chân Như Tánh vậy.

Thiền sư Thanh Châu Pháp Bổn thượng đường, nói : “Khởi lên âm thanh mà muốn bặt tiếng vang, đâu biết âm thanh là gốc của tiếng vang. Giỡn bóng mà muốn trốn h́nh, đâu biết h́nh là gốc của bóng. Lấy pháp hỏi pháp, chẳng hay pháp vốn chẳng phải pháp. Lấy tâm truyền tâm, nào hay tâm vốn vô tâm. Tâm vốn vô tâm, biết tâm như huyễn. Ngộ pháp chẳng phải pháp, biết pháp toàn như mộng. Tâm, pháp không thực, chớ giả dối truy cầu. Mộng huyễn, Không hoa nhọc ǵ nắm bắt ! Đến vào trong ấy th́ ba đời Chư Phật, một Đại Tạng Giáo, lời lẽ Tổ Sư, Tôn Túc trong thiên hạ đều lộ bày là đám dây leo, chùm gởi, trọn chẳng c̣n bám chấp. Tại sao thế ? “Thái b́nh vốn chỗ tướng quân mong. Không để tướng quân thấy thái b́nh”“.

Bài kệ trong kinh Tạp Hoa nói :

“Nhăn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân

Tâm, Ư các T́nh Căn

Bởi đó thường lưu chuyển

Mà thật không người chuyển

Pháp Tánh vốn không sanh

Thị hiệân mà có sanh

Trong ấy không Năng hiện

Cũng không vật Sở hiện

Nhăn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân

Tâm, Ư các T́nh Căn

Cả thảy : Không, Vô Tánh

Vọng tâm phân biệt : Có

Như thế mà quan sát

Tất cả đều Vô Tánh”.

Đại ư đoạn này thật cùng với kinh mà hiển phát.

 

H. THU MƯỜI TÁM GIỚI

Kinh : “Lại nữa, Anan, như sao là Mười Tám Giới vốn là Như Lai Tạng Diệu Chân Như Tánh?

Thông rằng : Đối với Trần th́ gọi là Căn, Căn ở trong vậy. Đối với Căn th́ gọi là Trần, Trần ở ngoài vậy. Ở khoảng giữa, mỗi mỗi phân biệt là cái Thức. Ba cái Căn, Trần, Thức nương nhau mà thành lập, như cây lau gác lên nhau, nên có tên là Mười Tám Giới. Ba cái ấy, có th́ cùng có, không th́ cùng không, vốn không tự tánh. Đă không tự tánh, bèn vốn là Như Lai Tạng Diệu Chân Như Tánh vậy.

Thiền sư Thùy Lộc Bổn Tiên thượng đường, nói : “Chỗ các Pháp sanh ra là chỗ hiện bày của tâm”. Lời nói ấy thật là cửa nẻo để vào. Thử hỏi các ông : mắt thấy hết thảy sắc; tai nghe hết thảy thanh; mũi ngửi hết thảy mùi; lưỡi nếm hết thảy vị; thân chạm hết thảy các thứ mềm, trơn; ư phân biệt hết thảy các pháp. Vậy th́ cái vật đối với mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư chỉ duy là tâm các ông hay chẳng phải là tâm các ông ? Nếu nói là duy chỉ tâm các ông, sao chẳng cùng thân các ông làm thành một khối cho rồi ? V́ sao các vật đối đăi ấy lại ở ngoài các Căn của các ông ? Các ông nếu nói vật đối với mắt, tai, mũi, lưỡi... chẳng phải là tâm các ông th́ tại sao có câu “Chỗ các pháp sanh ra là chỗ hiện bày của tâm” lưu truyền tại thế gian, ai cũng nêu bày ? Các ông nghe lời yếu lư ấy, có hiểu không ? Nếu không hiểu, hăy dụng tâm thương lượng để được dạy cho mà hiểu, ở trong ấy chớ có lười biếng học hỏi. Vô sự, hăy lui”.

Có vị tăng hỏi Tổ Vân Cư : “Khi sáu cửa chẳng rơ th́ như thế nào ?”

Tổ Cư nói : “Chẳng giao thiệp với duyên”.

Vị tăng hỏi : “Thế nào là chuyện hướng thượng?”.

Tổ Cư nói : “Người cẩn thận th́ không giữ ǵn”.

Ngài Đầu Tử tụng rằng :

“Xuân đến, người đá nh́n núi xa

Oanh kêu, hoa gỗ sóng xanh nhàn

Nên biết, ngoài mây, tùng, núi đẹp

Ngh́n xưa đón gió mặc năm hàn”.

Hai câu đầu tụng về Chẳng giao thiệp với duyên. Hai câu sau tụng về Chuyện hướng thượng. Cần rơ được sự hướng thượng mới tin Mười Tám Giới vốn là Tánh Chân Như vậy.

 

Kinh : “Anan, như chỗ ông bày tỏ : Nhăn căn và sắc trần làm duyên, sanh ra Nhăn Thức. Cái Thức này là nhân nhăn căn sanh ra, lấy nhăn căn làm Giới; hay nhân sắc trần sanh ra, lấy sắc trần làm Giới ?

“Anan, nếu nhân nhăn căn sanh ra, mà không có Sắc, có Không, th́ không thể phân biệt, dầu cho có cái Thức của ông cũng chẳng làm ǵ. Cái Thấy của ông mà không có xanh, vàng, trắng, đỏ th́ không thể biểu hiện ra được, vậy do đâu mà lập ra Giới ?

“Nếu nhân sắc trần sanh ra, th́ khi ở hư không, chẳng có sắc, lẽ ra cái Thức của ông phải diệt mất, làm sao mà biết đó là hư không ? Nếu khi sắc trần biến đổi, ông cũng biết sắc tướng biến đổi, mà cái Thức của ông chẳng biến đổi, thế th́ do đâu mà lập sắc trần làm Giới ? Nếu theo sắc mà biến đổi th́ cái Giới không thành. Nếu không biến đổi, tức là thường hằng, cái Thức đă từ sắc sanh ra, lẽ ra không biết hư không ở chỗ nào.

“Nếu do cả hai thứ nhăn căn và sắc trần chung nhau sanh ra, th́ hợp lại ắt ở giữa phải có chỗ ĺa; c̣n như ĺa, ắt hai cái có thể hợp lại. Như thế, thể tánh xen lộn, làm sao thành được Giới ?

“Thế nên, phải biết : Nhăn căn, sắc trần làm duyên sanh ra Nhăn Thức Giới, cả ba chỗ đều không. Tức là cả ba thứ Nhăn Giới, Sắc Giới và Nhăn Thức Giới vốn chẳng phải tánh Nhân Duyên, chẳng phải tánh Tự Nhiên.

Thông rằng : Cái Mười Tám Giới này, chỉ phá sáu Thức. Nói cái Thức này chẳng phải từ mắt sanh ra mà lấy mắt làm Giới, v́ Thức th́ phân biệt, nhưng nếu không có Sắc, Không th́ phân biệt dùng vào đâu?

Cái Thức này chẳng phải từ sắc sanh ra mà lấy sắc làm Giới, v́ sắc th́ có biến diệt, Thức th́ không đổi thay, nếu chỉ từ sắc mà ra th́ làm sao biện không ?

Thức ấy cũng không nhân nhăn và sắc hợp lại mà làm ra Giới. V́ một bên có Biết (nhăn căn) hợp với một bên không Biết (sắc trần) ắt chống nhau, làm sao mà tương nhập ? Nên nói “Ở giữa phải có chỗ ĺa”.

Bảo rằng ĺa ngoài nhăn và sắc mà sanh ư ? Ĺa căn tức là hợp với cảnh, ĺa cảnh tức phải hợp với căn, vậy Thức thuộc bên nào ? Thế nên mới nói “Xen lộn”.

Ba chỗ đồng chẳng phải, th́ Giới ở đâu mà có ?

Tổ Pháp Nhăn chỉ cây tre, hỏi vị tăng : “Thấy không ?”

Vị tăng đáp : “Dạ, thấy”.

Tổ Nhăn nói : “Tre đến trong mắt hay mắt đến bên tre ?”

Vị tăng nói : “Đều chẳng phải như thế”.

Sau này, Tổ Pháp Đăng riêng nói : “Khi ấy, chỉ nên bửa mắt ra mà ngó thầy”.

Tổ Quy Tông Nhu riêng nói rằng : “Ḥa Thượng chỉ là chẳng tin hai chuyển ngữ của tôi lại có hơi thở của thiền tăng”.

Lại có vị tăng hỏi Tổ Thiên Đồng Khải : “Như thế nào là con mắt ứng dụng không thiếu hụt ?”

Tổ Đồng nói : “Vẹn giống như mù một thứ !”

Ngài Đơn Hà tụng rằng :

“Mù, ngọng, điếc, câm xa Thiên Chân

Mắt tợ lông mày : Đạo mới gần

Đông Quân đêm trước ngầm ban lệnh

Chốn hoàng oanh hót liễu xanh xuân”.

Ở chỗ này mà tin được thấu đáo th́ mặc t́nh ứng dụng không thiếu hụt.

 

Kinh : “Anan, lại như chỗ ông bày tỏ : Nhĩ căn và thanh trần làm duyên, sanh ra Nhĩ Thức. Thức ấy nhân nhĩ căn sanh ra, lấy nhĩ căn làm Giới, hay nhân thanh trần mà sanh ra, lấy thanh trần làm Giới ?

“Anan, nếu nhân nhĩ căn sanh ra mà không có mặt hai tướng động, tĩnh th́ cái biết của căn chẳng thành. Mà đă không biết ǵ th́ cái Biết c̣n không thành huống là cái Thức phân biệt c̣n có h́nh dạng ǵ ?

“Nếu nhân lỗ tai nghe, mà không có động, tĩnh cái Nghe cũng không thành, làm sao lấy h́nh tướng lỗ tai trộn lẫn sắc trần, mà gọi được là Nhĩ Thức Giới. Cái Nhĩ Thức Giới ấy do đâu mà thành lập ?

“Nếu nhân thanh trần mà sanh ra, th́ cái Nhĩ Thức nhân thanh trần mà có, bèn chẳng liên quan ǵ đến cái Nghe, mà đă không nghe, th́ cũng không biết các tướng thanh trần ở đâu. Nhĩ Thức mà do thanh trần sanh ra, dầu cho rằng thanh trần do cái Nghe mà có tướng, th́ cái Nghe lẽ ra phải nghe được Nhĩ Thức. Nếu không nghe được Nhĩ Thức th́ thanh trần chẳng phải là Giới của Nhĩ Thức. C̣n nếu nghe được, th́ Nhĩ Thức cũng đồng với thanh trần. Nhĩ Thức đă bị nghe, th́ cái ǵ biết sự nghe được cái Nhĩ Thức đó ? C̣n nếu không ai biết th́ rốt cuộc giống như cỏ cây.

“Chẳng lẽ thanh trần và cái Nghe trộn lẫn thành ra cái Giới ở giữa ? Giới không có ở giữa th́ các tướng nội căn, ngoại trần do đâu mà thành ?

“Thế nên, phải biết : Nhĩ căn, thanh trần làm duyên sanh ra Nhĩ Thức Giới, cả ba chỗ ấy đều không. Tức là ba thứ Nhĩ Giới, Thanh Giới và Nhĩ Thức Giới vốn chẳng phải là tánh Nhân Duyên, chẳng phải tánh Tự Nhiên.

Thông rằng : Tiểu thừa cho rằng “Nhân Duyên sanh ra pháp”, lấy đó làm thật có, chẳng hiểu được “Tức Không” nên Phật căn cứ vào chỗ Nghe, Thấy thường ngày ấy mà phá bỏ.

Nếu nhân nhĩ căn mà sanh ra, th́ nhĩ căn có Thắng Nghĩa Căn và Phù Trần Căn. Thắng Nghĩa Căn biết phân biệt, nhưng nếu không có thanh trần tiếp xúc th́ cái Biết c̣n không có, huống là có h́nh tượng ǵ ? Phù trần căn th́ dù có xen tạp với sắc trần, mà nếu không có hai tướng động, tĩnh th́ cái Nghe c̣n không có, huống là có Thức Giới ! Cho nên, nếu nói “Nhĩ Thức nhân Nhĩ Căn sanh ra”, là sai lầm.

Nếu nhân thanh trần mà sanh ra, thế th́ thanh trần đă tự có Nhĩ Thức, cần ǵ đến tai nghe ? Đă không có người nghe, th́ ai phân biệt được các thanh trần ? Nếu nói nương nhau mà sanh, cho là thanh trần nhân cái Nghe mà có tướng, th́ cũng phải cho rằng cái Nghe nhân thanh trần mà nghe được Nhĩ Thức. Nhĩ Thức đă bị nghe, th́ cũng chỉ là thanh trần, th́ c̣n cái ǵ làm năng tri để biết rằng đă nghe Nhĩ Thức ? Nếu cùng cái Biết, th́ thành ra có hai cái Thức ! C̣n nếu không có cái Biết, th́ đồng với cỏ cây. Nên nói “Thức sanh ra nơi Thanh Trần” là sai lầm vậy.

Nếu nói rằng “Thanh Trần và cái Nghe ḥa hợp mà sanh ra Nhĩ Thức”, th́ một bên là có Biết, một bên là không có Biết, giữa khoảng Biết và Không Biết đó, làm sao mà trộn lẫn để thành ra cái Giới ? Cái Giới ở giữa đă không có, th́ Thức không chỗ nương, thế th́ nội căn, ngoại trần do đâu mà thành lập ? Nên nói “Thanh Trần và cái Nghe ḥa hợp mà sanh” là sai lầm vậy.

Ba chỗ đều không, th́ Nhĩ Thức chẳng sanh, nên biết cái Nhĩ Thức vô sanh ấy tức là Tánh Chân Như vậy.

Có lần, Đức Thế Tôn đang ngồi dưới cây Ni Câu Luật, có người đi buôn hỏi : “Ngài có thấy xe đi qua không ?”

Ngài nói : “Chẳng thấy”.

Lại hỏi : “Lại có nghe chăng ?”

Đáp : “Chẳng nghe”.

Hai người đi buôn hỏi : “Không thiền định sao ?”

Đáp : “Không thiền định”.

Hỏi : “Không phải ngủ sao ?”

Đáp : “Không ngủ”.

Người đi buôn tán thán : “Lành thay ! Lành thay ! Thế Tôn thường biết mà chẳng thấy !” Bèn cúng dường lên hai cây vải trắng.

Có vị sư hỏi thiền sư Hà Trạch Thần Hội : “Khi cái thấy, nghe chiếu thanh, sắc th́ đồng thời hay có trước sau ?”

Tổ Hội nói : “Đồng thời hay trước sau hăy để đó. Rốt ráo, ông lấy cái ǵ làm thanh, sắc ?”

Vị sư nói : “Như chỗ chỉ bày của thầy, th́ không có thanh, sắc nào khá được”.

Rồi quỳ lạy mà đi ngay hôm đó. Sau sư ở ẩn tại núi Mông.

Có vị Tam Tạng xứ Thiên Trúc tên là Thanh Minh đến xứ Mân. Vua xứ Mân mời Ngài Huyền Sa đến để nghiệm luận.

Tổ Sa lấy chiếc đũa sắt gắp lửa gơ vào cái lư đồng, rồi hỏi : “Đó là tiếng ǵ ?”

Vị Tam Tạng đáp : “Tiếng đồng-sắt”.

Tổ Sa nói : “Đại Vương chớ để người ngoại quốc lừa dối !”

Vị Tam Tạng không đáp được.

Ngài Thiên Đồng nêu ra rằng : “Hợp với Lư th́ đó là Thần : gă nghèo được viên ngọc trong tay áo. Bị T́nh gói kín th́ đó là Vật : người lực sĩ mất viên ngọc trên trán ! Vị Tam Tạng chỉ biết nh́n tới trước. Ngài Huyền Sa lại chẳng thể ngó lui. Hiểu được chăng ? Đặt bày điều tội cho người th́ tội càng lớn”.

Cái tắc công án này, các vị tôn túc nói rất nhiều.

Vị Tam Tạng nói “Tiếng đồng-sắt” th́ rơ ràng đuổi theo thanh trần rồi vậy.

Tổ Pháp Nhăn riêng nói : “Thỉnh Đại Sư làm Đại Vương”.

Tổ Pháp Đăng riêng nói : “Hăy nghe Ḥa Thượng hỏi !”

Tổ Tuyết Đậu nói : “Chớ lừa dối người ngoại quốc th́ tốt”.

Ở chỗ vị Tam Tạng không trả lời được, Ngài Pháp Nhăn thay thế mà nói rằng : “Đại Sư đă hưởng thọ lâu rồi sự cúng dường của Đại Vương”.

Tổ Pháp Đăng nói thay : “Ấy là Ḥa Thượng lừa dối Đại Vương !” Câu nói này rất có ư vị, đó là chỗ Ngài Thiên Đồng nói “Đặt bày điều tội cho người th́ tội lại càng lớn” đó vậy.

Cứ theo ư Tổ Huyền Sa th́ gọi cái ǵ là tiếng đồng-sắt ? C̣n theo ư vị Tam Tạng th́ gọi cái ǵ chẳng phải là tiếng đồng-sắt ? Hai lời này rất dễ lừa người. Phải mỗi mỗi đều nh́n thấu mới chẳng bị người lừa.

 

Kinh : “Anan, lại như chỗ ông bày tỏ : Tỷ căn và hương trần làm duyên, sanh ra Tỷ Thức. Thức ấy nhân tỷ căn sanh ra, lấy tỷ căn làm Giới, hay nhân hương trần sanh ra, lấy hương trần làm Giới ?

“Anan, nếu nhân tỷ căn sanh ra, th́ trong tâm ông, lấy cái ǵ làm tỷ căn ? Lấy cái h́nh tướng mũi thịt như hai móng tay, hay lấy sự ngửi biết lay động làm tỷ căn ?

“Nếu lấy cái h́nh tướng mũi thịt, th́ chất thịt là thân và cái biết của thân là cái cảm xúc. Đă gọi là thân th́ không phải là lỗ mũi, gọi là cảm xúc th́ thuộc về trần. Vậy c̣n không có ǵ để gọi là tỷ căn, làm sao mà Giới được thành lập ?

“Nếu lấy cái Ngửi Biết làm tỷ căn, th́ trong tâm ông lấy cái ǵ làm cái biết ? Nếu lấy lỗ mũi thịt, th́ cái biết của chất thịt là xúc trần, chứ không phải là tỷ căn. Nếu lấy hư không làm cái Biết, th́ hư không ắt tự biết, c̣n xác thịt lẽ ra chẳng biết. Như thế, lẽ ra hư không phải là ông! Thân ông mà chẳng biết, th́ Ông Anan hiện giờ chẳng c̣n ở đâu nữa.

“Nếu lấy cái hương làm cái biết, th́ cái biết thuộc về hương trần, nào dính dáng ǵ đến ông?

“Nếu mùi thơm, mùi thối sanh ra do tỷ căn của ông, th́ hai mùi thơm, thối kia không sanh ra do cây y lan và cây chiên đàn, hai vật đó không đến, th́ ông tự ngửi lỗ mũi là thơm hay thối ! Thối th́ chẳng phải thơm; thơm th́ không phải thối. Nếu cả hai mùi thơm, thối đồng ngửi được cả, th́ một người ông phải có hai tỷ căn, đứng trước Ta hỏi đạo lại có hai Anan, thế th́ ai mới là cái thể của ông ? Nếu tỷ căn là một, th́ thơm, thối không hai. Thối đă thành thơm, thơm đă thành thối, hai tánh đó đă không có, th́ Giới do đâu mà thành lập ?

“Lại nếu nhân hương trần mà sanh, th́ Tỷ Thức đă nhân hương trần mà có, cũng như như nhân con mắt mà có Thấy, th́ không thể thấy con mắt : Tỷ Thức nhân hương mà có, lẽ ra không biết được hương trần. Nếu biết được hương trần th́ không phải do hương trần sanh ra, c̣n nếu không biết được hương trần th́ không phải là Tỷ Thức. Hương trần mà không biết là có, th́ cái Giới của hương không thành. Tỷ Thức mà không biết hương trần, th́ cái Giới của nó không phải do hương trần mà lập. Đă không có cái Thức ở khoảng giữa th́ nội căn, ngoại trần cũng không thành, th́ các thứ Ngửi Biết kia rốt ráo là hư vọng.

