TIN NHÂN  QUẢ - TẠO PHƯỚC ĐỨC -  SỐNG CHÂN THƯỜNG

 ĐẠO TRÀNG TÂY TẠNG                                                                                                              TRỞ VỀ

Google

 KINH

THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG

 Người dịch :

THUBTEN OSALL LAMA - NHẪN TẾ THIỀN SƯ

 

QUYỂN VI

MỤC BỐN :

VIÊN THÔNG VỀ NHĨ CĂN

Kinh : Khi ấy, Đức Quán Thế Âm Bồ Tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, thưa rằng : “Thưa Thế Tôn, tôi nhớ hằng sa kiếp về trước, có Đức Phật ra đời, hiệu là Quán Thế Âm, từ Đức Phật ấy tôi phát Tâm Bồ Đề. Đức Phật ấy dạy tôi, từ Nghe, Suy Nghĩ và Tu, thấu vào Tam Ma Địa.

Thông rằng : Chọn lựa chỗ Viên Thông th́ căn Tai là bậc nhất. Vào sâu một cửa, sáu Căn liền thanh tịnh. Chỉ có chỗ chứng của Đức Quán Thế Âm rất là tṛn đủ, nhiệm mầu. Âm thanh mà chẳng nói là nghe mà nói là Quán(), là dùng Trí chiếu soi, chẳng dùng Thức Tai mà nghe vậy. Sáu Căn dùng lẫn nhau, ở đây đủ làm chứng rồi. Theo sự Nghe, Nghĩ, Tu, thấu vào Tam Ma Địa. Nghe ở Tai, Nghĩ ở Tâm, Tu trong Sự Làm, th́ sanh Thánh Huệ Vô Lậu, nên vào Chánh Định. Bèn văn sau nói “Vào ḍng mất cái Sở theo thứ lớp vậy”.

Tổ Bách Trượng gọi cả chúng ra cày ruộng. Bỗng một nhà sư nghe tiếng trống liền vác cày cười lớn mà bỏ về.

Tổ Trượng nói : “Tài thay !”

Đây là pháp môn Quán Âm Nhập Lư vậy.

Tổ Trượng về viện, mới kêu nhà sư ấy, hỏi : “Hồi năy thấy cái đạo lư ǵ mà làm như thế ?”

Nhà sư nói : “Hồi năy bụng đói, nghe tiếng trống th́ về kiếm đồ ăn.”

Tổ Trượng cười x̣a.

Như vậy th́ cửa vào Đạo của vị tăng này nào có mượn đến Nghĩ và Tu mà đắc đâu ?

 

Kinh : “Ban đầu, ở trong cái Nghe, vào ḍng mất đi tướng Sở (chỗ Nghe). Chỗ vào đă vắng lặng, hai tướng Động, Tịnh rơ ràng chẳng sanh ra. Như vậy tiến thêm lần, cái Nghe và chỗ Nghe đều hết. Chẳng dừng lại nơi sự hết cái Nghe và chỗ Nghe th́ cái Giác và chỗ Giác đều Không. Không và Giác cùng tột tṛn vẹn th́ Năng Không và Sở Không đều diệt. Sanh Diệt đă diệt, Tịch Diệt hiện tiền (trước mặt). Tức th́ vượt khỏi thế gian lẫn xuất thế gian, tṛn sáng khắp mười phương, được hai điều tột bậc : Một là, trên hợp với Bản Giác Diệu Tâm của mười phương Chư Phật, cùng với Chư Phật Như Lai đồng một sức Từ; hai là, dưới hợp với tất cả mười phương chúng sanh trong sáu đường, cùng với các chúng sanh đồng một Bi Ngưỡng.

Thông rằng : Vào ḍng mất Sở, cho đến cái Nghe và chỗ Nghe đều hết, tức là mới mở khỏi Căn, trước hết được Nhân Không vậy. Chẳng dừng lại nơi sự hết cái Nghe và chỗ Nghe, cái Giác và chỗ Giác đều Không, tức là Tánh Không tṛn sáng, thành pháp Giải Thoát vậy. Không Giác cùng cực vẹn toàn, Năng Không và Sở Không đều diệt mất, tức là đă giải thoát khỏi pháp, cái Không cũng chẳng sanh vậy. Sanh diệt đă diệt, đó là Tịch Diệt hiện tiền, tức là vào Tam Ma Địa, đắc Vô Sanh Nhẫn.

Bài kệ trong kinh Pháp Hoa :

“Chân quán, Thanh Tịnh quán

Rộng lớn Trí Huệ quán

Bi quán cùng Từ quán

Thường nguyện thường chiêm ngưỡng”.

Chân Quán, đó là hai tướng Động Tịnh chẳng sanh ra. Thanh Tịnh Quán là hết cái Năng Sở của Nghe, Giác, Không vậy. Rộng lớn Trí Huệ Quán, đó là Không Giác cùng tột vẹn toàn, cho đến Tịch Diệt hiện tiền vậy. Đồng một lực Từ, đó là Từ quán. Đồng một Bi Ngưỡng, đó là Bi quán. Không Giác cùng tột tṛn vẹn, đó là cái Giác quán ra khỏi tư duy vậy. Không và Sở không diệt mất th́ thân tâm không thể đến được. Sanh diệt đă diệt, trọn cả hai bên sanh diệt đều ĺa vậy. Tịch Diệt hiện tiền, đó là Thường Chân Thật vậy.

Lấy kinh chứng minh cho kinh, ư nghĩa mùi vị tự đầy đủ vậy.

Ngài Tô Tử Do luận hai kinh Lăng Nghiêm và kinh Kim Cang, hợp với Đức Quán Thế Âm, là lấy Nghe, Nghĩ, Tu làm Viên Thông Đệ Nhất. Ngài nói : “Ban đầu ở trong cái Nghe vào ḍng mất Sở, cho đến chỗ Tịch Diệt hiện tiền. Nếu có thể như thế, th́ trong khoảng khảy móng tay trải khắp ba cái Không() liền cùng Chư Phật không khác”. Ngài lại đọc chỗ kinh Kim Cang nói về bốn quả vị : “Tu Đà Hoàn gọi là vào ḍng, nhưng không có chỗ vào, chẳng vào Sắc Thanh Hương Vị Xúc Pháp, gọi là Tu Đà Hoàn”. Mới than rằng : “Chỗ chứng của Tu Đà Hoàn tức là chỗ Đức Quán Thế Âm gọi là ban đầu ở trong cái Nghe, vào ḍng mất Sở đó ư ? Vào ḍng th́ vong Sở, chỉ không vào sáu Trần, an nhiên thường trụ, ấy là vào ḍng vậy. Đến Tư Đà Hàm, gọi là một lần đi lại, mà thật chẳng có ǵ đi lại. A Na Hàm, gọi là chẳng trở lại, mà thật không có sự chẳng trở lại, bởi v́ đi th́ nhập trần, lại th́ về gốc. Tư Đà Hàm, tuy có thể trở lại, nhưng chưa thể không đi. A Na Hàm chẳng những không đi mà cũng không lại. Cho đến A La Hán th́ cái ư đi-lại đều hết, không có pháp nào để đắc. Thế nên, cái gọi là bốn quả vị kỳ thật chỉ một pháp, nhưng trải qua ba cái Không mà về sâu cạn khác nhau. Lời của kinh, gốc vốn phù hợp, mà đời chẳng nêu rơ ra, nên nói cho tỏ hiểu”.

Ngài Tử Do bởi thấy được thiện tri thức mà phát minh ư chỉ của hai kinh, tuy h́nh như mới lạ, mà chủ yếu từ trong ngực lưu xuất ra, cho đến chỗ gọi là “Trong khoảng khắc gảy móng tay, trải khắp ba cái Không, cùng chư Phật không khác”. Chẳng có đốn ngộ triệt để làm sao nói được lời này.

 

I. DIỆU LỰC VÔ TÁC THÀNH TỰU BA MƯƠI HAI ỨNG THÂN

Kinh : Thưa Thế Tôn, do tôi cúng dường Đức Quán Âm Như Lai, nhờ Ngài truyền thụ cho tôi Như Huyễn Văn Huân, Văn Tu Tam Muội, cùng Chư Phật Như Lai đồng sức Từ, khiến Thân tôi thành tựu ba mươi hai Ứng Thân vào các cơi nước.

Thông rằng : Như Huyễn là người huyễn gây làm mà vốn không làm. Đó là để nói sự huân tu ứng với cơ, tức làm mà không làm, quên t́nh tuyệt hiểu, chẳng thể nghĩ bàn.

Gọi là Văn Huân, Văn Tu là huân tu, đều chẳng rời ngoài Tánh Nghe vậy. Nhân ngoài tánh Nghe mà huân tu, tâm thuần nhất th́ bỏ cái Nghe, các sự ràng buộc lạc lầm hết ráo, Tam Muội hiện bày trước mắt, đó là Kim Cang Càn Huệ Địa vậy. Nói là Kim Cang v́ phá nát các pháp mộng huyễn. Kim Cang thường trụ chẳng hoại, đó là cái Chân Thật thường hằng vậy. Đâu phải ĺa ngoài Như Huyễn mà riêng có cái gọi là Chân Thật sao !

Có nhà sư hỏi Tổ Tào Sơn : “Nơi tướng cái ǵ Chơn ?”

Tổ Sơn nói : “Tức tướng tức Chơn”.

Hỏi : “Làm sao hiển bày ?”

Tổ Sơn dựng đứng cây phất tử.

Lại hỏi : “Gốc Huyễn đâu Chơn ?”

Tổ Sơn nói : “Gốc Huyễn nguyên Chơn”.

Hỏi : “Ngay khi Huyễn làm sao hiển bày ?”

Tổ Sơn nói : “Tức Huyễn tức Hiển !”

Hỏi : “Như thế th́ trước sau chẳng rời nơi Huyễn!”

Tổ Sơn nói : “T́m cái tướng Huyễn không thể được !”

Ông Cung Phụng Hạo Nguyệt hỏi Tổ Trường Sa : “Trong giáo pháp nói ư Huyễn, thấy có chăng ?”

Tổ Sa nói : “Đại Đức nói cái ǵ thế !”

Hỏi : “Thế th́ ư Huyễn là không có sao ?”

Tổ Sa nói : “Đại Đức nói cái ǵ thế !”

Hỏi : “Thế th́ ư Huyễn là chẳng có chẳng không hay sao ?”

Tổ Sa nói : “Đại Đức nói cái ǵ thế !”

Hỏi : “Như tôi ba lần bày tỏ, trọn chẳng hiểu được chỗ ư Huyễn, Ḥa Thượng rơ hiểu như thế nào cái ư huyễn trong giáo pháp ?”

Tổ Sa nói : “Đại Đức có tin là tất cả pháp vốn chẳng thể nghĩ bàn chăng ?”

Đáp : “Lời chân thật của Phật đâu dám chẳng tin”.

Tổ Sa nói : “Đại Đức nói tin, th́ trong hai cái tin, đó là cái tin nào ?”

Đáp : “Như chỗ tôi biết, trong hai cái tin, đó gọi là tin theo Duyên”.

Tổ Sa nói : “Theo giáo pháp nào mà sanh ra được cái tin nhờ Duyên ?”

Đáp : “Kinh Hoa Nghiêm nói, Đại Bồ Tát trong Trí Huệ không chướng không ngại, tin rằng tất cả cảnh giới thế gian là cảnh giới Như Lai. Lại nói, Chư Phật Thế Tôn biết suốt tất cả pháp thế gian cùng pháp Phật, tánh không sai biệt, quyết định không hai. Lại nói, Phật Pháp và thế gian pháp, như thấy được cái chân thật của chúng, tất cả đều không sai biệt”.

Tổ Sa nói : “Chỗ nêu ra trong kinh giáo về cái tin nhờ Duyên của Đại Đức chưa rốt ráo lắm. Hăy nghe lăo tăng tỏ rơ cái ư Huyễn trong giáo pháp cho Đại Đức. Như người nào thấy Huyễn vốn là Chơn, đó gọi là người thấy Phật. Pháp pháp viên thông, không sanh, không diệt; Không Sanh Diệt đó là Phật Thân.

“Thấy được như thế là đồng Phật Từ Lực. Từ tức Như Huyễn, ba mươi hai Ứng Thân, Ứng cũng Như Huyễn. Chốn chốn tịch diệt hiện bày trước mắt, đó là Kim Cang Tam Muội”.

 

Kinh : “Thưa Thế Tôn, nếu các Bồ Tát vào Tam Ma Địa, tiến tu Vô Lậu, cái hiểu biết siêu việt hiện ra tṛn vẹn, tôi hiện ra Thân Phật, v́ họ thuyết pháp, khiến cho Giải Thoát.

Thông rằng : Đức Sơ Tổ Đạt Ma tức Hóa Thân của Quán Thế Âm Đại Sĩ vậy.

Thời ấy, trong nước có hai vị thầy, một tên là Phật Đại Tiên, thứ hai tên là Phật Đại Thắng Đa, vốn cùng Tổ học Tiểu Thừa thiền quán với Ngài Phật Đà Ba Đà. Thầy Phật Đại Tiên gặp được Tôn Giả Bát Nhă Đa La, bỏ Tiểu Thừa theo Đại Thừa. Cùng với Tổ truyền hoá, thời ấy gọi là hai Pháp cam lồ. C̣n thầy Phật Đại Thắng Đa lại phân học tṛ làm sáu Tông : thứ nhất là Hữu Tướng, thứ hai là Vô Tướng, thứ ba là Định Huệ, thứ tư Giới Hạnh, thứ năm Vô Đắc, thức sáu Tịch Tịnh.

Tổ bùi ngùi than : “Ông thầy của họ đă kẹt vào trong dấu chân trâu, lại c̣n chi ly phân thành sáu tông rối rắm. Nếu ta không trừ cho th́ đời đời trói buộc trong tà kiến”.

Nói rồi, hiện thần lực, đến chỗ tông Hữu Tướng, hỏi rằng : “Tất cả các pháp, cái ǵ gọi là Thật Tướng?”

Trong chúng kia có vị tôn trưởng là Tát Bà La đáp rằng : “Ở trong các Pháp Tướng, các Tướng chẳng đổi lẫn nhau, đó là Thật Tướng”.

Tổ nói : “Tất cả các Tướng mà chẳng thay đổi ấy, nếu gọi là Thật Tướng phải định thế nào ?”

Người ấy nói : “Trong các Tướng, thật không có định, nếu định các Tướng, sao gọi là thật ?”

Tổ nói : “Các Tướng Bất Định th́ gọi là Thật Tướng, nay ông dùng cái Bất Định để được cái ǵ ?”

Người ấy nói : “Năy tôi nói Bất Định là chưa nói đến các Tướng, nay nói các Tướng, th́ nghĩa của chúng cũng như thế”.

Tổ nói : “Ông nói Bất Định cho là Thật Tướng, vậy th́ Định mà Bất Định, tức chẳng phải là Thật Tướng”.

Người kia nói : “Định mà đă Bất Định, th́ chẳng phải là Thật Tướng. Biết cái Ngă là chẳng có, thế nên bất định bất biến”.

Tổ nói : “Nay ông nói Bất Biến th́ sao gọi là Thật Tướng ? C̣n có biến có đổi, nghĩa ấy cũng vậy thôi”.

Người ấy đáp : “Bất Biến th́ c̣n, v́ c̣n mà chẳng c̣n, nên biến đổi Thật Tướng, để định nghĩa này”.

Tổ nói : “Thật Tướng bất biến, có Biến là chẳng thật, trong Hữu và Vô nào gọi là Thật Tướng”.

Thầy Tát Bà La biết Thánh Sư hiểu thâm sâu, liền lấy tay chỉ hư không nói : “Đó là cái Hữu Tướng của thế gian mà cũng có thể trống không, hiện cái thân tôi đây, được giống thế không ?”

Tổ nói : “Như rơ Thật Tướng bèn thấy chẳng phải Tướng; như rơ cái Chẳng Phải Tướng, th́ cái H́nh Sắc cũng vậy. Hiện ở trong Sắc, chẳng mất cái Thể của H́nh Sắc, ở ngay trong cái chẳng phải Tướng mà chẳng ngại với cái Có. Rơ được như thế, ấy gọi là Thật Tướng”.

Chúng kia nghe xong, tâm ư sáng láng, kính lễ tin nhận.

Tổ thoạt nhiên biến mất, đến chỗ tông Vô Tướng, hỏi rằng : “Các ông nói không có Tướng, th́ lấy ǵ làm chứng đó ?”

Trong chúng kia có thầy Ba La Đề đáp rằng : “Tôi rơ không có Tướng, v́ tâm kia chẳng hiện bày”.

Tổ nói : “Tâm ông chẳng hiện, lấy ǵ mà rơ ?”

Người ấy nói : “Tôi rơ Vô Tướng, tâm không lấy bỏ, ngay khi rơ biết, cũng không có ǵ đảm đương”.

Tổ nói : “Nơi các thứ có thứ không, tâm không lấy bỏ, lại không có đảm đương th́ những sự rơ biết không có vậy”.

Người ấy nói : “Vào Tam Muội của Phật c̣n không có chỗ đắc, huống chi là không có Tướng, mà muốn biết đó ?”

Tổ nói : “Tướng đă chẳng có biết, cái ǵ gọi là Có-Không; c̣n không có chỗ đắc, lấy ǵ gọi là Tam Muội ?”

Người ấy nói : “Tôi nói chẳng chứng là chứng cái không có chỗ chứng, chẳng phải Tam Muội, nên tôi nói Tam Muội”.

Tổ nói : “Chẳng phải là Tam Muội ấy, sao gọi tên đó ? Ông đă chẳng chứng, chẳng phải chứng, sao chứng ?”

Ba La Đề nghe Tổ phân tách rơ rệt bèn ngộ Bản Tâm, lễ tạ Tổ sư, sám hối lỗi trước.

Tổ thọ kư rằng : “Ông sẽ đắc quả, chẳng bao lâu chứng đó. Nước này có ngoại đạo, dẹp nó chẳng lâu ǵ”.

Nói rồi, bỗng nhiên biến mất.

Tổ đến chỗ tông Định Huệ, hỏi rằng : “Các ông học Định Huệ đó là một hay là hai ?”

Trong chúng kia có thầy Bà Lan Đà đáp rằng : “Cái Định Huệ này của tôi chẳng phải một, chẳng phải hai”.

Tổ nói : “Đă chẳng phải một hay hai, sao gọi là Định Huệ ?”

Người ấy nói : “Trong Định chẳng phải Định, nơi Huệ chẳng phải Huệ, một tức chẳng phải một, hai cũng chẳng phải hai”.

Tổ nói : “Đối một chẳng có một, đối hai chẳng có hai, đă chẳng phải Định Huệ th́ bày ra Định Huệ nào?”

Người ấy nói : “Chẳng một, chẳng hai mà Định Huệ biết được; c̣n chẳng phải Định chẳng phải Huệ cũng lại như vậy”.

Tổ nói : “Huệ chẳng phải Định, làm sao mà biết? Chẳng một chẳng hai, cái ǵ là Định, cái ǵ là Huệ ?”

Ba Lan Đà nghe qua, tâm nghi liền tan mất.

Tổ đến chỗ thứ tư là tông Giới Hạnh , hỏi rằng : “Cái ǵ là Giới ? Thế nào là Hạnh ? Là một hay hai ?”

Trong chúng ấy có một hiền giả đáp rằng : “Một hai hai một, đều do đó sanh ra, y theo Giáo Pháp không có nhiễm trước, đó gọi là Giới Hạnh”.

Tổ nói : “Ông nói y theo Giáo, tức là có nhiễm ô, một với hai đều phá hết, sao nói y theo Giáo, hai cái này trái nghịch, chẳng đúng với Hạnh. Trong ngoài chẳng sáng tỏ, sao gọi là Giới ?”

Người ấy nói : “Tôi có trong ngoài, kia đă biết hết. Đă được suốt hiểu, bèn đó là Giới Hạnh. Nếu nói trái nghịch, đó đều là phải là trái, c̣n nói đến chỗ trong sạch, th́ tức Giới tức Hạnh”.

Tổ nói : Đều là phải đều là trái, sao nói là trong sạch ? Đă được suốt thông, sao nói đến trong ngoài ?”

Hiền giả nghe đó, bèn tự thẹn chịu phục.

Tổ đến chỗ tông Vô Đắc , hỏi rằng : “Mấy ông nói là Không Đắc, Không Đắc th́ đắc cái ǵ ? Đă không có chỗ Đắc, lại cũng không đắc cái Không Đắc ư ?”

Trong chúng kia có thầy Bửu Tịnh đáp rằng : “Tôi nói Không Đắc chẳng phải là không đắc cái Đắc, nay nói đắc cái Đắc, Không Đắc chính là Đắc”.

Tổ nói : “Đắc đă chẳng Đắc, Đắc cũng chẳng phải Đắc, đă nói là đắc cái Đắc, đắc cái Đắc là đắc cái ǵ ?”

Người ấy nói : “Thấy Đắc chẳng phải Đắc, chẳng phải Đắc tức là Đắc, nếu thấy là chẳng Đắc, gọi là Đắc cái Đắc”.

Tổ nói : “Đắc đă chẳng phải Đắc, đắc cái Đắc là Không Đắc, được không có chỗ Đắc, hiện nào đắc cái Đắc ?”

Thầy Bửu Tịnh nghe qua liền trừ lưới nghi.

Tổ đến chỗ tông Tịch Tịnh , hỏi rằng : “Sao gọi là Tịch Tịnh() ? Ở trong Pháp đây, cái ǵ là yên, cái ǵ là lặng ?”

Trong chúng ấy có vị Tôn Giả đáp rằng : “Tâm này chẳng động, đó gọi là lặng; nơi pháp không nhiễm gọi đó là yên”.

Tổ nói : “Bổn Tâm chẳng lặng, mới cần mượn lặng yên. Xưa nay vốn lặng, nào cần dùng đến lặng yên ?”

Người ấy nói : “Các pháp vốn Không, v́ là Không Không, nên trong Không Không ấy, gọi là lặng yên”.

Tổ nói : “Không Không đă là Không, các pháp cũng thế, lặng yên Vô Tướng, nào c̣n lặng, nào c̣n yên ?”

Tôn giả ấy nghe Tổ chỉ dạy, hoát nhiên khai ngộ, nên cả sáu chúng đều nguyện quy y.

Do đó giáo hóa khắp miền Nam Thiên Trúc, tiếng khắp năm phương Ấn Độ. Cứ theo sáu phái kia, cũng biết lui bỏ để tu Vô Lậu, nên Tổ hiện thần lực, khiến cho giải thoát.

Đây là chỗ ứng hóa thứ nhất của Đức Quán Thế Âm vậy. Nguyện xưa là như thế.

Kinh : “Nếu các hàng Hữu Học, tu Pháp lặng yên được mầu sáng, chỗ thắng diệu vẹn tṛn hiển hiện, tôi ở trước kẻ ấy, hiện thân Độc Giác, v́ họ thuyết pháp, khiến cho Giải Thoát. Nếu các hàng Hữu Học, đoạn mười hai Nhân Duyên, duyên dứt th́ Thắng Tánh nhiệm mầu trổi vượt hiện ra tṛn vẹn, tôi ở trước kẻ ấy, hiện thân Duyên Giác, v́ họ thuyết pháp, khiến được Giải Thoát.

Thông rằng : Bậïc Bích Chi Phật có hai loại : Một là sanh đời không Phật, xét thấu sự vật biến chuyển, tự giác Vô Sanh, gọi là Độc Giác. Hai là sanh đời có Phật, vâng theo Giáo Pháp của Phật, xét thấu Nhân Duyên mà ngộ Đạo, gọi là Duyên Giác. Lặng yên mầu sáng không phải là Bản Giác Mầu Sáng (Diệu Minh), mà nhân pháp tu Tịch Tịnh Lặng Yên mà đắc. Đoạn dứt mười hai Nhân Duyên, từ cái Vô Minh diệt cho đến Khổ Năo diệt. Duyên đoạn th́ Thắng Tánh hiện, do Diệt nên được Chứng, đều được chỗ Thắng Diệu hiện ra toàn vẹn. Đó là chỉ nhờ vào lư trí, riêng ḿnh tỏ biết cái nhiệm mầu, riêng ḿnh tỏ biết cái nhân duyên, chưa thể hồi tâm hướng về Đại Thừa, nên chưa thật Giải Thoát.

Thiền sư Ngưu Đầu Dung ẩn nương hang đá, có sự lạ lùng là trăm chim ngậm bông đến. Tứ Tổ xa thấy khí tượng, biết chỗ ấy có người, mới tự thân t́m hỏi. Tổ hỏi nhà sư ở chùa : “Chốn này có đạo nhơn chăng ?”

Đáp : “Người xuất gia, ai chẳng phải là đạo nhân?”

Tổ nói : “Vậy ai là đạo nhân ?”

Nhà sư không có lời đáp.

Một nhà sư khác nói : “Từ đây vào núi khoảng mười dặm, có một ông thầy Dung lười biếng, thấy người chẳng đứng dậy, chẳng chắp tay chào, không phải là đạo nhân ư ?”

Tổ bèn vào núi, thấy thầy Dung ngồi thẳng tự nhiên. Tổ hỏi rằng : “Ở đây làm ǵ ?”

Thầy Dung nói : “Quán tâm”.

Tổ nói : “Quán là người nào, tâm là vật ǵ ?”

Thầy Dung không đáp được, liền đứng dậy làm lễ, nói : “Đại Đức quư quán nơi nào ?”