“Thế nên, phải biết tỷ căn và hương trần làm duyên, sanh ra Tỷ Thức Giới, cả ba chỗ đều không. Tức là ba thứ Tỷ Giới, Hương Giới và Tỷ Thức Giới vốn chẳng phải tánh Nhân Duyên, chẳng phải tánh Tự Nhiên.

Thông rằng : Cái Mũi là Căn. Hương là Cảnh. Ở giữa hai cái ấy là Thức. Phàm nói Giới là chuyên để chỉ Thức. Cái Thức này không ở nơi Căn mà sanh, không ở nơi Hương mà sanh, đại ư tương tợ, nhưng văn nghĩa có hơi phức tạp.

Mượn cảnh để phá căn, th́ Thức chẳng phải do hư không sanh, mà là ở giữa. Ngay nơi cảnh mà phá căn, th́ Thức chẳng do ḥa hợp mà sanh ra, cũng là dễ thấy. Ban đầu phá phù trần căn, cái mũi thịt chẳng phải là cái Biết. Rồi phá thắng nghĩa căn, lại không phải hư không là cái Biết. Nếu cái Biết ở hương, th́ can dự ǵ đến lỗ mũi ? Mà đă sanh ở lỗ mũi th́ cần ǵ đến vật ? Nếu đồng ngửi được cả thơm thối, th́ phải có hai mũi, vậy th́ cái căn đâu có đủ để căn cứ. Đă chỉ một cái mũi, sao lại có hai mũi, vậy cái cảnh cũng không đủ làm bằng cớ. Do đó, nói “Tỷ Thức do nơi Căn sanh”, là sai vậy.

Nếu nói “Tỷ Thức do hương trần sanh ra”, th́ đáng lẽ không biết được hương, cũng như cái thấy do con mắt mà có ra th́ không thể trở lại thấy con mắt. Nếu nói là Biết, th́ hương trần tự có Thức, nào cần phải nói là sanh ra ? Nếu nói là không Biết, th́ không thể gọi là Thức, th́ Giới do đâu mà lập ? Do đó, nói rằng “Thức do Hương Trần sanh”, là sai lầm vậy.

Hương trần đă không thể tự biết mùi của nó, th́ căn với trần ĺa nhau, chứ không thể hợp được. Mà Thức nếu từ hương trần sanh ra, th́ chẳng thể biết hương trần. C̣n biết được hương trần, th́ hẳn là chẳng phải từ hương sanh ra. Đó là căn, cảnh ĺa nhau, vốn chẳng nương nhau vậy. Nên nói rằng “Tỷ Thức do Căn và Cảnh hợp nhau mà sanh”, là sai lầm vậy.

Cái Giới của hương không thành, th́ không thể ở giữa. Đă không có cái giữa, lấy đâu có trong, có ngoài ! Rơ là Tỷ Thức hư vọng, vốn không xứ sở, bèn hiểu tánh Ngửi Biết là Không, chẳng có tánh Nhân Duyên hay Tự Nhiên nào khá được.

Phẩm Pháp Giới của kinh Hoa Nghiêm : Trưởng giả Chúc Hương Ưu Bát La Hoa khéo phân biệt mà biết tất cả mùi hương, cũng biết điều ḥa tất cả Hương Pháp, cho đến nơi chốn bay ra của Hương Vương. Lại khéo biết trị các bệnh của hương, đoạn trừ các hương xấu, mà sanh ra Hoan Hỷ Hương, tăng Trí Huệ Hương, diệt Phiền Năo Hương. Khiến ở Vô Vi mà sanh Ưa Luyến Hương, ở nơi Hữu Vi mà sanh Chán Ĺa Hương, xả bỏ các Kiêu Dật Hương, phát tâm Niệm Phật Hương, chứng Giải Thoát Pháp Môn Hương, Thánh Sở Thọ Dụng Hương, Nhất Thiết Bồ Tát Sai Biệt Hương, Nhất Thiết Bồ Tát Địa Vị Hương.

Ngài dạy : “Ta chỉ biết môn Điều Ḥa Hương Pháp này, cũng như các Bồ Tát ĺa xa hết thảy các ác tập khí, chẳng nhiễm thế dục, cầu cắt ĺa lưới phiền năo của bọn ma, vượt khỏi các nẻo luân hồi. Lấy Trí Huệ Hương mà tự trang nghiêm, nơi mọi thế gian đều không nhiễm trước, thành tựu đầy đủ Giới “Không Chỗ Bám”, làm trong sạch Trí “Không Bám”, Hành cái “Không Bám Cảnh”, nơi hết thảy chốn đều không chỗ bám níu, tâm đều b́nh đẳng, không bám, không nương”.

Xưa, có một tôn giả đi qua hồ sen. Vị Thần sen trách rằng : “Không được trộm hương thơm của tôi”.

Vị tôn giả bèn hỏi : “Người đời qua lại, ai chẳng ngửi mùi thơm, đâu chỉ một ḿnh ta ngửi trộm sao ?”

Vị Thần nói : “Người đời tán loạn tâm, nên chẳng gọi là trộm. Tôn giả đây tâm trong sạch, nên có chút bám dính th́ chẳng được !”

Tỷ Thức chưa dễ hàng phục vậy ! Thế nên, hộ tŕ cái Tâm Vô Trước mà ngao du cơi đời, đó là “Khéo phân biệt mà biết tất cả mùi hương”, th́ không ǵ mà chẳng có thể.

 

Kinh : “Anan, lại như chỗ ông bày tỏ : Thiệt căn và vị trần làm duyên, sanh ra Thiệt Thức. Thức ấy nhân thiệt căn sanh ra, lấy thiệt căn làm Giới, hay nhân vị trần sanh ra, lấy vị trần làm Giới ?

“Anan, nếu nhân thiệt căn sanh ra, th́ trong thế gian mía ngọt; mơ chua; hoàng liên đắng; muối mặn; tế tân, gừng, quế hết thảy đều không có Vị. Ông tự nếm cái lưỡi, là ngọt hay đắng ? Nếu cái lưỡi là đắng, th́ lấy cái ǵ để nếm cái lưỡi ? Lưỡi chẳng thể tự nếm, th́ lấy ǵ mà có hay biết ? Nếu lưỡi không đắng, vị tự chẳng sanh ra, làm sao lập thành Giới ?

“Nếu nhân vị trần mà sanh ra, th́ Thiệt Thức đă là vị rồi, đồng như thiệt căn, không thể tự nếm, làm sao mà biết là vị hay chẳng phải vị ? Lại tất cả các vị chẳng phải do một vật sanh ra. Các vị đă do nhiều vật sanh ra, th́ cái Thiệt Thức nếu do vị trần sanh, cũng phải có nhiều tự thể. Nếu Thiệt Thức là một thể và thể đó do vị sanh ra, th́ các vị mặn, nhạt, chua, cay, các tướng khác nhau này phải chỉ là một vị, không thể phân biệt. Không có phân biệt, th́ không có Thức, làm sao c̣n gọi là Thiệt Thức Giới ? Chẳng lẽ hư không sanh ra cái Thức Phân Biệt của ông ?

“Thế th́ cái Thức ở giữa do thiệt căn và vị trần ḥa hợp mà sanh, vốn không tự tánh, làm sao mà cái Giới có được ?

“Vậy nên phải biết : Thiệt căn, vị trần làm duyên, sanh ra Thiệt Thức, cả ba Xứ đều Không. Tức là Thiệt Giới, Vị Giới và Thiệt Thức Giới vốn chẳng phải Tánh Nhân Duyên, chẳng phải tánh Tự Nhiên.

Thông rằng : Ban đầu, bác bỏ “Nhân thiệt căn sanh”, là phá cái lư Tự Sanh. Thứ hai là bác bỏ “Nhân vị trần sanh”, là phá cái lư Cái khác sanh. Thứ ba là bác bỏ “Hư không sanh”, là phá cái lư Không nguyên nhân mà sanh. Thứ Tư bác bỏ “Lưỡi và vị ḥa hợp mà sanh”, là phá cái lư Chung nhau sanh. Tức ở trong đó, vốn không tự tánh, thiệt căn chẳng thể tự nếm mùi, mùi vị cũng chẳng tự nếm biết, th́ Thức do đâu mà sanh ? Chính là hiển bày ư chỉ Vô Sanh. Biết Thiệt Thức vốn Vô Sanh, thiệt căn vốn tự trong sạch, tức là Diệu Chân Như Tánh vậy.

Xưa, có vị thiền sư ăn uống hỗn tạp, không chọn lựa, nhiều đệ tử bắt chước theo. Một bữa nọ, bày một bữa cúng ở chỗ thiêu xác người chết, rồi lấy thịt thiêu c̣n sót, gồm chung vào rồi ăn. Đệ tử đều ói mửa, chạy mất.

Sư bèn nói : “Ta nhiều đời thanh tịnh, nên mới không chọn lựa. Các ông có thể cùng với ta ăn món này, mới nên duy tŕ việc ăn uống”.

Từ đó, cả chúng sợ hăi mà lo vâng giữ Giới Luật.

Tổ Tào Sơn cũng ưa rượu.

Có vị tăng hỏi : “Áo linh không khoác th́ như thế nào ?”

Đáp : “Tào Sơn này trọn hiếu() !”

Hỏi : “Trọn hiếu rồi th́ như thế nào ?”

Tổ đáp : “Tào Sơn khoái rượu từ Tôn Đảnh”.

Có đệ tử tên là Thuế Thanh, bạch hỏi : “Đệ tử cô bần, xin thầy cứu giúp”.

Tổ Sơn gọi lớn : “Thuế Xà Lê !”

Sư Thuế ứng tiếng : “Dạ !”

Tổ Sơn nói : “Rượu Thanh Nguyên() trắng trong, uống rồi ba chén sao c̣n bảo chưa thấm môi !”

Tổ Huyền Giác nói : “Ở chỗ nào mà cho là có uống !”

Ba tắc này là : Tánh của Vị vốn Không, Thiệt Thức cũng vốn Không. Liễu đạt mới gọi rằng “Biết mùi vị”.

 

Kinh : “Anan, lại như chỗ ông bày tỏ : Thân căn và xúc trần làm duyên sanh ra Thân Thức. Thân Thức này do thân căn sanh ra, lấy thân căn làm Giới, hay nhân xúc trần sanh ra, lấy xúc trần làm Giới ?

“Anan, nếu nhân thân căn sanh ra, mà không có hai cảm xúc hợp và ĺa, th́ thân căn c̣n biết ǵ? Nếu nhân xúc trần sanh ra, mà không có thân căn của ông, th́ có ai chẳng có thân mà lại biết chuyện hợp, ĺa được ?

“Anan, vật th́ không biết cảm xúc, thân căn có biết mới có cảm xúc. Tức nơi cảm xúc, biết có thân. Tức nơi thân căn, mà biết cảm xúc. Nhưng nơi Xúc, th́ không phải là thân, nơi thân th́ không phải là Xúc. Hai tướng thân và xúc, vốn không xứ sở. Nếu Xúc hợp với thân, th́ làm thể tánh của thân. Ĺa thân th́ chẳng có thể tánh nào, bèn như tướng hư không. Nội căn, ngoại trần đă không thành, cái Thức ở giữa làm sao mà lập ? Giữa chẳng lập được, trong ngoài đều là Tánh Không, th́ cái Thân Thức của ông do đâu mà lập thành Giới ?

“Thế nên, phải biết : Thân căn và xúc trần làm duyên, sanh ra Thân Thức, cả ba chỗ đều Không. Tức là cả ba thứ Thân Giới, Xúc Giới và Thân Thức Giới vốn chẳng phải Tánh Nhân Duyên, chẳng phải tánh Tự Nhiên.

Thông rằng : Câu “Vật th́ không biết cảm xúc”, nghĩa là vật có thể chạm biết. Vật th́ thật, cái Biết th́ hư. Cái thật với cái hư chẳng có tiếp xúc với nhau. Cho nên, vật th́ chỉ tiếp xúc với vật, không thể tiếp xúc với cái Biết. Một chữ Biết này bày rơ ràng ra cái Pháp Thân trong sạch, chẳng phải là chỗ mà sự chạm xúc có thể tới được.

Cái Thân biết có cảm xúc là do sắc thân phân biệt mà Biết, lấy hai chỗ hợp, ĺa làm duyên. Cảm xúc không ĺa thân căn, thân căn cũng không ĺa cảm xúc. Nhưng nói cảm xúc th́ chẳng phải là thân căn, nói thân căn th́ chẳng phải là cảm xúc, hai cái ấy thật là không thể xác định. Do đó, nếu hợp lại th́ chỉ có một thân thể, mà cái Cảm Xúc ở tại đâu ? Nếu ĺa nhau, th́ Xúc không c̣n, đồng như hư không vậy. Cả hai đều không có ở đâu, trong ngoài đều không thành tựu. Thân và Xúc đều không nơi chốn, th́ Thân Thức do đâu mà thành lập ? Đă không có cái Thức ở giữa, th́ căn và cảnh rốt ráo là không. Thế nên biết cái Thân Thức Giới chỉ là hư vọng.

Thiền sư Nam Nhạc Huệ Tư đă đắc túc mạng thông, bỗng nhiên lại bị nghiệp chướng khởi lên, tay chân rũ liệt, không thể đi đứng. Ngài tự nghĩ rằng : “Bệnh từ nghiệp sanh, nghiệp từ tâm khởi. Nguồn tâm vốn chẳng khởi, ngoại cảnh đâu có h́nh trạng ǵ? Bệnh, nghiệp và thân đều như bóng mây !” Quán như thế, tướng điên đảo diệt, nhẹ nhàng yên ổn như xưa. Như Ngài mới có thể nói là rơ thấu Thân Thức là hư vọng vậy.

Thiền sư Hưng Dương Phẩu nằm bệnh.

Ngài Đại Dương đến thăm, hỏi : “Thân này như bọt huyễn, mà có ở trong bọt huyễn mới thành biện xét. Nếu không có cái bọt huyễn này, th́ chuyện đại sự chẳng do đâu mà nghiệm xét. Nếu muốn xét chuyện đại sự, th́ Thức lại giữ lấy cái bọt huyễn này, làm sao đây ?”

Tổ Phẩu nói : “Vẫn c̣n là chuyện bên này”.

Đại Dương hỏi : “Thế chuyện bên kia th́ làm sao?”

Tổ Phẩu nói : “Quanh đất vừng hồng đẹp, đáy biển chẳng trồng bông”().

Đại Dương cười nói : “Ông c̣n tỉnh táo không ?;

Tổ Phẩu quát : “Sắp nói ta quên mất à !”

Rồi liền tịch.

Như Tổ Hưng Dương Phẩu có thể nói là thấu rơ cái Pháp Thân Hướng Thượng Sự vậy.

Có vị sư hỏi Ngài Đại Long : “Sắc thân th́ hư hoại, như thế nào là cái Pháp Thân kiên cố ?”

Tổ Long nói : “Hoa núi nở dường gấm. Nước khe trong như lam”.

Ngài Tuyết Đậu tụng rằng :

“Hỏi, từng chẳng biết

Đáp, lại chẳng hiểu

Trăng lạnh gió cao, đỉnh xưa thông lạnh

Cười vui thay

Giữa đường gặp được người đắc đạo

Chẳng lấy nói, im đối đăi cùng

Tay cầm roi bạch ngọc đánh vụn ngọc Ly Châu

Đánh chẳng nát, thêm dấu vết !

Nước có hiến chương, thêm ba ngàn điều tội !”.

Theo bài tụng này th́ cái Kiên Cố Pháp Thân c̣n phải đập cho nát, huống là cái Sắc Thân đó ư ?

 

Kinh : “Lại như chỗ ông bày tỏ : Ư căn và pháp trần làm duyên, sanh ra Ư Thức. Thức đó là nhân ư căn sanh ra, lấy ư căn làm Giới, hay nhân pháp trần sanh ra, lấy pháp trần làm Giới?

“Anan, nếu nhân ư căn sanh ra, th́ trong ư ông chắc phải có chỗ suy nghĩ mà phát rơ ra cái ư của ông; nếu không có các pháp trần th́ ư không có chỗ sanh ra. Ĺa các duyên trần, ư căn c̣n không có h́nh tướng, th́ cái Thức đem dùng vào chỗ nào ?

“Lại cái Thức Tâm của ông cùng các sự nghĩ suy, các sự rơ biết là đồng nhau hay khác nhau. Nếu đồng với ư căn, tức là ư căn rồi, làm sao lại do ư căn sanh ra ? Nếu khác mà không đồng với ư căn, th́ lẽ ra không có biết ǵ. Nếu không có chỗ Biết, th́ làm sao lại do ư căn sanh ra ? C̣n nếu có chỗ Biết, làm sao biết được ư căn ? Khi hai tánh đồng nhau và khác nhau đều không thành, Giới do đâu mà lập ?

“Nếu Ư Thức do pháp trần sanh ra, th́ các pháp trong thế gian không ngoài năm Trần. Ông hăy xem các pháp sắc, thanh, hương, vị, xúc đối với năm căn đều có h́nh tướng rơ ràng, chẳng phải chỗ thu nhiếp của ư căn. Nếu Ư Thức của ông quyết định nương nơi pháp trần mà sanh ra, th́ ông hăy xem xét kỹ, mỗi pháp có h́nh trạng ǵ ? Nếu ĺa ngoài sắc không, động tĩnh, thông bít, ĺa hợp, sanh diệt, vượt ngoài các tướng này, rốt ráo là không chỗ đắc. Sanh th́ các pháp Sắc Không đều sanh ra, diệt th́ các pháp Sắc Không đều diệt. Các nguyên nhân đă không, th́ cái thức có là do chúng sanh ra, nào có h́nh tướng ǵ đâu ? Tướng trạng không thể có, Giới do đâu mà sanh ?

“Thế nên, phải biết : Ư căn, pháp trần làm duyên, sanh ra Ư Thức, ba chỗ này đều không. Tức là ba thứ Ư Giới, Pháp Giới và Ư Thức Giới vốn chẳng phải tánh Nhân Duyên, chẳng phải tánh Tự Nhiên.

Thông rằng : Cái Ư Thức Giới này là Tánh Hiểu Biết, Phân Biệt của Thức Thứ Sáu. Đă lấy sự Biết do Phân Biệt làm tánh, th́ ĺa ngoài pháp hẳn không có duyên, ư bèn chẳng sanh. Ĺa Duyên th́ vô h́nh, vậy Ư Thức dùng vào đâu ? Thế th́ cái Thức duyên theo pháp này, rơ ràng không sanh ra nơi ư căn. Nếu nói ư căn hay phân biệt mà sanh ra Ư Thức, vậy th́ Thức Thứ Bảy làm chỗ nương cho sự nhiễm, tịnh và Thức Thứ Tám là Thức Tâm làm chỗ nương dựa căn bản của mọi Thức, đối cùng Thức Thứ Sáu có tánh hiểu biết do phân biệt là đồng hay là khác ?

Kinh Lăng Già nói : Tâm (Thức Thứ Tám) hay tích nhóm Nghiệp Ư (Thức Thứ Bảy), hay mở rộng sự tích nhóm, hiểu biết do phân biệt gọi là Thức, đối đăi với hiện cảnh th́ có năm Thức.

Luận Duy Thức nói : Tập Khởi gọi là Tâm, suy lường gọi là Ư, hiểu biết cảnh gọi là Thức. Chỉ là một pháp mà khác tên.

Đă duy chỉ một pháp, đều có thể gọi là Tâm, đều có thể gọi là Ư, đều có thể gọi đó là Thức. Nhưng sự tinh vi ấy có thể biện biệt, có nhiều thứ ấy mà đặt tên vậy.

Ở trong Thức Thứ Tám, Ư và Thức đều không c̣n, nên chỉ có thể gọi là Tâm.

Ở Thức Thứ Bảy, chẳng phải Tâm, chẳng phải Thức, chỉ có thể gọi là Ư.

Ở Thức Thứ Sáu, th́ Tâm và Ư đều đối đăi với Cảnh, nên gọi là Thức Phân Biệt sự vật.

Kỳ thật chỉ là một. Như biển khởi sóng : không khác cũng không không khác. Thức Thứ Sáu đuổi theo Trần sanh ra Gió Cảnh Giới, liền khởi động các sóng Suy Lường của Thức Thứ Bảy, mà thật chẳng rời cái biển lặng chứa của Thức Thứ Tám. Ba Thức này chẳng phải đồng, chẳng phải khác, cứ hăy tạm để đó.

Bây giờ, nói về chuyện Ư sanh ra Thức. Nếu nói Thức đồng với Ư th́ Thức là Ư, làm sao gọi Ư là cái Năng Sanh và Thức là cái Được Sanh ? Nói là đồng th́ không được vậy. Nếu nói Thức khác với Ư, hoàn toàn chẳng đồng th́ một cái thuộc hữu t́nh, một cái thuộc vô t́nh, lẽ ra không có chỗ Biết, vậy bảo khác nhau th́ không thể được. Nếu không có chỗ Biết, th́ chắc chẳng phải do Ư sanh. Ư phân biệt được cái chỗ Sở Sanh th́ phải có cái Thức ở trong ấy. Nếu có chỗ để biết, th́ khi Ư sanh mà không có pháp nào để duyên, th́ chỉ có cái Ư làm sao mà tự biết cái Ư ? Nếu cho là Biết cái Ư, th́ cái Ư trở lại thành cảnh, không c̣n là căn được. Nếu không biết cái Ư, lại giống như không có Thức, th́ sao nói là Ư sanh Thức?

Rời ngoài pháp mà t́m cái Thức, rất khó h́nh dung : nếu nói là đồng, th́ không c̣n có thể gọi là Sanh ra; nếu gọi là khác th́ không thể gọi được là Thức. Thế là hai tánh đồng nhau, khác nhau đều không thành tựu. Thức không có chỗ định, Giới làm sao lập thành ? Do đó mà nói Thức do căn sanh là hư vọng vậy.

Nếu nói Thức duyên với pháp trần mà hiện, nhân pháp mà có sanh ra, thế th́ phải có pháp khá h́nh dung ra được rồi mới có thể làm Nhân. Nay các pháp của thế gian chẳng thể ngoài năm trần, đối đăi năm căn, và làm cái sở nhân của năm Thức. Ư có thể ĺa ngoài năm Trần này mà riêng có tướng trạng của các pháp để làm sở nhân không ? Cái nội cảnh mà Ư tự duyên, tuy không nhờ năm căn bên ngoài nhưng rốt cuộc không thể ra khỏi bóng dáng của Sắc Không, sanh diệt... các pháp. Dầu có duyên các pháp xuất thế gian là Phi Sắc, Phi Không, Bất Sanh Bất Diệt nhưng cái phi sắc phi không cũng do Sắc Không mà hiển, cái bất sanh bất diệt cũng do sanh diệt mà bày. Rốt là chẳng có thể rời ngoài Sắc Không, sanh diệt mà có riêng được cái pháp trần để làm nhân sanh Thức. Ở nơi năm Trần mà t́m pháp th́ Trần là nhân của ngũ căn, chẳng phải là nhân của Ư. Mà rời năm Trần để cầu pháp, th́ không có pháp nào để được. Đă không thể đắc, th́ không có Nhân vậy. Nhân mà không có, lấy ǵ sanh ra ? Nếu không có Nhân mà nói là có Thức sanh ra, th́ Thức này chẳng thể nào phân biệt các pháp. C̣n nếu phân biệt được các pháp th́ tạo ra được tướng trạng ǵ ? Tướng trạng không có, Thức thật chẳng sanh. Nên nói là nhân pháp mà Thức sanh là sai lầm vậy. Đă chẳng phải Ư sanh, lại chẳng phải Pháp sanh, th́ Ư Thức ở tại chốn nào ? Không có nơi chốn, tức là chốn Chân Thật vậy.

Xưa, Thượng Tọa Quốc Thanh Tịnh hỏi Tổ Trường Sa : “Như trong kinh dạy : không thể lấy cái tâm có chỗ biết mà đo lường nổi cái Tri Kiến Vô Thượng của Như Lai, thế th́ làm sao ?”

Tổ Sa nói : “Ông hăy nói xem : cứu xét cho cùng cái tâm có chỗ biết này, lại có đo lường nào được nổi chăng ? Theo đó mà tin nhập”.

Sau này, có vị tăng hỏi : “Đệ tử mỗi đêm ngồi thiền, tâm niệm tán loạn, chưa biết cách nào nhiếp phục. Xin thầy chỉ bảo”.

Ngài Quốc Thanh Tịnh trả lời : “Nếu ban đêm ngồi tịnh mà niệm niệm lăng xăng, th́ lấy cái tâm lăng xăng đó cứu xét cái chỗ lăng xăng. Thấy là nó không có xứ sở, th́ cái tâm niệm lăng xăng đó đâu c̣n ! Cứ xét ngược lại cái tâm, th́ cái tâm cứu xét đó đâu có tại chỗ nào. Trí chiếu soi vốn không, cái cảnh để duyên cũng tĩnh lặng vậy. Chiếu mà chẳng chiếu, tuyệt không có cảnh để chiếu soi vậy. Cảnh, Trí đều tịch diệt, tâm lượng an nhiên. Ngoài chẳng t́m cầu lấy sự tán loạn, trong chẳng trụ nơi định tĩnh. Hai đường dứt bặt, một Tánh suốt nhiên. Đây là yếu đạo về nguồn vậy”.

Tổ Dược Sơn đang ngồi, có vị tăng hỏi : “Ở cái chỗ bằng phẳng, suy nghĩ cái ǵ ?”

Tổ Sơn nói : “Suy nghĩ cái thật chẳng có suy nghĩ”.

Hỏi : “Cái chẳng suy nghĩ đó, làm thế nào suy nghĩ ?”

Tổ Dược Sơn nói : “Tuyệt chẳng suy nghĩ !”

Có vị tăng hỏi thiền sư Thục Châu Tây : “Thế nào là chỗ Phi Tư Lượng ?”

Ngài đáp : “Ai thấy một chấm trong đêm tối giữa hư không ?”

Ngài Đơn Hà tụng rằng :

“Một điểm linh minh, sáu chẳng thâu

Rơ thay, nào phải sững mắt vào

Tin tức trong kia, người khó rơ

Chỉ có hư không một điểm mù”.

(Nhất điểm linh minh lục bất thâu

Chiêu nhiên hà dụng cánh ngưng mâu

Cái trung tiên tức nhân nan ủy

Độc hữu hư không ám điểm đầu).

Cho nên, rơ được chỗ Tâm Thức chẳng thể đến được, bèn thấu suốt nguồn cội của Thức vậy.

 

I. THU BẢY ĐẠI

Kinh : Ông Anan bạch Phật : “Thưa Thế Tôn, Như Lai thường nói về Nhân Duyên Ḥa Hợp rằng : Tất cả các thứ biến hóa trong thế gian đều do bởi bốn Đại ḥa hợp mà phát hiện ra. Thế sao Như Lai đều bài bác cả hai nghĩa Nhân Duyên và Tự Nhiên ? Nay tôi không biết nghĩa ấy thế nào, xin Phật rủ ḷng thương xót khai thị cho chúng sanh nghĩa rốt ráo của Trung Đạo, không c̣n các pháp hư luận”.

Lúc bấy giờ, Thế Tôn bảo Ông Anan rằng : “Trước ông đă chán ĺa các pháp Tiểu Thừa Thanh Văn, Duyên Giác mà phát tâm quyết cầu Bồ Đề Vô Thượng, nên ta nay v́ ông mà khai thị cái Đệ Nhất Nghĩa Đế, sao ông lại c̣n đem những thứ vọng tưởng Nhân Duyên, hư luận của thế gian mà tự trói buộc ? Ông tuy là nghe nhiều mà như người nói tên vị thuốc, đến khi thuốc thật ở trước mắt lại chẳng hề phân biệt được. Như Lai bảo thế thật là đáng thương xót ! Nay ông hăy nghe kỹ, ta sẽ v́ ông phân biệt khai thị. Cũng để cho những người tu Đại Thừa mai sau thông đạt cái Thật Tướng”.

Ông Anan lặng yên, kính vâng Thánh Chỉ của Phật.

Thông rằng : Ông Anan mong Thế Tôn khai thị Trung Đạo. Nếu cho thật tại là Nhân Duyên Ḥa Hợp của thế gian, th́ mắc vào Có (Hữu). Nếu bài bác cả hai thứ Nhân Duyên và Tự Nhiên th́ lại ch́m đắm vào Không. Cái chẳng phải Có, chẳng phải Không mới là Trung Đạo. Ông không biết cái Bồ Đề Vô Thượng là cái Trung Đạo không chỗ bám nắm, mới là Đệ Nhất Nghĩa Đế vậy. Cái Đệ Nhất Nghĩa Đế này siêu khỏi mọi Ấm, Nhập, Xứ, Giới chẳng phải phải tánh Nhân Duyên, chẳng phải tánh Tự Nhiên. Thấy các Tướng chẳng phải Tướng, tức đó là Đại Thừa Thật Tướng.

Ông Anan muốn rời bỏ Tiểàu Thừa mà cầu cái Bồ Đề Vô Thượng. Nay chỉ cho đó là Tánh Diệu Chân Như, th́ hoang mang ngơ ngác, chẳng hiểu ra sao, như người nói ra tên thuốc, mà cái chơn dược ở ngay trước mắt lại chẳng có hay. Thật đáng thương xót ! Than ôi, thuốc nào có dễ biết !

Bồ Tát Văn Thù một ngày nọ bảo đồng tử Thiện Tài đi hái thuốc.

Ngài nói : “Cái ǵ là thuốc hăy hái mang về”.

Thiện Tài xem khắp đại địa không có ǵ chẳng phải là thuốc, trở về bạch rằng : “Không có cái ǵ mà chẳng phải là thuốc”.

Ngài Văn Thù nói : “Cái ǵ là thuốc hái mang về đây”.

Thiện Tài bèn ngay trên mặt đất ngắt lên một cọng cỏ, đưa cho Ngài Văn Thù. Ngài Văn Thù cầm lấy, đưa lên cho đại chúng xem, rồi nói : “Thuốc này cũng hay giết người, cũng hay cứu người”.

Tổ Vân Môn nói : “Thuốc và bệnh hiện hữu v́ nhau, khắp cơi đất là thuốc, cái ǵ là tự kỷ ?”

Ngài Tuyết Đậu tụng rằng :

“Khắp cơi đất là thuốc

Xưa nay sao quá lầm

Đóng cửa chẳng làm xe (để dùng)

Đường thông tự trống rộng

Lầm, lầm !

Lỗ mũi xa trời cũng xuyên suốt !”.

Theo ư bài tụng ngày th́ chân dược hiện tiền ấy cũng cần mửa ra hết, huống là cái chuyện chẳng thể phân biệt của Anan !

 

Kinh : “Anan, như chỗ ông nói : Tứ Đại ḥa hợp phát hiện ra các thứ biến hóa trong thế gian. Anan, nếu các Đại ấy tánh chẳng phải ḥa hợp th́ không thể trộn lẫn với các Đại khác, cũng như hư không không thể ḥa hợp được với các sắc. Nếu tánh của các Đại là Ḥa Hợp, th́ cũng đồng như các thứ biến hoá, trước sau hóa thành lẫn nhau, sanh diệt nối nhau, sanh rồi diệt, diệt rồi sanh, sanh sanh diệt diệt như ṿng lửa quay tṛn, chưa hề ngừng nghỉ. Anan, như nước thành băng, băng trở lại thành nước.

Thông rằng : Nếu nói tứ Đại chẳng phải ḥa hợp, th́ chẳng phải nghĩa Chân Như tùy duyên, đồng như ngoan không mà thôi. Nếu nói tứ Đại nhất định phải ḥa hợp, th́ chẳng phải là nghĩa Chân Như bất biến, giống như biến hóa mà thôi. Như nước thành băng, băng trở lại thành nước, tứ Đại vốn là Như Lai Tạng Tánh, chẳng phải ngoài nước mà có băng. Nước ḥa với cái ǵ mà thành băng ? Băng ḥa với cái ǵ mà thành nước ?

Vốn chỉ là một vật, không có cái ǵ khác ḥa lẫn vào. T́m cầu tướng ḥa hợp rơ là chẳng thể có, do đó, thật chẳng phải ḥa hợp mà cũng chẳng phải không ḥa hợp. Chỉ v́ mê th́ Chân Như là bốn Đại: như nuớc thấy thành băng. Ngộ, th́ tứ Đại là Chân Như : như băng vốn là nước. Nước vốn là một mà thôi vậy.

Có vị tăng hỏi Tổ Lâm Tế : “Thế nào là bốn cảnh vô tướng ?”

Tổ Lâm Tế nói : “Ông khởi một niệm tâm Nghi, bèn bị Đất ngăn ngại. Ông khởi một niệm tâm Ái, bèn bị Nước nhận ch́m. Ông khởi một niệm tâm Sân, liền bị Lửa cháy thiêu. Ông có một niệm tâm Hỷ, liền bị Gió thổi bay. Nếu hay rơ ràng được như thế, Cảnh nào trói buộc nổi ? Chốn chốn đều dùng được Cảnh : Đông mọc Tây lặn, Nam mọc Tây ch́m, giữa nổi bên ch́m, bên nổi giữa ch́m. Đi trên nước như trên đất, vào đất như nước. Do sao mà vậy ? V́ thấu suốt bốn Đại như mộng như huyễn vậy. Này các đạo lưu ! Nay đây cái nghe pháp là ông, chẳng phải là tứ Đại của ông, mà hay dùng tứ Đại của ông. Thấy được như thế, th́ bèn đi hay ở đều tự do”.

Xem như lời Tổ Lâm Tế th́ đi đâu cũng là nước, làm ǵ có băng đâu ?

Tổ Dược Sơn nhân có thí chủ cúng dường bộ thường phục. Đưa ra trước chúng, nói rằng : “Pháp Thân có đủ bốn Đại hay không ? Nói được, th́ cho một áo lá”.

Ngài Đạo Ngô nói : “Tánh đất chẳng phải là Không. Không chẳng phải là tánh đất. Đó là Đại Địa. Ba Đại kia cũng thế”.

Tổ Sơn nói : “Cho ông một cái áo lá”.

Chỗ thấy của Ngài Đạo Ngô sao lại trái ngược với kinh này ? Thử tham xem !

 

Kinh : “Ông hăy xét cái tánh của Địa Đại : thô lớn th́ làm đất liền, nhỏ nhặt th́ làm vi trần, cho đến lân hư trần, do chia chẻ cái sắc cực vi nhỏ nhất làm bảy phần mà thành. Nếu chẻ lân hư trần nữa, th́ thật là tánh hư không.

“Anan, nếu cái lân hư trần đó chẻ ra th́ thành hư không, vậy th́ biết hư không sanh ra sắc tướng. Nay ông hỏi rằng : Do ḥa hợp mà sanh ra các tướng biến hóa trong thế gian, th́ ông hăy xét một cái lân hư trần dùng bao nhiêu hư không ḥa hợp lại mà có ? Không lẽ lân hư trần hợp lại thành lân hư trần ? Mà lân hư trần đă chẻ ra được thành hư không, th́ dùng bao nhiêu sắc tướng để hợp thành hư không ? Nếu sắc hợp lại th́ hợp sắc không thể thành hư không. Nếu hư không hợp lại, th́ hợp hư không làm sao ra thành sắc ? Sắc có thể chẻ ra được, chứ hư không làm sao mà hợp lại được?

“Ông vốn chẳng biết, trong Như Lai Tạng : Tánh Sắc là Chân Không, Tánh Không là Chân Sắc, bản nhiên thanh tịnh, tṛn khắp pháp giới, tùy tâm chúng sanh ứng ra chỗ hay biết, theo nghiệp mà hiện bày. Thế gian không biết, lầm cho là Nhân Duyên hay Tự Nhiên. Đó đều là thức tâm phân biệt, đo lường : chỉ có lời nói, danh tự, toàn không có thật nghĩa.

Thông rằng : Bài tụng Pháp Giới rằng :

“Có ai muốn biết lư Chân Không

Chân Như trong tánh hiện khắp ngoài

T́nh với vô t́nh chung một thể

Chốn chốn đều đồng Pháp Giới Chơn !”.

Đây là yếu chỉ của bảy Đại.

Chân Không là cái Thể Nhất Như vậy. Bảy Đại là cái Dụng duyên theo nghiệp vậy. Thể, Dụng không hai, nương nhau mà hiển, chẳng ĺa Diệu Tánh, nên mỗi mỗi đều là Tánh. Duy chỉ một Tánh. Không là Tánh Không, Sắc là Tánh Sắc, bèn Tức Không, Tức Sắc, đó là Diệu Hữu, đó là Diệu Chân Như Tánh vậy. Không sa vào Hữu, Vô nên nói là thanh tịnh, mà chưa từng chẳng Hữu, Vô nên gọi là Bản Nhiên. Là trong sạch, tức nhân duyên chẳng thể ô nhiễm. Là Bản Nhiên, tức chẳng phải ḥa hợp mà thành. Cái ǵ mà từ nhân duyên hay ḥa hợp sanh, đó chỉ là h́nh tướng, có nơi chốn làm sao mà đầy khắp pháp giới ? Duy chỉ chẳng từ nhân duyên hay ḥa hợp mà sanh th́ không h́nh tướng, không xứ sở nên toàn khắp pháp giới. Toàn khắp pháp giới là Tánh, th́ có ǵ chẳng phải là Thất Đại ? Toàn khắp pháp giới là Thất Đại th́ có ǵ chẳng phải là Tánh ?

Tâm Như Lai chỉ một vị Thanh Tịnh, chỉ một vị Bản Nhiên, chỉ một vị Toàn Khắp nên không thể biết, không thể lường. Tâm của chúng sanh th́ ở nơi cái Thanh Tịnh ấy lại có thời gian mà ô nhiễm. Ở trong cái Bản Nhiên ấy lại có thời gian mà chẳng như nhiên. Ở trong cái Toàn Khắp ấy, lại có thời gian mà hạn hẹp. Tùy cái tâm năng tri, xứng vừa với cái lượng sở tri. Biết cho lắm th́ tích tụ thành nghiệp, nghiệp tích tụ thành quả, có thiện, có ác mà biến tạo ra cái Y Báo, Chánh Báo mười cơi. Tâm của chúng sanh tán loạn không bờ nên nghiệp của chúng sanh cũng đầy dẫy không bờ. Tâm ấy nếu không có cái Tánh Toàn Khắp pháp giới làm Thể th́ làm sao tùy nghiệp mà phát hiện, để càng phát ra th́ càng vô cùng ư ?

Nghiệp lực của chúng sanh mỗi mỗi chẳng đồng. Nhưng đồng ở trong cái Thanh Tịnh Bổn Nhiên, một mảy lông cũng chẳng hề thêm bớt, nên nói rằng xuẩn động hàm linh đều có Phật Tánh. Thế gian mê lầm chẳng ngộ Tam Giới Duy Tâm, Vạn Pháp Duy Thức. Thế nên, ở nơi những sự việc phát hiện ra theo nghiệp, thấy ra là có nhân duyên sanh, mà làm cho là tánh nhân duyên; c̣n thấy ra là không có nhân duyên sanh th́ lầm cho là tánh Tự Nhiên. Chẳng rơ cái Thanh Tịnh Bổn Nhiên th́ sự Có Không đều ĺa, cả Nhân Duyên hay Tự Nhiên đều không có ở nơi nào để bám níu.

Nói là Nhân Duyên sanh ư ? Thế th́ lân hư duyên với cái ǵ để sanh ra hư không, hư không duyên với ǵ mà sanh ra lân hư ? Chỉ có hư không duyên với hư không, chỉ có sắc mới duyên với sắc. Dù cho lân hư chẻ ra thành hư không, th́ phải bao nhiêu hư không để hiện thành lân hư. Lân hư chẳng phải do hư không mà có, th́ hư không cũng chẳng phải nhân lân hư chẻ thành. Sắc, Không đă chẳng thể sanh lẫn nhau, th́ sự sanh ra của Đại Địa là vô tự tánh.

Thế nên, nói Nhân Duyên ḥa hợp sanh là sai lầm vậy.