Tổ nói : “Bần đạo chẳng nhất định ở đâu hoặc Đông hoặc Tây”.

Thầy Dung nói : “Lại biết Đạo Tín thiền sư chăng ?”

Tổ nói : “Hỏi kẻ khác ấy làm ǵ ?”

Thầy Dung nói : “Bấy lâu hướng về thịnh đức, mong lễ ra mắt một phen”.

Tổ nói : “Đạo Tín là bần đạo vậy”.

Thầy Dung nói : “Nhân sao đến đây ?”

Tổ nói : “Độc chỉ đến hỏi thăm nhau. Lại không có chỗ nghỉ chăng ?”

Thầy Dung chỉ phía sau, chỉ có một am nhỏ, bèn dẫn Tổ đến đó, chung quanh am chỉ thấy loài hổ, báo. Tổ bèn đưa hai tay làm vẻ sợ.

Thầy Dung nói : “Dường c̣n cái ấy vậy”.

Tổ nói : “Cái ấy là cái ǵ ?”

Thầy Dung không nói được.

Chốc lát, Tổ trở lại chỗ tảng đá thầy Dung ngồi thiền, viết lên đó một chữ Phật. Thầy Dung xem thấy, giật ḿnh.

Tổ nói : “Dường c̣n cái ấy vậy”.

Thầy Dung chưa hiểu, cúi đầu xin nói chỗ chơn yếu. Tổ trao cho pháp môn Đốn Giáo, sẵn đủ muôn Hạnh Bồ Tát.

Thầy Quật Đa Tam Tạng xứ Tây Vực khế ngộ nơi lời dạy của Lục Tổ. Sau ngao du Ngũ Đài, thấy một nhà sư lập am tĩnh tọa.

Thầy Tạng hỏi : “Ngồi một ḿnh làm ǵ ?”

Đáp : “Quán Tịnh”.

Thầy Tạng nói : “Quán, đó là người nào ? Tịnh đó là vật ǵ ?”

Nhà sư làm lễ, hỏi : “Lư ấy thế nào ?”

Thầy Tạng nói : “Ông sao chẳng tự quán tự tịnh?”

Vị sư ấy ngẩn ngơ.

Thầy Tạng nói : “Ông ở phái nào ra ?”

Đáp : “Tổ Tú Thiền sư”.

Thầy Tạng nói : “Xứ Tây Vực của tôi, kẻ thấp nhất trong ngoại đạo c̣n chẳng sa vào cái kiến giải này, là trơ trơ ngồi không, đối với đạo ích ǵ ?”

Vị sư lại hỏi : “Vị Tôn sư của thầy Tạng là ai ?”

Thầy Tạng nói : “Thầy tôi là Lục Tổ. Sao ông chẳng sớm đến Tào Khê cho rơ chơn yếu ?”

Vị sư liền sang tham vấn Lục Tổ. Tổ dạy giống như thầy Tạng. Nhà sư liền ngộ nhập.

Nếu thầy Dung cùng nhà sư này chẳng gặp Tứ Tổ, Lục Tổ, th́ đă chứng Độc Giác, Duyên Giác rồi vậy. Mong ǵ có ngày Giải Thoát ư ?

 

Kinh : “Nếu các hàng Hữu Học, đắc Tứ Đế Không, tu Đạo Đế, Nhập Diệt Đế, Thắng Tánh hiện ra tṛn vẹn, tôi ở trước người ấy hiện thân Thanh Văn, v́ họ thuyết pháp, khiến cho Giải Thoát.

Thông rằng : Pháp Tứ Đế là Biết Khổ, Đoạn Tập, Chứng Diệt, Tu Đạo. Cho đến vào Diệt Tận Định, ham mê cái vui Tịch Diệt, không có ư độ sanh, gọi đó là Thanh Văn, y vào tiếng dạy mà tu Đạo vậy.

Tổ Quy Sơn đang ngồi, thầy Ngưỡng Sơn đi vào.

Tổ Quy Sơn nói : “Huệ Tịch nói mau, chớ sa vào Ấm, Giới !”

Ngưỡng Sơn nói : “Huệ Tịch đây chỗ tin hiểu cũng chẳng lập”.

Tổ Quy nói : “Ông chỗ tin hiểu chẳng có lập. Chẳng tin, chẳng lập”.

Ngưỡng Sơn nói : “Chỉ đó là Huệ Tịch, c̣n tin ǵ nữa ?”

Tổ Quy nói : “Nếu như thế là Định Tánh Thanh Văn”.

Ngưỡng Sơn nói : “Huệ Tịch đây, Phật cũng chẳng lập”.

Tổ Vân Cư Ứng sai thị giả đem cái khố cho một đạo giả ở am.

Đạo giả nói : “Tự có cái khố của mẹ sanh rồi, chẳng nhận”.

Tổ Ứng lại sai thị giả hỏi : “Khi cha mẹ chưa sanh, th́ mặc cái ǵ ?”

Đạo giả không lời đáp.

Về sau, tịch; có xá lợi đem đến Tổ Ứng.

Tổ Ứng nói : “Dù cho được tám hộc bốn đấu, chẳng bằng khi ấy thốt được một lời chuyển ngữ”.

Vị đạo giả này, quyết nhận cái khố mẹ đẻ, thật đó là định tánh Thanh Văn. Ngưỡng Sơn lại có thể nói một lời chuyển ngữ rằng, “Huệ Tịch đây, Phật cũng chẳng lập”, thật là thấy mặt mày lúc chưa sanh.

 

Kinh : “Nếu các chúng sanh muốn tâm tỏ ngộ, chẳng phạm dục trần, muốn thân trong sạch, tôi ở trước người ấy, hiện thân Phạm Vương v́ họ thuyết pháp, khiến cho Giải Thoát.

Thông rằng : Phạm Vương, Chúa trời cơi Sắc tên là Thi Khí, đây gọi là Đảnh Kế, ở đỉnh cơi Sơ Thiền. Bậc Độc Giác, Thanh Văn ở cơi trời Tứ Không. Ở dưới là Phạm Vương. Dưới cơi Phạm Thiên là Lục Dục Thiên. Chẳng phạm dục trần, chẳng những không muốn cái dục thanh sắc thô kệch của nhơn gian, mà cái vui của trời Tha Hóa Tự Tại cũng chẳng ưa, muốn tiến đến Tứ Thiền, do niệm xả nên trong sạch, muốn được cái thân trong sạch không hỉ, không lạc vậy.

Tổ Nam Dương Trung Quốc Sư hỏi thiền sư Tư Không Sơn Bổn Tịnh rằng : “Ông từ đây về sau thấy lời lẽ kỳ đặc th́ như thế nào ?”

Tổ Tịnh nói : “Không một niệm tâm ham”.

Quốc Sư nói : “Đó là chuyện trong nhà ông”.

Lại có nhà sư hỏi Trung Quốc Sư : “Như sao là Giải Thoát ?”

Quốc sư nói : “Các pháp chẳng đến nhau, ngay đây là Giải Thoát”.

Nhà sư nói : “Như thế là đoạn dứt đi vậy”.

Quốc Sư nói : “Đă nói với ông là các pháp chẳng đến nhau, đoạn cái ǵ ?”

Từ chỗ tự hiện thân Phật thuyết pháp, đến đây là năm Pháp Giải Thoát, đều chỉ rút về một đường hướng thượng. Từ chỗ Đế Thích về sau, chỉ khiến cho thành tựu mà thôi. Phật Pháp và thế gian pháp, nếu thấy được cái Chân Thật, cả thảy nào có khác nhau.

 

Kinh : “Nếu các chúng sanh muốn làm Chúa cơi Trời, thống lănh Chư Thiên, tôi ở trước người ấy, hiện thân Đế Thích, v́ họ thuyết pháp, khiến cho thành tựu.

Thông rằng : Đế Thích có nhiều tên : Một là Thích Đề Hoàn Nhân, hai là Kiều Thi Ca; ở đỉnh Tu Di, bốn phía, mỗi phía là tám cơi trời, hợp lại là ba mươi hai cơi trời, đều thống lănh hết.

Tôn giả Tu Bồ Đề một hôm đang thuyết pháp, vua Đế Thích rải hoa xuống.

Tôn giả hỏi : “Hoa này từ trời được ư ?” Từ đất được ư ? Từ người được ư ?”

Đế Thích rằng : “Chẳng phải vậy”.

Tôn giả nói : “Từ đâu mà được ?”

Đế Thích liền đưa tay lên.

Tôn giả nói : “Như vậy, như vậy”.

Xưa, Đức Thế Tôn dùng ngọc Ma Ni chỉ bày cho Vua Trời ở năm phương. Mỗi vị nói là xanh, vàng, đỏ, trắng. Thế Tôn đưa tay lên mà chỉ bày, thế mà đều không thấy. Thế Tôn nói : “Ta lấy ngọc thật chỉ bày cho các ông, mà đều chẳng biết”. Vua Trời ở năm phương do đó ngộ nhập.

Đế Thích nay trước Tôn Giả đưa tay lên, cái dụng thật là thân thiết. Vua Đế Thích cũng tỏ hiểu Thiền vậy.

 

Kinh : “Nếu các chúng sanh muốn Thân Tự Tại, đi khắp mười phương, tôi ở trước người ấy, hiện thân Tự Tại Thiên, v́ họ thuyết pháp, khiến cho thành tựu.

Thông rằng : Trời Tự Tại tức Trời Tha Hóa Tựï Tại. Mượn chỗ gây làm của kẻ khác, lấy làm cái vui riêng ḿnh, đó là trên đỉnh Dục Giới. Hoặc nói có riêng chỗ ở của Ma Vương, th́ cũng gồm trong Trời Tự Tại.

Tôn giả Ưu Ba Cúc Đa hành hóa nhiều nơi, người được độ rất nhiều. Do đó, cung ma chấn động, Ba Tuần lo sợ, bèn dùng hết ma lực để phá chánh pháp. Tôn giả bèn nhập định, xem xét nguyên do. Ba Tuần được dịp, lén cầm chuỗi ngọc tṛng vào cổ Ngài. Tôn giả xuất định, bèn lấy ba thây chết của người, chó và rắn, hóa làm tràng hoa, dỗ Ba Tuần rằng : “Ông cho tôi chuỗi ngọc, thật rất đẹp quư. Tôi có tràng hoa để dâng đáp nhau”.

Ba Tuần rất mừng, đưa cổ ra nhận, bỗng biến thành ba thứ thây chết, gịi bọ nhoi đục śnh thối. Ba Tuần gớm ghét, dùng hết thần lực mà chẳng dời chuyển, bèn bay lên cơi trời Lục Dục, bảo các Chúa Trời, cùng xin Phạm Vương, cầu được thoát khỏi.

Mỗi vị đều nói : “Đệ tử của Phật thập lực đủ mọi thần biến, chúng tôi là hạng phàm lậu làm sao trừ nổi ?”

Ba Tuần nói : “Thế th́ làm sao ?”

Phạm Vương nói : “Ông nếu hồi tâm với Tôn Giả, liền có thể trừ dứt”.

Bèn nói bài kệ, khiến cho hồi hướng :

“Đă do đất trợt té

Phải do đất đứng dậy

Ĺa đất cầu đứng dậy

Làm ǵ có lư ấy”.

Ba Tuần nghe dạy rồi, liền xuống khỏi cung trời, lễ dưới chân Tôn Giả, thiết tha sám hối.

Tôn giả nói : “Từ nay trở đi, đối với Phật Pháp, ông không c̣n làm rối hại nữa chăng ?”

Ba Tuần nói : “Tôi thề hồi hướng Phật Đạo, vĩnh viễn dứt ĺa điều ác”.

Tôn giả nói : “Nếu như thế, ông có thể tự miệng ḿnh xướng lên lời quy y Tam Bảo”.

Ma Vương chắp tay, xướng ba lần. Tràng hoa dẹp hết. Bèn vui vẻ nhảy nhót, làm lễ tôn giả mà nói bài kệ rằng :

“Kính lạy Đấng Tam Muội

“Đệ tử Thánh Mười Lực

“Tôi nay nguyện hồi hướng

“Chẳng c̣n sự yếu hèn”.

Xem bài kệ Phạm Vương, thật là lư nhiệm mầu của hồi hướng. Chẳng phải là Hóa Thân Bồ Tát đó sao ?

 

Kinh : “Nếu các chúng sanh muốn Thân Tự Tại, bay đi trên hư không, tôi ở trước người ấy, hiện thân Đại Tự Tại Thiên, v́ họ thuyết pháp, khiến cho thành tựu.

Thông rằng : Trời Đại Tự Tại tức là Ma Hê Thủ La Thiên. Ba mắt tám tay, cỡi trâu trắng, cầm phất trắng, ở đỉnh cơi sắc, nên bay đi trên hư không.

Kinh Niết Bàn nói : “Sao gọi là kho bí mật ? Giống như chữ (  ), ba điểm, chụm dính lại th́ chẳng thành chữ Y, tản ra cũng chẳng thành; như Ma Hê Thủ La Thiên, trên mặt có ba mắt, mới thành được chữ Y. Ba điểm riêng nhau, cũng chẳng thành được. Ta cũng như thế, cái pháp giải thoát cũng chẳng phải Niết Bàn. Thân của Như Lai cũng chẳng phải Niết Bàn. Ma Ha Bát Nhă cũng chẳng phải Niết Bàn. Ba pháp, mỗi cái khác nhau, cũng không phải Niết Bàn. Nay Ta an trụ ba pháp như thế, v́ chúng sanh mà gọi là nhập Niết Bàn, giống như chữ Y của đời”.

Tổ Nham Đầu thượng đường, nói : “Ta thường nghiên cứu kinh Niết Bàn, trong bảy, tám năm thấy hai ba đoạn nghĩa, giống như lời nói của nhà Thiền”.

Rồi lại nói : “Thôi ! Thôi !”

Khi ấy, có một nhà sư bước ra làm lễ, xin thầy nói ra.

Tổ Đầu nói : “Giáo ư của ta như chữ Y (  ) ba điểm. Thứ nhất, hướng về phương Đông hạ một điểm, điểm khai mắt của các Bồ Tát. Thứ hai, hướng về phương Tây hạ một điểm, điểm mạng mạch của các Bồ Tát. Thứ ba, hướng phương trên hạ một điểm, điểm đảnh của các Bồ Tát. Đây là đoạn nghĩa thứ nhất. Lại nói, giáo ư của ta giống như banh mở cửa trên mặt của Ma Hê Thủ La Thiên, dựng đứng một con mắt lẻ. Đây là đoạn nghĩa thứ hai. Lại nói, giáo ư của ta như trống tẩm độc(), đánh một tiếng xa gần nghe đến đầu chết ráo. Đây là đoạn nghĩa thứ ba”.

Khi ấy, Thượng Tọa Tiểu Nghiêm hỏi : “Như sao là trống tẩm độc ?”

Tổ Đầu hai tay đặt trên gối, thẳng thân, nói : “Hàn Tín lâm triều vậy”.

Thầy Nghiêm không có lời lẽ.

Tổ Phù Sơn Viễn thượng đường : “Chư Phật ra đời dựng nên giáo pháp chẳng ĺa Trí Nhăn Ba Thân, cũng như ba con mắt của trời Ma Hê Thủ La. V́ sao ? Một con th́ giọt nước rỉ chẳng thông, tăng tục khó biện. Một con th́ đại địa vẹn mở, mười phương suốt khắp. Một con th́ cao thấp trong một cái nh́n, muôn loại xem bằng. Tuy nhiên như thế, bổn phận nhà sư ở chỗ đường lối ngăn trở nhau phải có Chánh Nhăn thông thiên mới được. Bởi thế mới nói ba đời Chư Phật chẳng biết có(). Loài hồ ly cái, trâu trắng đực lại biết có. Hăy nói hồ ly cái, trâu trắng đực biết có là có cái ǵ ? Am hiểu ư ?”

Đêm Thu mưa giăng ngàn nhà vắng

Ngày lụn tựa đài một tiếng tiêu.

Ba mắt trên mặt của Ma Hê Thủ La Thiên như ba điểm nếu chữ Y. Tông môn mượn đó xướng lên lẽ huyền. Chớ nói là không lời, Âm Thanh ấy như sấm !

 

Kinh : “Nếu các chúng sanh muốn thống lĩnh Quỷ Thần, cứu hộ cơi nước, tôi ở trước người ấy, hiện thân Thiên Đại Tướng Quân, v́ họ thuyết pháp, khiến cho thành tựu.

Thông rằng : Thiên Đại Tướng Quân thống lĩnh Quỷ Thần, làm Thượng Tướng của Đế Thích.

Ngài Thiên Thai Trí Giả ban đầu trụ ở Ngọc Tuyền.

Quan Công Đại Tướng Quân ứng mộng, nói : “Tôi cùng con là Quan B́nh cai trị núi này lâu rồi vậy”.

Ngài Trí Giả thuyết cho giới ba Quy Y.

Quan Công thề nguyện làm Hộ Pháp. Đến nay vẫn cứu hộ cơi nước, vẫn rất linh hiển.

Thầy Truyền Sơn Phổ đến Tổ Hoàng Long thỉnh ư chỉ, hỏi rằng : “Ông Anan hỏi Tổ Ca Diếp : “Ngoài áo cà sa, Thế Tôn phó truyền pháp ǵ ?”

“Tổ Ca Diếp gọi lớn : “Anan !”

“Anan ứng tiếng : “Dạ”.

“Tổ Ca Diếp nói : “Ngă rồi cây cột phướn trước cửa !”

“Ư chỉ thế nào ?”

Tổ Nam Công() nói : “Ông ra khỏi đất Thục từng đến Ngọc Tuyền chăng ?”

Đáp : “Đă từng đến”.

Lại hỏi : “Từng ở lại chăng ?”

Đáp : “Một đêm rồi đi”.

Tổ Nam Công nói : “Đạo tràng của Trí Giả, Quan Tướng Quân dâng cúng, cùng kết duyên nhau lúc nào mà ngại”.

Thầy Phổ lặng im. Giây lâu hỏi lư trước. Tổ Nam Công cúi đầu.

Thầy Phổ bước ra rất hăi hùng, nói : “Nghĩa hổ Tây Xuyên không làm tiêu một cái khạc nhổ của lăo này”.

C̣n Tổ Thúy Nham Chân thượng đường : “Tiên Đức nói, “Việc này như đốt mai rùa. Đốt bèn thành điềm bày ra tốt xấu, không đốt thành không biết”. Đốt cùng chẳng đốt, liền là hoa mắt. Thượng Lam() th́ chẳng thế, không cố chấp, không nhất định. Hư không cỡi ngựa, đất hạn đi thuyền. Núi Nam khởi mây, núi Bắc mưa xuống !”

Bèn cầm cây gậy lên, nói rằng : “Cây gậy hóa làm Thiên Đại Tướng Quân đi khắp bốn thiên hạ. Có giữ tiết hay chẳng giữ tiết, có giới hạnh hay chẳng giới hạnh, nhất thời tâu cùng trời Đế Thích”.

Bèn hét, nói :

“Trượng phu tự có chí xông trời

Chẳng hướng đường đi Như Lai đi”.

(Trượng phu tự hữu xung thiên chí

Mạc hướng Như Lai hành xứ hành).

Liền đánh vào bàn một cái.

Hai vị tôn túc đây, đều đem Đại Tướng Quân mà thuyết pháp. Tức là v́ Đại Tướng Quân mà thuyết pháp vậy.

 

Kinh : “Nếu các chúng sanh muốn thống lĩnh thế giới, bảo hộ chúng sanh, tôi ở trước người ấy, hiện thân Tứ Thiên Vương, v́ họ thuyết pháp, khiến cho thành tựu.

Thông rằng : Tứ Thiên Vương ở giữa núi Tu Di. Mặt trời mặt trăng đi qua ṿng trước cung. Đó là thần của Đế Thích bảo hộ cho bốn cơi thiên hạ().

Quan Lục Đại Phu hỏi Tổ Nam Tuyền : “Thiên Vương ở địa vị nào ?”

Tổ Tuyền nói : “Nếu là Thiên Vương, th́ chẳng phải địa vị”.

Ông Lục nói : “Đệ tử nghe nói Thiên Vương ở Sơ Địa”.

Tổ Tuyền nói : “Đáng dùng thân Thiên Vương để được độ, liền hiện thân Thiên Vương, v́ đó thuyết pháp”.

Thử nói xem Nam Tuyền nói Giáo hay nói Tông?

 

Kinh : “Nếu các chúng sanh muốn sanh nơi Thiên Cung, sai khiến Quỷ Thần, tôi ở trước người ấy, hiện thân Thái Tử của Tứ Thiên Vương, v́ họ thuyết pháp khiến cho thành tựu.

Thông rằng : Theo phẩm Phổ Môn, có thần Chấp Kim Cang không có Quốc Thái Tử. Nhưng sai khiến Quỷ Thần là Thần Chấp Kim Cang tức là một loại Quốc Thái Tử vậy.

Thái Tử Na Tra, con Tỳ Sa Môn Thiên Vương, mỗi nửa đêm theo hầu Tuyên Luật Sư, hoặc đỡ chân cho khỏi té, hoặc đàm luận thắng cảnh Ngũ Đài Sơn. Đó là chỗ Nhị Thừa không biết nổi. Đây là ghi chép lại rơ ràng trong truyện Luật Sư.

Có nhà sư hỏi Thiều Quốc Sư : “Thái Tử Na Tra lóc thịt trả lại cho mẹ, chẻ xương trả lại cho cha. Sau đó hiện lại bổn thân, vận dụng đại thần lực, ở trên ṭa sen, v́ cha mẹ thuyết pháp; chưa rơ như thế nào là thân Thái Tử ?”

Đáp rằng : “Mọi người đều thấy Thượng Tọa hỏi”.

Nhà sư ấy hỏi : “Như thế tức cơi Đại Thiên đồng một Chân Tánh vậy”.

Quốc Sư nói : “Phảng phất tựa khúc đàn mới nghe, lại bị gió thổi thành điệu khác”.

Ngẫm nghĩ chỗ này th́ thân Thái Tử, thân Bồ Tát mọi thứ chọn xét đều chẳng có ra được.

 

Kinh : “Nếu các chúng sanh muốn làm Vua cơi người, tôi ở trước người ấy, hiện thân Vua, v́ họ thuyết pháp, khiến cho thành tựu.

Thông rằng : Từ Vua Kim Luân, cho đến Vua Túc Tán đều là Vua của loài người vậy. Kinh Pháp Hoa chỉ nói đến Tiểu Vương, đều là chỉ Vua trong loài người.

Vua Văn Tông nhà Đường rất thích con ṣ. Quan Sử miền duyên hải lúc trước thường chuyển dâng, người phải nhọc mệt. Một hôm, trong ngự cổ có con chẻ chẳng mở ra. Vua lấy làm lạ, liền đốt hương cầu khẩn; bèn mở ra, th́ thấy h́nh dung của vị Bồ Tát, tướng thanh tịnh đầy đủ. Vua bèn lấy hộp bằng cây hương đàn đỏ mà đựng, gấm tốt bao trên, hiến cho chùa Hưng Thiện, để cho chúng tăng chiêm ngưỡng, lễ bái. Vua hỏi quần thần đây là điềm lành ǵ ? Bèn tâu ở núi Thái Nhất chỉ có thiền sư Chính, rơ sâu Phật pháp, xin chiếu mời hỏi. Vua liền xuống chiếu mời sư đến để hỏi việc ấy.

Tổ Chính nói : “Đáng dùng thân này để được độ, liền hiện thân này, v́ đó thuyết pháp”.

Vua nói : “Thân Bồ Tát đă hiện mà chưa nghe thuyết pháp”.

Tổ Chính nói : “Bệ hạ thấy đấy là thường ư ? Là phi thường ư ?”

Vua nói : “Sự lạ ít thấy, Trẫm rất tin vậy”.

Bệ Hạ đă nghe thuyết pháp rồi vậy”.

Ḷng vua vui vẻ, ra chiếu cho chùa chiền trong thiên hạ, mỗi nơi đều lập tượng Quan Âm, để đền đáp việc tốt lành đặc biệt ấy.

Con ṣ đó dùng cái không nói mà nói, Tổ Chính dùng lời nói mà nói; đều là Hóa Thân đó vậy.

 

Kinh : “Nếu các chúng sanh muốn làm chủ gia đ́nh danh tiếng, thế gian kính nhường, tôi ở trước người ấy, hiện thân Trưởng Giả, v́ họ thuyết pháp, khiến cho thành tựu.

Thông rằng : Bậc Trưởng Giả có đủ mười đức là ḍng dơi sang quí, địa vị cao, giàu lớn, oai thế mạnh mẽ, trí sâu xa, tuổi thọ, hạnh trong sạch, đầy đủ lễ nghi, trên khen, dưới phục, giống như bậc nguyên lăo của quốc gia.

Ông Lư trưởng giả tên là Thông Huyền, người Đông Bắc Thái Nguyên, hoặc gọi là bậc Tôn Thất nhà Đường. Năm Thứ Bảy Khai Nguyên, ở ẩn nơi Thổ Khám núi Phương Sơn, làm bộ Hoa Nghiêm Hiệp Luận gồm bốn mươi pho. Cọp quỳ đội kinh, rồng thần hóa suối. Ngày có Thiên Nữ hầu phụng, đêm th́ ánh sáng của trăng thay đuốc. Ngày thị tịch, chim thú buồn kêu, khí sáng tột trời. Tuổi thọ chín mươi sáu.