Nói là Tự Nhiên sanh ư ? Hư không nào có vô cớ mà có hư không, sắc nào có vô cớ mà có sắc. Chẳng có nhân chẻ lân hư, th́ nào có thấy được hư không ? Chẳng nhân gom tụ lân hư, làm sao thành Đại Địa ? Thế th́ sự sanh ra của Đại Địa nào phải không có nguyên nhân mà tự nhiên bỗng có đâu ?

Do đó, nói Tự Nhiên sanh là sai lầm.

Cả hai thuyết đều là do Thức Tâm phân biệt suy lường, không phải Nhân Duyên mà gượng nói Nhân Duyên; không phải Tự Nhiên mà gượng cho là Tự Nhiên, chỉ là lời nói, toàn là hư luận không có căn cứ. Nào có biết rằng Như Lai Tạng Tánh chẳng có khởi lên đối với cái thấy, chẳng bám vào cái tướng. Không khởi nơi cái thấy, cho nên suy tính không thể tới nổi. Không bám nơi cái tướng nên lời nói không thể thấu đến. Đó là cái chỗ mà tâm hành xứ diệt(), ngôn ngữ hết đường”, ấy mới là Thật Tướng, mới là Đệ Nhất Nghĩa Đế vậy.

Thiền sư Tần Bạt Đà hỏi pháp sư Sanh : “Thầy giảng kinh luận ǵ ?”

Thầy Sanh đáp : “Kinh Đại Bát Nhă”.

Sư Đà nói : “Làm thế nào nói nghĩa Sắc Không ?”

Thầy Sanh đáp : “Các vi trần tụ lại là Sắc, các vi trần vô tự tánh là Không”.

Sư Đà nói : “Vi trần chưa tụ, gọi là ǵ ?”

Thầy Sanh không giăi bày được.

Thiền sư Đà lại hỏi : “C̣n giảng kinh nào khác nữa ?”

Thầy Sanh đáp : “Kinh Đại Niết Bàn”.

Sư Đà nói : “Nói nghĩa Niết Bàn như thế nào ?”

Thầy Sanh đáp : “Niết mà chẳng sanh, Bàn mà chẳng diệt, nên gọi đó là Niết Bàn”.

Sư Đà nói : “Cái ấy là Niết Bàn của Như Lai, cái ǵ là Niết Bàn của pháp sư ?”

Thầy Sanh đáp : “Nghĩa của Niết Bàn há có hai sao ? Tôi chỉ như thế này, chưa hiểu thiền sư nói Niết Bàn như thế nào ?”

Sư Đà đưa cây hốt như ư lên, rồi nói : “Thấy chăng ?”

Đáp : “Thấy”.

Sư Đà nói : “Thấy cái ǵ ?”

Đáp : “Thấy cái hốt như ư trong tay thiền sư”.

Sư Đà ném cái hốt như ư xuống đất, rồi hỏi : “Thấy không ?”

Đáp : “Thấy”.

Sư Đà nói : “Thấy cái ǵ ?”

Đáp : “Thấy cái hốt trong tay thiền sư rớt xuống đất”.

Thiền sư chê rằng : “Xem qua chỗ thấy hiểu của ông, chưa ra khỏi đám thường t́nh, sao gọi được là làm ồn náo vũ trụ()”.

Rồi phất tay áo bỏ đi.

Các đệ tử của pháp sư nghi ngờ chưa dứt, bèn chạy theo níu thiền sư Đà lại, hỏi : “Thầy tôi nói Sắc Không, Niết Bàn chẳng khế hợp, chưa rơ thiền sư nói nghĩa Sắc Không như thế nào ?”

Thiền sư Đà nói : “Ta chẳng nói thầy các con thuyết không được đúng, nhưng thầy các con chỉ nói Sắc Không trên quả vị, mà chẳng biết nói cái Sắc Không ngay chỗ nguyên nhân”.

Đệ tử thưa : “Như thế nào là Sắc Không ngay chỗ nguyên nhân ?”

Thiền sư Đà nói : “Một vi trần Không nên chúng vi trần Không, chúng vi trần Không nên một vi trần Không. Trong chúng vi trần Không, không có một vi trần”.

Đây không phải là lời thiền sư Đà đặt ra, v́ kinh nói : Một căn thanh tịnh nên các căn thanh tịnh. Các căn thanh tịnh nên một căn thanh tịnh. Trong một căn thanh tịnh không có các căn. Trong các căn thanh tịnh không có một căn.

Lấy chỗ này phát minh th́ chẳng phải khó hiểu. Bèn cùng với “Tánh Sắc Chân Không, Tánh Không Chân Sắc” chỉ ngay đường vào.

 

Kinh : “Anan, tánh Lửa vô ngă, nhờ ở các duyên mà hiệân. Ông hăy xem các nhà chưa nấu ăn ở trong thành, khi muốn nấu bếp th́ tay cầm kính dương toại đưa ra ngoài mặt trời mà cầu lửa.

“Anan, phàm gọi là Ḥa Hợp th́ như Ta, ông và một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ kheo nay hợp thành một chúng. Chúng tuy là một, nhưng gạn xét về căn bản, th́ mỗi người đều có tánh, đều có chỗ sanh, tên hiệu, họ hàng của ḿnh. Như Ông Xá Lợi Phất thuộc ḍng Bà La Môn, Ông Ưu Lâu Tần Loa th́ thuôïc ḍng Ca Diếp Ba, cho đến Ông Anan th́ thuộc ḍng Cù Đàm.

“Anan, nếu tánh Lửa nhân Ḥa Hợp mà có ra, th́ khi người kia cầm kính lấy lửa nơi ánh sáng mặt trời, lửa đó từ trong kính mà ra, do từ bùi nhùi mà có hay là từ mặt trời mà đến ?

“Anan, nếu từ mặt trời mà đến, lửa ấy đă đốt được bùi nhùi trong tay ông, th́ những rừng cây mà ánh sáng mặt trời đi qua phải bị đốt cháy cả. Nếu từ trong kính mà ra, th́ lửa ấy đă có thể từ nơi kính ra mà đốt cháy bùi nhùi, làm sao kính lại không bị chảy. Cho đến cả tay cầm kính cũng không thấy nóng, th́ làm sao kính chảy ra được. Nếu do bùi nhùi sanh ra, th́ cần ǵ ánh sáng mặt trời và kính tiếp xúc với nhau, rồi lửa mới sinh. Ông hăy xét cho kỹ : kính th́ do tay cầm, ánh sáng mặt trời th́ từ trên xuống, c̣n bùi nhùi th́ từ đất sanh, vậy lửa từ phương nào đến đây ? Mặt trời và kính xa nhau, chẳng có ḥa, chẳng có hợp không lẽ lửa kia không do đâu mà tự có ?

“Ông c̣n không biết rằng : Trong Như Lai Tạng, tánh Hỏa là Chân Không, tánh Không là Chơn Hỏa, thanh tịnh bản nhiên, toàn khắp pháp giới tùy theo tâm chúng sanh mà ứng vừa với chỗ hay biết.

“Anan, ông phải biết : Người đời cầm kính ở một chỗ th́ một chỗ lửa sanh, khắp pháp giới cầm kính th́ khắp pháp giới có lửa. Lửa khắp thế gian mà nào có nơi chốn, chỉ theo Nghiệp phát hiện. Thế gian không biết, lầm cho là tánh Nhân Duyên và tánh Tự Nhiên. Hết thảy đều là sự phân biệt, đo lường của thức tâm : chỉ có lời nói, danh tự, toàn không có thật nghĩa.

Thông rằng : Ngài Long Thắng nói : “Nếu các pháp là thật có, th́ chẳng cần dùng tâm thức mới biết là có tướng. Nếu dùng tâm thức mới biết là có, ấy là chẳng phải có. Như tướng cứng của Đất, phải dùng thân căn, thân thức mới biết là có. C̣n nếu không có thân căn, thân thức th́ không thấy có tướng cứng”.

Hỏi rằng : “Thân căn, thân thức th́ có khi cảm biết, có khi không cảm biết, c̣n đất th́ vẫn luôn luôn có tướng cứng chứ ?”

Đáp rằng : “Hoặc trước đă tự nhiễm biết cái tướng cứng, hoặc nghe người nói mới biết là có tướng cứng. Nếu trước chẳng nhiễm biết, chẳng nghe nói th́ làm ǵ có cái tướng cứng ? Lại nữa, nếu đất luôn luôn thật là tướng cứng, th́ không thể bỏ tướng cứng ấy. Nhưng như tô lạc, mật ong, nhựa cây khi nấu th́ phải bỏ cái tướng cứng mà biến thành thể lỏng. Vàng, bạc, đồng, sắt hết thảy đều như thế. C̣n nước đang ở thể lỏng, lạnh th́ chuyển thành tướng cứng là băng. Như vậy, tất cả mọi thứ mọi loại đều có thể biến đổi tướng trạng”.

Ngài lại nói : “Nếu lửa thật có tánh nóng, th́ sao có người vào lửa chẳng cháy. Trong thân cũng có lửa nóng, sao chẳng thiêu thân ? Lửa ở trong mây mà nước không diệt được. Bởi thế, lửa không có tánh nóng nhất định. V́ thần thông lực, lửa không thể cháy thân. V́ nghiệp nhân duyên, ngũ tạng không nóng. V́ lực điện trong mây, nước không diệt được. Nếu tánh nóng và lửa khác nhau, th́ lửa chắc chẳng nóng. Nếu tánh nóng và lửa là một, th́ sao c̣n gọi là nóng ? Tánh lửa như thế, các Đại khác cũng vậy”.

Như thế, tánh chung và tánh riêng đều Không, nên gọi là Tánh Không. Lấy theo Lư ấy mà suy ra tánh của Đất, Nước, Lửa th́ cũng như theo ḍng mà thấu được nguồn : tất cả đều Không.

Chỗ chỉ bày của Đức Thế Tôn là : Từ cái Tánh mà phát ra Tướng, gọi là theo Nghiệp mà phát hiện, ứng với cái lượng của Sở Tri. C̣n chỗ luận của Ngài Long Thắng là : Từ nơi Tướng mà thấu cùng đến cái Tánh, đặc biệt hiển bày cái Sắc Tâm chẳng hai vậy.

Cái kính Dương Toại cũng gọi là Ngũ Phương Chư. Sách Luận Hành chép : “Tháng Năm, ngày Bính Ngọ, giờ Ngọ làm đá Ngũ Phương tṛn như cái gương, ở giữa trũng. Soi vật th́ ảnh ngược, hướng về mặt trời th́ có lửa”.

Thế gian chỉ biết bùi nhùi, kính với mặt trời : ba cái nhân duyên ḥa hợp lại th́ lửa sanh. Chẳng biết rằng kính, bùi nhùi cùng với mặt trời đều ở xa nhau, chẳng phải Ḥa hợp nên chẳng phải là Nhân Duyên. Nếu nói bỗng nhiên tự có ra, th́ đáng lẽ chẳng cần kính hướng vào mặt trời, thế nên cũng chẳng phải Tự Nhiên. Nếu nói cả ba cái, mỗi cái đều có tánh lửa, th́ lẽ ra bùi nhùi phải tự cháy, kính phải tự chảy và chỗ ánh sáng mặt trời đi đến, như rừng cây phải bị cháy thiêu ! Cả ba cái đều không có tánh lửa, đủ biết là Hỏa Tánh vốn Không. Nhưng v́ cái sức nghiệp của ba cái mà lửa tùy theo nghiệp hiện ra. Thế mới biết, lửa có khắp thế gian là Tánh Không, nào có nơi chốn. Nên cọ xát cây th́ có lửa, đập đá là có lửa. Tất cả đều theo nghiệp mà phát hiện, chẳng riêng ở một cái kính Dương Toại, đều từ trong cái Tánh Thanh Tịnh phát khởi ra. Ngay Tánh tức là lửa, nào mượn Nhân Duyên ? Ngay lửa là Tánh, sao nói là Tự Nhiên ? Thế nên, Hỏa Đại vốn chẳng phải Nhân Duyên, chẳng phải Tự Nhiên. Tánh lửa ấy bèn chính là Thật Tướng vậy.

Tổ Tuyết Phong nhóm lửa xong, bèn chỉ ngay ngọn lửa mà khai thị cho đại chúng : “Ba đời Chư Phật đang ở trong ngọn lửa chuyển Đại Pháp Luân”.

Tổ Vân Môn nói rằng : “Ngọn lửa là ba đời Chư Phật thuyết pháp. Ba đời Chư Phật lập tức nghe”.

Tổ Huyền Sa nói : “Gần đây lệnh vua khá nghiêm ngặt !”

Tổ Tuyết Phong nói : “Là làm sao ?”

Tổ Sa nói : “Chẳng để cho trà trộn cướp đồ ngoài chợ !”

Tổ Tuyết Phong bèn le lưỡi.

Ngày nọ, Tổ Tào Sơn vào tăng đường hơ lửa.

Có vị sư nói : “Hôm nay lạnh thật”.

Tổ Sơn nói : “Nên biết có cái chẳng lạnh !”

Vị sư hỏi : “Ai là kẻ chẳng lạnh ?”

Tổ Sơn gắp lửa mà chỉ đó.

Nhà sư nói : “Chớ nói là không có người”.

Tổ Sơn ném bỏ lửa xuống.

Nhà sư nói : “Con ở trong chỗ ấy chẳng hiểu được”.

Tổ Sơn nói : “Mặt trời soi đầm lạnh, sáng ngời lại sáng ngời”.

Cổ nhân gặp cảnh th́ phát minh Một đường hướng thượng. Đó là Tánh lửa Chân Không, Tánh Không thật lửa, nơi ấy là chỗ thấu thoát chân thật.

 

Kinh : “Anan, tánh Nước chẳng định : khi chảy, khi ngừng không có chừng. Như trong thành Thất La Phiệt, các ông Tiên Ca Tỳ La, Chước Ca La và các nhà đại huyễn thuật Bát Đầu Ma, Ha Tát Đa... muốn cầu tinh Thái Âm để ḥa với các thuốc huyễn thuật, th́ các ông ấy trong lúc mặt trăng tṛn sáng, tay cầm hạt châu Phương Chư, hứng nước trong ánh mặt trăng. Vậy, nước ấy từ trong hạt châu mà ra hay ở trong hư không tự có hay từ mặt trăng đến ?

“Anan, nếu từ mặt trăng đến, th́ ở phương xa c̣n có thể làm hạt châu có ra nước, th́ ánh sáng qua những rừng cây lẽ ra đều phải có chảy nước. Có chảy nước th́ cần ǵ phải đợi hạt châu Phương Chư ? C̣n nếu không chảy nước th́ biết là nước chẳng phải từ mặt trăng xuống. Nếu từ hạt châu mà ra, th́ trong hạt châu thường phải chảy nước, sao lại phải đợi nửa đêm có mặt trăng sáng ? Nếu do hư không mà sanh, th́ hư không vô bờ bến, th́ nước cũng không có giới hạn, vậy th́ cơi người đến cơi trời đều phải ch́m ngập, làm sao c̣n các loài ? Ông hăy xét kỹ : mặt trăng từ trời chiếu xuống, hạt châu do tay cầm, c̣n cái mâm hứng nước th́ do người xếp đặt, vậy nước kia từ phương nào mà chảy đến đây ? Mặt trăng và hạt châu th́ cách xa nhau, không phải ḥa, không phải hợp, chẳng lẽ nước kia không từ đâu mà tự có ?

“Ông c̣n không biết rằng trong Như Lai Tạng, Tánh Thủy là Chân Không, Tánh Không là Chân Thủy, thanh tịnh bản nhiên, toàn khắp pháp giới tùy theo tâm chúng sanh mà ứng vừa với chỗ hay biết.

“Một chốn cầm châu th́ một chốn có nước chảy ra. Khắp pháp giới cầm hạt châu th́ khắp pháp giới nước sanh ra. Nước có khắp thế gian mà nào có nơi chốn, chỉ theo nghiệp mà phát hiện. Thế gian không biết, lầm cho là tánh Nhân Duyên hay tánh Tự Nhiên. Hết thảy đều là sự phân biệt, đo lường của thức tâm, chỉ là lời nói, danh tự toàn không có thật nghĩa.

Thông rằng : Châu Phương Chư c̣n gọi là Âm Toại, h́nh giống con ṣ. Chà cho nóng, để dưới ánh trăng sẽ sinh ra nước. Phương là đá, Chư là ngọc. Luyện nấu đá mà thành, làm vào tháng Một (Mười Một), ngày Nhâm Tư, giờ Tư.

Nước sinh ra ở hạt Phương Chư vốn chẳng phải do Ḥa Hợp, chẳng phải là Tự Nhiên th́ cũng giống như kính Dương Toại. Nhưng chỗ nói “Nếu do hư không mà sanh, th́ hư không vô biên, nước cũng không giới hạn... làm sao c̣n các loài ?” Chẳng phải là mâu thuẫn với chỗ Tánh Không Chân Thủy sao ? Bởi v́, lấy Tướng mà luận th́ có h́nh, nên nước đầy hư không mà làm đắm ch́m cả. Nhưng lấy Tánh mà luận th́ vô h́nh, nên hư không vô tận th́ nước hiện ra cũng vô tận. Câu “Tánh Thủy Chân Không” này là chỉ về tánh của tứ Đại thanh tịnh mà nói. Tánh vốn là Không, Không Không tương dung, Không Không bất nhị làm ǵ thấy có lấn đoạt lẫn nhau ?

Đoạn sau, chỗ nghi của Ông Phú Lâu Na là ở nơi Tánh mà nghi có sự lấn đoạt, chứ chẳng phải nghi ở nơi Tướng. Tướng th́ chẳng tương dung, Thế Tôn đă nói trước rồi c̣n nghi ǵ nữa !

Tổ Dược Sơn hỏi vị sư : “Từ đâu tới ?”

Đáp : “Ở Hồ Nam lại”.

Tổ Sơn hỏi : “Nước hồ Động Đ́nh đầy chưa ?”

Đáp : “Dạ, chưa”.

Tổ Sơn nói : “Mưa đă lâu, sao chưa đầy ?”

Vị sư không đáp được.

Tổ Đạo Ngô nói thay rằng : “Đầy rồi mà !”

Tổ Vân Nham nói : “Chỗ sâu xa !”

Tổ Động Sơn nói : “Trong kiếp nào mà từng có tăng, giảm ?”

Tổ Vân Môn nói : “Chỉ ở trong ấy !”

Tổ Tuyết Phong nói : “Ngồi bên rá cơm mà đói chết vô số người. Ngồi bên biển nước, khát chết vô số người !”

Tổ Huyền Sa rằng : “Ngồi trong rá cơm, đói chết vô số người. Ngập đầu trong biển nước, khát chết vô số người !”

Tổ Vân Môn : “Suốt thân là cơm, suốt thân là nước”.

Tổ Thiên Đồng nêu ra : “Ta th́ chẳng vậy, ngồi trong rá cơm, cái no làm chết vô số người. Ngập đầu trong biển nước, cái nê làm chết vô số người !”

Trước là cái họa v́ chẳng nuốt vào. Sau là cái họa v́ chẳng mửa ra. Chỉ như Ngài Vân Môn nói : Suốt thân là cơm, suốt thân là nước. Ở trong ấy th́ không c̣n chỗ nuốt vào, mửa ra. Cổ nhân cử xướng cái tánh biển thật như sóng nước trùng trùng vô tận, đến Tổ Vân Môn : “Suốt thân là nước”, lời nói mới trọn thành. Cùng với “Tánh nước Chân Không, Tánh Không thật nước, bản nhiên thanh tịnh, toàn khắp pháp giới”, thật là khế hợp. Do đó mà biết rằng lấy Ư Thức mà đo lường Tánh Không, Tánh Thủy th́ biết kêu gào mấy cho vừa.

 

Kinh : “Anan, tánh Gió không có tự thể, khi động khi tĩnh bất thường. Ông thường sửa áo, vào trong đại chúng, gấu áo Tăng Già Lê động đến người gần bên th́ có chút gió phất qua mặt người kia. Gió đó là do gấu áo cà sa mà ra, từ hư không mà phát khởi hay do mặt người kia mà sanh ?

“Anan, nếu gió ấy phát ra do gấu áo cà sa, th́ ông đă mặc cả gió, cái áo phải bay tung rời khỏi thân ông. Nay ta thuyết pháp, rủ áo ở trong hội này, ông hăy xem cái áo của Ta, gió ở nơi đâu ? Không lẽ trong áo lại có chỗ chứa gió?

“Nếu gió đó do hư không sanh ra, th́ khi áo ông không động sao gió chẳng bay phất. Tánh của hư không th́ thường c̣n, gió phải thường sanh ra. C̣n khi không có gió, hư không phải diệt mất! Gió diệt có thể thấy được, hư không diệt th́ có nghĩa ǵ ? Bởi v́ có sanh diệt, th́ đâu có gọi là hư không ? C̣n đă gọi là hư không, th́ gió ở đâu mà ra được ?

“Nếu gió ấy sanh ra do cái mặt người bị phất, th́ đă do mặt người ấy sanh ra, lẽ ra phải phất vào ông, sao tự ông sửa áo mà lại phất ngược vào người kia ?

“Ông hăy xét kỹ : sửa áo là do nơi ông, mặt thuộc về người kia, hư không lặng yên chẳng hề lay động, th́ gió từ phương nào phát động đến đây ? Tánh của gió và của hư không cách biệt, chẳng có ḥa, chẳng có hợp, không lẽ gió kia không do đâu mà tự có ?

“Ông thật không rơ rằng : Trong Như Lai Tạng, Tánh Gió là Chân Không, Tánh Không là Thật Gió, thanh tịnh bản nhiên, toàn khắp pháp giới tùy theo chúng sanh mà ứng vừa với chỗ hay biết.

“Anan, như một ḿnh ông hơi động cái áo th́ có chút gió bay ra. Khắp pháp giới đều phất, th́ khắp các quốc độ đều có gió. Phong Đại có ở cùng khắp thế gian mà không có nơi chốn, chỉ theo Nghiệp mà phát hiện. Thế gian không biết, lầm cho là tánh Nhân Duyên hay tánh Tự Nhiên. Hết thảy đều là những phân biệt, đo lường của thức tâm, chỉ có lời nói, danh tự toàn không có thật nghĩa.

Thông rằng : “Ông tự sửa áo mà áo không bay mất. Cái mặt thuộc người kia mà gió chẳng phất ngược lại. Hư không lặng yên, chẳng theo gió mà có sanh có diệt”. Ba cái ấy chẳng can dự ǵ tánh lưu động của gió, th́ cái ǵ mà cho là ḥa hợp ? Chẳng lẽ gió không đâu mà có ra, sao gọi là Tự Nhiên ? Bởi v́ Gió tức là Tánh, Tánh tức là Gió vậy. Chỉ theo nghiệp mà phát hiện ra, như áo động th́ có gió sinh. Tánh cùng khắp pháp giới, th́ gió cũng cùng khắp pháp giới, nên cùng gọi là Đại (lớn).

Nho gia nói Khôn là Đất, Khảm là Nước, Ly là Lửa. Tốn là Gió. Tất cả không ra ngoài Âm Dương. Âm Dương từ đâu sanh ra ? Từ trong Động Tĩnh của Thái Cực sanh ra vậy. Mỗi vật đều đầy đủ một Thái Cực. Vạn vật đều suốt một thể Thái Cực. Chưa từng chẳng phải tức Lư là Sự, tức Sự là Lư. Nhưng mà ngộ Tâm là Thái Cực th́ ít có thay ! Đă ngộ Tâm là Thái Cực, dưới trời đâu có cái vật ở ngoài Tâm ư ?

Tổ Ma Cốc đang quạt, có nhà sư hỏi : “Tánh của gió thường trụ, không nơi nào chẳng khắp, Ḥa Thượng c̣n động quạt làm ǵ ?”

Tổ Cốc nói : “Ông chỉ biết “Tánh gió thường trụ”, mà không biết chuyện không đâu chẳng khắp”.

Nhà sư nói : “Sao là không đâu chẳng khắp ?”

Tổ Cốc lại phẩy quạt.

Nhà sư làm lễ.

Tổ Cốc nói : “Cái ông sư không có chỗ dùng, dẫu có ngàn ông th́ có ích ǵ !”

Lại Tổ Nam Tuyền hỏi nhà sư : “Đêm qua gió mạnh, nhỉ ?”

Nhà sư đáp : “Đêm qua gió mạnh”.

Tổ Tuyền nói : “Thổi găy một cành tùng trước cửa !”

Sư nói : “Thổi găy một cành tùng trước cửa”.

Tổ Nam Tuyền lại hỏi một nhà sư khác : “Đêm qua gió mạnh, nhỉ ?”

Nhà sư nói : “Là ngọn gió nào ?”

Tổ Tuyền nói : “Thổi găy một cành tùng trước cửa !”

Nhà sư nói : “Là cây tùng nào ?”

Tổ Tuyền nói : “Một được, một mất”.

Căn cứ vào chỗ đáp của hai vị tăng th́ đều có hơi thở thiền tăng. Sao Ngài Nam Tuyền lại nói một được, một mất ? Nếu định ngay ra được, mới cho là tự ḿnh thấy Nam Tuyền.

 

Kinh : “Anan, hư không không có h́nh, nhân sắc mà hiển ra. Như trong thành Thất La Phiệt là chỗ xa sông, những người ḍng Sát Lỵ, ḍng Bà La Môn, ḍng Tỳ Xá, ḍng Thủ Đà hay ḍng Phả La Đọa, ḍng Chiên Đà La... Khi dựng nhà mới th́ đào giếng để lấy nước. Đào lên một thước đất, th́ trong đó có một thước hư không, như vậy cho đến đào lên được một trượng, th́ trong đó lại được một trượng hư không. Hư không sâu hay cạn tùy theo đào lên nhiều hay ít. Hư không đó, do đất mà ra, nhân đào mà có hay không nhân ǵ mà tự sanh ?

“Anan, hư không đó không do ǵ mà tự sanh, th́ trước khi chưa đào đất, sao chỗ ấy lại không trống rỗng, mà chỉ thấy là đất, chẳng có ǵ thông suốt. Nếu nhân đất mà ra, th́ khi đất được moi ra phải thấy có hư không vào. Nếu đất ra trước mà không thấy hư không vào, làm sao nói là hư không nhân đất mà ra ? C̣n nếu không ra, không vào th́ hư không với đất vốn không khác nguyên nhân. Không khác tức là đồng, th́ khi đất ra, hư không sao chẳng có ra ? Nếu nhân đào mà ra, th́ đào phải có ra hư không chớ chẳng phải ra đất. Nếu chẳng nhân đào mà có ra, khi tự đào th́ ra đất, sao lại thấy hư không ?

“Ông hăy xét xem, xét kỹ, xem kỹ : sự đào do từ tay người chuyển vận theo phương hướng, đất th́ từ nơi mặt đất mà dời đi, như thế hư không nhân đâu mà có ra ? Sự đào và hư không: một cái thật, một cái hư, không tác dụng ǵ với nhau, chẳng phải ḥa, chẳng phải hợp, chẳng lẽ hư không không do đâu mà tự có ra ?

“Nếu hư không đó bản tánh tṛn đầy toàn khắp, vốn chẳng hề lay động th́ phải biết rằng hiện giờ ngay trước mặt đây : Hư Không và Địa, Thủy, Hỏa, Phong đều gọi là năm Đại, bản tánh vốn chân thật, viên dung, đều là Như Lai Tạng, vốn không sanh diệt.

“Anan, tâm ông mê muội, chẳng ngộ bốn Đại vốn là Như Lai Tạng. Phải nh́n ngay hư không là ra, là vào hay chẳng phải ra, vào. Ông hoàn toàn không biết trong Như Lai Tạng : Tánh Giác là Chân Không, Tánh Không là Chân Giác, thanh tịnh bản nhiên, toàn khắp pháp giới tùy theo tâm chúng sanh mà ứng với lượng hay biết.

“Anan, như một cái giếng trống không th́ hư không có trong một cái giếng, mười phương hư không th́ cũng như vậy. Không Đại tṛn đầy khắp mười phương, thật không nơi chốn, theo nghiệp mà phát hiện. Thế gian không biết, lầm cho đó là tánh Nhân Duyên hay tánh Tự Nhiên. Hết thảy đều là những phân biệt, đo lường của tâm thức, chỉ có lời nói, danh từ toàn không có thật nghĩa.

Thông rằng : Hư không chẳng có h́nh, sao có ra, vào ? Chỉ bởi sắc hiện bày mà biết có hư không : có sắc th́ chẳng phải là hư không, không có sắc tức là hư không. Sắc có đến, đi; hư không chẳng hề khởi, diệt. Khi tứ Đại diệt, hư không chẳng phải lúc ấy mới có. Bốn Đại có đến-đi, hư không vốn chẳng hề ra-vào. Tánh hư không tṛn khắp cũng dễ hiểu, bốn Đại Chân Không cũng giống như vậy. Khi chưa tùy theo nghiệp th́ thanh tịnh bản nhiên, toàn khắp pháp giới, vốn chưa hề không có. Khi đă theo nghiệp phát hiện rồi, tùy cảm tùy ứng mà đầy khắp thế gian th́ cũng không phải lúc ấy mới có. Tướng có sanh diệt, Tánh không sanh diệt. Có sanh diệt, th́ chẳng có Toàn Khắp. C̣n cái Toàn Khắp th́ tự nó không có sanh diệt, gọi đó là Như Lai Tạng, không từ đâu đến, không đi về đâu, há lại có sanh tử ở trong ấy ư ?

Nói về cái ngoan không() th́ tuy không có ra vào, nhưng cũng là sanh diệt. Như sau này có nói “Hư Không sanh trong cái Đại Giác như một cái bọt sinh ra trong biển cả... Mười phương hư không cũng đều tiêu mất, chỉ duy cái Chân Không là Chân Giác vốn không sanh diệt”.

Ở bốn Đại trước th́ nói Chân Sắc, Chân Hỏa, Chân Thủy, Chân Phong đều dùng chữ Chân. Sau th́ nói “Bốn Đại thanh tịnh” là đều nói trong Tánh. Không giữ lấy Tướng, bèn là “Tánh Chân Thật, viên dung đều là Như Lai Tạng, vốn không sanh diệt”. Thật rành rành tự tánh Chân Thật mà nói. Nếu các tướng hữu t́nh, làm sao mà viên dung vô ngại ? Nói là Dung, th́ “tức Sắc tức Không, tức Không tức Sắc”, chẳng hề thấy có dấu vết của ngũ Đại, duy chỉ thuần nhất một cái Không. Nói là Viên, th́ “Không chẳng ngại Sắc, Sắc chẳng ngại Không”, ngũ Đại đắp đổi lẫn nhau, hiển xuất vô cùng mà chẳng rời Nhất Chân vậy.

Trước th́ lấy tứ Đại mà dung hội Chân Không. Đây th́ lấy Chân Không tan về Chân Giác. Rơ ràng cái gọi là Chân Không tức là Chân Giác, cái ngoan không làm sao so sánh được.

Thiền sư Hoàng Long Tổ Tâm thượng đường rằng : “Tâm đồng Hư Không giới, b́nh đẳng với Tánh Không. Chứng đắc Tánh Không bèn không có pháp nào phải, trái. Cứ như thế mà ngơi nghỉ. Dừng chèo, thả neo về bến đậu thuyền. Cứ theo như môn đệ của lăo tăng th́ trời đất cách riêng không dính. Nói thử môn đệ của lăo tăng có chỗ nào kỳ đặc :

“Vác ngang ngọn lược chẳng đoái người

Thẳng vào ngàn muôn đỉnh núi đi”.

Lại có Ông Hồ Đinh Giao tham lễ Tổ Bửu Thọ.

Tổ hỏi : “Chẳng phải là Hồ Đinh Giao() ư ?”

Ông Hồ trả lời : “Không dám”.

Tổ Tho nói : “Có đóng được hư không chăng ?”

Ông Hồ nói : “Xin Ḥa Thượng đả phá cho !”

Tổ Thọ bèn đánh.

Ông Hồ chẳng kham được ư chỉ ấy.

Tổ Thọ nói : “Về sau sẽ có ông thầy lắm lời v́ ông mà chỉ cho chỗ này”.

Sau, Ông Hồ đến tham Ngài Triệu Châu.

Tổ hỏi : “Chẳng phải là Hồ Đinh Giao ư ?”

Ông Hồ nói : “Không dám”.

Tổ Châu hỏi : “Có đóng được hư không chăng ?”

Ông Hồ đáp : “Xin Ḥa Thượng đả phá cho !”

Tổ Châu nói : “Hăy đóng vào một đường giáp nối ấy !”

Ông Hồ bèn kể chuyện bị gậy của Tổ Bửu Thọ.

Rồi hỏi : “Không rơ lỗi ở chỗ nào ?”

Tổ Châu nói : “Chỉ một đường giáp nối ấy c̣n chẳng biết làm sao, lại c̣n bảo người đả phá hư không !”

Nhân đó, Tổ nói thay : “Hăy đóng vào một đường giáp nối ấy !”

Tổ Châu lại nói : “Ta nói như thế th́ đối cùng với Ông Bửu Thọ kia thật là ngàn dặm muôn dặm”.

Ông Hồ bèn có chỗ thức tỉnh.

Hợp hai tắc mà xét, th́ chứng đắc hư không cũng chẳng đúng, mà đả phá hư không cũng chẳng đúng. Vậy, thế nào mà thoát thân ? Tham đi !

 

Kinh : “Anan, cái biết của Kiến Đại nhân Sắc Không mà có, ngoài ra là chẳng biết. Như hiện nay ông ở trong rừng Kỳ Đà, sớm mai th́ sáng, chiều th́ thấy tối. Đến lúc nửa đêm có trăng th́ sáng, không trăng th́ tối. Những tướng sáng, tối ấy do cái Thấy phân tích ra. Cái Thấy ấy với cái tướng sáng, tối và cả hư không là đồng một thể hay chẳng đồng một thể ? Hay vừa đồng vừa chẳng đồng, vừa khác vừa chẳng khác?

“Anan, nếu cái Thấy đó cùng với sáng, tối và hư không vốn là một thể, th́ sáng và tối tiêu diệt lẫn nhau. Khi tối th́ không sáng, khi sáng th́ không tối. Nếu cái Thấy cùng một thể với cái tối, th́ khi sáng cái Thấy phải tiêu mất. Nếu cùng một thể với cái sáng, th́ đến khi tối cái Thấy phải diệt. Làm sao c̣n thấy được sáng, thấy được tối. C̣n như sáng và tối khác nhau, cái Thấy th́ không sanh diệt, th́ làm sao đồng một thể được ?

“Nếu cái Thấy đó không đồng một thể với cái sáng và cái tối th́ ĺa ngoài cái sáng, cái tối và hư không ông hăy phân tích cái Thấy có h́nh tướng ǵ ? Ĺa ngoài cái sáng, tối và hư không, cái Thấy đó cũng đồng là lông rùa, sừng thỏ. Nếu cả ba cái sáng, tối và hư không hoàn toàn khác nhau, th́ đo đâu mà lập thành cái Thấy ?

“Sáng và tối trái ngược lẫn nhau làm sao đồng được ! Ĺa ngoài ba cái sáng, tối và hư không, cái Thấy vốn chẳng có ǵ, th́ làm sao khác được ? Cái phần của hư không hay cái phần của cái Thấy vốn không bờ mé, sao lại chẳng đồng ! Thấy cái tối, thấy cái sáng, tánh không dời đổi làm sao lại chẳng khác !

“Ông hăy xét kỹ, suy xét tinh vi, xem cho kỹ, thấy cho cùng : Sáng do mặt trời, tối từ đêm đen, thông thuộc về hư không, bít thuộc về đại địa, th́ cái Thấy như thế nhân đâu mà có ? Cái Thấy th́ có biết, hư không th́ vô tri, không phải ḥa không phải hợp, chẳng lẽ cái Thấy không do đâu mà có ?

“Như sự Thấy, Nghe, Hay, Biết tánh nó đầy đủ toàn khắp, vốn chẳng động lay. Nên phải biết : Kiến Đại cùng với hư không vô biên, bất động cùng vốn bốn Đại Địa, Thủy, Hỏa, Phong có lay động đều gọi là sáu Đại, bản Tánh Chân Thật Viên Dung, đều là Như Lai Tạng, vốn không sanh diệt.

“Anan, tánh ông trôi ch́m, không ngộ cái Thấy, Nghe, Hay, Biết của ông vốn là Như Lai Tạng. Ông hăy nh́n xem cái Thấy, Nghe, Hay, Biết này là sanh là diệt, là đồng là khác, là chẳng sanh diệt, là chẳng đồng, khác ?

“Ông nào có biết, trong Như Lai Tạng cái Thấy là Tánh Minh Giác, Tánh Minh Giác hiển lộ ra thành cái Thấy, thanh tịnh bản nhiên, toàn khắp pháp giới tùy theo tâm chúng sanh mà ứng với lượng hay biết.

“Như một cái Căn Thấy thấy khắp Pháp Giới, th́ cái Biết Nghe, Biết Ngửi, Biết Nếm, Biết Cảm Xúc, Biết các pháp đều là cái Diệu Đức sáng rỡ toàn khắp pháp giới, tṛn đầy cả mười phương hư không, nào có riêng nơi chốn. Chỉ tùy nghiệp hiện bày, thế gian lại không biết lầm cho là tánh Nhân Duyên hay tánh Tự Nhiên. Hết thảy đều chỉ là sự phân biệt, đo lường của thức tâm : chỉ có danh tự, lời nói, toàn không có thật nghĩa.

Thông rằng : Năm Đại Địa, Thủy, Hỏa, Phong và Không ở trước th́ đủ cả sáu trần : Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc và Pháp, gọi là Tướng Phần. Nay là sáu căn Thấy, Nghe, Hay và Biết cũng đều do bốn Đại trong sạch hợp thành. Phàm nhân có Sắc Không trước mắt, đối cảnh tức biết, chưa nhập vào sự phân biệt của năm Thức trước, đó gọi là Kiến Phần. Do đó, lấy Kiến Đại mà gồm chung.

Như một cái Căn Thấy thấy khắp pháp giới, th́ cái Biết Nghe, Biết Ngửi, Biết Nếm, Biết Xúc, Biết Pháp cũng toàn khắp pháp giới, Diệu Đức rỡ ràng vậy. Sao đều gọi là Diệu ? Có H́nh bèn là Thấy, có Tiếng là Nghe, chẳng gấp mà lẹ, chẳng đi mà đến, không do nghĩ toan, chẳng bởi xếp đặt nên gọi là Diệu.

Cái Kiến Đại này không có tự thể, chỉ nhân cảnh mà có. Cảnh trước mặt nếu không có, cái Thấy cũng chẳng sanh. Há có một thể hay nhiều thể để cùng cảnh mà ĺa mà hợp, để có thể luận là đồng, là khác theo tứ cú ư ? Sự lập luận của tứ cú() đều là hư luận vậy.

Thế nên, sáng, tối, thông, bít thay nhau ở trước mắt cũng như Địa, Thủy, Hỏa, Phong thay nhau giữa hư không. Cảnh có sanh diệt, cái Thấy không sanh diệt. Cảnh có động lay, cái Thấy không hề lay động. Nó toàn khắp pháp giới, cùng hư không chẳng hai. Nhưng cái Thấy th́ có hay biết, ngoan không th́ vô tri chẳng thể ḥa hợp. Cái Giác tức là Không, gọi là Chân Không. Cái ngoan không th́ sanh diệt, Chân Không nào có sanh diệt. Cái ngoan không sanh diệt ở trong Tánh Chân Giác cũng như bốn Đại sanh diệt trong hư không. Hư không cùng bốn Đại không thể lấy sự sanh diệt, đồng khác mà luận. Thế th́ Kiến Đại đối với Sắc Không sao có thể lấy sự sanh diệt, đồng khác mà xem thấy được ư ?

Phàm nói là sanh diệt, đồng khác đều là thuộc về Vọng Trần. Phàm nói chẳng phải sanh, chẳng phải diệt, chẳng phải đồng, chẳng phải khác đều thuộc về Vọng Kế. Chỉ ở nơi Cảnh mà phân biện, chẳng ở nơi Tánh mà phân minh : đó là hư luận. Nếu ở nơi Tánh mà phân biện, th́ cái Thấy này duyên với Tánh Cảnh, như mặt trăng thứ hai, không ĺa mặt trăng thật.