Ông Trương Vô Tận cho là Đức Văn Thù, Phổ Hiền hiện huyễn thân, đâu biết chẳng phải Đức Quan Âm hiện huyễn thân vậy ư ?

 

Kinh : “Nếu các chúng sanh thích đàm luận những danh ngôn, giữ ḿnh trong sạch, tôi ở trước người ấy, hiện thân Cư Sĩ, v́ họ thuyết pháp, khiến cho thành tựu.

Thông rằng : Nghe rộng hiểu nhiều, chẳng cần quan tước, của cải giàu có, giữ chí liêm khiết, gọi là Cư Sĩ.

Ông Bàng Uẩn, hiệu Đạo Huyền, người xứ Hành Dương sớm ngộ sự mỏi nhọc của đời, chí t́m cầu chân lư.

Ban đầu, ra mắt Tổ Thạch Đầu, hỏi rằng : “Chẳng cùng muôn pháp làm bạn lứa, ấy là người nào ?”

Tổ Đầu lấy tay bịt miệng.

Hoát nhiên tỉnh ngộ.

Ngày nọ, Tổ Đầu hỏi : “Từ khi gặp lăo tăng đến nay, việc hàng ngày của ông thế nào ?”

Cư sĩ đáp : “Nếu hỏi việc dùng hàng ngày, tức không có chỗ mở miệng”.

Bèn tŕnh kệ :

“Việc hàng ngày không khác

Riêng ta tự an bằng

Mỗi mỗi không nắm, bỏ

Chốn chốn chẳng chống ngăn

Lộn xộn ai bày nhỉ ?

Non Khưu bặt bụi trần

Gánh nuớc cùng vác củi

Đó : diệu dụng, thần thông”.

Tổ Đầu bằng ḷng, hỏi : “Ông dùng áo đen hay trắng ?”

Cư sĩ nói : “Nguyện theo chỗ thích”.

Bèn chẳng cạo, nhuộm.

Sau đến tham vấn Đức Mă Tổ, hỏi rằng : “Chẳng cùng muôn pháp làm bạn lứa, ấy là người nào ?”

Ngài Mă Tổ nói : “Đợi ông hớp một ngụm hết nước Tây Giang, ta sẽ v́ ông nói !”

Cư sĩ ngay lời nói nhận liền huyền chỉ. Bèn ở lại tham học hai năm.

Có bài kệ rằng :

“Có trai chẳng cưới

Có gái chẳng gả

Cả nhà sum vầy lại

Cùng nói lời Vô Sanh”.

Từ đó cơ phong nhanh lẹ, các nơi đều hướng về.

Cư sĩ xứ Đông Độ, phải lấy họ Bàng làm đầu. Vợ chồng, trai gái đều lên Vô Thượng Giác. Đó là hậu thân của Duy Ma, Kim Túc rộng nói Pháp Môn Bất Nhị. Cũng chẳng là xưa cũ vậy.

 

Kinh : “Nếu các chúng sanh muốn trị cơi nước, chia rơ bang ấp, tôi ở trước người ấy, hiện thân Tể Quan, v́ họ thuyết pháp, khiến cho thành tựu.

Thông rằng : Như Lai dùng bốn việc để dẫn dắt chúng sanh, cùng họ đồng sự. Lời dễ hiểu, cơ dễ hợp. Nhưng Tể Quan ấy, đều ỷ tài nghệ, đều chấp nghị luận, chẳng phải đồng bực th́ khó thể nói cùng. Nên hiện thân Tể Quan ở đời để cùng loại vậy.

Ông Hiến Công Biện Triệu Thanh ngoài bốn mươi tuổi dẹp bỏ thanh sắc, chí tâm vào Tông Giáo. Gặp Tổ Phật Huệ ở Nam Thiền. Ngày ngày ông đều lân la đến, Tổ Huệ chẳng thốt một lời. Sau giữ Thanh Châu, ngoài việc chánh quyền, phần nhiều tĩnh tọa. Bỗng sét nổ lớn kinh hồn, liền khế ngộ.

Làm bài kệ rằng :

“Công sở lặng ngồi yên trên ghế

Nguồn tâm chẳng động như nước trong

Một tiếng sét ầm, khai cửa đảnh

Kêu lên xưa trước tự nhà ḿnh”.

Tổ Huệ nghe được, cười rằng : “Ông Triệu ưa nói văn vẻ vang rân, nhỉ”.

Có Ông Phú Trịnh Công Bậät ban đầu đối với tông môn chưa có chỗ hướng vào, ông gắng khuyên, viết thơ rằng : “Trộm nghĩ, như Ngài, cực kỳ giàu sang như thế, dư dật đạo đức như thế, đầy đủ phước thọ an vui như thế, cao quư nhàn hạ hư ẩn như thế, chỉ có chỗ chưa lưu ư sâu xa, là một chuyện đại sự nhân duyên của Như Lai mà thôi. Nếu hay thành thật chuyên cầu chỗ chứng ngộ, ắt có ngày xin làm môn hạ chúc mừng”.

Trịnh Công nhờ ông thức tỉnh khuyến khích, ngày đêm chẳng bỏ, tinh tấn trong đạo. Nghe thiền sư Ngung, chủ Đầu Tử, bèn đến gạn hỏi chỗ nghi. Gặp Tổ Ngung đang lên ṭa, thấy Ngài nh́n lại như voi chúa quay đầu, hơi tỉnh ngộ, bèn giữ lễ đệ tử. Tổ bảo thị giả cho vào thất.

Tổ Ngung liền nói : “Tướng Công đă vào, Phú Bật c̣n ở ngoài !”

Ông nghe qua, mồ hôi toát ướt lưng, bèn đại ngộ.

Viết bài kệ gởi Viên Chiếu:

Vừa gặp Ngung Công, ngộ nhập thâm

Được truyền lén lút lăo sư tâm

Đông Nam chớ nói non sông cách

Ngày đối linh quang với diệu âm”.

Đây là dùng thân Tể Quan, v́ Tể Quan thuyết pháp mà được chứng vậy. Thật đủ làm khuôn mẫu cho đời.

 

Kinh : “Nếu các chúng sanh thích những số thuật, nhiếp giữ thân tâm, tôi ở trước người ấy, hiện thân Bà La Môn, v́ họ thuyết pháp, khiến cho thành tựu.

Thông rằng : Bà La Môn đây gọi là Tịnh Hạnh, rất tôn sùng ngoại đạo, như thờ Lửa, Nước, tức là hạng số thuật, nhiếp tâm, vệ sanh để tự an vậy. Số thuật ḥa hợp với xem tướng, phương pháp thiên văn xem sự thịnh suy.

Tổ Cưu Ma La Thập ḍng dơi Bà La Môn, nên xem bói họa, phước nhiều điều đúng kỳ lạ, số thuật của Ngài kể ra không hết.

Ông Thị Lang Lư Hạo lúc nhỏ xem Thủ Lăng Nghiêm, như về đất cũ; sau đến Minh Quả Đầu Thành nhập thất.

Tổ Ứng Am vỗ vào ngực, nói : “Ông Thị Lang chết rồi đi đâu, nhỉ ?”

Ông hăi hùng toát mồ hôi.

Tổ Am quát đuổi ra.

Công rút lui tham cứu. Chưa bao lâu th́ đến chỗ áo diệu, làm bài kệ gởi cho Ông Nghiêm Khương Triều, bạn đồng tham, rằng :

“Cửa có quán Tôn Tẩn

Nhà có vợ Cam Chí

Đêm ngủ rồi sáng dậy

Ai ngộ với ai mê”.

Tổ Am khen tốt.

Có thầy Dục Yên Chi cũng học đă lâu với Tổ Ứng Am, có hơi tự phụ.

Ông tặng bài kệ rằng :

“Chẳng cần son phấn tự phong lưu

Đường thiền mấy nỗi đến đây thôi

Qua suốt xưa nay chuồng cũi nhốt

Đến đi trong ấy chịu ăn đ̣n”.

Xem sự giao du của Ông Lư, đó là lấy hạnh Bà La Môn mà được chứng. Thường thường đều có, đâu chỉ một ḿnh Cam Chí có Tịnh Hạnh thôi đâu.

 

Kinh : “Nếu có người trai muốn học xuất gia, giữ các Giới Luật, tôi ở trước người ấy, hiện thân Tỳ Khưu, v́ họ thuyết pháp, khiến cho thành tựu.

Thông rằng : Đại Sư Tăng Già, người xứ Tây Vực, từng nằm nghỉ ở nhà Bà Hạ Bạt, thân bỗng lớn cao hơn giường chơng phải đến ba thước, làm người người đều kinh hăi. Kế đó hóa ra h́nh Quan Âm mười một mặt. Trong nhà càng thêm tin trọng, bèn sửa nhà thành chùa.

Vua Trung Tông sai sứ thỉnh vào đạo tràng, tôn làm Quốc Sư. Thường ở riêng một thất, trên đỉnh đầu có một cái lỗ, vẫn dùng nùi chỉ tơ nhét lại. Đêm th́ mở ra, hương thơm từ trong lỗ ấy bay ra, đến sáng, hương thơm trở lại trong đảnh, rồi lại lấy nùi tơ nhét bít lại. Khi thị tịch, vua đưa đến xứ Lâm Hoài, xây tháp cúng dường.

Vua Trung Tông hỏi thầy Vạn Hồi rằng : “Đại Sư Tăng Già là người nào thế ?”

Thầy Hồi đáp : “Đó là hóa thân của Đức Quan Âm vậy. Phẩm Phổ Môn kinh Pháp Hoa nói : “Đáng dùng thân Tỳ Khưu, Tỳ Khưu Ni để được độ, liền hiện thân, mà nói pháp cho”. Chỗ này là như vậy đó”.

Khi sư đến Trường An, thầy Vạn Hồi lạy ra mắt rất tôn kính.

Sư vỗ vai thầy, nói : “Ông nhỏ sao ở lại lâu, đi được rồi đó”.

Sư tịch chưa trọn tháng, thầy Hồi cũng tịch luôn.

Thầy Tiệm Nguyên làm thị giả nơi Tổ Đạo Ngô. Một hôm theo Tổ đến nhà đàn việt phúng điếu.

Thầy Nguyên vỗ trên quan tài, nói : “Sống ư, chết ư ?”

Tổ Ngô nói : “Sống cũng không nói, chết cũng không nói !”

Thầy Nguyên nói : “V́ sao mà không nói ?”

Tổ Ngô nói : “Không nói ! Không nói !”

Về đến giữa đường, thầy Nguyên nói : “Hôm nay Ḥa Thượng phải nói ra cho tôi. Nếu không nói, th́ đánh Ḥa Thượng”.

Tổ Ngô nói : “Đánh th́ cứ đánh, nói th́ không nói”.

Thầy Nguyên bèn đánh.

Tổ Ngô về chùa nói : “Ông nên rời chốn này, sợ rằng thầy Tri Sự biết được th́ không tiện”.

Thầy Nguyên bèn lạy từ giă, ẩn nơi chùa trong làng.

Trải qua ba năm, bỗng nghe đồng tử tụng kinh Quan Âm đến chỗ, “Đáng dùng thân Tỳ Khưu để được độ, tức hiện thân Tỳ Khưu”, hốt nhiên đại ngộ. Liền đốt hương, ở xa mà lạy : “Mới biết lời Tiên Sư để lại chẳng hư lầm. Chính tôi tự chẳng hiểu, lại hờn oán Tiên Sư”. Bèn đến Tổ Thạch Sương, bày cúng trai sám hối.

Thế là một câu “Tỳ Khưu...” này đủ rồi giải thoát. Trí lực Quan Âm nhiệm mầu, thế nên chẳng thể nghĩ bàn vậy.

 

Kinh : “Nếu có người gái muốn học xuất gia, giữ các Cấm Giới, tôi ở trước người ấy, hiện thân Tỳ Khưu Ni, v́ họ thuyết pháp, khiến cho thành tựu.

Thông rằng : Giới Luật Tỳ Khưu có hai trăm năm mươi điều. Cấm Giới của Tỳ Khưu Ni phàm là năm trăm điều. Rơ ràng là hơn Tỳ Khưu, v́ tánh nữ kém phần cao sáng, nên dùng Cấm Luật làm Giới vậy.

Ni Lưu Thiết Ma đến Tổ Quy Sơn.

Tổ nói : “Trâu nái già, ngươi đến ư ?”

Ni Ma nói : “Ngày mai ở Đài Sơn có hội trai lớn, Ḥa Thượng có đi chăng ?”

Tổ Quy Sơn duỗi chân nằm.

Ni Ma liền lui ra.

Có nhà sư hỏi Tổ Phong Huyệt : “Tổ Quy Sơn nói “Trâu nái già, ngươi đến ư ?” Ư chỉ như thế nào ?”

Tổ Huyệt nói : “Chốn sâu rồng vàng múa mây trắng”.

Nhà sư hỏi : “C̣n như Lưu Thiết Ma nói “Ngày mai ở Đài Sơn có hội trai lớn, Ḥa Thượng có đi chăng ?” Ư chỉ như thế nào ?”

Tổ Huyệt nói : “Trong tâm xanh sóng, ngọc thỏ kinh”.

Nhà sư hỏi : “Quy Sơn bèn bày ra thế nằm, ư chỉ như thế nào ?”

Tổ Huyệt nói :

“Lè phè già nghỉ ngày vô sự

Rảnh ngủ cao nằm đối núi xanh”.

Tổ Tuyết Đậu tụng rằng :

“Từng ngồi ngựa sắt nhập bao thành

Lệnh xuống nghe rằng sáu nước trong()

Đường về, như nắm roi vàng hỏi

Đêm sâu hành ngự với ai cùng”.

Tổ Thiên Đồng tụng rằng :

“Trăm chiến công thành lăo thái b́nh

Hơn thua ai chịu nhọc đo tranh

Ngựa vàng roi ngọc nhàn suốt buổi

Gió trong trăng sáng một đời sang”.

Về các Tỳ Khưu Ni, cơ duyên ngữ cú rất nhiều, đều bày chuyện hướng thượng, nào thuật hết được, nên lục ra để làm khuôn mẫu.

 

Kinh : “Nếu có người trai thích giữ năm Giới, tôi ở trước người ấy, hiện thân Cư Sĩ Nam, v́ họ thuyết pháp, khiến cho thành tựu.

Thông rằng : Năm Giới tức là giới Sát, Đạo, Dâm, Vọng Ngữ và Uống Rượu. Cư sĩ nam tức là cận sự nam, giữ sự trong sạch, hay giúp việc cho Tỳ Khưu vậy.

Vị đạo nhân Thứ Mười Ba ở Tiên Châu Sơn Ngô thường hỏi đạo các vị thiền đức, đến quy y Ngài Khai Thiện. Rồi kết am ở bên trái, dâng cấp hầu hạ. Đêm mồng Tám tháng Ba, đời Thiện Hưng, bỗng nhiên tỏ ngộ, làm bài kệ tŕnh Ngài Thiện rằng :

“Xưa nay không nứt, vá

“Chạm đến rỡ ràng ngay

“Đă là ngàn vàng báu

“Nào phải động dụng ǵ”.

Ngài Thiện đáp lại bài kệ :

“Đất nứt nẻ rồi vui khoái thay

Tử sanh, phàm thánh sạch liền ngay

Dưới núi Tiên Châu cười ha hả

Chẳng phụ cùng nhau tâm xưa rày !”

Cư sĩ nam này cũng là Giải Thoát.

 

Kinh : “Nếu có người gái tự giữ năm Giới, tôi ở trước người ấy, hiện thân Cư Sĩ Nữ, v́ họ thuyết pháp, khiến cho thành tựu.

Thông rằng : Cư sĩ nữ gọi là cận sự nữ, giữ sự trong sạch, thường giúp việc cho Tỳ Khưu Ni vậy.

Cô Du Đạo Bà, người xứ Kim Lăng, làm nghề chiên bánh dầy ở chợ, theo chúng tham hỏi Tổ Lang Gia Khởi. Tổ Khởi lấy chỗ Vô Vị Chơn Nhơn của Tổ Lâm Tế nói mà bày chỉ. Một hôm, nghe người ăn xin ca bài Liên Hoa Lạc rằng “Chẳng nhờ Liễu Nghị truyền thơ tín, duyên đâu đến được Động Đ́nh Hồ”, bỗng đại ngộ, bưng mâm bánh dầy ném xuống đất.

Chồng cô là Bàng Nghệ nói rằng : “Bà điên ư ?”

Cô Bà vỗ tay, nói : “Chẳng phải cảnh giới của ông”.

Bèn đi ra mắt Tổ Khởi.

Tổ xa trông, biết chỗ sở đắc, hỏi : “Cái ǵ là Vô Vị Chơn Nhơn ?”

Cô Bà nói :

“Có một Vô Vị Chơn Nhơn

Sáu tay ba đầu nỗ lực sân

Một nẻo Hoa Sơn phân hai lối

Muôn năm nước chảy chẳng hay xuân”.

Từ đó, danh tiếng nổi lên. Cô thường tụng bài Bất An Nhân Duyên() của Mă Tổ.

Cô nói : “Mặt trời mặt trăng, hư không chớp nháng. Tuy là dứt yên đầu lưỡi nạp tăng trong thiên hạ, nhưng rơ ràng chỉ nói được một nửa”.

Không ngờ cô cư sĩ mà thuyết pháp như vậy, há không có trăm ngàn ức Hóa Thân ư ?

 

Kinh : “Nếu có người nữ lập thân Nội Chính, để sửa sang nước nhà, tôi ở trước người ấy, hiện thân Nữ Chúa hay thân Quốc Phu Nhân, đại gia mệnh phụ, v́ họ thuyết pháp, khiến cho thành tựu.

Thông rằng : Lập thân trong Nội Chính để sửa sang nước nhà, dùng món ngon quư làm việc cúng tế, các việc này chẳng có ǵ không là Phật sự.

Tổ Chí Công nói : “Kinh đô, huyện đô mênh mông lại là Bồ Đề Đại Đạo”. Lại nói, “Đại Đạo chỉ là trước mắt, vậy mà trước mắt khó thấy. Muốn biết chân thể của Đại Đạo, nào ĺa sắc thanh ngôn ngữ”.

Đạo gần đến như vậy đó. Há cho người nữ là chẳng sẵn đủ ư ?

Phu nhân Ông Mân Súy là Thôi Thị Phụng Đạo. Bà tự xưng là Luyện Sư. Sai sứ đưa y phục đến Tổ Trường Khánh, nói rằng : “Luyện Sư sai đến, xin hồi tin”.

Tổ Khánh nói : “Bảo Luyện Sư lănh nhận hồi tin”.

Giây lát, sứ đến trước mặt Tổ dạ lớn, rồi liền trở về.

Hôm sau, Tổ Khánh vào phủ.

Luyện Sư bung mở cả hai tay.

Ông Súy hỏi Tổ Khánh rằng : “Luyện Sư vừa tŕnh tin, đại sư vừa ư chăng ?”

Tổ Khánh nói : “Gần gần chút ít”.

Luyện Sư hỏi : “Chưa rơ đại sư ư chỉ thế nào ?”

Tổ Khánh im lặng giây lâu.

Luyện Sư nói : “Chẳng thể nghĩ bàn, Phật pháp đại sư thật sâu xa”.

Đoạn công án này thật giống pháp môn Bất Nhị của Đức Duy Ma Cật.

Phu nhân nước Tần, Bà Kế Thị Pháp Chân, tự ở góa, xa lánh phồn hoa, thường ăn chay, học tập pháp hữu vi. Nhân Tổ Đạo Huệ bảo thị giả Khiêm đến hỏi thăm con của Ngụy Công. Công giữ thầy Khiêm lại, thầy dùng đạo Tổ mà dạy cho.

Bà Chân ngày nọ hỏi thầy Khiêm : “Kính Sơn Ḥa Thượng b́nh thường dạy người thế nào ?”

Thầy Khiêm nói : “Ḥa Thượng chỉ dạy cho người khán “Con chó không có Phật Tánh”, cùng với lời nói, “Cái lược tre”. Chỉ không được mở lời, không được nghĩ lường, không được hướng về chỗ khởi ra mà hiểu, không hướng về chỗ mở lời mà nhận lănh. Con chó lại có Phật Tánh không ? Không ! (Vô !) Chỉ như vậy dạy người khán”.

Bà Chân liền tin chân thành. Trong đêm ấy, ngồi ra sức nghiệm cứu lời nói ấy, bỗng nhiên rỗng suốt không ngại.

Thầy Khiêm từ giă trở về.

Bà Chân tự ḿnh viết Kệ nói trường hợp vào đạo tŕnh Tổ Huệ.

Bài chót viết :

“Suốt ngày xem kinh văn

Như gặp người quen cũ

Chớ nói c̣n có ngại

Mỗi cữ, mỗi lần tân (mới)”.

Những đại gia mệnh phụ được chứng không ít. Ai mà không được sự gia hộ lặng lẽ của Đại Sĩ, khiến có chỗ thành tựu ư ?

 

Kinh : “Nếu có chúng sanh không phá nam căn, tôi ở trước người ấy, hiện thân đồng nam, v́ họ thuyết pháp, khiến cho thành tựu.

Thông rằng : Tôn giả Vi Đà mười đời đồng chơn. Đồng tử Thiện Tài từ Nam tham hỏi trở về, qua tám chín chục tuổi, cũng có tên đồng tử. Đó là v́ nam căn chưa hư vậy.

Thầy Phật Nhựt Bổn Không ban đầu đến Thiên Thai, nói rằng : “Nếu có người đoạt được cơ của tôi, tức là thầy tôi vậy”.

T́m đến ra mắt Tổ Vân Cư, hỏi rằng : “Hai rồng tranh châu, con nào được ấy ?”

Tổ Cư nói : “Trút hết nghiệp thân đi, th́ cùng ông tương kiến”.

Thầy Không nói : “Nghiệp thân đă trút”.

Tổ Cư nói : “Châu ở chốn nào ?”

Thầy Không chẳng đáp được, mới thành thật xin nhập thất, lúc ấy tuổi mới mười ba.

Bốn năm sau, viếng Tổ Giáp Sơn, vừa vào cửa gặp thầy Duy Na.

Thầy Duy Na nói : “Chốn này chẳng chứa kẻ hậu sanh”.

Thầy Không nói : “Tôi đây chẳng t́m chỗ ở trú, tạm đến làm lễ ra mắt Ḥa Thượng”.

Duy Na bạch lại Tổ Giáp Sơn. Tổ Sơn cho gặp.

Thầy Không chưa bước lên thềm, Tổ Sơn liền hỏi : “Ở đâu tới ?”

Thầy Không đáp : “Vân Cư đến”.

Tổ Sơn nói : “Bèn nay ở tại chốn nào ?”

Thầy Không đáp : “Tại trên chót đảnh Giáp Sơn”.

Tổ Sơ nói : “Lăo tăng hành niên ở Khảm, Ngũ Quỷ lâm Thân”.

Thầy Không định lên thềm.

Tổ Sơn nói : “Ba Đạo thềm báu theo chỗ nào bước lên ?”.

Thầy Không rằng : “Ba Đạo thềm báu ngay khúc ngoặt này, một đường hướng thượng, xin thầy trực chỉ”.

Tổ Sơn bèn đón chào. Thầy Không mới bước lên thềm lễ bái.

Tổ Sơn hỏi : “Thầy Xà Lê cùng đi với người nào?”

Đáp : “Mộc Thượng Tọa”.

Tổ Sơn nói : “Sao chẳng đến cùng gặp lăo tăng?”

Đáp : “Ḥa Thượng thấy y đôi phần”.

Tổ Sơn hỏi : “Tại chốn nào ?”

Đáp : “Tại trong nhà giảng”.

Tổ Sơn bèn cùng đến trong nhà giảng. Thầy Không liền cầm cây gậy ném trước mặt Tổ Sơn.

Tổ Sơn nói : “Chẳng phải Thiên Thai đắc ư ?”

Đáp : “Chẳng phải Ngũ Nhạc sanh”.

Tổ Sơn nói : “Chẳng phải Tu Di đắc ư ?”

Đáp : “Cung trăng cũng chẳng gặp”.

Tổ Sơn nói : “Như thế tức từ người được vậy ?”

Thầy Không nói : “Tự ḿnh c̣n là oan gia, từ người nhận được mà làm ǵ ?”

Tổ Sơn nói : “Trong tro nguội có một hột đậu nổ”.

Tổ gọi thầy Duy Na sắp xếp nơi chỗ cửa sổ mở.

Thầy Không nói : “Chưa rơ cửa sổ mở lại nói được không ?”

Tổ Sơn nói : “Đợi cửa sổ mở nói được, th́ nói cho ông”.

Hôm sau, Tổ Giáp Sơn thượng đường, hỏi : “Ông khách đến hôm qua ở đâu ?”

Thầy Không bước ra, lên tiếng dạ.

Tổ Sơn nói : “Thầy trước khi chưa đến Vân Cư, th́ ở đâu ?”

Đáp : “Tại Thiên Thai Quốc Thanh”.

Tổ Sơn nói : “Ta nghe Thiên Thai có nước chảy róc rách, sóng biếc lặng trong. Cám ơn thầy ở xa đến. Ư này như thế nào ?”

Đáp : “Ở lâu hang núi, chẳng mang chùm gởi”.

Tổ Sơn nói : “Đó c̣n là Xuân ư, Thu ư th́ làm sao ?”

Thầy Không im lặng giây lâu.

Tổ Sơn nói : “Xem ông chỉ là đứa chống ghe. Rốt cuộc chẳng phải người giỡn sóng”.