Tánh phát ra mà thành cái Thấy, tức là cái Chân Giác phát ra mà làm cái Sáng. Giác là cái Thể hằng sáng của cái Thấy. Cái Sáng là Dụng của cái Thấy. Như đèn có ánh sáng : đèn là cái Thể của sự chiếu sáng, ánh sáng là cái Dụng của sự chiếu sáng. Tức Thấy là Giác, tức Giác là Không. Vốn không nhiễm ô, nên nói là Thanh Tịnh. Vốn không tạo tác, nên nói là Bổn Nhiên. Vốn không nơi chốn, nên nói là Toàn Khắp.

Theo Tam Thân mà luận, th́ Thanh Tịnh là Pháp Thân. Bổn Nhiên là Báo Thân, Toàn Khắp là Hóa Thân. Theo Ba Đức mà luận, Thanh Tịnh là Lư, Bổn Nhiên là Trí, Toàn Khắp là Hạnh. Hợp cả ba mà dung nhiếp th́ đưa lên một tức cả ba, đưa lên ba tức là một. Khi chưa cảm ứng th́ thanh tịnh bản nhiên, toàn khắp pháp giới, cái Thấy này không thể nói được là không. Khi có cảm ứng, Diệu Đức sáng rỡ, toàn khắp pháp giới, cái Thấy này chẳng vướng nơi có. Sáu Căn thanh tịnh, tṛn đầy mười phương hư không, nên thấy trăm cơi Phật, thấy ngàn cơi Phật, thấy toàn khắp pháp giới, mới là tṛn vẹn cái lượng thanh tịnh. C̣n chẳng như thế, cũng ứng với cái chỗ thấy tiết hạn hẹp, chỉ theo nghiệp có hiện ra mà thôi.

Sau có nói “Ông phát minh ra theo cái Không, th́ có cái hư không hiện. Địa, Thủy, Hỏa, Phong mỗi mỗi đều phát minh ra, th́ mỗi mỗi đều hiện. Các cái ấy là các thứ ứng ra theo Sở Tri Lượng vậy”. Bỏ Giác mà hợp với Trần, th́ phát sanh trần lao. Ngược Trần hợp Giác, th́ thấy rơ Chân Như. Thế cũng là sự theo nghiệp phát hiện vậy. Cái Tánh Giác Minh không có sự làm, không có sự tạo, không có người nhận lănh, nghiệp thiện nghiệp ác cũng đều dứt bặt. Cái Ấy, đó là Như Lai Tạng.

Ông Quan Cung Phụng là Hạo Nguyệt hỏi Tổ Trường Sa Cấm rằng : “Con trùn đứt làm hai đoạn, hai đầu đều cử động, chưa rơ Phật Tánh ở đầu nào ?”

Tổ Sa nói : “Động và Bất Động, đó là cảnh giới nào ?”

Ông Nguyệt nói : “Lời nói không liên quan đến kinh điển, chẳng phải là chỗ đàm luận của người Trí. Như lời Ḥa Thượng nói : Động cùng Bất Động, đó là cảnh giới nào ? Từ kinh nào mà đem ra vậy ?”

Tổ Sa nói : “Hẳn nhiên, nói mà không có kinh điển chẳng phải là chỗ đàm luận của người Trí. Ông không thấy kinh Thủ Lăng Nghiêm nói rằng “Phải biết mười phương vô biên bất động hư không, cùng với bốn Đại Đất, Nước, Lửa, Gió động lay kia đều gọi là sáu Đại, Tánh vốn Chân Thật, Viên Dung đều là Như Lai Tạng, vốn không sanh diệt” đó sao ?”

Bèn khai thị một bài kệ :

“Rất sâu xa, rất sâu xa

Pháp giới, thân này ấy tức Tâm

Mê ấy, mê tâm làm các sắc

Ngộ th́ cảnh cảnh chính Chân Tâm

Thân, cảnh hai trần không thực tướng

Thấu rơ chỗ này gọi tri âm”.

Tổ Trường Sa khéo thuyết Lăng Nghiêm, đến chỗ nói là căn thân và thế giới hai trần không thực tướng th́ trong không thấy có Căn Năng Kiến, ngoài không có Cảnh Sở Kiến. Năng, Sở đều Không, t́m cái Thấy rốt là không thể đắc, c̣n chỗ nào để nói sanh diệt, đồng dị ư ?

 

Kinh : “Anan, tánh của Thức không có nguồn gốc, nhân nơi sáu thứ Căn và Trần mà hư vọng hiện ra. Nay ông hăy xem khắp Thánh chúng trong hội này, lấy con mắt lướt qua. Mắt ông trông khắp, chỉ như cái gương, không phân tích riêng biệt. Cái Thức của ông ở trong đó, lần lượt chỉ ra đây là Văn Thù, đây là Phú Lâu Na, đây là Mục Kiền Liên, đây là Tu Bồ Đề, đây là Xá Lợi Phất. Cái Thức Nhận Biết ấy sanh ra do cái thấy, sanh ra do các tướng, do nơi hư không hay không nhân cái ǵ, bỗng nhiên mà hiện ?

“Anan, nếu cái Thức của ông sanh ra do cái Thấy, th́ như không có các tướng sáng, tối và Sắc Không th́ không có cái Thấy của ông. Cái Thấy c̣n không có, do đâu mà có ra cái Thức ? Nếu cái Thức của ông sanh ra do các tướng, chứ không do cái Thấy, th́ không thấy được cái sáng cũng chẳng thấy được cái tối. Sáng tối đă không thấy th́ cũng không có Sắc Không. Các tướng kia c̣n không có th́ cái Thức do đâu mà phát sanh ? Nếu cái Thức ấy sanh do nơi hư không, không phải do tướng hay do cái Thấy, ngoài cái Thấy, th́ không thể phân biệt, chẳng có thể tự biết được các tướng sáng, tối, sắc, không. Ngoài các tướng th́ không c̣n các duyên, th́ cái Thấy, Nghe, Hay, Biết do đâu mà thành lập. Cả hai thứ : cái Thấy và sắc trần đều chẳng phải, nếu là Không th́ đồng với không có ǵ hết, c̣n nếu là Có th́ cũng chẳng phải đồng với vật, dầu cho có phát ra cái Thức của ông, th́ phân biệt cái ǵ ?

“Nếu cái Thức không nhân ǵ mà bỗng nhiên phát ra, th́ tại sao giữa trưa lại không riêng biết để có ra mặt trăng sáng ?

“Ông hăy kỹ càng, suy xét chín chắn : cái Thấy gá vào mắt của ông, các tướng trả về cho trần cảnh, cái ǵ có thể h́nh trạng ra được th́ mới thành Có, cái ǵ không h́nh tướng th́ thành ra Không, c̣n cái Thức như thế do đâu mà ra ? Cái Thức động, cái Thấy lặng yên, chẳng phải Ḥa chẳng phải Hợp. Cho đến với các sự Nghe, Ngửi, Hay, Biết cũng đều như vậy. Không lẽ cái Thức không do đâu mà tự có ra ?

“Nếu cái Thức đó vốn không do đâu, th́ nên biết rằng : cái Thức Đại và cái Kiến Đại Thấy, Nghe, Hay, Biết tṛn đầy, vắng lặng, bản tánh không do đâu mà có, cùng với hư không và Địa, Thủy, Hỏa, Phong đều gọi là bảy Đại, Tánh Chân Thật, Viên Dung đều là Như Lai Tạng, vốn không sanh diệt.

“Anan, tâm ông thô phù, không ngộ được cái Thức hay biết các điều thấy, nghe vốn là Như Lai Tạng. Ông hăy nh́n xem sáu cái Thức là do Đồng hay Khác, là Không hay Có, là không phải Đồng, Khác, hay không phải Không Có. Ông vốn không biết trong Như Lai Tạng, cái Thức là Tánh Giác Minh. Tánh Giác Minh là Chân Thức, là cái Biết nhiệm mầu vắng lặng toàn khắp pháp giới, ngậm chứa và nhả ra mười phương hư không, nào có nơi chốn. Chỉ tùy theo nghiệp mà hiện bày ra, thế gian không biết lầm cho là tánh Nhân Duyên hay tánh Tự Nhiên, đều là sự phân biệt, so lường của thức tâm : chỉ có lời nói, danh tự, toàn không có thật nghĩa.

Thông rằng : Nói Đất, Nước, Lửa, Gió nương nơi hư không, là tánh năm Đại của thế giới, gọi là Tướng Phần. Nói Thấy, Nghe, Hay, Biết nương vào nơi Thức, là tánh năm Đại của Căn Thân, gọi là Kiến Phần. Kiến Phần và Tướng Phần đều từ Thức Thứ Tám sanh khởi, cho nên Thức Thứ Tám vắng lặng như nhiên, th́ gọi đó là Diệu Giác, là Như Lai Tạng.

Nay lấy năm Thức trước làm Kiến Đại, đó là chỗ gọi Tánh Cảnh thuộc Hiện Lượng. Lấy Thức Thứ Sáu làm Thức Đại, đó là chỗ gọi Phân Biệt Sự Thức, thuộc về Tỷ Lượng hay Phi Lượng. Hàng Nhị Thừa v́ không biết có Thức Thứ Bảy và Thức Thứ Tám, lấy cái này cho là chủ nhân ông, cho là gây ra nghiệp lành nghiệp dữ và nghiệp vô lậu. Thế nên, năm Thức trước th́ không có phân biệt, đến Thức Thứ Sáu mới có thể phân biệt. Vậy nên ở đoạn kinh này có nói “Cái Thức th́ động, cái Thấy th́ lặng yên”. Đó chỉ là cái Thức này, chẳng sanh do cái Thấy, chẳng sanh từ các tướng, chẳng sanh do nơi hư không, chẳng phải Nhân Duyên sanh, chẳng phải không nguyên nhân mà bỗng nhiên tự có, chẳng phải Tự Nhiên sanh ! Cái Thức Thứ Sáu này đủ cả ba tánh thiện, ác và vô kư với cái Kiến Đại của sáu căn ở trước mỗi cái đều có chủng tử và hiện hành, vốn chẳng phải Ḥa, chẳng phải Hợp, cả ba cái ấy đồng là chẳng phải, rốt ráo là không chỗ nương. Thức này do từ đâu mà đến ư ? Nếu sanh từ nơi cái Thấy, sanh từ các Tướng, sanh nơi Hư Không th́ đă có chỗ từ đó mà đến. Đă có chỗ từ đó mà đến, bèn có nơi chốn, th́ chẳng toàn khắp. Chỉ là không từ đâu, không từ Không đến, không từ Có đến, tức là Tánh không có chỗ từ đâu : vốn không có bờ cơi, vốn tự tṛn đầy, toàn khắp. Cho nên cái Phân Biệt Sự Thức này cùng với hai cái Kiến Phần và Tướng Phần đều gọi là Thất Đại. Thức này rốt là vắng lặng, tức là hợp với Thức Thứ Tám, gọi là Như Lai Tạng.

Nếu Thức Thứ Sáu hợp với Trần, tức là Đồng, là Có. Ĺa khỏi Trần, tức là Khác, là Không. Chẳng phải Hợp, chẳng phải Ĺa, không c̣n mảy dấu vết có thể t́m được, mới được gọi là vắng lặng, như nhiên. Cái Thức vắng lặng như nhiên này sao lại gọi là Tánh của Thức, là Thức Chân Thật ? V́ từ cái Minh mà biết, chẳng phải từ T́nh khởi ra. Cái Thức này từ trong Chân Tánh, Chân Giác mà lưu xuất, Thức bèn là Tánh vậy, Thức bèn là Giác vậy. Đó gọi là chuyển Thức Thứ Tám thành Đại Viên Cảnh Trí.

Cái Minh Tri của Tánh Thức này là Chân Thức của Tánh Giác Minh. Như sau có nói Diệu Minh, Minh Diệu, cũng gọi là Diệu Giác vắng lặng như nhiên, toàn khắp pháp giới. Sáu Đại trước th́ gọi là thanh tịnh bản nhiên, chỉ có Đại này gọi là Diệu Giác Trạm Nhiên, xét với Đẳng Giác, Diệu Giác có chỗ phân biệt vi tế. Sáu Đại trước th́ nói “Tṛn đầy khắp mười phương”, như là nghĩa Xứng Tánh. C̣n Thức Đại này th́ nói “Ngậm chứa và nhả ra mười phương hư không”, như là nghĩa Phát Khởi”. Thức Tánh không có nguồn mà hay làm nguồn cho muôn pháp. Phàm ở trước nói là Như Lai Tạng đều quy về đây vậy.

Ở Không Đại th́ nói “Tâm ông hôn mê”, v́ mê bốn Đại và Hư Không khác nhau, vốn không biết Tánh của Hư Không là Giác.

Ở Kiến Đại th́ nói “Tánh ông ch́m đắm”, v́ theo trần trôi chảy không quay trở lại, không biết Kiến Đại là Giác mà bất động.

Ở Thức Đại th́ nói “Tâm ông thô phù”, tức là Thức tiềm tàng ở trong, phù là chỉ nhận phù căn, thô v́ không đạt đến nguồn gốc của Thức.

Năm Ấm là thuộc về Mười Tám Giới, ở đây chỉ nói về Thức, v́ trong Như Lai Tạng vốn chẳng sanh chẳng diệt, cùng ḥa hợp với cái sanh diệt mà thành Thức A Lại Da. Nếu rốt ráo quay về cái Bất Sanh Bất Diệt, th́ gọi là Thức Thứ Chín, tức Thức là Tánh vậy. Chẳng thể rốt ráo mà c̣n chút ít sanh diệt, th́ tuy là lặng trong không sóng cũng chỉ là Thức mà chẳng phải Tánh. Người thấy Tánh th́ chẳng mê nơi Thức, nên an trụ nhiệm mầu nơi cái Tâm Ngộ vậy.

Tổ Bửu Thọ thượng đường nói : “Tam giới Duy Tâm, vạn pháp Duy Thức. Ngoài hiên mây sanh, trước rèm mưa giọt, khe suối trong như lam, hoa đồng nở như gấm. Giờ đây mà chẳng xét căn nguyên. Trễ nải mai kia hỏi Di Lặc. Hiểu chăng ? Đừng có đứng lâu cho mệt”.

Tổ Đơn Hà tụng rằng :

“Linh nhiên chẳng dính cổ hay kim

Tam giới đều trong một điểm Tâm

Ngoài hiên hoa đào, xuân bướm múa

Trước cửa dương liễu rực, oanh ca”.

Sách Duy Tâm Quyết nói rằng : Cây sườn núi trước sân mỗi mỗi đều trổi bày cái tướng nhiệm mầu của Vô Biên. Vượn hú, chim kêu đều cùng nhau phát lên tiếng vẹn tṛn của Bất Nhị”.

Có ngộ được chỗ này mới tin được là khắp đại địa không có chỗ nào chẳng phải là thuốc, đâu chỉ ở trong Thất Đại mà thôi đâu ? Chẳng được như thế, có nhập Lư, luận đàm sâu xa th́ cũng đổi ra thành thuốc độc ! Đâu phải chỉ có Nhân Duyên, Tự Nhiên mới là hư luận !

Có nhà sư hỏi Tổ Dược Sơn : “Chuyện ḿnh chưa rơ, xin Ḥa Thượng chỉ bày”.

Tổ Sơn nói : “Ta nay v́ ông mà nói một câu th́ cũng không khó. Chỉ như ông nay dưới lời nói mà thấy được th́ c̣n có đôi chút rơ ràng. C̣n nếu rơi vào suy lường, th́ thành ra tội lỗi của ta. Chi bằng ai nấy ngậm miệng, khỏi làm lụy đến nhau”.

Thế, mới biết cái thức tâm đo lường ṃ mẫm th́ với đạo ngày càng đi xa. Chỉ dùng lời nói th́ chẳng phải là Thật Nghĩa.

 

II. ĐỐN NGỘ PHÁP THÂN VÀ PHÁT NGUYỆN

Kinh : Lúc bấy giờ, Ông Anan và cả đại chúng nhờ Phật Như Lai vi diệu chỉ bày, thân tâm rỗng rang, không ǵ chướng ngại. Cả đại chúng ấy, mỗi người đều tự biết Tâm đầy khắp mười phương. Thấy mười phương Không như xem chiếc lá trong bàn tay, tất cả thế gian, hết thảy vật ǵ cũng đều là Bồ Đề Diệu Minh Nguyên Tâm. Tâm Tánh tṛn khắp, trùm chứa cả mười phương cơi nước. Nh́n trở lại cái thân cha mẹ sanh ra, như một hạt bụi trong hư không mười phương, như c̣n như mất. Như biển lớn lặng trong, nổi trôi một bọt nước, khởi diệt chẳng màng. Rơ ràng tự biết, vào được cái Tâm nhiệm mầu xưa nay, thường trụ bất diệt.

Được cái chưa từng có, bèn chấp tay lễ Phật, đối trước Như Lai, nói lên bài kệ xưng tán bậc Giác Ngộ.

Thông rằng : Tâm Tánh tṛn khắp, hết thảy mười phương đều bao trùm trong đó, Tâm Lượng rộng lớn vô biên, nên tự nó như thế. Cho đến thấy mười phương Không như vật trong bàn tay, trong đó có cả Thân Chánh Báo và hết thảy vi trần, đó cũng mới là Hội Vọng Về Chân, dường c̣n cái Nhị Kiến. So với cái Thấy “Thân tâm nhất như, ngoài thân không vật” vẫn c̣n cách một sự xả bỏ() vậy.

Quan đại phu họ Lục hỏi Tổ Nam Tuyền rằng : “Ngài pháp sư Tăng Triệu thật là kỳ đặc, Ngài nói : Trời đất với ta đồng nguồn, vạn vật cùng ta một thể”.

Tổ Nam Tuyền chỉ cây mẫu đơn trước sân mà nói : “Này đại phu ! Vậy mà người đời thấy cây hoa này như mộng ảo !”

Ông Lục hụt hẫng.

Ngài Tuyết Đậu tụng rằng :

“Thấy Nghe Hay Biết đều chẳng phải

Núi sông sao lại thấy trong gương

Trời sương trăng xế, đêm gần nửa

Ai soi bóng lạnh với đầm trong”.

(Văn kiến giác tri phi nhất nhất

Sơn hà bất tại cảnh trung quan

Sương thiên nguyệt lạc dạ tương bán

Thùy cọng trừng đàm chiếu ảnh hàn).

Ngài Thiên Đồng tụng rằng :

“Soi thấu, ngoài vi đấy cội nguồn

Xôn xao khởi diệt, thấy Diệu Môn

Thần chơi ngoài kiếp, ǵ là Có ?

Để mắt nh́n ra, biết Diệu Tồn

Cọp rống ào ào hang núi vắng

Rồng ngâm muôn vẻ động mù mây

Nam Tuyền điểm phá người đời mộng

Biết đấy đường đường Bổ Xứ Tôn (Bổ Xứ Phật)”.

Cổ đức nói “Xứ xứ đều là Từ Thị(). Cửa cửa đều có Thiện Tài”. Đây tức là : tất cả thế gian, mỗi mỗi sự vật đều là Bồ Đề Diệu Minh Nguyên Tâm. Ở đó mà biết được th́ tự biết cái Thường Trụ Bất Diệt, mà tin hiểu mỗi mỗi bọt nước là toàn thể đại dương. Không thấy ở đâu có tướng khởi diệt, nên nói “Khởi diệt chẳng màng”.

Vua Thuận Tông nhà Đường hỏi Tổ Phật Quang Măn : “Phật từ đâu mà đến, tịch diệt hướng về đâu mà lui ? Đă nói thường trụ thế, th́ nay Phật tại chốn nào ?”

Tổ Măn đáp : “Phật từ cái Vô Vi đi lại, tịch diệt hướng về cái Vô Vi lui về. Pháp Thân đồng hư không, thường trụ nơi Vô Tâm. Có niệm cũng là Vô Niệm, có trụ cũng là Vô Trụ. Đến, v́ chúng sanh mà đến; đi v́ chúng sanh mà đi. Biển Chân Như thanh tịnh, thể thường trụ vắng lặng như nhiên. Kẻ trí khéo tư duy, chớ sanh ḷng lo nghĩ”.

Vua lại hỏi : “Phật hướng về cung vua mà sanh, diệt hướng về Song Lâm mà tịch, trụ thế bốn mươi chín năm, lại nói chẳng có pháp nào để thuyết. Núi, sông cùng biển lớn, trời đất cho đến trời trăng, đến thời đều diệt tận, ai nói được là không sống chết ? Ḷng nghi dường ấy, xin trí giả khéo phân biệt cho”.

Ngài đáp : “Thể Phật vốn Vô Vi, mê t́nh vọng phân biệt. Pháp Thân đồng hư không, chưa từng có sanh diệt. Có duyên, ấy là Phật xuất thế. Không duyên, ấy là Phật nhập diệt. Chốn chốn giáo hóa chúng sanh, cũng như trăng dưới nước. Chẳng phải Thường cũng chẳng phải Đoạn, chẳng phải Sanh cũng chẳng phải Diệt. Sanh cũng chẳng từng sanh, diệt cũng chưa từng diệt. Rơ thấy chỗ Vô Tâm, tự nhiên không có pháp nào để nói”.

Vua rất đẹp ḷng.

Tướng quốc Bùi Hưu ngày nọ vào chùa Khai Nguyên, thấy bức tranh trên vách, hỏi vị chủ chùa : “Cái ấy vẽ cái ǵ ?”

Chủ chùa nói : “Vẽ cao tăng”.

Tướng Bùi nói : “H́nh ảnh ở đó, cao tăng ở tại chỗ nào ?”

Vị chủ chùa không đáp được.

Bùi Hưu nói : “Ở đây không có thiền sư sao ?”

Chủ chùa nói : “Có một người”.

Bèn thỉnh Ngài Hoàng Bá đến gặp, và kể lại chuyện trước mà hỏi Ngài.

Tổ Bá gọi lớn : “Bùi Hưu !”

Ông Bùi ứng tiếng : “Dạ”.

Tổ Bá nói : “Ở tại chỗ nào ?”

Bùi Hưu nghe xong có chỗ tỉnh ngộ.

Chỗ này đây có thể làm chứng cứ cho cái Thường Trụ Bất Diệt, nên chép vào.

 

Kinh :

Diệu Trạm Tổng Tŕ Bất Động Tôn

Thủ Lăng Nghiêm Vương đời ít có.

Thông rằng : Ngài Định Lâm nói : “Cái Thức Tinh là Nước. Nước chẳng dao động th́ gọi là Trạm, lặng trong. Nói là Viên Trạm(), ấy là thanh tịnh bản nhiên, toàn khắp pháp giới chẳng chia làm sáu (sáu Thức), tức là Toàn Lặng vậy. Gọi là Diệu Trạm, v́ đó là cái Diệu Lực Bất Động tổng tŕ tất cả, tức là cái Lặng Trong Nhiệm Mầu vậy”.

Nói Tánh Giác Trạm Minh, là Giác hợp với Thức Tinh, như mặt trời hợp với Nước mà có tánh trong sáng. Nói “Trạm Tinh Viên Thường” tức là Thức Tinh Toàn Lặng vậy.

Đă dứt hết sanh diệt, nói là Thường. Nhưng cái Trạm này không phải là không c̣n chảy, chỉ v́ chảy nhanh quá mà nh́n thấy dường như đứng yên đấy thôi. Kinh nói “Cái Thức động, cái Thấy lặng yên”, nghĩa là Thức có tánh động, gọi là nguồn gốc các Tưởng. Thức tự nó chẳng phải là Diệu Trạm Tổng Tŕ nên niệm niệm chịu huân tập, tạo ra ḍng tập khí chảy mạnh, thành ra các Hành. Trong kinh nói các Hành ví dụ như ḍng nước, là theo như đây vậy. Nhưng Thức mà so với các Hành th́ giống như đứng lặng, nên sau có nói “Lặng yên nhập vào lặng yên”, như sóng diệt th́ thành nước lặng yên, mà gọi là Hành Ấm hết tận. Ở trong xa, lặng trong mà sáng tỏ, nhập mà không có chỗ nhập, là lănh vực của Thức Ấm. Vậy th́ nói Trạm Nhập, cái Trong Lặng nhập vào ấy, là Thức Ấm. Trạm Nhập là Thức Ấm, th́ Trạm là cái Minh Tri của Tánh Thức. Cái Minh Tri là Trí. Thức nằm trong giới hạn của Trí. Nên nói đến năm Ấm th́ nói là “Lặng yên nhập vào Lặng yên”, nghĩa là đưa về trong giới hạn của Thức. Tánh Thức th́ không gọi là Trạm Nhập, mà toàn khắp pháp giới, không có xuất, không có nhập.

Chỗ gọi là “Nội Nội Trạm Minh, Nhập Vô Sở Nhập” là cái Trạm (lặng trong) xuất ra th́ làm Hành Ấm, cái Hành như nước chảy. Trạm Nhập là Thức, cái Thức diệt hết Hành Ấm, thế là “sâu lại càng sâu, lặng yên trong sáng” cho đến nguồn căn của các Tưởng rốt không có chỗ Nhập (Vô Sở Nhập).

Cái gọi là Thức Tinh tức là A Đà Na Thức. C̣n chỗ gọi là làm dính che cái Trạm(), tức là làm dính che cái Thức Tinh này. Thức Tinh này như nước trong sạch, vốn không có tính dính, chỉ v́ vọng khởi phân biệt, nên cùng với Sắc hiệp, cũng như nước ḥa với đất thành ra sự dính. Nếu biết cái Thức Tinh ấy như nước trong sạch, vốn không có tính dính, th́ không hợp với Sắc, thoát ra khỏi sự dán dính.

Trạm có Viên Trạm, Diệu Trạm, Giác Trạm và Tinh Trạm; có Trạm Nhập, có Niêm Trạm như các nghĩa nói ở trước, khác biệt rất ít, toàn là những cách ví dụ.

Ngài Mă Minh nói : “V́ y theo cái Bất Giác nên tâm động mà thành nghiệp. Tánh Giác th́ bất động”. Phàm Tánh Giác là chẳng động, tức là cái “Diệu Trạm Tổng Tŕ” vậy. Động là nghiệp, trôi lăn mà thành các hành vậy. Gọi là Thủ Lăng Nghiêm Vương v́ cái Định Thủ Lăng Nghiêm th́ hàng Thập Địa thường trụ ở trong đó, nên Đức Phật là vua vậy.

Ngài Phó Đại Sĩ một hôm đang giảng kinh th́ nhà vua đến. Đại chúng đều đứng dậy, chỉ có Ngài là ngồi yên chẳng động.

Cận thần báo rằng “Thánh Giá đến đây sao chẳng đứng lên ?”

Ngài nói : “Pháp Địa nếu động, tất cả chẳng an!”

Như Đại Sĩ, quả là thật đắc Định Thủ Lăng Nghiêm vậy.

Có nhà sư hỏi thiền sư Khương Sơn Phương : “Thế nào là Bất Động Tôn ?”

Tổ Phương nói : “Chỉ mặc một áo vải lót đi qua chợ”.

Nhà sư nói : “Kẻ học nhơn chưa hiểu”.

Tổ Phương nói : “Cưỡi lừa đạp phá Động Đ́nh hồ”.

Nhà sư nói : “Thấu qua ba lớp sóng, ṛng nghe một tiếng sấm”.

Tổ Phương nói : “Duỗi tay chẳng thấy bàn tay”.

Nhà sư : “Có cho phép kẻ học nhơn này tiến đến hay không ?”

Tổ Phương nói : “Đạp trên đất mà rao bảo hư không”.

Nhà sư nói : “Dưới cửa sấm, đánh trống kêu ǵ ?”

Tổ Phương nói : “Vào trong trái cầu thêu, chẳng dùng cờ ngũ sắc”.

Nhà sư nói : “Ba mươi năm sau, lời này sẽ thịnh hành”.

Tổ Phương bèn đánh.

Tổ Khương Sơn tự là người ở trong ấy, chẳng ngại theo ḍng mà được Diệu. Nhà sư ấy nhận lầm phương hướng nên khó nói cùng nhau.

Kinh :

Tiêu điên đảo tưởng trong ức kiếp,

Chẳng trải tăng kỳ được Pháp Thân.

Thông rằng : Ức kiếp th́ c̣n có số để chỉ, c̣n a tăng kỳ là ba vô số kiếp. Từ vô thủy đến nay mê cái Chân mà nhận lấy Vọng, đều là cái thấy điên đảo. Nay đem Vọng về Chân, được cái Bản Tâm nhiệm mầu, thường trụ, bất diệt. Như ở trước nói Như Lai Tạng, tức là Pháp Thân vậy.

Có vị tăng hỏi Ngài Hoàng Bá : “Kinh dạy rằng : “Tiêu điên đảo tưởng trong ức kiếp. Chẳng trải tăng kỳ được Pháp Thân”, là như thế nào ?”

Tổ Bá nói : “Nếu lấy sự tu hành trong ba vô số kiếp để có chỗ chứng đắc, th́ hết hằng hà sa số kiếp cũng chẳng được. C̣n nếu trong một sát na mà được Pháp Thân, liền ngay thấy Tánh vậy. Đó cũng là chỗ nói rốt ráo của Tam Thừa. V́ sao thế ? V́, thấy có Pháp Thân để đắc, tức thuộc về giáo pháp bất liễu nghĩa”.

Tổ Hoàng Bá xuất lời, nhả khí thật là căn khí Đại Thừa.

Ông Anan đă được Pháp Thân sao lại c̣n nói “Mong được xét trừ lầm vi tế ?” V́ ông c̣n thấy có Pháp Thân để được vậy.

Thượng Tọa Thái Nguyên Phu ban đầu giảng kinh Niết Bàn ở chùa Quang Hiếu tại Dương Châu. Có một thiền giả v́ trời mưa tuyết nhân đó đến nghe kinh. Đến chỗ “Ba cái Nhân của Phật Tánh, ba cái Đức của Pháp Thân”, vị Thượng Tọa đang giảng rộng về diệu lư của Pháp Thân, thiền giả bật cười.

Giảng xong, Thượng Tọa mời thiền giả uống trà, rồi nói : “Chí tôi hẹp cạn, nên y theo văn mà giải nghĩa, bỗng nhờ gặp tiếng cười, xin được nghe chỉ dạy”.

Thiền giả nói : “Quả là tôi cười v́ Ṭa Chủ không biết Pháp Thân”.

Thầy Phu nói : “Giảng thuyết như thế, chỗ nào chẳng được đúng ?”

Đáp : “Xin Ṭa Chủ nói lại một lần nữa !”

Thầy Phu nói : “Cái Lư của Pháp Thân là giống như Thái Hư, dọc suốt ba thời, ngang khắp mười phương, điều ḥa Bát Cực, bao gồm Âm Dương, tùy duyên cảm ứng, không đâu chẳng khắp”.

Thiền giả nói : “Tôi không nói Ṭa Chủ giảng không đúng. Nhưng ấy là chỉ mới nói được chút ít cái lượng của Pháp Thân, mà quả thật chưa biết Pháp Thân ở đâu”.

Thầy Phu nói : “Đă như thế, xin thiền đức v́ tôi mà nói”.

Thiền giả : “Ṭa Chủ có tin không ?”

Thầy Phu nói : “Đâu dám chẳng tin”.

Thiền giả nói : “Nếu như thế th́ Ṭa Chủ tạm ngừng giảng vài ngày, ở trong tịnh thất an nhiên dứt nghỉ, thâu tâm nhiếp niệm, thiện ác các duyên một phen buông bỏ hết”.

Thầy Phu theo đúng lời dạy, từ đầu hôm đến canh năm, nghe tiếng mơ, hốt nhiên khế ngộ. Bèn chạy đến gơ cửa.

Thiền giả hỏi : “Ai đó ?”

Thầy Phu đáp : “Dạ, tôi”.

Thiền giả la rằng : “Dạy ông ǵn giữ đại giáo, thay Phật thuyết pháp sao nửa đêm lại say rượu nằm đường !”

Thầy Phu nói : “Thiền đức tự đến giảng kinh, đem cái lỗ mũi cha sanh mẹ đẻ của tôi ra mà vặn. Từ nay trở đi, chẳng dám lầm lỗi như vậy nữa”.

Thiền giả nói : “Đi đi, ngày sau gặp nhau”.

Như thầy Phu thật là “Chẳng trải tăng kỳ được Pháp Thân”.

Có nhà sư hỏi Ḥa Thượng Lợi Sơn : “Chẳng trải tăng kỳ được Pháp Thân, xin thầy chỉ thẳng”.

Tổ Sơn nói : “Con nối nghiệp cha”.

Hỏi : “Làm sao lănh hội ?”

Tổ Sơn nói : “Chê bỏ th́ chẳng có lành (từ)”.

Hỏi : “Như thế th́ đại chúng đă nhờ được rồi ?”

Tổ Sơn nói : “Đại chúng hăy để đó, thế nào là Pháp Thân ?”

Nhà sư không đáp được.

Tổ Sơn nói : “Ông hỏi, ta nói cho”.

Nhà sư nói : “Thế nào là Pháp Thân ?”

Tổ Sơn nói : “Hoa không, bóng nắng()”.

Thử nói xem chỗ nói Pháp Thân của Ngài Lợi Sơn so với Ông Anan xa gần thế nào ?

 

Kinh :

Nguyện nay đắc quả, thành Bảo Vương,

Về độ như thế, hằng sa chúng,

Thông rằng : “Chẳng trải tăng kỳ được Pháp Thân”, th́ Tín Vị là đúng mà Nhân Vị th́ chưa phải. Cho nên, Hạnh tṛn Quả măn, thật chứng Chân Trí, như ngọc lưu ly thanh tịnh, ngậm chứa mặt trăng báu ở trong, mới đắc thành Bảo Vương. Lúc ấy, nh́n khắp tất cả chúng sanh đều có đức tướng Trí Huệ Như Lai, ta đều mỗi mỗi độ hết; chúng sanh vô tận, nguyện này vô tận, từ bi tṛn đầy, trong ấy chẳng c̣n cái ta nữa. Thế mới là Phật, Pháp, Tăng, ba Thể quư báu, là cầu bến của chúng sanh vậy.

Ngài Động Sơn Sơ ban đầu ra mắt Tổ Vân Môn.

Tổ hỏi : “Mới rời chốn nào ?”

Đáp : “Tra Độ”.

Tổ Môn nói : “Nhập hạ ở đâu ?”

Đáp : “Chùa Báo Từ ở Hồ Nam”.

Tổ Môn nói : “Rời chỗ đó khi nào ?”

Đáp : “Ngày Hai Mươi Lăm, tháng Tám”.

Tổ Môn nói : “Tha cho ông ba mươi gậy”.

Sáng hôm sau, Ngài Động Sơn lại đến, hỏi : “Hôm qua nhờ Ḥa Thượng tha cho ba mươi gậy, không rơ có lỗi ǵ ?”

Tổ Môn nói : “Đồ túi cơm ! Giang Tây, Hồ Nam bèn thế ấy !”

Ngài Động Sơn ngay nơi lời nói đại ngộ, bèn nói: “Từ nay về sau hướng về chốn bặt không người, không khói, không giữ một hột cơm, không trồng một cọng rau, mà tiếp đăi hết ráo mười phương qua lại. V́ họ mà nhổ đinh tháo chốt, lột bỏ cái mũ thoa dầu, cởi ra cái áo lót hôi thúi, dạy y vĩnh viễn làm ông thầy tu vô sự, há chẳng khoái sao ?”

Tổ Môn nói : “Thân ông chỉ lớn bằng trái dừa, sao há miệng lớn thế !”

Ngài Động Sơn bèn lễ bái.

 

Kinh :

Nguyện đem toàn thể thâm tâm này,

Phụng sự cơi nước nhiều như bụi,

Thế mới gọi là báo Phật Ân,

Thông rằng : Hai chữ “thâm tâm” này có cái mùi vị mà hạng thiển cận không thể đo lường nổi. Cơi nước nhiều như bụi, không có bến bờ, Trí Bi vô lượng, cùng với Phật đồng Tâm Từ, mới gọi là báo ơn vậy.

Ngài Lâm Tế từ giă Tổ Hoàng Bá.

Tổ hỏi : “Đi đến chốn nào ?”

Ngài Lâm Tế đáp : “Không phải là Hà Nam, th́ là Hà Bắc !”

Tổ Bá liền đánh. Ngài chụp lại rồi thoi một thoi.

Tổ Bá cười lớn, gọi thị giả : “Đem cây thiền bản trên bàn thờ của Tiên Sư Bá Trượng lại đây”.

Ngài Lâm Tế nói : “Thị giả, đem lửa lại đây !”

Tổ Bá nói : “Tuy nhiên như thế, ông hăy đem đi, về sau rồi ngồi trên đầu lưỡi của thiên hạ”.

Sau này, Tổ Quy Sơn hỏi Ngài Ngưỡng Sơn : “Lâm Tế há chẳng cô phụ Hoàng Bá đấy ư ?”

Ngài Ngưỡng Sơn nói : “Không đâu”.

Tổ Quy nói : “Con lại c̣n cho làm sao ?”

Ngài Ngưỡng Sơn nói : “Biết ơn mới biết trả ơn”.

Tổ Quy nói : “Xưa kia cổ nhơn có chuyện tương tự như thế không ?”

Ngài Ngưỡng nói : “Có chứ, nhưng lâu xa quá nên không muốn nêu ra”.

Tổ nói : “Dầu như thế, ta không biết, con hăy nêu ra đi”.

Ngài nói : “Như ở hội Lăng Nghiêm, Anan tán thán Phật rằng : “Nguyện đem toàn thể thâm tâm này, phụng sự cơi nước nhiều như bụi. Thế mới gọi là báo Phật Ân”. Đó chẳng phải là việc báo ơn sao ?”

Tổ Quy nói : “Thế đấy, thế đấy ! Chỗ Thấy ngang Thầy, th́ giảm một nửa Đức của Thầy. Chỗ Thấy hơn Thầy mới nên truyền thọ”.

Lại Tổ Quy Sơn hỏi Ngài Ngưỡng Sơn : “Sau này Lâm Tế như thế nào ?”

Ngài Ngưỡng Sơn đáp : “Khoảng giữa đất Ngô, đất Việt có một người, gặp gió lớn th́ ngừng lại”.

Tổ Quy nói : “Vậy là thế nào ?”

Ngài Ngưỡng nói : “Đem thâm tâm này hiến trần sát. Đó mới gọi là báo Phật Ân !”

Về sau, Ngài Phong Huyệt Chiểu đắc pháp với Ngài Thủ Sơn Niệm. Người ta cho đó là Ngưỡng Sơn trở lại.

Như Tổ Ngưỡng Sơn quả là có thâm tâm, thế nào lường được ư ? Thế nào lường được ư ?

 

Kinh :

Cúi xin Thế Tôn chứng minh cho,

Ngũ trược ác thế, thề vào trước,

Thông rằng : Năm Ấm chưa Không, th́ Năm Trược khó phá, làm sao độ hết thảy khổ ách ? Chỉ có bậc đắc quả, đă chứng pháp xuất thế gian nên chẳng ngại “Thơng tay vào chợ”, lấy Giác mà giác ngộ cho người. Chỗ nói “Đem thâm tâm này hiến trần sát”, tất trước dâng cho đời ác Năm Trược vậy. Cái Nghiệp của Ông Anan là cái Nguyện này. Ở quốc độ này, có Ngài Phó Đại Sĩ đủ sức đảm đương việc đó.

Đại Sĩ tên là Hấp, năm mười sáu tuổi cưới cô gái Diệu Quang nhà Lưu Thị, sanh hai con tên là Phổ Kiến và Phổ Thành. Năm hai mươi bốn tuổi bán vợ con mà làm hội cúng thí các loài dưới nước, trên cạn. Rảnh rỗi th́ cùng người trong làng ngăn bờ bắt cá. Bắt được, nhận giỏ cá xuống sông, rồi chú nguyện cho: “Đi th́ thả, ở th́ giữ”. Ai cũng cho là khùng dại.

Gặp vị Đầu Đà người Ấn là Tăng Tung. Vị này nói : “Ta cùng ông đă phát nguyện ở chỗ Phật Tỳ Bà Thi. Nay y bát vẫn c̣n ở cung trời Đâu Suất, ngày nào ông trở về ?”. Rồi bảo Ngài ra nơi nước nh́n bóng, th́ thấy hào quang và lọng báu.