Hôm sau, nhóm chúng cắt việc. Thầy Duy Na khiến thầy Không vận tải trà.

Thầy Không nói : “Tôi v́ Phật Pháp mà đến, chẳng phải v́ vận tải trà mà đến”.

Thầy Duy Na rằng : “Đó là vâng lời sự phân định của Ḥa Thượng”.

Thầy Không nói : “Tôn lệnh của Ḥa Thượng th́ được”.

Mới đem trà đến chỗ làm việc, khua chén trà gây ra tiếng.

Tổ Sơn quay ngó lại.

Thầy Không nói : “Trà đậm năm ba chén, ư tại bên vạc trà”.

Tổ Sơn nói : “B́nh có thế rót trà, trong giỏ bao nhiêu chén ?”

Thầy Không nói : “B́nh có thế rót trà, trong giỏ không một chén”.

Bèn rót trà. Chúng đều đưa mắt nh́n.

Thầy Không nói : “Đại chúng ngóng cổ trông mong, xin Thầy một lời”.

Tổ Sơn nói :

“Rắn chết giữa đường đừng đánh giết.

Giỏ không đáy ấy đựng mang về”.

Thầy Không nói : “Tay cầm bùa soi đêm, mấy ai hay trời sáng”.

Tổ Sơn nói : “Này đại chúng, có người rồi ! Về thôi ! Về thôi !”

Liền bỏ công việc làm chung, trở về chùa. Chúng đều khen ngợi, ngưỡng mộ.

Ôi, đồng tử giác ngộ thật có vậy. Như Phật Nhật cùng Tổ Giáp Sơn gơ xướng, thật lạ lùng.

 

Kinh : “Nếu có người xử nữ thích thân xử nữ, chẳng cầu sự xâm bạo, tôi ở trước người ấy, hiện thân đồng nữ, v́ họ thuyết pháp, khiến cho thành tựu.

Thông rằng : Người không dâm trong tạo vật th́ có thể đếm được vậy. V́ từ chỗ chẳng sạch, th́ chẳng sạch chẳng đáng ham thích. Bị người xâm bạo, th́ xâm bạo chẳng đáng ham thích. V́ ham vui bao nhiêu, th́ càng tiều tụy bấy nhiêu. Huống ǵ gây nghiệp quả sanh tử, không có lúc ngừng nghỉ sao ?

Ông Bàng Cư Sĩ, con gái là Linh Chiếu, trinh tiết vượt đời, nêu cốt cách cho người, thường cung cấp cháo rau sớm tối.

Ông Bàng đang ngồi, hỏi Cô Chiếu rằng : “Người xưa nói, “Rành rành trăm ngọn cỏ, rành rành ư Tổ Sư”, hiểu thế nào đây ?”

Cô Chiếu nói : “Già cả rồi mà lời lẽ như thế !”

Ông Bàng nói : “Theo cô th́ sao ?”

Cô Chiếu đáp : “Rành rành trăm ngọn cỏ, rành rành ư Tổ Sư !”

Bàng cư sĩ liền cười.

Ngày nọ, cư sĩ nhân xuống cầu bị ngă. Cô Chiếu thấy, liền đến nằm bên cha.

Cư sĩ nói : “Ngươi làm ǵ vậy ?”

Cô Chiếu đáp : “Thấy cha ngă xuống đất, con đến đỡ dậy”.

Tổ Đơn Hà đến thăm cư sĩ, gặp Cô Chiếu đang rửa rau.

Tổ Hà hỏi : “Cư sĩ có nhà chăng ?”

Cô Chiếu thả rổ rau xuống, khoanh tay đứng sững.

Tổ Đơn Hà lại hỏi : “Cư sĩ có nhà chăng ?”

Cô Chiếu bưng rổ mà đi. Tổ Hà bèn trở về.

Chốc lát, cư sĩ về đến, Cô Chiếu nói lại chuyện trước.

Cư sĩ nói : “Thầy Đơn Hà c̣n đây ư ?”

Cô Chiếu đáp : “Về rồi”.

Cư sĩ nói : “Đất đỏ bôi trâu nái”.

Cư sĩ sắp nhập diệt, bảo Cô Chiếu rằng : “Xem mặt trời gần trưa, đúng Ngọ th́ báo”.

Cô Chiếu bèn nói : “Mặt trời đúng Ngọ rồi, nhưng có nguyệt thực”.

Cư sĩ ra cửa xem. Cô Chiếu liền lên chỗ ngồi của cha, chắp tay ngồi tịch.

Cư sĩ cười, nói : “Con gái ta lanh lợi quá”.

Ông bèn hoăn lại bảy ngày sau mới tịch.

Đời truyền rằng Cô Linh Chiếu là Cổ Phật hóa thân ở trong cơi đời này chứng Như Lai, cùng Long Nữ không khác, đều là không thể nghĩ bàn vậy.

 

Kinh : “Nếu có Chư Thiên muốn ra khỏi bậc trời, tôi hiện thân trời, v́ họ thuyết pháp, khiến cho thành tựu.

Thông rằng : Từ Đế Thích trở lên các Thiên Chủ, đều là bậc Bồ Tát Sơ Địa hiện thân để giáo hóa các vị trời vậy, cho nên không nói là “Ra khỏi”. Các vị trời thuần lạc, ít tâm tinh tấn, tất là sanh nơi nhân gian, “Không” được năm trược mới có thể chứng quả. Cho nên thích làm người, muốn làm người cũng không nói được là “Ra khỏi”. Chỉ có hạng Trời, Rồng, Tám Bộ, hẳn phải thoát khỏi loài ḿnh, sau mới thành tựu. Nếu phân thân biến hoá, chẳng ở trong ṿng luật lệ này.

Khi ấy, trong nhà Đức Duy Ma Cật, có một vị Thiên Nữ thấy các trời, người đến nghe thuyết pháp, bèn hiện thân dùng hoa trời rải lên các vị Bồ Tát và các đại đệ tử. Hoa đến Bồ Tát đều liền rơi xuống, đến các đại đệ tử th́ dính chẳng rớt. Tất cả đệ tử, dùng thần lực phủi hoa mà chẳng phủi được.

Khi ấy, Thiên Nữ hỏi Ngài Xá Lợi Phất : “V́ sao phủi hoa ?”

Đáp rằng : “Hoa này chẳng như Pháp, v́ thế phủi đi !”

Thiên Nữ nói : “Chớ nói hoa này chẳng như Pháp, v́ sao thế ? V́ hoa này không có chỗ phân biệt. Nhân giả tự sanh tướng phân biệt đó. Nếu theo Phật Pháp xuất gia mà có chỗ phân biệt, thế là chẳng như Pháp. Nếu không có chỗ phân biệt, đó là như Pháp. Hăy nh́n các vị Bồ Tát, hoa chẳng dính bám, v́ đă dứt ĺa tất cả tưởng phân biệt. Thí như khi người sợ, ma quỷ mới được dịp. Cũng thế, v́ đệ tử sợ sanh tử, cho nên Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc được thừa dịp vậy. Đă ĺa sợ sệt, tất cả năm dục chẳng thể làm ǵ. Sự kết tập chưa hết, th́ hoa dính thân. Sự kết tập dứt hết, hoa chẳng dính vậy”.

Ngài Xá Lợi Phất nói : “Thiên Nữ ở nhà này đă được bao lâu ?”

Đáp rằng “Tôi ở nhà này như sự giải thoát của Ngài”.

Ngài Xá Lợi Phất nói : “Ở đây lâu thế sao ?”

Thiên Nữ đáp : “Sự Giải Thoát của Ngài cũng là lâu sao ?”

Xá Lợi Phất lặng thinh chẳng đáp.

Thiên Nữ nói : “Bậc Đại Trí kỳ cựu như sao mà lặng im ?”

Đáp rằng : “Sự Giải Thoát không có lời để nói, cho nên đối trong ấy, tôi chẳng biết nói sao”.

Thiên Nữ nói : “Lời nói, văn tự đều là tướng Giải Thoát. V́ sao như thế ? Giải Thoát ấy là chẳng trong chẳng ngoài, chẳng ở hai bên. Văn tự cũng chẳng trong chẳng ngoài, chẳng ở hai bên. Thế nên, Ngài Xá Lợi Phất, chớ ĺa văn tự mà nói Giải Thoát. V́ sao như thế ? Tất cả các pháp chính là tướng Giải Thoát”.

Ngài Xá Lợi Phất nói : “Chẳng phải v́ ĺa Dâm, Nộ, Si là Giải Thoát sao ?”

Thiên Nữ nói : “Phật v́ người tăng thượng mạn, nói ĺa Dâm Nộ Si là Giải Thoát. Nếu người không có tăng thượng mạn, Phật nói tánh Dâm Nộ Si tức là Giải Thoát”.

Ngài Xá Lợi Phất nói : “Lành thay ! Lành thay ! Thiên Nữ ! Cô đắc chỗ ǵ, chứng được pháp ǵ, biện luận đến như thế ?”

Thiên Nữ nói : “Tôi không đắc, không chứng, nên biện luận như vậy. V́ sao như thế ? Có đắc, có chứng tức trong Phật Pháp là người tăng thượng mạn”.

Ngài Xá Lợi Phất hỏi Thiên Nữ : “Đối nơi Ba Thừa, chí cô cầu ǵ ?

Thiên Nữ đáp : “Cần pháp Thanh Văn giáo hóa chúng sanh nên tôi làm Thanh Văn. Cần pháp Nhân Duyên giáo hóa chúng sanh, nên tôi làm Bích Chi Phật. Cần pháp Đại Bi giáo hóa chúng sanh, nên tôi là Đại Thừa. Ngài Xá Lợi Phất, như người vào rừng Chiêm Bặc, chỉ ngửi hương Chiêm Bặc, chẳng ngửi hương nào khác. Cũng thế, như vào nhà này, chỉ nghe hương công đức Phật, chẳng thích nghe hương công đức của Thanh Văn và Bích Chi Phật”.

Bấy giờ Đức Duy Ma Cật nói với Ngài Xá Lợi Phất : “Vị Thiên Nữ này đă từng cúng dường chín mươi hai ức Chư Phật, đă hay du hư Bồ Tát Thần Thông. Chỗ nguyện đầy đủ, đắc Vô Sanh Nhẫn, trụ bậc Chẳng Lui Sụt. V́ bổn nguyện nên tùy ư thị hiện, giáo hóa chúng sanh.

Đây là Quan Thế Âm chăng ? Chẳng phải Quan Thế Âm chăng ?

 

Kinh : “Nếu có các Rồng muốn ra khỏi bậc Rồng, tôi hiện thân Rồng, v́ họ thuyết pháp, khiến cho thành tựu.

Thông rằng : Loài Long Thần rất biết kính trọng Tam Bảo, nên kho tàng dưới biển ở Long cung chứa đầy Phật Pháp. Họ nghe Pháp mà được Giải Thoát cũng dễ dàng. Như trong kinh Pháp Hoa, Đức Bồ Tát Văn Thù dạy Cô Long Nữ.

Khi ấy, Ông Xá Lợi Phất nói với Long Nữ rằng : “Cô nói là chóng đắc Đạo Vô Thượng, việc ấy khó tin. V́ sao như thế ? Thân nữ dơ bẩn, chẳng phải là Pháp Khí, làm sao có thể đắc Bồ Đề Vô Thượng ? Đạo Phật tót vời mênh mông, qua vô lượng kiếp cần khổ bồi hạnh, tu đủ các ba la mật, rồi sau mới thành. Lại thân người nữ c̣n năm chướng ngại. Một là chẳng được làm Phạm Thiên Vương; hai là Đế Thích; ba là Ma Vương; bốn là Chuyển Luân Thánh Vương; năm là thân Phật. Làm sao thân nữ chóng đắc thành Phật ?”

Lúc ấy, Long Nữ có một ngọc báu giá trị ba ngàn đại thiên thế giới, cầm dâng lên Phật. Phật liền nhận ngọc.

Long Nữ nói với Bồ Tát Trí Tích và Tôn Giả Xá Lợi Phất rằng : “Tôi dâng ngọc báu, Thế Tôn thu nhận, việc ấy nhanh chăng ?”

Đáp rằng : “Rất nhanh”.

Long Nữ nói : “Dùng thần lực, Ngài xem tôi thành Phật c̣n nhanh hơn thế”.

Chúng hội đương thời đều thấy Long Nữ trong khoảng khắc hốt nhiên biến thành ra trai, đủ hạnh Bồ Tát, liền qua thế giới Vô Cấu Nam Phương ngồi ṭa sen báu, thành Đẳng Chánh Giác, ba mươi hai tướng, tám chục thứ tốt, khắp v́ mười phương tất cả chúng sanh diễn thuyết diệu pháp.

Khi ấy, nơi thế giới Ta Bà, Bồ Tát, Thanh Văn, Trời, Rồng, tám bộ, người cùng Quỷ Thần đều xa thấy Long Nữ ấy thành Phật.

Đó là chỗ thuyết pháp thành tựu của Đức Văn Thù.

Biết đâu chỗ thành tựu của Đức Quan Âm chẳng lại như thế ư ?

 

Kinh : “Nếu có Dược Xoa muốn thoát loài ḿnh, tôi ở trước người ấy, hiện thân Dược Xoa, v́ họ thuyết pháp, khiến cho thành tựu.

Thông rằng : Dược Xoa gọi là nhanh nhẹ, cũng gọi là ḍ xét, tức là để giữ thành tŕ cửa Trời vậy.

Thầy Thích Thanh Hư tụng Kim Cang Bát Nhă, ba nghiệp đều chuyên nhất, thường tŕ tụng nơi núi rừng, có điềm lành bảy con nai thuần lành thuận theo. Khi thầy nhập hạ tại Thiếu Lâm, trên đỉnh núi có một cái thất thờ Phật, không ai dám đến, cho là nhà của Quỷ Thần.

Từng có một thầy Luật Sư ỷ vào Giới Hạnh, đêm nọ đến tụng Luật th́ thấy một người cao lớn cầm giáo đâm ḿnh, lê lết khốn khổ xuống núi, đi không nổi, mất hết khí lực.

Lại c̣n có nhà sư tŕ chú Hỏa Đầu Kim Cang, ai cũng tôn trọng. Đại chúng nói với thầy rằng : “Chú lực của thầy vô song, có thể ở nơi đó được chăng ?”

Đáp rằng : “Đây há sợ ư ?”

Liền cầm hương đèn và ngồi tŕ chú. Chốc lát, vị thần xuất hiện, lấy tay nắm cẳng lôi đi, ném xuống khe nước. Suốt bảy ngày chẳng nói được, tinh thần hôn mê đảo lộn.

Thầy Thanh Hư nghe được, nói rằng : “Hạ thú, quỷ vật dám thế ư ?”

Liền sang đó tụng kinh như thường. Đêm nghe trên không dường như có tiếng rất hung ác, liền niệm chú Quan Âm Thập Nhất Diện. Lại nghe trong điện như có tiếng hai con trâu đánh nhau, tượng Phật đều rung rinh. Chú cũng đă mất hiệu nghiệm. Trở lại tŕ tụng kinh Kim Cang, tương tự như một cái gút vững chắc, th́ ảnh hưởng đều dứt.

Từ đó, người ở không c̣n lo sợ. Há cũng là nghe tứ cú kệ mà chóng được Giải Thoát đó ư ?

Có nhà sư hỏi Tổ Đạo Ngô Chơn : “Thế nào là thể Chân Như ?”

Đáp : “Dạ Xoa quỳ gối, con ngươi đen thui”.

Hỏi : “Thế nào là dụng Chân Như ?”

Đáp : “Gậy Kim Cang đập bể núi Thiết Vi”.

Tức đây là chỗ dẫn ra “Thần Kim Cang, quỷ Dạ Xoa”, cũng đủ phát minh việc hướng thượng. Há đâu chẳng phải Chân Như sao ?

 

Kinh : “Nếu có Càn Thát Bà muốn thoát loài ḿnh, tôi ở trước người ấy, hiện thân Càn Thát Bà, v́ họ thuyết pháp, khiến cho thành tựu.

Thông rằng : Càn Thát Bà gọi là Tầm Hương, là Thần Nhạc của Đế Thích.

Nhân dịp Vua Càn Thát Bà hiến nhạc cho Đức Thế Tôn, khi ấy núi sông đất đai, hết thảy đều khởi tiếng đàn.

Ngài Ca Diếp đứng lên nhảy múa.

Vua hỏi : “Ca Diếp há chẳng phải là A La Hán, các lậu đă hết, sao c̣n sót tập khí cũ ?”

Phật rằng : “Thật không c̣n tập khí cũ, chớ phỉ báng pháp”.

Vua lại gảy đàn ba phen th́ Ngài Ca Diếp cũng ba phen nhảy múa.

Vua nói : “Không phải Ca Diếp nhảy múa sao ?”

Phật rằng : “Thật chẳng từng nhảy múa”.

Vua nói : “Thế Tôn sao có vọng ngữ ?”

Phật rằng : “Chẳng có vọng ngữ. Ông đánh đàn, núi sông đất đai gỗ đá hết thảy đều nổi tiếng đàn, chẳng phải sao ?”

Vua nói : “Thật vậy”.

Phật rằng : “Ông Ca Diếp cũng lại như thế. V́ thế thật chẳng từng nhảy múa”.

Vua bèn tin nhận.

Cổ đức tụng rằng :

“Nhè nhẹ gảy lên một tiếng đàn

Vang tiếng Tam Thiên với Đại Thiên

May có Ẩm Quang hay ư ấy

Mới dùng tay (áo) lụa rước khói xuân”.

Tổ Huyền Sa hỏi nhà sư : “Thành Càn Thát Bà, ông hiểu thế nào ?”

Đáp : “Như mộng như huyễn”.

Tổ Pháp Nhăn riêng gơ vật chỉ bày đó.

Hai tắc công án này thịnh hành. Thật là Thần Càn Thát Bà c̣n ở đây nói pháp.

 

Kinh : “Nếu có A Tu La muốn thoát loài ḿnh, tôi ở trước vị ấy, hiện thân A Tu La, v́ họ thuyết pháp, khiến cho thành tựu.

Thông rằng : A Tu La gọi là Phi Thiên(), lại gọi là Vô Tửu(), v́ sân mà chẳng do uống rượu. Lại gọi là Không Đoan Chánh, v́ nữ đẹp mà nam xấu vậy.

Tổ Lâm Tế nói : “Ông nói Phật có sáu thần thông chẳng thể nghĩ bàn. Tất cả Chư Thiên, Thần Tiên, A Tu La, Đại Lực Quỷ cũng có thần thông, có phải là Phật chăng ? Kẻ học đạo chớ lầm ! Như A Tu La cùng Trời Đế Thích đánh nhau, thua trận, dẫn tám vạn bốn ngàn quyến thuộc chun trốn trong lỗ cọng sen, không là Thánh ư ?

“Như chỗ nêu ra của sơn tăng, đó đều là Nghiệp Thông, Y Thông(). Phàm như Lục Thông của Phật, th́ vào Sắc Giới chẳng bị Sắc lầm gạt; vào Thanh Giới chẳng bị Tiếng lầm gạt; vào Hương Giới chẳng bị Hương lầm gạt; vào Pháp Giới chẳng bị Pháp lầm gạt. V́ lẽ thông đạt sáu thứ Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp đều là Không Tướng, làm sao trói buộc. Đạo nhơn Không-chỗ-nương này tuy là xác phàm năm Ấm, chính là bậc Địa Hành Thần Thông”.

Khiến cho A Tu La nghe được pháp này mà đem hồi hướng lục thông, chẳng có tự ỷ vào cái Thần Thông Nương Dựa vậy. Th́ sao có sự không thể Giải Thoát ư ?

 

Kinh : Thêm vào rằng : “Nếu có Ca Lâu Na muốn thoát loài ḿnh, tôi ở trước vị ấy, hiện thân Ca Lâu Na, v́ họ thuyết pháp, khiến cho thành tựu.

Thông rằng : Theo bản dịch kinh Pháp Hoa, Bích Chi Phật tuy gồm hai ư Độc Giác, Duyên Giác mà thật chỉ là một Bích Chi vậy. Kinh này đối với Độc Giác, Duyên Giác chia làm hai, mới thiếu một loài Ca Lâu Na, đối với phẩm Phổ Môn chẳng phù hợp, nay bổ khuyết thêm. Ca Lâu Na gọi là Kim Xí Điểu, cánh màu vàng, dương ra dài ba trăm ba mươi sáu vạn dặm, xem rồng biển nào mạng sắp hết th́ dùng cánh quạt tách nước biển, bắt lấy mà ăn.

Thuở Ông Xá Lợi Phất sáng lập vườn Cấp Cô Độc, cùng với Lao Độ Sai tranh thắng. Thầy Sai hóa rồng dữ muốn hại Ông Phất. Ông Phất hóa ra chim Diệu Xí chụp xé mà ăn.

Về sau có nhà sư hỏi Tổ Hưng Dương Phẩu rằng: “Ta Kiệt() xuất biển, Càn Khôn sạch. Đối mặt tŕnh nhau sự thế nào ?”

Tổ Phẩu nói : “Diệu Xí Điểu Vương trùm vũ trụ. Trong kia ai kẻ ló đầu ra ?”

Nhà sư hỏi : “Bỗng gặp lúc ló đầu, lại làm thế nào ?”

Tổ Phẩu nói : “Như (chim) cắt, bắt (chim) cưu, ông chẳng rơ. Trước lầu ngự nghiệm mới hay Chân”.

Nhà sư nói : “Như thế ắt khoanh tay ngay ngực, lui thân ba bước !”

Tổ Phẩu nói : “Dưới núi Tu Di con rùa đen ngu ngốc

“Chẳng đợi dạy lại chuyện “Điểm dấu trên trán”“.

Tổ Thiên Đồng tụng rằng :

“Chiếu chỉ xuống, hiệu lịnh phân

Trong cơi : Thiên Tử; ngoài ải : Tướng Quân

Chẳng chờ sấm chớp nở sâu

Ai hay gió tạt mây đi

Cơ quan ấy liên miên, hề, tự có kim vàng chỉ ngọc

Trước mặt ấn rộng không, hề, nguyên không dấu điểu vết trùng”.

Đây là dùng Kim Xí Điểu phát minh việc hướng thượng, th́ không đối thủ, nên Kim Xí Điểu hẳn là Thuyết Pháp Đệ Nhất.

 

Kinh : “Nếu có Khẩn Na La muốn thoát loài ḿnh, tôi ở trước vị ấy, hiện thân Khẩn Na La, v́ họ thuyết pháp, khiến cho thành tựu.

Thông rằng : Khẩn Na La gọi là Nghi Nhân, v́ thân người mà có sừng, thấy đó đâm nghi. Đây là Thần Pháp Nhạc của Thiên Đế. Càn Thát Bà tấu nhạc thế gian. Khẩn Na La th́ tấu nhạc xuất thế gian. Tấu pháp Tứ Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, sáu Ba La Mật th́ nhạc phàm tục không thể sánh.

Hiện đời này, thần Già Lam chùa Thiếu Lâm từng hiện thần lực, hai chân nhảy vượt hai ḥn núi Thái Thất và Thiếu Thất, cầm gậy đuổi giặc. Giặc sợ, vỡ tan chẳng dám vào chùa. Sư trong chùa v́ lẽ ấy nên phần nhiều học quyền bổng. Mỗi khi điều động dẹp giặc, chỉ tụng danh hiệu Khẩn Na La Vương Bồ Tát, do đó không khiếp sợ, thường thường thắng địch. Hoặc nói rằng “Tức là Quan Âm Bồ Tát hóa thân vậy”.

Thầy Phong Huyệt làm người coi vườn ở Tổ Nam Viện. Một hôm, Tổ Nam Viện đến vườn, hỏi rằng : “Một gậy phương Nam làm sao thương lượng ?”

Thầy Huyệt rằng : “Thương lượng kỳ đặc !”

Chập lâu, thầy Huyệt lại hỏi : “Nơi đây Ḥa Thượng làm sao thương lượng ?”

Tổ Nam Viện dơ gậy lên, nói :

“Dưới gậy : Vô Sanh Nhẫn

Đang cơ : chẳng thấy Thầy”.

Thầy Huyệt ngay ấy hoát nhiên đại ngộ.

Pháp bổng của Tổ Lâm Tế ít có truyền lại, mà pháp bổng của Khẩn Na La cho đến nay thương lượng cũng chưa rồi. Có khác ư ? Không khác ư ?

 

Kinh : “Nếu có Ma Hô La Già muốn thoát loài ḿnh, tôi ở trước họ, hiện thân Ma Hô La Già, v́ họ thuyết pháp, khiến cho thành tựu.

Thông rằng : Ma Hô La Già gọi là Đại Măng(), ḅ đi bằng bụng, cũng gọi là Rồng Đất ǵn giữ Già Lam vậy.

Tổ Thứ Mười Ba là Tôn Giả Ca Tỳ Ma La, đi trong núi chừng vài dặm đường, gặp một con trăn lớn. Tổ đi thẳng chẳng để ư đến, trăn mới quấn quanh thân Tổ. Tổ nhân đó truyền cho pháp Tam Quy Y. Trăn nghe xong mà lui đi.

Tổ đến hang đá, một ông già mặc áo trắng bước ra, chắp tay chào hỏi.

Tổ hỏi : “Ông ở chốn nào ?”

Đáp rằng : “Xưa tôi từng làm Tỳ Khưu, rất thích sự lặng yên. Có nhiều kẻ mới tu đến học đạo, tôi bực chuyện ứng đáp, khởi tưởng sân hận. Mạng hết, đọa làm thân trăn, ở trong hang này đă ngàn năm nay. Vừa rồi gặp được Tôn Giả, được nghe Giới Pháp, nên cảm tạ vậy”.

Tổ hỏi rằng : “Núi này c̣n có ai ở không ?”

Đáp : “Cách đây mười dặm, có cây lớn che năm trăm con rồng lớn, Thọ Vương ấy tên Long Thọ, thường v́ chúng rồng nói pháp. Tôi cũng được nghe”.

Tổ bèn đến đó.

Long Thọ bước ra đón, nói : “Núi sâu cô tịch, rồng rắn ở đầy, Đại Đức Chí Tôn, việc ǵ phải đến đây ?”

Tổ nói : “Tôi chẳng phải bậc Chí Tôn, đến thăm hiền giả đó”.

Long Thọ nghĩ thầm rằng : “Thầy này đắc đạo nhăn quyết định tánh minh chăng ? Là Đại Thánh kế tục Chân Thừa chăng ?”

Tổ nói : “Tuy ông nói trong ḷng, tôi đă biết ư. Chỉ việc xuất gia, lo ǵ tôi chẳng Thánh ?”

Ông Long Thọ nghe xong, ăn năn tạ lỗi. Tổ liền độ thoát cho. Đến năm trăm chúng Rồng, đều thọ Giới Cụ Túc.

Bài kệ truyền pháp rằng :

Pháp chẳng ẩn chẳng hiển

Nói đấy Chân Thật Tế

Ngộ pháp ẩn hiển này

Chẳng ngu cũng chẳng trí.

Chỉ cái chẳng ngu chẳng trí này th́ rồng rắn cũng đều có thể độ thoát vậy.

 

Kinh : “Nếu có chúng sanh thích loài người, tu làm người, tôi hiện thân người, v́ họ thuyết pháp, khiến cho thành tựu.

Thông rằng : Ở trước, nào là vua chúa, tể quan, trưởng giả, cư sĩ, trọn bốn chúng, chẳng phải là người ư ? Sao c̣n có kẻ muốn tu làm loài người ? Ấy là chỉ hạng sĩ, nông, công, thương, là nói những người không để ư đến Tam Thừa. Họ vẫn sẵn đủ Phật Tánh, suốt ngày từng thuyết pháp mà chẳng tự hay biết vậy.

Thiền sư Bàn Sơn Tích nhân đi dạo chơi phố chợ, thấy một người khách mua thịt heo nói với người hàng thịt rằng : “Thứ ngon, cắt cho một cân”.

Người hàng thịt ném dao xuống, khoanh tay nói: “Thưa Ngài, có cái nào chẳng phải thứ ngon đâu ?”

Sư nơi đây có chỗ tỉnh ngộ.

Lại ngày nọ ra cửa, thấy người ta xúm khiêng đám táng, phường ca đánh chuông ca rằng : “Vầng hồng quyết định về Tây lặn. Chưa rơ hồn linh đến chốn nao ?” Dưới trướng, đám con hiếu khóc lên ai oán.

Sư bỗng nhiên thân tâm bay bổng, về nói lại với Đức Mă Tổ. Tổ ấn khả cho.

Ḥa Thượng Bửu Thọ ban đầu ở Tổ Bửu Thọ làm chủ cúng dường.

Tổ Thọ hỏi : “Trước khi cha mẹ sanh ra, đưa đây cái bổn lai diện mục ta xem !”

Sư đứng đến khuya, đáp lời chẳng khế hợp, sáng ngày từ giă ra đi.

Tổ Thọ hỏi : “Ông đi đâu ?”

Sư đáp : “Hôm qua, nhờ Ḥa Thượng hỏi, con chẳng hiểu được, nên sang phương Nam tham học thiện tri thức”.

Tổ Thọ nói : “Phương Nam cấm Hạ chẳng cấm Đông, ta ở đây cấm Đông chẳng cấm Hạ. Ông hăy kiết hạ ngay chốn phố phường. Thật là Phật Pháp th́ trong chỗ đô hội, bụi trần dầy đẫy thường thuyết chánh pháp !”

Sư chẳng dám bỏ đi.

Một hôm, giữa ngă tư thấy hai người đang căi nhau. Một người hoa nắm tay, nói : “Mày thật là đồ không mặt mũi !”

Sư ngay đó đại ngộ. Chạy về ra mắt Tổ Bửu Thọ, chưa kịp mở lời, Tổ đă nói : “Ông hiểu rồi, khỏi cần nói !”

Sư bèn lễ bái.

Hai tắc này, chỉ hiện thân người, bèn hay thuyết pháp, há phải Đại Sĩ hiện ra rồi sau mới có thành tựu ư ?

 

Kinh : “Nếu có các Phi Nhơn, Vô H́nh hoặc Hữu H́nh, Hữu Tưởng hoặc Vô Tưởng, muốn thoát loài ḿnh, tôi ở trước kẻ ấy, đều hiện thân họ, v́ họ thuyết pháp, khiến cho thành tựu.

Thông rằng : Trời, Rồng nói là Xuất (Ra). Trời hay chán sự vui, Rồng hay sợ khổ, v́ tự có con đường xuất thân, rất dễ độ vậy. Loài Càn Thát Bà, nói là Thoát (Khỏi), v́ nghiệp báo ràng buộc, rất khó giải thoát. Phi Nhơn, Dược Xoa nói là Độ (Qua) v́ đă ch́m trong sự khổ sở tối tăm, như đắm trong biển lớn, ắt cần bè cứu vớt, đều gọi là độ thoát, nhưng trong ấy khó dễ chẳng đồng như thế. Loài vô h́nh, vô tưởng là loài thần quỷ, tinh linh vậy. Loài hữu h́nh vô tưởng là đất, cây, kim, đá vậy.

Kinh Du Già Diệm Khẩu, Tiêu Diện Quỷ Vương tức là Đức Quan Âm Đại Sĩ hóa hiện ra vậy.

Ở Trung Nhạc, có Ḥa Thượng Phá Táo Đọa lời lẽ việc làm không thể lường được. Trũng núi có cái miễu rất linh, trong điện chỉ để một cái bếp, xa gần cúng kiến chẳng ngớt.

Sư một ngày kia dẫn thầy đạo hầu đi vào miếu, lấy gậy gơ bếp ba cái, nói : “Ối chà ! Cái này chỉ là đất sét nhồi thành, Thánh từ đâu đến, linh từ đâu ra mà nấu nướng sinh mệnh thế !”

Lại đánh ba cái. Bếp bèn bể ra rớt xuống.

Chốc lát, có một người áo xanh mũ cao hiện ra, làm lễ trước mặt sư.

Sư nói : “Người nào đây ?”

Đáp : “Tôi vốn là thần bếp miễu này, đă lâu chịu nghiệp báo. Ngày nay nhờ thầy nói pháp Vô Sanh, được thoát khỏi chốn này, sanh ở cơi trời, riêng đến tạ ơn”.

Sư nói : “Đó là cái Tánh vốn có của ông, chẳng phải ta gượng nói”.

Vị thần lại làm lễ rồi biến mất.

Chút sau, thầy đạo hầu hỏi rằng : “Chúng con hầu Ḥa Thượng đă lâu, mà chẳng được bày dạy, thần bếp được yếu chỉ vắn tắt nào mà liền được sanh cơi trời?”

Sư đáp : “Ta chỉ hướng về người ấy nói “Đó là đất sét ḥa thành”. Không có đạo lư ǵ riêng cho ông ta”.

Thầy đạo hầu không có lời nào để nói.

Sư hỏi : “Hiểu chăng ?”

Đạo hầu nói : “Chẳng hiểu”.

Sư nói : “Cái Tánh sẵn có, v́ sao chẳng hiểu ?”

Thầy đạo hầu liền bèn lễ bái.

Sư nói : “Rớt rồi ! Rớt rồi ! Bể rồi ! Bể rồi !”

Về sau, thiền sư Nghĩa Phong kể lại với An Quốc Sư. Tổ An than rằng : “Vị ấy hiểu trọn vật-ngă nhất như, khá nói như trăng sáng giữa không, không đâu chẳng thấy. Thật khó có ra cái ngữ mạch của người ấy”.

Sư Phong hỏi : “Chưa rơ người nào có được ngữ mạch ấy ?”

Tổ Am nói : “Người chẳng biết th́ gọi là Phá Táo Đọa !”

Không biết là ai, há cũng chẳng phải là sự hóa hiện của Đức Quan Âm ư ?

 

Kinh : “Đó gọi là ba mươi hai Ứng Thân Diệu Tịnh, vào các cơi nước. Đều là Diệu Lực Vô Tác của Văn Huân Văn Tu Tam Muội mà tự tại thành tựu.

Thông rằng : Hiệp Luận nói, chỗ nói cái “Diệu Lực Vô Tác tự tại thành tựu”, là chỗ trong kinh Tạp Hoa xưng là “Phổ Hiền Đối Hiện Sắc Thân”, Kinh Pháp Hoa xưng là “Nhất Thiết Sắc Thân Tam Muội” vậy. Bởi v́ âm thầm xông khắp pháp giới, là cái căn lực từ thiện, chân tế bất động, ứng hiện khắp mười phương. Lấy cái Từ Bi của Thánh Hạnh ứng với cơ Không, th́ giữ lấy h́nh thể bất tịnh, h́nh trạng dường như dễ sợ. Lấy cái Từ Bi của Thiên Hạnh ứng với cơ Trung, th́ như ngựa hay thấy bóng roi, chạy đường thẳng lớn, không ǵ ngại sợ. Lấy cái Từ Bi của Phạm Hạnh ứng với cơ Giả, th́ ngồi ṭa sư tử, để chân ghế báu, như người buôn bán giỏi, qua khắp các nước, vào ra đều lời lăi, không đâu chẳng có. Đó là ba thứ cơ Không, Giả và Trung, nói ra khiến cho chúng sanh thấy sự việc như thế, đây là Sắc Thân Tam Muội của kinh Pháp Hoa vậy.

Thần dụng Như Lai khắp mười phương, tùy căn mà đối hiện. Dùng nguyện lực đại từ bi chẳng bỏ chúng sanh, nên trong một niệm là toàn khắp mà không có gây làm. Như địa vị Diệu Giác, chỗ lợi lạc cho chúng sanh thảy đồng pháp giới, tùy căn tùy thời, Đối Hiện Sắc Thân, chẳng làm mà dụng, chẳng gây mà ứng. Dùng Trí sáng rỡ khắp nơi, chẳng thuộc nơi chốn, đồng tâm chúng sanh, tùy vật hiện h́nh, không đến không đi, đây là Đối Hiện Sắc Thân của Kinh Tạp Hoa vậy. Đây là tùy duyên mà thị hiện, đều tức là Như Huyễn, nên dùng Như Huyễn Tam Muội, Văn Huân Văn Tu tự tại thành tựu.

Tổ Lâm Tế nói : “Chỗ nói của sơn tăng, chỉ là cái nghe pháp độc sáng rỡ ràng hiện giờ trước mắt quư vị. Người này chốn chốn chẳng ngưng trệ, tự tại thông suốt mười phương ba cơi. Vào tất cả cảnh sai biệt mà chẳng hề thay đổi, trong khoảng sát na thấu nhập pháp giới, gặp Phật nói Phật, gặp Tổ nói Tổ, gặp La Hán nói La Hán, gặp ngạ quỷ nói ngạ quỷ. Dạo chơi tất cả quốc độ mà giáo hóa chúng sanh, chưa từng ĺa Nhất Niệm, tùy chốn mà trong sạch, ánh sáng thấu suốt mười phương, muôn pháp Nhất Như. Này quư vị ! Hàng đại trượng phu ngày nay mới biết bổn lai vô sự, Chỉ v́ các ông tin chẳng đến, niệm niệm chạy cầu, bỏ đầu mà kiếm đầu, tự ḿnh chẳng thể dứt !”

Chỗ thuyết pháp của Tổ Lâm Tế được cái Chánh Pháp Nhăn của Đức Quan Âm. Nếu tin được rằng xưa nay vô sự th́ ba mươi hai Ứng Thân từ Diệu Lực Vô Tác liền được hiện tiền.

 

II. BỐN CÔNG ĐỨC VÔ ÚY

Kinh : “Bạch Thế Tôn, tôi lại dùng Diệu Lực Vô Tác của Kim Cương Tam Muội Văn Huân Văn Tu này, cùng tất cả lục đạo chúng sanh mười phương ba đời đồng một bi ngưỡng, nên khiến các chúng sanh, nơi thân tâm tôi, được mười bốn thứ công đức Vô Úy.

Thông rằng : Từ là nói về Lực, Lực đủ ứng khắp, nên gọi là Đại Từ. Bi là nói sự Ngưỡng, đáp ứng với ngưỡng vọng, nên gọi là Đại Bi. Chúng sanh sợ là sợ sanh tử vậy. Dùng cái Diệu Lực Vô Tác chẳng sanh chẳng diệt mà cứu vớt cho, để đến bờ bên kia, công đức ấy nói sao cho cùng !

Kinh Duy Ma Cật, Đức Văn Thù Sư Lợi hỏi : “Sanh tử đáng sợ, Bồ Tát phải nương chỗ nào ?”

“Đức Duy Ma Cật nói : “Bồ Tát trong chỗ sợ sanh tử, phải y vào lực công đức của Như Lai”.

“Đức Văn Thù Sư Lợi lại hỏi : “Bồ Tát muốn y vào lực công đức Như Lai, nên trụ vào đâu ?”

“Đáp rằng : “Bồ Tát muốn nương vào lực công đức của Như Lai, phải trụ vào việc độ thoát tất cả chúng sanh”.

Lại có cô cư sĩ Hưu Xá tự nói đắc An Ổn Tràng của Bồ Tát : “V́ chúng sanh chưa ĺa sanh tử, nên Bồ Tát chẳng tự ḿnh giữ lấy an ổn. Nếu hay vào sanh tử giáo hóa chúng sanh, thấu đạt sanh tử cho đến chúng sanh mà vẫn thường giáo hoá, thảy đều là hạnh Niết Bàn. Không khởi ra, không ch́m mất, mới gọi là “Tràng an ổn, ĺa lo”.

Nên Văn Huân Văn Tu, dùng đó tự độ, cũng dùng đó độ tha, chính là sự an ổn.

 

Kinh : “Một là, do tôi không tự quán cái Âm Thanh, mà quán cái Tánh Quán, nên khiến cho chúng sanh khổ năo mười phương kia quán Âm Thanh ấy liền được Giải Thoát.

Thông rằng : Cái tâm bức bách đau khổ của chúng sanh, tức là tâm của Bồ Tát. Cái Âm Thanh mà chúng sanh xưng hô danh hiệu tức là cái Âm Thanh của Quan Âm vậy. Nếu quán Âm Thanh ấy th́ chưa ĺa Thanh Trần, bèn tựa như có khổ năo. Nếu quán cái Tánh Quán, chỗ mà các khổ chẳng đến, liền đây Giải Thoát. Đây là cái Cơ Phản Văn Đệ Nhất vậy.

Có nhà sư hỏi Trương Châu Lịch Thôn Ḥa Thượng : “Như sao là “Quán Âm Thanh ấy mà liền Giải Thoát” ?”

Tổ Thôn lấy đũa-gắp-than gơ cây củi, nói : “Ông nghe chăng ?”

Đáp : “Nghe”.

Tổ Thôn nói : “Nào chẳng giải thoát ?”

Thật là khéo nói chỉ thú vi diệu mầu sâu của Lăng Nghiêm vậy thay !

 

Kinh : “Hai là, cái Thấy-Biết đă xoay lại, khiến các chúng sanh dầu vào lửa lớn, lửa chẳng thể đốt.

Thông rằng : Cái Thấy-Biết thuộc Hỏa. Thấy-Biết quay về sự trong lặng, tánh trong lặng tṛn đầy, nên Lửa chẳng đến được.

Thầy Linh Nhuận từng cùng bạn đạo lên núi dạo cảnh. Lửa ma trơi bốn phía hợp lại. Chúng bạn đều chạy tán. Thầy Nhuận một ḿnh yên bước trèo lên, kêu bạn đạo rằng : “Ngoài tâm không có lửa, lửa thiệt tự tâm. Cho là có lửa để tránh, làm sao khỏi lửa ?”

Lửa đến thầy Nhuận th́ lập tức tắt mất.

 

Kinh : “Ba là, quán cái Nghe được xoay trở lại, khiến các chúng sanh bị nước lớn cuốn trôi, nước chẳng thể ch́m.

Thông rằng : Nghe tiếng thuộc về Thủy. Nhà y học cũng cho lỗ tai thuộc Thận. Cái Nghe xoay trở lại th́ nước trở về nguồn, nên nước chẳng thể ch́m.

Ông Cần Na Bạt Đà, nghĩa là Công Đức Hiền, người Trung Thiên Trúc. Năm Thứ Mười Hai hiệu Nguyên Hy đến xứ Kiến Nghiệp, được Nam Tiều Vương Nghĩa Tuyên kính trọng. Vương có mưu nghịch, ông can gián đến chảy nước mắt mà chẳng nghe. Bị bại ở Lương Sơn, rớt xuống ḍng sông, ông một ḷng niệm Quan Thế Âm Bồ Tát, tay nắm được cành trúc. Nh́n thấy đồng tử kéo lấy áo, nói : “Đứa con nít này hay vậy ư ?” Lên đến bờ, muốn cởi áo khoác tặng cho, nhưng đồng tử bỗng biến mất tại chỗ.

Có nhà sư hỏi Tổ Bảo Phước : “Như sao là vào lửa chẳng cháy, vào nước chẳng ch́m ?”

Tổ Phước nói : “Nếu là nước lửa, liền bị cháy, ch́m”.

Đây thật là được cái mầu nhiệm của việc xoay trở lại, nên lời nói chặt gọn như vậy.

 

Kinh : “Bốn là, diệt hết vọng tưởng, tâm không sát hại, khiến các chúng sanh vào các nước Quỷ, Quỷ không thể hại.

Thông rằng : Yêu tinh, quỷ quái chẳng có thể gặp. Từ xưa, chỗ gọi là quỷ phương cũng là nhiều, nhưng chỉ có nước quỷ La Sát ở biển là hại hơn hết. Người đi biển bị hắc phong trôi dạt đến xứ ấy, th́ có nam nữ xinh đẹp đem thức ăn uống đến ủy lạo, khiến cho người vui mà quên trở về. Thuyền sau tới th́ bắt người trong thuyền trước ăn thịt hết. Ngày đầu tháng, ngày giữa tháng th́ có Mă Vương đến độ thoát đoàn chúng ấy. Nương theo ngựa mà thoát, hoặc ở đầu hoặc ở đuôi, chỉ cần nhất tâm chẳng nhớ đến sự vui kia, th́ về nước cũ. Hễ c̣n chút ít vướng niệm th́ rớt xuống biển.

Thầy Chân Tây Sơn làm lời bạt kinh Diệu Pháp Liên Hoa rằng : “Tôi thuở nhỏ đọc phẩm Phổ Môn, tuy chưa rơ sâu ư nghĩa, nhưng dùng ư cho rằng “Đây là ngụ ngôn của nhà Phật”.

Xưa, Ông Lư Văn Công, đời Đường, hỏi thiền sư Dược Sơn rằng : “Thế nào là “Gió dữ thổi ghe trôi lạc vào nước Quỷ” ?”

Sư nói : “Thằng nhỏ Lư Cao, hỏi chuyện ấy làm ǵ”.

Văn Công bỗng chợt phát sân lên mặt.

Sư cười nói : “Phát tâm sân nộ thế, đó là “Gió dữ thổi ghe trôi vào nước Quỷ” vậy !”

Ôi chao, Tổ Dược Sơn đáng gọi là khéo khai mở cho người vậy. Từ đó suy ra th́ biết Lợi Dục bừng bừng đó là hầm lửa. Tham Ái ch́m đắm, đó là biển khổ. Một niệm trong sạch, lửa mạnh thành ao mát. Một niệm tỉnh thức, thuyền đến bờ kia. Tai nạn buộc ràng, tùy chỗ mà an. Ta không kinh sợ, gông cùm tự mở. Kẻ dữ xâm lấn, đối đăi ngang ngược, ta không giận ghét, như thú tự bỏ chạy. Người đọc kinh này, hành Quán như thế, ắt biết Đức Đại Sĩ tại núi Phổ Đà chân thật v́ người. Chẳng phải lời nói suông.

Căn cứ theo Truyền Đăng Lục th́ có câu “Này cái lăo Vu Khoảnh, hỏi điều đó làm ǵ ?”, thuộc về lời nói của thiền sư Tử Ngọc. Câu truyện không giống hẳn, chỉ cốt hiểu được cái ư.

 

Kinh : “Năm là, nơi cái Nghe huân tu thành tựu trong Tánh Nghe, sáu Căn tiêu về bản tánh, đồng như cái tiếng, cái nghe, hay khiến chúng sanh đang khi bị hại, dao găy từng khúc, khiến cho binh khí, dường như chém nước, như thổi ánh sáng, tánh không chao động.

Thông rằng : Tánh Nghe Viên Thông(), nào có h́nh trạng. Huân tu nơi cái Nghe, thành tṛn vẹn nơi Tánh Nghe, ắt sáu Căn tiêu về bản tánh, hóa thành Tánh Nghe. Ngoại vật được chạm xúc, đều đồng như cái nghe, cái tiếng. Dầu cho binh khí cũng như chặt nước, thổi ánh sáng vậy. Tánh Nghe bất động, bèn không kinh sợ. Đă không kinh sợ, ắt cái người chẳng-thể-hoại ở tại ta, mà dao kiếm găy từng khúc vậy.

Vua nước Kế Tân, mang gươm đến chỗ Tôn Giả Sư Tử, hỏi rằng : “Thầy đắc uẩn-không chăng ?”

Tổ nói : “Đă đắc uẩn-không”.

Vua hỏi : “Ĺa sanh tử chăng ?”

Tổ đáp : “Đă ĺa sanh tử”.

Vua nói : “Đă ĺa sanh tử, có thể cho tôi cái đầu!”

Tổ đáp : “Thân chẳng phải tôi có, nào tiếc ǵ cái đầu”.

Vua liền hươi gươm chặt đứt đầu Tôn giả, sữa trắng vọt cao mấy thước. Cánh tay phải của vua liền rớt xuống đất, bảy ngày sau th́ chết.

Pháp sư Triệu, khi lâm h́nh nói bài kệ :

Tứ Đại nguyên chẳng có

Ngũ Uẩn hẳn đều không

Đưa đầu cho gươm sáng

Dường giống chém gió Xuân

Đây có thể nói là Thuần Giác quên thân, tánh không chao động.

(Xét bộ Xuân Thu Thập Lục Quốc, sư Triệu đời Tấn niên hiệu Nghĩa Hy Thứ Mười, ở Trường An diệt độ trong điềm lành, không có việc bị h́nh).

Đời truyền rằng kinh Cao Vương Quan Âm, tụng đến gông cùm đều thoát sạch, rất là linh ứng, nhưng có người cho là ngụy kinh.

 

Kinh : “Sáu là, huân tu theo Tánh Nghe thuần sáng, sáng khắp pháp giới ắt các tối tăm chẳng có thể c̣n, khiến cho chúng sanh tuy có Dược Xoa, La Sát, quỷ Cưu Bàn Trà, cho đến Tỳ Xá Già, Phú Đơn Na... ở gần bên cạnh cũng chẳng thể thấy.

Thông rằng : Quỷ Thần lấy sự tối tăm thành tánh. Nhờ nơi tối tăm mà được dịp, c̣n ở nơi sáng suốt th́ không thể hiện ra dấu vết, cho nên nói “Chẳng thể c̣n”. Huống ǵ cái tối tăm kia là hữu hạn, mà ánh sáng ta th́ vô biên. Ánh sáng thuần túy sáng rỡ, chói rực nơi tối tăm, làm ḷa con mắt, nên chẳng thể thấy.

Sư Ngộ Bổn nhậm giữ ở Động Sơn hai mươi năm. Thần Thổ Địa chẳng nhận thấy được.

Thần bạch thầy Chủ Sự : “Làm sao biết được mặt Ḥa Thượng một lần ?”

Thầy Chủ Sự nói : “Ḥa Thượng đang dùng bữa tại trai đường, ông lật úp mâm cơm, Ḥa Thượng kêu lên, th́ ngươi sẽ thấy”.

Hôm sau, thần lật úp mâm cơm.

Sư kêu lên rằng : “Đáng tiếc vật thường trụ !”

Thần mới biết mặt sư một phen.

Ở chỗ Ngài Diêm Quan, có một thầy Chủ Sự, một hôm bỗng thấy một quỷ sứ đến t́m bắt.

Nhà sư ấy nói : “Tôi lănh chức Chủ Sự, chưa rănh tu hành. Xin khất bảy hôm, được chăng ?”

Quỷ sứ nói : “Đợi tâu với Diêm Vương, nếu chịu cho th́ bảy ngày sau sẽ đến, c̣n không th́ chốc nữa sẽ lại.”

Nói xong biến mất. Bảy ngày sau lại đến, t́m măi nhà sư chẳng được !

Người đời sau nêu hỏi một vị tăng : “Như khi bị kiếm bắt, làm sao nghĩ định để hắn bỏ đi ?”

Tổ Động Sơn thay thế nói : “Bị hắn kiếm được rồi !”