Ngài cười mà nói : “Nơi ḷ rèn c̣n nhiều sắt vụn, nơi cửa thầy thuốc có lắm bệnh nhân. Cứu đời là cần gấp, sao mà nghĩ đến cái vui kia ?”

Vị Đầu Đà chỉ lên ngọn Tùng Sơn mà nói : “Chỗ ấy dừng ở được”.

Đại Sĩ tự ḿnh cày ruộng ở đó. Có người trộm đậu, lúa, dưa, trái Ngài cho luôn giỏ để đựng.

Năm thứ hai đời Thiên Gia thị tịch, cảm ứng có bảy vị Phật cùng theo đưa, đức Thích Ca dẫn đầu, cuối là Ngài Duy Ma Cật. Đức Thích Ca nói mấy lời : “Làm Bổ Xứ cho Ta”.

Chỉ thẳng Tâm người, thấy Tánh thành Phật, Chánh Pháp Nhăn Tạng từ Đức Ca Diếp, Đức Anan truyền đến Tổ Đạt Ma là hai mươi tám đời. Cơi này tuy có kinh điển, nhưng chưa được nghe cái Tông Phong tối thượng. Thế mà Tổ Đạt Ma chưa tới, Ngài Đại Sĩ đă sanh, thế không phải là cái minh chứng cho việc Vào trước hay sao ?

 

Kinh :

C̣n một chúng sanh chưa thành Phật,

Rốt chẳng nơi kia nhận Niết Bàn,

Thông rằng : Vô lượng Chư Phật đời quá khứ độ thoát vô lượng chúng sanh. Đâu phải ai ai cũng thành Phật rồi, mà đă nhập Niết Bàn ? Kinh Kim Cang nói: “Ta đều khiến nhập Niết Bàn Vô Dư mà diệt độ, kỳ thật không có chúng sanh được diệt độ”. Đến cảnh giới này th́ không thấy có Phật để thành, có chúng sanh để độ, cũng không có Niết Bàn để nhập, mới là Chánh Kiến.

Có vị tăng hỏi Ngài Trung quốc sư : “Cái ǵ là Phật Tâm ?”

Quốc sư nói : “Tường vách gạch ngói chính là đó”.

Tăng hỏi : “Rất trái với kinh vậy. Kinh Niết Bàn nói “Ĺa ngoài vật vô t́nh tường vách, nên gọi là Phật Tánh”. Nay nói đó là Phật Tâm, chưa rơ Tâm và Tánh là khác hay chẳng khác ?”

Ngài đáp : “Mê th́ khác, ngộ tức chẳng khác”.

Tăng nói : “Kinh nói : Phật Tánh là thường, tâm là vô thường, nay nói chẳng khác nhau, là sao vậy ?”

Ngài đáp : “Ông chỉ y vào lời nói, mà chẳng y vào nghĩa. Ví như tháng lạnh, nước kết thành băng. Đến khi trời ấm, băng tan thành nước. Khi chúng sanh mê, th́ kết Tánh thành cái tâm. Khi chúng sanh ngộ, ră tan cái tâm thành Tánh. Nếu chấp rằng vô t́nh không có Phật Tánh, th́ rốt ráo chẳng nói được Tam Giới Duy Tâm. Rơ ràng ông tự trái với kinh, ta nào có trái”.

Tăng nói : “Trong kinh giáo chỉ thấy nói hữu t́nh thành Phật, chẳng thấy có vô t́nh được thọ kư. Vả lại, ngàn Phật đời Hiền Kiếp có ai là Phật vô t́nh đâu ?”

Ngài nói : “Như Hoàng Thái Tử khi chưa lên ngôi th́ chỉ có một thân. Lên ngôi rồi, toàn quốc độ đều thuộc về vua, há có quốc độ riêng nhận ngôi vị ư? Nay khi chỉ có hữu t́nh được thọ kư làm Phật, th́ mười phương quốc độ đều là thân Phật Tỳ Lô Giá Na, há lại có vô t́nh được thọ kư ư ?”

Tăng nói : “Tất cả chúng sanh đều ở trên thân Phật, ỉa đái dơ lấm thân Phật, xoi đục dày đạp thân Phật, há chẳng có tội sao ?”

Ngài nói : “Toàn thể chúng sanh là Phật th́ c̣n ai làm tội ?”

Tăng hỏi : “Kinh nói : Thân Phật không quái ngại, nay lấy vật hữu vi chướng ngại mà làm thân Phật, thế chẳng trái với Thánh chỉ ư ?”

Ngài nói : “Kinh Đại Phẩm nói : Không thể ĺa hữu vi mà nói vô vi. Ông có tin Sắc là Không chăng?”

Tăng nói : “Lời chân thật của Phật sao dám chẳng tin”.

Ngài nói : “Sắc đă là Không, sao c̣n quái ngại ?”

Tăng nói : “Chúng sanh vốn đồng Phật Tánh, th́ chỉ cần một vị Phật tu hành, khi ấy hết thảy chúng sanh đều giải thoát. Nay đă không thế, th́ nghĩa đồng ở đâu ?”

Ngài nói : “Ông chẳng thấy Lục Tướng nghĩa Hoa Nghiêm nói rằng : trong cái Đồng có cái Khác, trong cái Khác có cái Đồng. Tướng Thành, Tướng Hoại, tướng Tổng, tướng Biệt mỗi mỗi đều như thế. Chúng sanh cùng Phật, tuy đồng một Tánh mà chẳng trở ngại mỗi mỗi tự tu tự đắc. Chưa từng thấy người ăn mà ḿnh no. Lấy bọt nước và biển làm thí dụ. Một bọt nước đă tan mất th́ toàn thể vẫn vốn là biển cả. Chưa hề thấy một bọt nước tan mà tất cả bọt đều tan. Nên trong cái Tánh ấy đâu có ngại ǵ mỗi người tự tu, mỗi người tự đắc”.

Đă ngộ khắp hết thảy đều là nước, th́ có bọt nào mà không là nước ? Chúng sanh chẳng phải là Phật đấy sao ? Nếu thấy tất cả chúng sanh là Phật, th́ bèn ở trong Niết Bàn.

 

Kinh :

Đại Hùng, Đại Lực, Đại Từ Bi,

Mong xét trừ cho lầm vi tế,

Thông rằng : : Đại Hùng(), v́ bậc Thập Địa bên dưới là Thư, con mái. Đại Lực v́ vượt quá Ngũ Lực. Cho sự vui là Từ. Cứu khỏi khổ gọi là Bi. Muốn khiến cho cái tâm kia thông suốt mới gọi được là Tự Tánh hiện bày, nên Anan hy vọng Thế Tôn xét trừ cho mê lầm vi tế. Đă được Pháp Thân, sao lại c̣n điều lầm ?

Tổ Vân Môn nói : “Được ngay sự chạm mắt không vướng ngại, thấu được Danh Thân, Cú Thân tất cả các pháp đều Không, núi sông đất đai là Danh Thân, cũng là bất khả đắc. Gọi đó là Biển Tánh Tam Muội sẵn đủ, như biển không sóng gió. Được ngay sự quên thấy biết nơi cái Giác, Giác là Phật Tánh đó vậy. Gọi là người Vô Sự, nhưng cũng cần biết có một khiếu (lỗ) hướng thượng !”

Tổ Thiên Đồng nêu ra : “Khách, chủ không ḥa, cả hai đều có lỗi. Mỗi bên đều cho hai mươi gậy. C̣n một khiếu hướng thượng th́ làm sao ? Tê giác nhân xem trăng mà sừng sanh vằn. Voi bị sấm hoảng kinh mà hoa in vào ngà”.

Ngày khác, Tổ Vân Môn lại nói : “Ánh sáng không thấu thoát do có hai loại bệnh. Một là tất cả chỗ không sáng, trước mặt có vật. Hai là thấu suốt được tất cả pháp là Không, mà c̣n có cái mơ hồ tương tự như vật, đó cũng là ánh sáng không thấu thoát. Pháp Thân cũng có hai loại bệnh. Một là đến được Pháp Thân, nhưng v́ pháp chấp chưa hết, cái Thấy của ḿnh dường như c̣n, mà ngồi một bên Pháp Thân. Hai là tuy đă thấu được Pháp Thân mà bỏ đi chẳng được, kiểm điểm kỹ càng trở lại, có chút khí tức ǵ cũng là bệnh”.

Ngài Thiên Đồng tụng rằng :

“Um tùm muôn tượng khá chênh vênh

Thấu thoát không đâu ngại mắt ḿnh

Quét sạch môn đ́nh ai đủ sức ?

Núp trong lồng ngực : tự thành T́nh

Thuyền ngang bờ lục, màu thu biếc

Vào đám bông lau, tuyết sáng soi

Xâu sợi ông chài ôm đến chợ

Êm êm thuyền lá mặc buông trôi”.

Tổ Càn Phong nói : “Pháp Thân có ba thứ bệnh, hai thứ ánh sáng, sao Vân Môn lại thiếu đi một thứ?” Các nơi đều nói : “Chưa đến th́ chạy quàng. Đến rồi th́ bám riết. Thấu thoát không chỗ nương. Đó là ba. Thế là trước thiếu một thứ”. Phật Nhăn nói : “Cỡi lừa t́m lừa, là một. Cỡi lừa rồi chẳng chịu xuống, đó là hai”. Thế là sau c̣n thiếu một thứ”.

Các tôn túc bàn luận ba thứ bệnh của Pháp Thân, vi tế đến như thế. Đâu có liên quan ǵ đến kinh giáo ư ?

 

Kinh :

Khiến tôi sớm lên Vô Thượng Giác,

Nơi mười phương cơi ngồi Đạo Tràng,

Thông rằng : Vô Thượng Giác ấy tức là một khiếu hướng thượng vậy. So với ở trước “Được Pháp Thân và đắc quả”, th́ có sai khác ư ? Không sai khác ư ? Chỗ có thể nói là Phật Quả th́ có bảy; Bồ Đề, Niết Bàn, Chơn Như, Phật Tánh, A Ma La Thức, Không Như Lai Tạng và Đại Viên Cảnh Trí.

Ngộ Bồ Đề, thấy Phật Tánh có thể nói là được Pháp Thân. Sau khi thấy Tánh, xét trừ mê lầm vi tế khiến sanh diệt, diệt sanh đều vắng lặng, cùng hợp với Niết Bàn, Chân Như. Trong trắng thuần sạch, hợp cùng A Ma La Thức. Rỗng suốt tṛn soi, hợp cùng Không Như Lai Tạng, Đại Viên Cảnh Trí. Như thế mới có thể gọi là đắc quả, nhưng chưa có thể gọi là lên Vô Thượng Giác.

Xem một chữ Sớm (Tảo()) là pháp môn Đốn Ngộ, một hiểu được th́ trăm thành ra ngay, không nhờ tu hành thứ bậc, chẳng kể phàm phu hay Thập Địa, ai ai cũng có thể lên.

Đức Phật nói rằng : “Ta có Chánh Pháp Nhăn Tạng, Niết Bàn Diệu Tâm mật phó cho Ông Ca Diếp”. Nào có dấu vết tăm hơi ǵ khá được ư ? Đây tức là Vô Thượng Giác vậy. Một lần lên cái Giác này là đến địa vị Phật, bèn ở mười phương cơi ngồi ṭa sen báu, v́ chúng sanh thuyết pháp. Long Nữ c̣n như vậy, huống là bực đệ tử Thanh Văn ư ?

Ngài Dược Sơn ở với Đức Mă Tổ ba năm.

Đức Mă Tổ hỏi : “Gần đây chỗ thấy của ông ra sao ?”

Ngài Sơn nói : “Da dẻ rơi rụng sạch, chỉ c̣n một cái Chơn Thật”.

Đức Mă Tổ nói : “Chỗ được của ông khá gọi là hợp với Tâm Thể, trải khắp tay chân. Đă như thế th́ đem ba miếng cật tre bó giữ da bụng, tùy chỗ mà trụ sơn() đi”.

Ngài thưa : “Tôi là người nào mà dám nói chuyện trụ sơn ?”

Đức Mă Tổ nói : “Chẳng phải thế đâu. Chưa hề có đi măi mà không đứng lại. Chưa hề có dừng măi mà không đi. Muốn ích mà không có chỗ ích, muốn làm mà không có chỗ làm, nên làm thuyền bè, không nên dừng lâu ở đây”.

Ngài Đức Sơn đến Tổ Quy Sơn, kẹp một cái áo lót lên nhà giảng, từ Tây sang Đông, từ Đông sang Tây quay nh́n Tổ Quy Sơn mà nói : “Có chăng ?”

Tổ Quy Sơn cứ ngồi, không để ư đến.

Ngài Đức Sơn nói : “Không, không !”

Rồi bỏ đi ra.

(Ngài Tuyết Đậu chú rằng : “Khám phá xong rồi !”)

Ngài Đức Sơn ra đến cửa, bèn nói : “Tuy là như thế, cũng chẳng được buông tuồng”.

Rồi đầy đủ oai nghi, trở vào tương kiến. Vừa qua khỏi cửa, đưa lên cái tọa cụ, nói : “Ḥa Thượng !”

Tổ Quy Sơn định lấy cây phất tử. Ngài bèn hét, phất tay áo mà đi ra.

(Ngài Tuyết Đậu chú thêm : “Khám phá xong rồi !”)

Tổ Quy Sơn đến tối hỏi Thủ Tọa : “Cái ông mới đến ngày hôm nay có đây không ?”

Thủ Tọa nói : “Ngay khi ra khỏi nhà giảng th́ mang dép cỏ đi luôn rồi”.

Tổ Quy Sơn nói : “Ông ấy về sau lên đỉnh núi đơn độc chót vót kết thảo am, la Phật mắng Tổ đó”.

Ngài Tuyết Đậu chú rằng : “Trên tuyết lại thêm sương !”

Rồi tụng rằng :

“Một khám phá, hai khám phá !

Trên tuyết thêm sương, thêm hiểm họa

Tướng quân bay ngựa vào triều giặc

Về được hoàn toàn có mấy ai ?

Mau chạy qua, chẳng bỏ qua !

Trên đỉnh cô phong, ngồi am cỏ

Ối !”.

Thêm một chữ “Ối” này là ngón nghề kỳ đặc của Ngài Tuyết Đậu. Chẳng lên Vô Thượng Giác khó mà hiểu nổi.

 

Kinh :

Tánh hư không c̣n có thể tiêu,

Tâm Kim Cang không hề động chuyển,

Thông rằng : Thuấn Nhă Đa() (Sũnyata) là Hư Không; Thước Ca Ra() (Cakravăda) là kiên cố như Kim Cang. Câu này xưa nói “Tánh Hư Không vô thể c̣n có thể tiêu vong. Tâm kiên cố của tôi rốt ráo không động chuyển”. Tựa như Ông Anan phát nguyện như vậy. Đă nguyện “Đắc quả thành Bảo Vương”, sao lại có nguyện này ? Đă “Lên Vô Thượng Giác tọa Đạo Tràng”, sao lại khăng khăng “Không động chuyển” ?

Câu này vốn chẳng có lầm, phải cần biết cái yếu chỉ quy về. Đó là “Diệu Trạm Tổng Tŕ Bất Động Tôn. Thủ Lăng Nghiêm Vương đời ít có”, nói ở trước.

Sao nói là Diệu Trạm ? V́, tuy Lặng Trong Bất Động, mà chẳng bám giữ hư không, nên mới gọi là Diệu. Nếu trụ bám Hư Không mà cho là bất động, th́ rốt cuộc chẳng phải “Cả thảy rốt ráo kiên cố”. Ư Ông Anan là : dù mười phương ngồi Đạo Tràng, cũng không trụ bám Pháp Thân Hư Không, nên Chánh Pháp Nhăn Tạng rốt ráo kiên cố. Cũng như nói “Thủ Lăng Nghiêm Vương, Diệu Trạm Bất Động” vậy. Đầu đuôi ứng nhau, lư thú c̣n lâu dài măi.

Cổ đức nói : “Dài là Pháp Thân dài, ngắn là Pháp Thân ngắn”.

Ngài Thiên Đồng nêu ra rằng : “Thử nói xem : Thuấn Nhă Đa sao lại gọi đó là Pháp Thân ?”

Ngài im lặng một lúc rồi nói : “Có hiểu không ? Không thể nối dài con le le mà cắt chân con hạc, phá ḥn núi để lấp cái lỗ hang !”

Lời nói này chính là v́ sợ người ta hướng về trong hư không mà đóng chết ở trong đó.

Tổ Sơ Sơn thượng đường, nói : “Bệnh tăng rơ hết trước năm (niên tiền), th́ hiểu được chuyện bên phía Pháp Thân. Rơ hết sau năm (niên hậu) th́ hiểu được chuyện hướng thượng của Pháp Thân”.

Ngài Vân Môn bước ra, hỏi : “Thế nào là chuyện bên phía Pháp Thân ?”

Tổ Sơn nói : “Cây Xuân() khô”.

Hỏi : “Thế nào là chuyện hướng thượng của Pháp Thân ?”

Tổ Sơn nói : “Chẳng phải cây Xuân khô !”

Hỏi : “Có cho phép tôi nói đạo lư không ?”

Tổ Sơn nói : “Cho”.

Ngài Vân Môn nói : “Cây Xuân khô há chẳng phải tỏ rơ cái chuyện bên phía Pháp Thân sao ?”

Tổ Sơn nói : “Đúng vậy”.

Ngài Vân Môn nói : “Chẳng phải cây Xuân khô” há chẳng phải tỏ rơ chỗ hướng thượng của Pháp Thân sao ?”

Tổ Sơn nói : “Đúng vậy”.

Ngài Vân Môn nói : “Như thế Pháp Thân bao trùm tất cả phải không ?”

Tổ Sơn nói : “Pháp Thân toàn khắp, sao chẳng trùm hết ?”

Ngài Vân Môn chỉ cái tịnh b́nh, nói : “Như thế cái tịnh b́nh có bao trùm Pháp Thân không ?”

Tổ Sơn nói : “Xà Lê chớ hướng về một bên tịnh b́nh t́m kiếm !”

Ngài Vân Môn bèn lễ bái.

Rơ ràng chỉ ra “Chẳng phải cây Xuân khô” là một con đường sống. Chỉ là cái “Chẳng phải cây Xuân khô” này, chánh thật hợp với ư chỉ “Tánh hư không c̣n có thể tiêu” vậy.

Ngài Tào Sơn ban đầu ra mắt Tổ Động Sơn.

Tổ Động Sơn nói : “Thầy Xà Lê tên ǵ ?”

Ngài đáp : “Bổn Tịch”.

Tổ Động Sơn nói : “H́nh dạng ǵ ?”

Ngài đáp : “Chẳng gọi là Bổn Tịch”.

Tổ Động Sơn nói : “Rất là pháp khí vậy”.

Từ đó, được nhập thất, trải qua mấy năm mới xin đi. Tổ Động Sơn mới mật truyền cho “Bảo Cảnh Tam Muội”, lại hỏi : “Ông hướng chỗ nào đi ?”

Ngài Tào Sơn đáp : “Đi vào chỗ chẳng hề thay đổi”.

Tổ nói : “Chỗ chẳng hề thay đổi lại có đi ư ?”

Ngài nói : “Đi cũng chẳng thay đổi !”

Ngài Đơn Hà tụng rằng :

“Nhà nhà cửa đóng, ánh trăng soi

Chốn chốn oanh kêu dương liễu rung

Nếu bảo tung hoành không đổi khác

Cũng như quăng kiếm chém hư không”.

Tổ Tào Sơn, Chánh Thiên kiêm đới(), có thể nói là được con mắt kim cang. Như định nh́n nhận chỗ không thay đổi, dường vẫn c̣n cây kiếm. Ôi, vi tế, nhỉ !

 

GIỚI THIỆU - MỤC LỤC - QUYỂN 1 - QUYỂN 2 - QUYỂN 3 - QUYỂN 4

QUYỂN 5 - QUYỂN 6 - QUYỂN 7 - QUYỂN 8 - QUYỂN 9 - QUYỂN 10 - CHỈ MỤC

 

Copyright ©2005 FITEC & SearchVN. All rights reserved.