Chỗ này cũng giống chuyện Tổ Nam Tuyền đến trang trại. Thần Thổ Địa báo trước cho trang chủ, ông này thiết trai cúng dường rất đầy đủ.

Thị giả hỏi : “Đă là đại thiện tri thức, v́ sao lại bị Quỷ Thần ŕnh thấy ?”

Tổ Tuyền nói : “Trước mặt Thổ Địa, lại thêm một phần cúng dường !”

Thật đáng cùng tham !

 

Kinh : “Bảy là, tiếng tăm tiêu trọn, Thấy-Nghe xoay lại nhập vào, ĺa các vọng trần, có thể khiến cho chúng sanh gông cùm, xiềng xích chẳng thể trói buộc.

Thông rằng : Có Tiếng, có Trần, chưa vào Tánh Nghe, bèn bị Trần trói. Giờ tiếng tăm tiêu trọn, hai tướng động tịnh rơ ràng chẳng sanh. Cái Thấy Nghe xoay lại nhập vào, đến chỗ chẳng sanh diệt, liền ĺa các trần hư vọng, đó gọi là Chân Giải Thoát vậy. Như đảm đương đại pháp, riêng cần sẵn đủ một con mắt lẻ !

Tổ Vân Môn đến trang trại Tổ Tuyết Phong, gặp một nhà sư bèn hỏi : “Thượng Tọa hôm nay lên núi đó ư ?”

Nhà sư đáp : “Phải”.

Tổ Vân Môn nói : “Xin gởi một tắc nhân duyên, hỏi Ḥa Thượng trụ tŕ, chỉ chẳng được nói là lời của người khác.”

Nhà sư nói : “Được”.

Tổ Môn nói : “Thượng Tọa lên tới núi, thấy Ḥa Thượng thượng đường, chúng vừa tụ tập, liền bước ra nắm đứng lại nói rằng : “Lăo già này mang gông sắt trên cổ, sao chẳng cởi ra ?”

Nhà sư y theo lời của Tổ Môn.

Tổ Tuyết Phong thấy nhà sư nói thế, liền xuống ṭa túm ngực nắm đứng, nói : “Nói mau, nói mau !”

Nhà sư không đáp được.

Tổ Phong buông ra, nói rằng : “Chẳng phải lời ông !”

Nhà sư đáp : “Chính lời của tôi”.

Tổ Phong nói : “Thị giả ! Đem gậy lại đây !”

Nhà sư rằng : “Chẳng phải lời của tôi, mà là của một vị Thượng Tọa người Triết Giang ở xóm trên dạy tôi đến nói”.

Tổ Phong nói : “Đại chúng đến xóm trên rước vị thiện tri thức của năm trăm người đến !”

Cũng lại Tổ Vân Môn, đến Nga Hồ, nghe thượng đường rằng : “Chớ nói chưa rơ người ấy, vẫn hằng nổi nghẹt đầy đất ! Giả sử rơ được đó, rành rành biết có chỗ đi, cũng là nổi nghẹt đầy đất !”

Tổ Môn bèn hỏi thầy Thủ Ṭa : “Vừa rồi ư Ḥa Thượng ra làm sao ?”

Thầy Thủ Ṭa đáp : “Nổi nghẹt đầy đất !”

Tổ Môn nói : “Thầy Thủ Ṭa ở đây đă lâu, đầu bạc răng vàng mà nói lời thế ấy”.

Đáp rằng : “Thượng Tọa lại như thế nào ?”

Tổ Môn nói : “Muốn nói bèn được, thấy bèn tiện thấy, nếu không thấy chớ nói loạn”.

Đáp rằng : “Chỉ như nổi nghẹt đầy đất, lại là thế nào ?”

Tổ Môn nói : “Trên đầu mang gông, dưới chân mang cùm !”

Hỏi : “Thế th́ chắc không có Phật Pháp vậy ?”

Tổ Môn nói : “Đó là cảnh giới Văn Thù, Phổ Hiền Bồ Tát”.

Hai tắc này đáng để xem lẫn nhau.

 

Kinh : “Tám là, dứt cái tiếng, tṛn vẹn cái Nghe, khắp sanh sức Từ, có thể khiến cho chúng sanh đi qua đường hiểm, giặc không thể cướp”.

Thông rằng : Cảm và Ứng là một Cơ, đây và kia là một Tâm vậy. Trong chẳng ứng, ngoài chẳng làm ǵ được. Nên tâm không có sự sát hại th́ quỷ chẳng thể xâm phạm. Khắp sanh sức Từ, ắt giặc không thể cướp. Bởi v́, diệt cái tiếng th́ trọn không có đối đăi. Tṛn vẹn cái Nghe tức đồng một Thể, nên không thành thù địch để bị cướp vậy.

Thiền sư Đại Đồng ở Đầu Tử Sơn gặp ổ cướp làm loạn.

Có bọn cuồng cầm dao chỉa vào Tổ mà nói rằng: “Ở đây làm ǵ ?”

Tổ bèn tùy nghi thuyết pháp, tên đầu đảng nghe xong bái phục, cởi áo dâng cho mà lui đi.

Am chủ Pháp Ngộ ở Tam Giác Sơn, nhằm thời ly loạn, có tên đầu đảng vào núi, hỏi : “Ḥa Thượng có của báu ǵ ?”

Tổ Ngộ nói : “Cái báu của nhà sư chẳng hợp với ông”.

Đầu đảng hỏi : “Là của báu ǵ ?”

Tổ Ngộ hét lên một tiếng.

Đầu đảng chẳng ngộ, cầm dao đâm tới.

Một đàng lănh nhận, một đàng chẳng lănh nhận, há chẳng phải định nghiệp ư ?

Tổ Nham Đầu thường nói với chúng rằng : “Lăo già này khi đi, rống lớn một tiếng rồi đi”.

Ở Trung Nguyên giặc cướp nổi lên, đại chúng đều t́m nơi lánh trốn. Tổ Đầu đàng hoàng ở yên. Một hôm giặc đến đông, trách rằng không dâng biếu, bèn lấy dao đâm. Tổ Đầu thần sắc tự nhiên, hét lớn một tiếng mà tịch. Tiếng hét nghe vang cả mười dặm.

Đây là định nghiệp nên chẳng tránh khỏi. Nhưng cái của báu của Tổ Tâm Giác và Tổ Nham Đầu há bọn cướp có thể cướp được sao ?

 

Kinh : “Chín là, huân tu theo Tánh Nghe, ĺa các trần tướng, sắc không thể cướp níu, có thể khiến cho chúng sanh nhiều dâm ĺa xa tham dục.

Thông rằng : Huân tu theo Tánh Nghe ắt dục ái khô khan. Bởi do nước về căn nguồn, nên lửa chẳng thể đốt vậy. Tiếng trần đă tiêu tan, các trần khác đều thoát. Căn và Cảnh chẳng cướp lẫn nhau, nên h́nh sắc chẳng mê hoặc được.

Cổ đức nói,

“Lâu trồng sâu căn lành

Ở trần, trần chẳng xâm

Nào giữ Trần khỏi xâm

Vốn bởi ta vô tâm”.

Ngài Cưu Ma La Thập bỗng nghe trên vai có hai đứa con nít khóc.

Tổ Thập nói : “Đây là dục chướng vậy”.

Ngài nói với vua Tần ban cấp cho bốn người cung nữ, một lần giao hợp mà sanh hai con trai. Dục chướng liền dứt.

Đệ tử thấy vậy, chẳng ǵn giữ Giới Luật.

Tổ Thập bèn túm nắm kim nhai nuốt mà nói : “Có thể như ta nuốt kim, mới có thể hành dục”.

Do đó, hết thảy chúng sợ hăi mà phụng tŕ Giáo Pháp.

 

Kinh : Mười là, thuần Âm không trần, Căn Cảnh viên dung, không năng sở đối, có thể khiến cho tất cả chúng sanh căm giận ĺa ḷng oán giận.

Thông rằng : Sân so với Tham lại càng vi mật, rất khó nhổ khỏi. Nên ĺa Trần th́ có thể dứt Tham, c̣n Sân th́ phải không có Trần rồi sau mới dứt được vậy. Bên ngoài không có chỗ Sở Đối th́ dễ, trong không có cái Năng Đối th́ khó. Chẳng được Căn Cảnh viên dung, thuần lại càng thuần, khó nói lời này. Tuy nhiên, cũng có thể dùng sân giận mà làm Phật sự.

Như thầy Từ Minh, ở Tổ Phần Dương hai năm, chưa được nhập thất, mỗi lần gặp là bị mắng nhiếc, hoặc chê bai các nơi khác, đến khi dạy bảo th́ đều là chuyện phàm tục thô bỉ.

Một đêm nọ, thầy than rằng “Từ khi đến học pháp đă hai hạ, chẳng được chỉ bày, chỉ tăng thêm trần lao thế tục; thầm nghĩ năm tháng trôi mau, việc ḿnh chẳng rơ, mất đi sự lợi ích xuất gia”.

Lời chưa dứt, Tổ Dương quắc mắt, nói : “Ác tri thức ! Dám nói thêm nói bớt cho ta !”

Rồi nổi giận cầm gậy rượt.

Thầy Minh định kêu cứu. Tổ Dương bịt miệng, bèn đại ngộ, nói : “Mới biết đạo của Lâm Tế vượt khỏi thường t́nh”.

Từ đó, phục dịch bảy năm mới ra đi.

Sau, ở Từ Minh, thầy Hoàng Long Nam thiết tha cần cầu khai thị.

Tổ Minh nói : “Ông học thiền Vân Môn ắt rành yếu chỉ. Như nói “Tha Động Sơn ba gậy”, là có hợp phần ăn gậy hay không hợp phần ăn gậy ?”

Thầy Nam đáp : “Có hợp phần ăn gậy”.

Tổ Minh nghiêm sắc mặt, nói : “Từ sáng đến chiều cắt réo quạ kêu lẽ ra đều phải ăn gậy !”

Tổ Minh lại hỏi : “Triệu Châu nói “Lăo bà Đài Sơn, ta đă v́ ông khám phá rồi vậy”. Thế đâu là chỗ Triệu Châu khám phá Lăo bà ?”

Thầy Nam toát mồ hôi chẳng đáp được.

Ngày sau lại tới, Tổ Minh mắng nhiếc không dứt.

Thầy Nam nói : “Chửi mắng há là từ bi thí pháp ư ?”

Tổ Minh nói rằng : “Ông cho là chửi sao ?”

Thầy Nam ngay lời đại ngộ. Nhân tŕnh kệ rằng:

“Kiệt xuất tùng lâm thiệt Triệu Châu

Lăo bà khám phá, mất nguyên do

Giờ đây bốn biển trong như kính

Người đi chớ giận oán con đường”.

Tổ Minh gật đầu.

Các thứ giận dữ này th́ không xa ĺa lại càng tốt.

 

Kinh : “Mười một là, tiêu tan trần tướng, trở lại Tánh Bản Minh, pháp giới thân tâm như ngọc lưu ly, sáng suốt không ngại, có thể khiến cho tất cả các kẻ u mê ám chướng ĺa xa vĩnh viễn si tối.

Thông rằng : Tánh Nghe chẳng phải là Tánh Thấy, sao lại nói chữ Minh ? Minh tức là Giác vậy. Giác và Sở Giác đều không, nên sáng khắp pháp giới. Không-Giác cùng tột tṛn vẹn, nên pháp giới, thân tâm như ngọc lưu ly, sáng suốt không ngại. Mới là sáu Căn dùng lẫn nhau, thấy tức là nghe, nên nói rằng tiêu tan trần tướng, trở lại Tánh Bản Minh vậy.

Nghiệp bên trong có mười thứ làm che mất Pháp Thân, trong đó Dâm, Nộ, Si là lớn nhất. Ngài Thiên Thai giải thích ba cái độc thông cả trong ngoài. Bên trong gọi là Tư Hoặc, bên ngoài gọi là Vô Minh. Bậc Nhị Thừa thích khoái Niết Bàn là Tham; chán ghét Sanh Tử là Sân; không biết Trung Đạo là Si. Bậc Bồ Tát th́ rộng cầu Phật Pháp là Tham, la đuổi Nhị Thừa là Sân, chưa rơ Phật Tánh là Si. Đều là ba độc, mà Si là gốc rễ, nên rất khó trừ nghiệp Si vậy thay !

Tổ Bách Trượng nói : “Pháp đục là Tham, Sân, Ái, Thủ, cả thảy nhiều tên vậy. Pháp trong là Bồ Đề, Niết Bàn, Giải Thoát cả thảy nhiều tên vậy. Chỉ như nay soi tỏ nơi hai thứ trong đục, các pháp phàm thánh trọn chẳng có được chút tơ hào nào ái thủ. Đă chẳng ái thủ, mà nương trụ cái chẳng ái thủ cho là đúng, đó là Sơ Thiện, là trụ tâm điều phục, là người Thanh Văn, là người yêu thích bè chẳng bỏ, là đạo của Nhị Thừa, là quả của thiền na. Đă chẳng ái thủ, cũng chẳng nương trụ cái chẳng ái thủ, đó là Trung Thiện, là Giáo Pháp nửa chừng, c̣n là Vô Sắc Giới, tuy khỏi sa vào đạo Nhị Thừa, khỏi sa vào dân Ma, vẫn c̣n là bệnh của thiền na, đó là chỗ trói buộc của Bồ Tát. Đă chẳng nương trụ cái chẳng ái thủ, chẳng khởi tri giải chẳng-nương-trụ, đó là Hậu Thiện, là Giáo Pháp toàn măn, khỏi sa vào Vô Sắc Giới, khỏi sa vào bệnh thiền na, khỏi sa vào Bồ Tát Thừa, khỏi rớt vào vị Ma Vương, là các thứ Trí Chướng, Địa Chướng và Hành Chướng. Cho nên thấy Phật Tánh chính ḿnh, như đêm thấy sắc.

“Như nói “Phật Địa đoạn dứt cả hai thứ ngu : một là Vi Tế Sở Tri Ngu; hai là Cực Vi Tế Sở Tri Ngu”. Thế nên mới nói, “Có người đại trí phá bể hạt bụi, mở ra cuốn kinh”. Nếu thấu qua “Ba cú”, chẳng bị “Ba đoạn” giam. Hàng giáo điển nêu ví dụ là như nai nhảy ba cái ra khỏi lưới, gọi là người ngoài ràng buộc, không có vật ǵ móc ràng được hắn. Đó là thuộc về Nhiên Đăng Hậu Phật, là Tối Thượng Thừa, là Thượng Thượng Trí, là địa vị cao thượng trong Phật đạo. Người này là Phật, có Phật Tánh, là Đấng Đạo Sư, là người khiến sử được ngọn gió không chỗ ngại, là Trí Huệ Vô Ngại. Về sau có thể sử dụng được nhân quả, phước trí tự do, làm cái xe chở chuyên nhân quả. Ở nơi sanh chẳng bị sanh lưu giữ, ở nơi tử chẳng bị tử ngăn ngại, ở nơi năm ấm như cửa mở hoác, đi ở tự do. Bằng có thể như thế th́ chẳng luận giai cấp, yếu mạnh, chỉ có thể như thế th́ cho đến thân kiến trùng thảy là quốc độ diệu tịnh, chẳng thể nghĩ bàn. Đây vẫn là lời nói mở trói. Vốn tự không ghẻ nhọt, chớ làm ra thương tích ! Dù là ghẻ Phật hay ghẻ Bồ Tát các thứ. Hễ nói các pháp có, không v.v... th́ đều là thương tích cả”.

Ôi ! Tổ Bá Trượng từ bi, tận lực bày rơ chướng ngại vi tế của Tâm Tánh. Cần mỗi mỗi thấu qua, mới gọi là vĩnh viễn đoạn dứt si ám.

 

Kinh : “Mười hai là, viên dung h́nh tướng, trở lại Tánh Nghe, là đạo trường bất động, thấm vào cơi đời mà không hoại thế giới, hay khắp mười phương, cúng dường Chư Như Lai như số vi trần, bên mỗi mỗi Phật làm bậc Pháp Vương Tử, có thể khiến cho chúng sanh không con trong pháp giới muốn cầu con trai, sanh được con trai trí huệ phước đức.

Thông rằng : Đây là Tánh Chân Như thấm nhập thế gian, tùy làm Sắc-Không, khắp mười phương cơi, ấy là Bất Không Như Lai Tạng vậy. Quan Âm Đại Sĩ vốn là Pháp Vương Tử của Đức A Di Đà, mà bên mỗi mỗi vị Phật giúp việc không nhàm mỏi, thật là con giỏi vậy. Cho nên cầu con trai liền ứng.

Tổ Thứ Hai Mươi Ba là Tôn Giả Hạc Lặc, người nước Nguyệt Thị, cha tên là Thiên Thắng, mẹ là Kim Quang. V́ không có con, nên cúng cầu nơi đền Phướn Vàng Thất Phật, bèn mộng thấy trên đỉnh núi Tu Di có một thần đồng cầm chiếc kim hoàn nói rằng : “Ta đến vậy”. Tỉnh dậy th́ có thai.

Năm Ngài bảy tuổi, đi dạo xóm làng thấy dân gian thờ cúng Dâm Thần, mới vào miếu la rằng : “Ngươi bày đặt chuyện họa phước, dối gạt người ta, hao tiền tốn mạng, làm hại quá lắm”.

Lời dứt, h́nh tượng trong miếu bỗng nhiên đổ sập.

Do đó, người làng gọi là ông Thánh Con. Năm hai mươi hai tuổi, xuất gia, ba mươi tuổi gặp Tổ Ma Nả La tôn giả, được phó pháp nối ngôi Tổ.

 

Kinh : “Mười ba là, sáu căn Viên Thông(), sáng chiếu không hai, trùm mười phương cơi, thành Đại Viên Kính Không Như Lai Tạng, thừa thuận pháp môn bí mật của mười phương vi trần Như Lai, lănh nhận không sót, có thể khiến cho chúng sanh không con trong pháp giới muốn cầu con gái, sanh được con gái đoan chánh, phước đức, dịu hiền, tướng tốt, mọi người yêu kính.

Thông rằng : Một Căn về nguồn, sáu Căn dùng lẫn, đó là Viên Thông. Chỉ bởi tṛn vẹn mà sáng chiếu không hai, nên thành Đại Viên Cảnh Trí. Chỉ bởi thông suốt mà trùm mười phương cơi, nên là Không Như Lai Tạng. Thừa thuận Như Lai, nhận lănh không sót, là đều có cái đạo của người nữ, nên cầu gái được gái.

Cô Nguyệt Thượng Nữ() tướng tốt đoan nghiêm, mọi người yêu kính; kẻ cầu hôn nối gót đến, cô hiện thần dị(); chí cầu xuất gia.

Ông Xá Lợi Phất nhân đang vào thành gặp cô đi ra. Thầm nghĩ, chị này ra mắt Phật, chẳng biết đắc nhẫn hay chưa đắc nhẫn, ta phải hỏi xem.

Vừa đến gần, bèn hỏi : “Chị đi đâu thế ?”

Cô đáp : “Như Xá Lợi Phất đi vậy”.

Ông Xá Lợi Phất nói : “Tôi mới vào thành, cô mới ra thành, sao lại nói : “Như tôi đi vậy ?”

Cô hỏi : “Các đệ tử Phật phải nương đâu trụ ?”

Ông Xá Lợi Phất nói : “Các đệ tử Phật y nơi Đại Niết Bàn mà trụ”.

Cô nói : “Các đệ tử Phật đă y nơi Đại Niết Bàn mà trụ, nên tôi cũng như chỗ đi của Xá Lợi Phất vậy”.

Lại Ngài Văn Thù, hỏi Cô Am Đề Già rằng : “Sanh lấy ǵ làm nghĩa ?”

Cô đáp : “Sanh lấy sanh-mà-chẳng-sanh làm nghĩa sanh”.

Ngài Văn Thù : “Như sao là lấy sanh-mà-chẳng-sanh làm nghĩa sanh ?”

Cô đáp : “Nếu hay rơ biết bốn duyên Địa, Thủy, Hỏa, Phong chưa từng tự được, tuy có chỗ ḥa hiệp mà chỉ tùy chỗ ứng hợp, đó là nghĩa sanh”.

Ngài Văn Thù hỏi : “Tử lấy ǵ làm nghĩa”.

Cô đáp : “Tử lấy tử-mà-chẳng-tử làm nghĩa tử”.

Ngài Văn Thù hỏi : “Như sao là tử lấy tử-mà-chẳng-tử làm nghĩa tử ?”

Cô đáp : “Nếu hay biết bốn duyên Địa, Thủy, Hỏa, Phong chưa từng tự được, tuy có chỗ ĺa tan, mà chỉ tùy chỗ ứng hợp, đó là nghĩa Tử”.

Cô Am Đề Già hỏi Ngài Văn Thù rằng : “Rơ biết cái lư sanh là chẳng sanh, th́ v́ sao lại bị sanh tử trôi vần ?”

Ngài Văn Thù nói : “V́ sức lực chưa đủ”.

Hai cô gái này, sanh đời có Phật, không chỉ đầy đủ phước đức, hiền dịu, mà c̣n phát minh việc hướng thượng. Cũng là kiếp xưa nhận lănh Pháp Môn Bí Mật mà thị hiện đó ư ?

 

Kinh : “Mười bốn là, trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới trăm ức mặt trời, mặt trăng này, các Pháp Vương Tử hiện ở thế gian có đến sáu mươi hai hằng sa số, tu Phật Pháp, nêu gương mẫu, giáo hóa chúng sanh, tùy thuận chúng sanh, trí huệ phương tiện, mỗi mỗi chẳng đồng. Do tôi đă được bổn căn Viên Thông phát ra diệu tính của căn Tai, sau đó Thân Tâm vi diệu trùm chứa cùng khắp pháp giới nên có thể khiến cho chúng sanh tŕ niệm danh hiệu của tôi, so với những người tŕ niệm danh hiệu của sáu mươi hai hằng sa số Pháp Vương Tử ấy, hai đàng phước đức bằng nhau không khác.

“Bạch Thế Tôn, một danh hiệu của tôi cùng với rất nhiều danh hiệu kia không khác, là do tôi tu tập được Chơn Viên Thông. Đó gọi là mười bốn sức Thí Vô Úy, phước sẵn đủ khắp cho chúng sanh.

Thông rằng : Ban đầu, hết quán cái Âm Thanh liền được Giải Thoát là để tiếp bậc thượng thượng căn, chỉ soi thấy năm uẩn đều Không tức vượt hết thảy khổ ách. Dùng cái quán Tự Tánh, nếu chẳng phải là Quán Hạnh vi diệu th́ không thể hành được vậy.

Chót là chỉ tŕ niệm danh hiệu, phước sẵn đủ khắp cho chúng sanh, là để tiếp bậc trung hạ căn.

Nói rằng phước sẵn đủ khắp là khỏi bị Nước Lửa, cho đến được trai, có gái, không ǵ cầu chẳng được. Cho nên trong ba mươi hai Ứng Thân, nói Giải Thoát tức là chứng ngộ, c̣n lại là thành tựu, chỉ đầy cái phước mà thôi.

Chúng sanh phương này, căn Tai lanh lợi, nhiều người nhận lănh được Đạo, bởi thế sự giáo hóa của Đức Quan Âm trổi bật. Các Căn khác chậm lụt, người được Đạo ít, cho nên sự giáo hóa của các vị Thánh khác kém hơn. Viên Thông so với chẳng Viên Thông, như một ngày sánh với một kiếp, nên tự thầm chọn căn Tai làm cái giáo thể phương này vậy.

Thiền sư Hoa Lâm Thiện Giác thường cầm tích trượng, ban đêm ra khoảng rừng dưới chân núi, mỗi lần bảy bước dộng gậy một cái mà xưng lên danh hiệu Quan Âm.

Sư Giáp Sơn hỏi : “Ở xa nghe Ḥa Thượng niệm Quan Âm, có phải chăng ?”

Tổ đáp : “Phải”.

Thầy Sơn nói : “Khi cỡi được đầu th́ thế nào ?”

Tổ nói : “Ló đầu th́ cho ông cỡi, chẳng ló đầu cỡi cái ǵ ?”

Thầy Sơn hết lời đối đáp.

Quán Sát Sứ Bùi Hưu đến thăm, hỏi rằng : “Thầy có thị giả không ?”

Tổ nói : “Có một cặp, chỉ là không thể gặp khách”.

Ông Hưu hỏi : “Ở đâu ?”

Tổ bèn gọi : “Đại Không, Tiểu Không !”

Hai con cọp từ sau am liền đi ra. Ông Bùi thấy thế kinh hăi.

Tổ nói với hai con cọp rằng : “Có khách, hăy lui”.

Hai con cọp rống lên mà lui vào.

Ông Hưu hỏi : “Thầy giữ hạnh nghiệp ǵ mà cảm hóa được như vầy ?”

Sư mới im lặng chập lâu, hỏi : “Am hiểu chăng?”

Ông Bùi đáp : “Dạ, không hiểu”.

Tổ nói : “Sơn tăng thường niệm Quan Âm vậy”.

Biết được chỗ nín lặng của Hoa Lâm, và chỗ chẳng ló đầu tức là khéo quán Tánh vậy. Nếu không, hăy niệm Quan Âm.

 

Kinh : “Bạch Thế Tôn, do tôi đă được Viên Thông Đạo Vô Thượng Tu Chứng ấy, nên lại khéo được bốn đức mầu vô tác không-nghĩ-bàn.

“Một là, do tôi ban đầu được Tánh Nghe Chí Diệu, cái Tâm thuần túy không c̣n Tướng Nghe; các sự Thấy, Nghe, Hay, Biết chẳng c̣n phân cách mà thành một Bảo Giác viên dung thanh tịnh, nên tôi có thể hiện ra rất nhiều h́nh dung mầu nhiệm, có thể nói ra vô biên Thần Chú bí mật.

“Trong ấy, hoặc hiện một đầu, ba đầu, năm đầu, bảy đầu, chín đầu, mười một đầu, cho đến một trăm lẻ tám đầu, ngàn đầu, vạn đầu, tám vạn bốn ngàn đầu Kim Cang như thế; hoặc hiện hai tay, bốn tay, sáu tay, mười hai tay, mười bốn, mười sáu, mười tám, hai mươi, hai mươi bốn cho đến một trăm lẻ tám tay, ngàn tay, vạn tay, tám vạn bốn ngàn tay bắt ấn như thế; hoặc hai mắt, ba mắt, bốn mắt, chín mắt, cho đến một trăm lẻ tám mắt, ngàn mắt, vạn mắt, tám vạn bốn ngàn mắt báu thanh tịnh như thế; hoặc Từ hoặc Oai, hoặc Định, hoặc Huệ, cứu độ chúng sanh được đại tự tại.

Thông rằng : Đồng Từ Lực Phật, nên có ba mươi hai Ứng Thân, đồng Bi Ngưỡng với chúng sanh, nên bố thí mười bốn sự Vô Úy, đă là Diệu Lực Vô Tác không thể nghĩ bàn; lại c̣n có bốn Diệu Đức Vô Tác không thể nghĩ bàn, là do tu chứng Vô Thượng Đạo. Cái Đạo Vô Thượng này thần diệu càng chẳng thể đo lường.

Ở trước, thuyết pháp cùng xưng danh hiệu, c̣n có thể suy lường được. Đến đây th́ h́nh dung và thần chú, khiến chúng sanh đắc Đại Tự Tại quả là cảnh giới rất khó nghĩ bàn vậy. Tất cả cũng từ Tánh Nghe Chí Diệu lưu xuất.

Ban đầu, mất hết Căn, Trần, tâm yên định mầu nhiệm, nhưng cái mầu nhiệm đối với thô này chưa phải là cái mầu nhiệm tuyệt mọi đối đăi. Kế đó, Trí, Cảnh đều vong, Năng-Sở tịch diệt, nên nói là Chí Diệu. Ban đầu là xoay cái Nghe lại, không c̣n cái Cảnh. Đến đây tâm thuần túy không c̣n cái Nghe, cái Nghe đă bỏ mất, sáu Căn đều hóa. Bởi thế, Thấy, Nghe, Hay, Biết không c̣n phân cách, mà thành một Bảo Giác viên dung thanh tịnh, tức chỗ gọi là Tịch Diệt Hiện Tiền vậy.

Vốn viên dung thanh tịnh nên ứng hóa không ngằn. Đầu là chỗ tóm gồm của sáu dụng. Tay thể hiện ḷng Bi tiếp đỡ. Mắt biểu hiện cái Trí soi tỏ. Đầu, tay, mắt, đều tám vạn bốn ngàn là đối với tám vạn bốn ngàn phiền năo trần lao mà hiển pháp môn đối trị vậy.

Đức Lục Tổ nói : “Pháp môn này của ta, từ một Trí Huệ Bát Nhă sanh tám vạn bốn ngàn Trí Huệ. V́ sao thế ? V́ người đời có tám vạn bốn ngàn trần lao. Nếu không có trần lao th́ Trí Huệ thường hiện, chẳng ĺa Tự Tánh”.

Quan Đại Phu Lục Tuyên hỏi Tổ Nam Tuyền : “Đức Bồ Tát Đại Bi dùng bấy nhiêu tay, mắt làm chi?”

Tổ Tuyền nói : “Chỉ như quốc gia lại dùng Đại Phu làm chi ?”

Tổ Ma Cốc hỏi Tổ Lâm Tế : “Đại Bi ngàn tay, ngàn mắt, cái nào là Chánh Nhăn ?”

Tổ Lâm Tế nắm đứng, nói : “Đại Bi ngàn tay, ngàn mắt, thế nào là Chánh Nhăn ? Nói mau, nói mau !”

Tổ Cốc kéo Tổ Tế xuống thiền sàng, mà lên ngồi.

Tổ Tế xá chào, nói : “Chẳng rơ”.

Tổ Cốc định nói. Tổ Tế bèn hét, kéo Tổ Cốc xuống thiền sàng rồi lên ngồi.

Tổ Cốc bèn bỏ đi.

Lại Tổ Ma Cốc hỏi : “Đức Quan Âm mười hai mặt, cái nào là mặt chánh ?”

Tổ Tế xuống thiền sàng, nắm đứng, hỏi : “Quan Âm mười hai mặt hiện ở chốn nào ? Nói mau, nói mau !”

Tổ Cốc xoay ḿnh định ngồi. Tổ Tế liền đánh. Tổ Cốc bắt cứng cây gậy, cùng kéo nhau về phương trượng.

Hai vị tôn túc đây, mỗi vị đều hiển lộng thần thông đại bất khả tư ngh́. Thấy được cái cơ đoạt nhau đó mới cho là đủ tay mắt Quan Âm.

 

Kinh : “Hai là, do sự Nghe, Nghĩ của tôi thoát khỏi sáu Trần, như tiếng suốt qua bức tường, chẳng hề ngăn ngại, nên tôi có thể diệu dụng hiện ra mỗi mỗi h́nh, tụng mỗi mỗi Chú. H́nh ấy, Chú ấy có thể dùng Vô Úy Thí cho chúng sanh. Thế nên mười phương cơi nước như vi trần đều gọi tôi là bậc Vô Úy Thí.

Thông rằng : Nghe, Nghĩ viên thông, như tiếng qua tường. V́ vượt thoát sáu Trần, chẳng hề chướng ngại, nên hiện h́nh tụng Chú, hiện diệu dụng chẳng thể nghĩ bàn. Tánh Nghe chẳng thể nghĩ bàn, nên sức Chú chẳng thể nghĩ bàn.

Trước th́ dùng một Bảo Giác viên dung thanh tịnh cứu hộ chúng sanh được Đại Tự Tại, ấy là dùng toàn lực mà dẫn dắt cho lên bờ Đạo, nên đầu, tay, mắt hoặc Từ hoặc Oai, hoặc Định hoặc Huệ đều đầy đủ, khiến cho giải thoát. Ở đây, chỉ hiện mỗi mỗi h́nh dạng, tụng mỗi mỗi Thần Chú, khiến cho chúng sanh không sợ hăi, nghĩa là chỉ không sợ sự khổ sanh tử chứ chưa đến Đại Tự Tại vậy.

Xưa, có người bị bẫy để tế cho quỷ ăn, bị trói vào cột trong miếu. Nửa đêm có con măng xà to lớn đến, sắp sửa ăn. Người ấy ngày thường chỉ thuộc mỗi một Chú Đại Bi, liền tŕ tụng không ngớt. Măng xà chẳng thể đến gần, như có vật ǵ ngăn trở, rốt cuộc bỏ đi. Trời sáng, mở khóa thấy người ấy không bị ǵ cả. Mọi người làm lạ, hỏi duyên cớ. Người đó nói v́ tụng Chú Đại Bi mà được khỏi. Từ đó, cái miếu tà bị bỏ phế.

Năng lực Thần Chú có thể ban cho sự không sợ hăi, khái quát là vậy.

Thầy Trương Tăng Diêu vẽ tượng h́nh Ngài Bửu Chí, mới hạ bút, chưa biết định liệu sao. Ngài Bửu Chí liền dùng ngón tay vạch trên mặt, phân ra thành mười hai mặt Quan Âm diệu tướng tốt đẹp, hoặc Từ hoặc Oai. Thầy Tăng Diêu rốt cuộc chẳng vẽ được.

Có nhà sư hỏi thiền sư Văn Thù rằng : “V́ sao Tăng Diêu vẽ chân dung Tổ Chí Công chẳng được ?”

Tổ Thù đáp : “Không chỉ Tăng Diêu, mà Chí Công có vẽ cũng chẳng được”.

Nhà sư hỏi : “V́ sao Chí Công vẽ cũng chẳng được ?”

Tổ Thù nói : “Màu, vải chẳng đem đến được”.

Nhà sư hỏi : “Ḥa Thượng lại vẽ được hay không?”

Tổ Thù nói : “Ta cũng chẳng vẽ được”.

Nhà sư hỏi : “V́ sao Ḥa Thượng vẽ chẳng được?”

Tổ Thù nói : “Hắn chẳng màng nhan sắc của ta, bảo ta vẽ như thế nào ?”

Tổ Đơn Hà tụng rằng :

“Thân quang rờ rỡ, tướng nguy nguy (sừng sững)

Tay khéo làm sao thể hiện y

Thôi hỏi Tăng Diêu, Ngô đạo tử

Chí Công kia tự chẳng năng tri”.

Ngay Chí Công cũng chẳng hay biết th́ có thể rơ là cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn vậy.

 

Kinh : “Ba là, do tôi tu tập cái Bổn Căn Thanh Tịnh, vốn diệu viên thông, nên qua mọi thế giới đều khiến cho chúng sanh xả bỏ thân cùng của báu, cầu tôi thương xót.

Thông rằng : Cái Bổn Căn Thanh Tịnh vốn diệu viên thông, tức là căn Tai vậy. Xa ĺa trần cấu, vốn không phiền năo, nên gọi là thanh tịnh. Nhưng chúng sanh trong thế giới khổ v́ phiền năo, không thể giải thoát, nên thương xót khẩn thiết cứu vớt.

Lục Độ mà Bồ Tát tu, th́ Bố Thí là trước hết, nên dạy làm Bố Thí, bỏ tham bỏ tiếc, lấy đó làm Nhân Tu. Một Pháp Bố Thí ấy, tức chẳng thấy người cho, chẳng thấy người nhận, cũng chẳng thấy có vật bố thí, thế gọi là Bố Thí Ba La Mật. Nếu chẳng được Viên Thông trong sạch th́ chẳng thể rơ sự mầu nhiệm này vậy. Cho nên Quan Thế Âm Bồ Tát nhận chuỗi ngọc báu của Bồ Tát Vô Tận Ư() lại hiến dâng Phật. Ban đầu chẳng nhận, có thể thấy Giới Hạnh. Phụng sự Phật không mỏi mệt, có thể thấy sự Tinh Tấn. Chẳng tự thọ dụng, có thể thấy cái Nhẫn. Cho và nhận đều vô t́nh, có thể thấy Thiền Định. Chỉ cầu phước đầy đủ cho chúng sanh, có thể thấy cái Trí Huệ. Nêu ra một việc Bố Thí mà sáu Ba La Mật đủ hết trong đó vậy. Há chỉ dạy một phép Bố Thí thôi đâu !

Có nhà sư hỏi Tổ Bá Trượng : “Như nay hết thảy Sa Môn đều nói rằng “Tôi y theo Giáo Pháp Phật, học mỗi một Kinh mỗi một Luận, mỗi một Thiền mỗi một Luật, mỗi một hiểu biết, mỗi một tỏ thông”, mà lănh nhận bốn việc cúng dường của đàn việt, th́ có tiêu được chăng ?”

Tổ Trượng nói : “Chỉ như giờ đây soi dùng (chiếu dụng) mỗi một Thanh mỗi một Sắc, mỗi một Hương mỗi một Vị, nơi tất cả các Pháp Hữu Vô, trong mỗi mỗi Cảnh đều không có mảy bụi giữ nhuốm (thủ nhiễm), cũng chẳng nương trụ tri giải. Cái người ấy mỗi ngày ăn vạn lượng vàng ṛng cũng tiêu hết được. Chỉ như nay soi chiếu tất cả các pháp hữu vô, nơi cửa sáu căn quét ráo mọi tham ái. Có chút mảy lông chẳng xong th́ dầu có nhận của thí chủ một hột gạo, một sợi chỉ đều là mang lông đội sừng, kéo cày chở nặng, mỗi mỗi phải bồi thường lại hết mới được. Vậy là chẳng y theo Phật. Phật là người không bám dính, người không cầu kiếm, người không dựa nương. Giờ mà bôn ba tham lam t́m kiếm Phật, đều là nghịch lại vậy”.

Tin lời này, ắt gọi là tu tập Bổn Căn Thanh Tịnh, mới nên nhận bố thí của người.

 

Kinh : “Bốn là, tôi đắc Tâm Phật, chứng đến rốt ráo, nên có thể dùng đủ thứ quư báu cúng dường mười phương Như Lai. Cả đến chúng sanh sáu đường trong pháp giới, người cầu vợ được vợ, cầu con được con, cầu Tam Muội được Tam Muội, cầu sống lâu được sống lâu, như thế cho đến cầu Đại Niết Bàn được Đại Niết Bàn.

Thông rằng : Chứng đến rốt ráo, Trí Huệ tṛn đủ vậy, nên có thể ban cho người cái vui xuất thế. Cúng dường Như Lai, phước ấy tṛn đủ, nên có thể ban cho người cái phước thế gian. Đều từ trong cái chẳng thể nghĩ bàn mà thành tựu. Nếu thấy có cầu, có đắc, th́ chỗ cho ra cũng là nhỏ hẹp. Được phước chẳng bằng được Quả Vị, được Quả chẳng bằng được Cực Quả, nên đắc Đại Niết Bàn là tột bậc.

Tổ Bá Trượng nói : “Chỉ như nay có người lấy bốn việc phước trí cúng dường bốn trăm vạn ức a tăng kỳ chúng sanh trong sáu đường thế giới, tùy theo chỗ thích cho đến hết tám mươi năm, lại nghĩ rằng : nhưng các chúng sanh này đều phải già yếu, ta nên dùng Phật Pháp mà dẫn dạy cho, khiến họ đắc quả Tu Đà Hàm cho đến đạo A La Hán. Thí chủ ấy chỉ bố thí cho chúng sanh tất cả vật ưa thích, công đức đă là vô lượng. Huống là khiến cho đắc quả Tu Đà Hoàn, cho đến đạo A La Hán th́ công đức vô lượng vô biên. Vậy mà chẳng bằng công đức người thứ năm mươi nghe kinh mà vui theo.

“Kinh Báo Ân nói rằng : Ma Da phu nhân sanh năm trăm thái tử đều đắc Bích Chi Phật, mà đều diệt độ, mỗi vị đều được dựng tháp cúng dường. Mỗi một lần lễ bái, phu nhân than rằng : Chẳng bằng sanh một đứa con đắc Vô Thượng Bồ Đề, đỡ bớt tâm lực ta. Chỉ như nay trong trăm ngàn vạn chúng sanh, có một người đắc Đạo, thưởng bù ngay cho Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới !”

Than ôi ! Đức Quan Thế Âm đă đắc Tâm Phật, mà khiến cho chúng sanh đều đắc Tâm Phật, bi nguyện ấy thật chẳng thể nghĩ bàn.

 

Kinh : “Phật hỏi về Viên Thông, tôi do theo cửa Tai, tṛn soi Tam Muội, nhân Tâm được tự tại, duyên theo tướng Nhập Lưu, đắc Tam Ma Địa, thành tựu Bồ Đề, đó là Đệ Nhất.

“Bạch Thế Tôn, Đức Phật Như Lai ấy khen tôi khéo được Pháp Môn Viên Thông, ở trong đại hội thọ kư cho tôi hiệu là Quan Thế Âm. Do tôi thấy nghe thấu suốt mười phương nên danh hiệu Quán Âm cùng khắp mười phương thế giới”.

Thông rằng : Kinh Thư nói rằng “Sáng bốn mắt, thông bốn tai”, là nói lấy tai mắt của bốn phương làm tai mắt vậy. Lại nói rằng “Trời thấy tức là tự dân ta thấy. Trời nghe là tự dân ta nghe”. Đó là nói cái Thấy Nghe của trời vốn không thể thấy mà thấy được ở nơi dân vậy.

Đức Quan Âm đă lấy cái Thấy Nghe của mười phương làm cái Thấy Nghe, nên cái Thấy Nghe của mười phương tức là Quan Âm vậy. Danh ấy sao chẳng khắp mười phương ư ?

Tổ Bảo Phước hỏi nhà sư : “Ở đâu lại ?”

Đáp : “Quan Âm”.

Tổ Phước nói : “Vậy thấy Quan Âm chăng ?”

Đáp : “Thấy”.

Tổ Phước nói : “Thấy bên trái hay thấy bên phải ?”

Đáp rằng : “Thấy th́ chẳng trải qua trái phải”.

Tổ Pháp Nhăn riêng nói rằng : “Như Ḥa Thượng thấy”.

Phù Thượng Tọa dự pháp hội Kính Sơn, một ngày nọ trước đại điện Phật, có nhà sư hỏi : “Thượng Tọa từng đến Ngũ Đài chưa ?”

Đáp : “Từng đến”.

Hỏi : “Lại thấy Văn Thù chăng ?”

Đáp : “Thấy”.

Hỏi : “Thấy ở chỗ nào ?”

Đáp : “Thấy trước điện Phật Kính Sơn”.

Tổ Tuyết Phong nghe lời ấy lấy làm lạ.

Tổ Lâm Tế nói : “Có một loại học nhơn, hướng trong núi Ngũ Đài t́m Văn Thù, thật sớm hiểu lầm ! Ngũ Đài không Văn Thù. Ông muốn biết Văn Thù ư ? Chỉ là cái chỗ dùng trước mắt ông, trước sau chẳng khác, chốn chốn chẳng nghi, ấy là Văn Thù sống. Ông một niệm tâm không có ánh sáng sau biệt th́ xứ xứ thảy là chân Phổ Hiền. Ông một niệm tâm tự nhiên mở trói, tùy chốn giải thoát, đây chính là Quan Âm Tam Muội Pháp, đắp đổi chủ bạn. Ra th́ lập tức ra, một là ba, ba là một. Hiểu được như thế mới xem kinh điển”.

Ôi ! Lời này của Tổ Lâm Tế nói ngay tông giáo, thảy không sai biệt.

 

MỤC NĂM :

CHỈ PHÁP VIÊN TU

 

I. PHÓNG HÀO QUANG, HIỆN ĐIỀM LÀNH

Kinh : Bấy giờ Đức Thế Tôn nơi ṭa sư tử, từ trong năm vóc đồng phóng quang báu, rọi xa trên đảnh mười phương Như Lai số như vi trần cùng các vị Pháp Vương Tử và các Bồ Tát. Các Đức Như Lai kia cũng từ năm vóc đồng phóng quang báu, từ các thế giới số như vi trần đến rọi trên đảnh Phật, rót vào đảnh các vị Đại Bồ Tát và A La Hán trong hội; rừng cây ao hồ đều diễn pháp âm, ánh sáng giao nhau trùng trùng, như lưới tơ báu. Thảy trong đại chúng được cái chưa từng có, tất cả đều được Kim Cương Tam Muội. Liền khi ấy, trời mưa hoa sen trăm báu, xanh, vàng, đỏ, trắng xen nhau lẫn lộn, mười phương hư không thành sắc bảy báu. Núi sông, đất đai cơi Ta Bà này đồng thời chẳng hiện, chỉ thấy cơi nước vi trần mười phương hợp thành một cơi, phạm âm ca ngợi tự nhiên nổi khắp.

Thông rằng : Các vị Bồ Tát, A La Hán chứng Viên Thông đều đă nhập vào cảnh giới bất khả tư ngh́, cho nên Đức Phật từ trong cái Bất Tư Ngh́ hiện khởi điềm lành, ứng ra quang báu. Cả hai Chánh Báo và Y Báo đều hiển Viên Thông. Chánh Báo là năm vóc phóng quang, Phật Phật chẳng khác, hiển thị hai mươi lăm chỗ viên thông, thảy thảy là Đạo. Mỗi người ai cũng đủ h́nh vóc, nhưng Phật mới được toàn thể. Y Báo là ánh sáng giao nhau trùng trùng, như lưới tơ báu, cho đến mười phương hư không thành sắc bảy báu, hiển bày mười tám giới, bảy Đại đều là Như Lai Tạng Chân Như Diệu Tánh, giao nhau ḥa lẫn, đồng một Biển-Không Sáng Báu (Bửu Minh Không Hải) vậy. Cơi Ta Bà này hợp thành một cơi, là cái tượng “Trần tiêu, trở lại Tánh Nghe (Trần tiêu Văn phục)” vậy. Rừng cây ao hồ đều diễn pháp âm, là cái tượng “Thuần Âm, không Trần” vậy. Cái Bảo Giác tṛn sáng cùng khắp pháp giới, đă âm thầm xem sự Phản Văn xoay về Tánh Nghe làm Đệ Nhất Cơ vậy.

Sư Động Sơn đến Tổ Ngụy Sơn, hỏi rằng : “Từng nghe Trung Quốc Sư có việc vô t́nh thuyết pháp, tôi chưa rơ thấu chỗ vi diệu ấy”.

Tổ Ngụy nói : “Ta trong ấy cũng có, chỉ thật khó được người”.

Sư nói : “Xin thỉnh Ḥa Thượng nói”.

Tổ Ngụy nói : “Cái miệng cha mẹ sanh, rốt chẳng v́ ông nói”.

Hỏi rằng : “Lại có ai mộ đạo cùng thời với Thầy chăng ?”

Tổ Ngụy rằng : “Thạch thất cách liền đây, có Vân Nham đạo nhân. Nếu có thể t́m đến ra mắt th́ hẳn thỏa măn ư nguyện của ông”.

Sư đến Tổ Vân Nham, hỏi rằng : “Vô t́nh thuyết pháp, kẻ nào được nghe ?”

Tổ Nham đáp : “Vô t́nh được nghe”.

Hỏi : “Ḥa Thượng lại nghe chăng ?”

Tổ Nham nói : “Tôi nếu nghe, ắt thầy chẳng nghe tôi thuyết pháp vậy”.

Hỏi : “Tôi đây v́ sao chẳng nghe ?”

Tổ Nham dựng đứng phất tử, nói : “Lại nghe chăng ?”

Đáp : “Chẳng nghe”.

Tổ Nham nói : “Ta thuyết pháp ông c̣n không nghe huống là vô t́nh thuyết pháp”.

Hỏi : “Vô t́nh thuyết pháp, kinh giáo nào nói ?”

Tổ Nham nói : “Há chẳng thấy kinh Di Đà nói : nuớc, chim, cây rừng thảy đều niệm Phật, niệm Pháp, cây cỏ vô t́nh ḥa tấu vui ca”.

Thầy Động Sơn ngay đó tỉnh ngộ, mới thuật bài tụng :

“Thật lạ lùng, thật lạ lùng !

Vô t́nh thuyết pháp, chẳng nghĩ bàn

Nếu đem tai ngóng càng không hiểu

Nhăn xứ nghe thanh mới tỏ thông”.

Thiền sư Vân Cư Hựu thượng đường : “Tất cả Âm Thanh là Thanh Phật !”

Gơ thiền sàng, nói : “Phạm Âm trong xa khiến người thích nghe !”

Lại nói : “Tất cả Sắc là Sắc Phật !”

Bèn đưa phất tử lên, nói : “Nay Phật phóng quang minh, chiếu rơ thiệt tướng nghĩa. Người đă thấu đáo, đỉnh đội vâng làm. Người chưa thấu đáo, hợp như thế rơ, hợp như thế tin !”

Rồi gơ thiền sàng, xuống ṭa.

Các vị tôn túc đây đích thân đến dự Viên Thông Hội Thượng mà đi lại, nên trùng trùng diễn thuyết như thế.

 

II. PHẬT BẢO NGÀI VĂN THÙ CHỌN CĂN VIÊN THÔNG

Kinh : Khi ấy, Đức Như Lai bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử rằng : “Ông nay xét xem trong hai mươi lăm vị Vô Học Đại Bồ Tát và A La Hán đây, mỗi vị tŕnh bày phương tiện thành đạo lúc ban đầu, đều nói tu tập chỗ Viên Thông chân thật, chỗ tu hành của các vị thật không có hơn, kém, trước, sau sai khác. Nay Ta muốn khiến cho Ông Anan khai ngộ, th́ trong hai mươi lăm pháp tu hành, pháp nào hợp căn cơ ông ấy. Lại sau khi Ta diệt độ, chúng sanh cơi này vào Thừa Bồ Tát, cầu đạo Vô Thượng th́ pháp môn phương tiện nào được dễ thành tựu ?”

Ngài Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử vâng ư chỉ lành của Phật, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, thừa oai thần Phật, nói kệ đáp lời :

Thông rằng : Chỗ tu hành của các vị thật không hơn kém, trước sau, sai khác, đều đă ngộ nhập Vô Thượng Bồ Đề, được Phật ấn chứng.

Tổ Hoàng Bá nói : “Từ Đức Như Lai phó pháp cho Ngài Ca Diếp đến nay, là dùng tâm ấn tâm, tâm tâm không khác. Ấn vào hư không th́ ấn chẳng thành văn. Ấn vào vật th́ ấn chẳng thành pháp. Nên dùng tâm ấn tâm, tâm tâm chẳng khác. Năng ấn, sở ấn đều khó khế hội, nên người được ít ỏi. Nhưng tâm tức vô tâm, đắc tức vô đắc”.

Ôi, chỉ Vô Tâm Vô Đắc, nên mới không có trước sau sai biệt. Hai mươi lăm vị Vô Học đây thật không sai biệt, v́ lấy tâm ấn tâm, cho nên tâm tâm không khác vậy.

 

III. LỰA RA NHỮNG CĂN KHÔNG VIÊN

Kinh :

“Tánh Biển Giác lặng khắp

“Toàn trong (lặng), Giác nguyên diệu

“Nguyên minh, chiếu sanh sở

“Sở lập, tánh chiếu vong

Thông rằng : Tánh Giác nguyên diệu vốn nhiệm mầu mà hằng sáng vậy. V́ phân biệt tiền cảnh, nên nói là nguyên minh. Đă rơi vào đất ư thức, tức là Tự Lượng. Tự Lượng lập th́ cái Hiện Lượng tṛn sáng mất. Ở trước, Đức Thế Tôn nói, vô thủy Bồ Đề Niết Bàn nguyên là thể trong sạch, cái năng sanh các duyên, theo duyên th́ bỏ mất. Đây là từ trùng tụng mà ra.

Ḥa Thượng Phổ Minh dạy chúng rằng : “Tâm Pháp của Tổ Sư rỗng suốt mười phương, xưa nay hằng nhiên, Pháp vốn như thế. Cái Pháp như thế không mượn tu tập, mà tự thành tựu; chẳng cần đắc, mà tự viên măn. Tất cả hiện thành, gọi là Địa Bất Động. Dùng mà chẳng phải có, không dùng chẳng phải không, thể mầu nhiệm trong lặng như nhiên, thường hằng chẳng biến. Thể hợp diệu dụng, ứng khắp vô vi, ảnh hiện trùng trùng, vô biên sắc tướng. Tâm không tự tánh, gặp sự trọn bày rực rỡ, đạo tràng bất động, khắp mười phương cơi. Như cảnh giới này, chỉ sơ lược tạm cái hồi quang; bỏ trần hiệp Giác, chẳng làm việc bóng dáng. Cái ư sự này như ngự trên đường lớn. Hành (đi) lấy th́ tức là. Giả sử chẳng hành, cũng tại trên đường. Luận bàn như vậy, vẫn c̣n là lời thuyết của pháp môn dạy dỗ. Nếu mà cử xướng tông thừa, chỉ là nhất thời giải tán đi là tốt.

“Nếu giải tán đi bèn là vô sự, bao nhiêu cái Giác Hải trừng viên kia cũng đoạn dứt. Bằng không, c̣n ngồi trong hang ổ vô vi”.

 

Kinh :

“Mê vọng, có hư không

“Nương Không, lập thế giới

“Tưởng đọng thành cơi nước

“Hay Biết thành chúng sanh

“Không sanh trong Đại Giác

“Như một bọt nổi biển

“Cơi hữu lậu vi trần

“Đều nương Không sanh khởi

“Bọt diệt, Không (vốn) chẳng có

“Huống là có ba cơi

Thông rằng : Giác nói là Đại Giác, là để phân biệt với cái giác của sự hiểu biết vậy. Đại Giác như biển, không có bến bờ. Cái Tánh vốn Không, chẳng thể lấy Giác đặt tên. Có tướng th́ ngay bày, không có tướng th́ ẩn. Chân Tánh mà ẩn, cái Không cái Giác bèn phân. Vừa khởi cái Không Kiến, liền sanh ra tướng phần, nên cơi nước trong tam giới đều nương Không mà lập. Hễ nhận cái Giác Minh bèn sanh kiến phần, nên cái hữu lậu của chúng sanh đều chạy theo hư vọng mà có ra. Tướng chẳng phải ĺa kiến mà thành tướng, chính là do tưởng lắng đọng mà kết thành. Kiến chẳng phải ĺa tướng mà thành kiến, mà là cái trôi xoay trong ba cơi hiệp với Trần mà có vậy. Cái tướng đó, cái kiến đó, sanh ra trong Đại Giác, như một bọt nước trong biển cả. Nếu trở về chỗ tột cùng của căn trôi dạt, đến chỗ chẳng sanh chẳng diệt th́ bọt nước tan mất trong biển, y nhiên một Đại Giác mầu sáng. T́m hư không c̣n chẳng thể được, huống là các cơi nước vi trần ba cơi hữu t́nh, vô t́nh an lập trong hư không ư ?

Nhà sư hỏi Tổ Bách Trượng : “Hư không sanh ra trong Đại Giác như một bọt nước khởi trong biển là sao ?”

Tổ Trượng đáp : “Hư không thí dụ cho cái bọt, biển thí dụ cái Tánh. Tự Tánh linh giác chính ḿnh, vượt cả hư không, nên nói “Không sanh trong Đại Giác. Như bọt nổi trong biển”.

Thiền sư Mộc B́nh Đạo hỏi Tổ Lạc Phổ rằng : “Khi một bọt nước chưa sanh, làm sao rơ mạch nước?”

Tổ Phổ nói : “Dời ghe rành thế nước. Giở chèo biết sóng ṃi”.

Thầy B́nh không khế hiểu, đến tham hỏi Tổ Bàn Long, hỏi lại lời trước.

Tổ Long nói : “Dời ghe chẳng rơ nước. Giở chèo tức mê nguồn !”

Liền ngộ nhập.

Tổ Đơn Hà tụng rằng :

“Mặt trời mặt trăng cùng sáng tỏa

Soi thuở Oai Âm chưa động lay

Như nói trời xanh riêng có lối

Y xưa, người gỗ nhíu đôi mày”.

Đại để, chỗ thấy (kiến xứ) của Tổ Bàn Long là chỗ ẩn thân th́ không dấu vết. Chỗ thấy của Tổ Lạc Phổ là chỗ không dấu vết, chẳng ẩn thân. Rơ được, chỉ là một đường, chẳng hề có khác.

Về sau, có nhà sư hỏi : “Như sao là Mộc B́nh ?”

Đáp : “Chẳng nhọc búa ŕu”.

Nhà sư nói : “V́ sao chẳng nhọc búa ŕu ?”

Đáp : “Mộc B́nh”.

Quả là soi rơ một đoạn đại sự của thuở Oai Âm chưa máy động.

 

Kinh :

“Về nguồn, Tánh không hai

“Phương tiện có nhiều cửa

“Thánh Tánh, đâu cũng thông

“Thuận nghịch đều phương tiện

“Sơ Tâm vào Tam Muội

“Chậm nhanh bậc chẳng đồng

Thông rằng : Trước nói “Mười phương Như Lai, nơi mười tám giới mỗi mỗi tu hành đều đắc viên măn Vô Thượng Bồ Đề”, tức ở đây nói “Cái Thánh Tánh này không đâu mà chẳng thông, thuận nghịch đều là phương tiện” vậy. Lại nói “Như ngay đây ngộ căn viên thông liền nghịch lại cái ḍng vọng nghiệp thêu dệt từ vô thủy. Được tùy thuận viên thông th́ so với cái chẳng viên thông cách nhau như ngày với kiếp”. Tức ở đây nói “Cái Sơ Tâm này vào Tam Muội th́ có nhanh chậm chẳng đồng”.

Tổ Hoàng Bá nói : “Về nguồn Tánh không hai, nghĩa là thật tánh của Vô Minh tức là Tánh Chư Phật. Phương tiện có nhiều cửa, nghĩa là người Thanh Văn thấy Vô Minh diệt, chẳng thấy Vô Minh sanh, niệm niệm chứng tịch diệt, Chư Phật thấy chúng sanh suốt ngày sanh mà không sanh, suốt ngày diệt mà không diệt. Không sanh không diệt tức là quả Đại Thừa. Bởi thế đạo quả măn, Bồ Đề tṛn, hoa nở thế giới sanh”.

Thiền sư Khô Mộc Thành thượng đường : “Về nguồn Tánh không hai. Phương tiện có nhiều cửa. Chỉ ngộ Tánh-về-nguồn, lo ǵ cửa phương tiện. Các ông muốn rơ Tánh-về-nguồn ư ?

“Lộ trụ lấy làm chuôi Bắc Đẩu, người đời chẳng nhận theo như thế. Muốn rơ cửa phương tiện ư ? Chuôi Bắc Đẩu lấy làm lộ trụ, chống trời đỡ đất cũng vừa nên. Hăy nói một câu chẳng rơi vào cửa phương tiện, nói làm sao ? Ba mươi năm sau chớ có nêu ra lầm lẫn !”

Hai vị tôn túc đây, mỗi vị đều theo chỗ thấy mà phát huy đối với ư chỉ về nguồn thật là không-hai.

 

Kinh :

“Sắc Tưởng kết thành trần

“Hay Biết không thể thấu

“Không thấu suốt như vậy

“Làm sao được Viên Thông ?

Thông rằng : Theo pháp Quán Thập Tưởng mà vào, kết thành nội trần, nên cái tinh minh hay biết thật chẳng thể biết thấu suốt, v́ bị pháp buộc vậy.

Tổ Thạch Đầu hỏi khách mới đến : “Từ đâu tới?”

Đáp rằng : “Giang Tây”.

Tổ Đầu nói : “Thấy đại sư Mă Tổ chăng ?”

Đáp : “Có thấy”.

Tổ Đầu bèn chỉ một khúc củi, nói : “Mă đại sư đâu giống như cái đó ?”

Nhà sư không đáp được. Rồi trở về đem nói lại y vậy với Ngài Mă Tổ.

Ngài Mă Tổ nói : “Ông thấy khúc củi lớn hay nhỏ ?”

Đáp rằng : “Lớn quá cở”.

Ngài Tổ nói : “Ông rất có sức !”

Nhà sư hỏi : “Sao vậy ?”

Ngài Mă Tổ nói : “Ông từ núi Nam Nhạc vác một khúc củi đến đây, há chẳng mạnh sao ?”

Nếu nhà sư này là Kẻ Ấy, bèn bỏ quách là phải ngay

 

Kinh :

“Âm Thanh trộn ngữ ngôn

“Chỉ là vị danh cú

“Một chẳng gồm tất cả

“Làm sao được Viên Thông ?

Thông rằng : Ngộ Thanh Trần đối với người nhập theo căn Tai th́ chẳng đồng. Thanh là lời của Phật, Căn mới là tự Tâm. Nhận Thanh Trần ắt bám níu danh cú kia. Xoay lại cái Nghe ắt rơ thấu nguồn Tánh ḿnh. Danh cú trệ vướng vào một mối, c̣n Nguồn Tánh không đâu chẳng bao quát khắp. Cho nên nghe Tiếng ngộ Đạo cũng không chọn được.

Tổ Vân Cư Ứng thượng đường : “Hết thảy các ông, dầu cho học được chuyện bên Phật, th́ cũng đă sớm dụng tâm lầm ! Há chẳng thấy người xưa giảng kinh được hoa trời rụng, đá gật đầu. Cũng chẳng nhầm ǵ chuyện tự kỷ. Những kẻ khác nhàn rỗi làm sao mà định lấy cái thân tâm hữu hạn này hướng vào trong vô hạn mà sử dụng ? Như lấy gỗ vuông tra vào lỗ tṛn, thế nào cũng sai hở. Nếu không có cái chuyện ấy dầu ông có thêu hoa dệt gấm cũng là vô dụng, chưa ĺa khỏi thức t́nh. Hết thảy mọi sự phải hướng về trong-ấy cùng dứt hết. Nếu c̣n một mảy lông phủi bỏ chẳng sạch, bèn bị trần trói buộc, huống chi là nhiều? Sai một hào li, lỗi lầm như núi.

“Há chẳng nghe người xưa nói “Chỗ học chẳng sâu mầu, đều trôi theo thế tục. Sự vật trong chốn lầu son gác tía bỏ chẳng được, đều là rỉ chảy”. Cần thẳng vào trong ấy, nào nắm, nào đến, nào đi đều sạch dứt mọi sự mới là không lỗi. Như người việc việc đều rơ, vật vật đều thông, chỉ gọi là người rơ việc, rốt cuộc chẳng gọi là người tôn quư. Hăy biết rằng tôn quư tự riêng một đường. Há chẳng nghe nói “Theo cửa bước vào chẳng phải là của báu, cây gậy chẳng thành rồng”, ư ?”

Chỗ này có ư vị thay ! Danh cú sáng rỡ thấu suốt!

 

Kinh :

“Hương, hợp lại, mới biết

“Ĺa ắt vốn không có

“Chỗ biết chẳng thường hằng

“Làm sao được Viên Thông ?

“Tánh Vị chẳng bổn nhiên

“Cần nếm mùi mới có

“Sở Giác chẳng hằng nhất

“Làm sao được Viên Thông ?

Thông rằng : Hương, Vị th́ sự ly hợp chẳng thường hằng, thể chẳng cùng khắp. Bám níu Hương Vị cho là cửa vào, rốt chẳng tương tự ǵ với Thể viên dung, cho nên đều không chọn được.

Nhà sư hỏi Tổ Vân Cư Ứng : “Cơm của Phật Hương Tích người nào được ăn ?”

Tổ Ứng nói : “Phải biết người được ăn, vào miệng rồi cũng nên phải ói ra !”

Lại có nhà sư hỏi Tổ Thủ Sơn Niệm : “Như sao là đường chánh tu hành ?”

Tổ Sơn nói : “Nghèo mà chẳng ăn tạp”.

Nhà sư nói : “Buông tay về nhà vậy”.

Tổ Sơn nói : “Thơm thúi chẳng từng nghe”.

Tổ Phật Ấn thượng đường : “Ta có một cái rỡ ràng ấy, người người trong miệng nhai, nhai bể được rồi, cần mửa cả ra. Nhai chẳng bể được, chuyển thành thuốc độc”.

Rồi gọi : “Các vị thiền đức, cái vị ngon bổ ấy là sao, hăy nói ra xem”.

Im chập lâu, nói :

“Y Vương đâu chẳng không phương nghĩa

Ngàn dặm tô hương(), tượng() chẳng quày”.

Tổ Phật Ấn cùng hai vị tôn túc trùng trùng chú nghĩa. Nếu nghe Hương này, biết Vị này tức hằng nhất cái Sở Giác.

 

Kinh :

“Xúc, do chỗ chạm, biết

“Không chỗ, chẳng rơ Xúc

“Hợp ĺa, Tánh chẳng định

“Làm sao được Viên Thông ?

Thông rằng : Xúc tất phải có chỗ, nên chẳng phải là nghĩa Viên. Huống là có hợp mới có Xúc, ĺa th́ chẳng phải Xúc. Xúc v́ ĺa cái Biết, tánh nó chẳng định. Tự tánh chẳng định, sao được Viên Thông ?

Ḥa Thượng Thủy Lạo ban đầu ra mắt Ngài Mă Tổ, hỏi rằng : “Như thế nào là rơ ràng ư chỉ Tây lai() ?”

Thầy Lạo liền lễ bái, Ngài bèn tống cho một đạp, thầy đại ngộ, đứng dậy vỗ tay ha hả cười lớn rằng : “Rất lạ lùng, rất lạ lùng ! Trăm ngàn Tam Muội, vô lượng diệu nghĩa chỉ hướng trên đầu một mảy lông liền rơ thấu căn nguồn !”

Về sau, dạy chúng rằng : “Từ lúc lănh một đạp của Mă đại sư, măi đến nay cười chẳng dứt !”

Tuy nhiên, chỗ xúc chạm ngày xưa dường vẫn c̣n, nào giống như chỗ thoát thẳng của Tổ Lâm Tế.

Tổ Lâm Tế nói : “Tôi ở với tiên sư Hoàng Bá hai mươi năm, ba lần hỏi đại ư Phật Pháp, ba lần bị Ngài thưởng gậy, như ngọn sào phủi sạch. Như nay lại nhớ được một gậy, có ai v́ ta thi hành được ?”

Khi ấy có một vị tăng bước ra khỏi chúng, nói : “Tôi thi hành được”.

Tổ Tế cầm gậy trao cho.

Vị tăng định tiếp lấy, Tổ Tế liền đánh.

Kiếm rớt xa rồi, ông mới khắc nghe !

 

Kinh :

“Pháp gọi là Nội Trần

“Nương Trần ắt có Sở

“Năng Sở chẳng dung nhập

“Làm sao được Viên Thông ?

Thông rằng : Pháp Trần chẳng có tướng, tiềm ẩn trong Ư căn; đă sa vào Năng-Sở bèn có phương chỗ nhất định, nên chẳng dung nhập khắp. Tuy là pháp không toàn khắp mười phương, nhưng chẳng thể cùng khắp cái phi không, nên chẳng thể viên thông(). Phi nghĩa là Năng chẳng dung nhập Sở, Sở chẳng dung nhập Năng, mà hai bên cùng tồn tại.

Tổ Lâm Tế nói : “Các pháp thế gian và xuất thế gian, đều không có tự tánh, cũng không có tánh sanh, chỉ có cái danh trống trơn, danh tự cũng không, ông chỉ nhận cái danh trống trơn kia cho là thật, lầm lớn vậy thay. Cho là có, đều là cảnh của Y, Biến(), mới có Bồ Đề để y theo, Niết Bàn để y theo, Giải Thoát để y theo, Tam Thân để y theo, Trí Cảnh để y theo, Giác để y theo, Phật để y theo. Ông hướng về trong cơi nước Y, Biến ấy t́m vật ǵ ? Cho đến ba Thừa, mười hai phần giáo, đều là giấy cũ chùi đồ dơ.

“Phật là thân huyễn hoá, Tổ là lăo thầy tu, ông lại cho là mẹ sanh ḿnh ư ? Ông nếu cầu Phật, liền bị Phật-Ma hớp hồn; ông nếu cầu Tổ, liền bị Tổ trói chặt. Ông mà có cầu đều là khổ, chẳng bằng vô sự”.

Tin chăng ? Nương y cái Trần tất có Sở, chẳng thể được Viên Thông vậy. Trên là chọn sáu Trần để nhập, chẳng thích hợp với người Sơ Tâm.

 

Kinh :

“Cái Thấy tuy rỗng suốt

“Rơ trước chẳng rơ sau

“Bốn bề thiếu một nửa

“Làm sao được Viên Thông ?

Thông rằng : Cái Thấy của con mắt, rơ trước chẳng rơ sau. Cái Thấy của Tâm chẳng phải là mắt, gọi là thấy trong thấy. V́ sao cũng thiếu nửa phần ? Chỉ v́ lọt vào Kiến Phần, bèn mất Viên Thường. Cho nên căn mắt không được chọn.

Tổ Nam Tuyền tham kiến Trung Quốc Sư.

Quốc sư hỏi : “Chốn nào lại ?”

Đáp rằng : “Giang Tây lại”.

Hỏi : “Lại đem được chơn Mă Tổ đến chăng ?”

Đáp rằng : “Chỉ cái ấy là phải”.

Quốc sư nói : “Cái phù trừ quỷ sau lưng !”

Tổ Tuyền liền im luôn.

Tổ Trường Khánh Lăng nói : “Thật giống như chẳng biết”.

Tổ Bửu Phước nói thêm rằng : “Xét chẳng đến cái yên ổn này của Ḥa Thượng”.

Tổ Vân Cư Tích nói : “Hai vị tôn túc đây đều nâng đỡ cái sau lưng. Chỉ như Nam Tuyền im luôn là v́ nâng đỡ cái trước mặt hay nâng đỡ cái sau lưng ?”

Tổ Huyền Sa chỉ vị tăng qua đời nói : “Trước mặt chạm mắt là Bồ Đề, thần quang muôn dặm : Tướng sau đảnh”.

Nhân có kệ rằng :

“Vạn dặm thần quang tướng đảnh sau

Khi mà không đảnh ngóng về đâu ?

Sự đă thành, ư đă thôi

Tin tức trong kia trọn khắp nơi

Người trí trong liêu bèn nắm lấy

Chẳng thoáng so đo bị mất rồi”.

Hai tắc này hỗ tương bày tỏ, chỗ thấy đồng nhau, chẳng quư sao ?

 

Kinh :

“Mũi thở ra vào thông

“Giữa, khí không chỗ giao

“Chia phân chẳng dung nhập

“Làm sao được Viên Thông ?

Thông rằng : Khoảng vũ trụ là một đại hô hấp vậy. Xuân, Hạ thở ra; Thu, Đông thở vào. Trăng sáng thở ra; trăng tối thở vào. Trước giờ Tư thở ra; sau giờ Ngọ thở vào. Con người do thở ra thở vào mà thông cùng trời đất, giống như con cá trong nước vậy. Điều ḥa hơi thở ra vào đến chỗ hiện tiền không có khí giao nhau. Các đạo gia dưỡng sanh cho là hợp với tự nhiên, chẳng hiểu cái khí mịt mờ mênh mông đó, cho là Chân Tánh, xem cái tinh thuần ấy, cái vật thể ấy cho là Thức Thần. Cái chia phân tản mạn này đối với Tự Tánh có giao thiệp ǵ.

Có người hỏi Tổ Đại Châu rằng : “Thế gian có pháp vượt Tự Nhiên chăng ?”

Tổ Châu đáp : “Có”.

Hỏi : “Pháp nào vượt được ?”

Tổ Châu nói : “Kẻ rơ biết cái Tự Nhiên”.

Hỏi : “Cái Nguyên Khí là Đạo chăng ?”

Đáp : “Nguyên Khí tự là Nguyên Khí; Đạo tự là Đạo”.

Hỏi : “Nếu như thế, ắt phải có hai thứ vậy”.

Tổ Châu nói : “Biết th́ chẳng có hai”.

Lại hỏi : “Thế nào là tà, thế nào là chánh ?”

Tổ Châu nói : “Tâm chạy theo vật là tà, vật theo tâm là chánh”.

Do đây mà xét, cái thuyết điều ḥa hơi thở là tâm chạy theo vật. Chia phân quá chừng, huống là được Viên Thông !

 

Kinh :

“Lưỡi, không nhập (th́) không mối

“Nhờ Vị, sanh có biết

“Vị mất rồi chẳng có

“Làm sao được Viên Thông ?

Thông rằng : Cái Nếm chẳng có Căn th́ không biết Vị. Không có Căn mà biết Vị, thật là không căn cứ. Đă có Căn, bởi có Vị nhập vào mà sanh cái Biết. Vị mất th́ Biết cũng mất. Căn ấy do Vị mà thành có thành không, sao được là Viên ?

Ngài Giáp Sơn ở Tổ Quy Sơn làm Điển Ṭa.

Tổ Quy hỏi rằng : “Hôm nay ăn món ǵ ?”

Ngài Giáp nói : “Hai năm cùng một xuân”.

Tổ Quy nói : “Lo việc tốt lắm !”

Ngài Giáp nói : “Rồng ở ổ phụng”.

Tổ Đầu Tử tụng rằng :

“Gặp nhau cậy hỏi cháo chúng sanh

Chẳng sánh cơm thơm am Tịnh Danh

Khí đêm chuyển theo màu phụng đỏ

Rồng vàng sáng quấn nhánh trong trăng”.

Lại Tổ Thê Hiền Thực thượng đường, im lặng chặp lâu, nói : “Hân hạnh có một mâm cơm, chẳng thể trộn tiêu, gừng. Tuy nhiên như thế, thử ăn xem nào !”

Bèn xuống pháp ṭa.

Hai tắc này cũng cùng một Xuân. Ăn được rồi, mới cho là khác lưỡi biết Mùi.

 

Kinh :

“Thân cùng chỗ chạm đồng

“Đều chẳng biết tṛn suốt

“Hữu hạn, không thấu suốt

“Làm sao được Viên Thông ?

Thông rằng : Bày rơ cái Diệu Xúc, chỉ cái thân hiển ra cái Biết. Thuần Biết mà c̣n sót cái thân, cũng chẳng phải là cái Biết toàn vẹn. Phải biết là cái Biết tṛn đầy thấu suốt muôn pháp, chẳng nhờ thân biết. Nay thân có chạm xúc, là có giới hạn bến bờ, chẳng được Viên Thông vậy.

Thái sử Huỳnh Sơn Cốc ra mắt thiền sư Tử Tâm Tân, theo chúng nhập thất.

Tổ Tân trợn mắt hỏi rằng: “Lăo già Tân chết, quan học sĩ chết, thiêu thành hai đống tro, hướng chốn nào gặp nhau ?”

Ông Cốc không có lời đáp.

Tổ Tân bắt phải ra thất, nói rằng : “Chỗ hối đường dành cho người tham được, quan chưa ở trong đó”.

Sau ông làm Tả Quan ở Kiềm Nam, đạo lực càng mạnh. Trong chỗ không nghĩ niệm, liền rơ chỗ hỏi của Tổ Tử Tâm. Trả lời thơ rằng : “Năm xưa nhờ ơn khó nhọc nhắc nhở, mà vẫn say trong mộng, phảng phất ở trong bóng sáng. Ấy là nghi t́nh chẳng dứt, mạng căn chẳng đoạn, nên trông về bờ mà thối lui. Gần đây bị đổi đi làm tại Kiềm Nam, ngày nằm tỉnh giấc, bỗng nhiên nghĩ ra. Quả là bị Lăo Ḥa Thượng trong thiên hạ lừa dối ít nhiều vậy. Chỉ có đạo nhân Tử Tâm không chịu, mới là giúp nhau đệ nhất, vạn hạnh đệ nhất vậy”.

Cho nên rơ suốt như Ông Sơn Cốc th́ cái Chính Ḿnh c̣n bất khả đắc, c̣n nói ǵ chỗ gặp nhau ? Chẳng đoạn dứt mạng căn, không thể có lời này.

 

Kinh :

“Ư căn xen loạn tưởng

“(Tánh) Lặng Nhiên rốt chẳng thấy

“Tưởng niệm chẳng thể thoát

“Làm sao được Viên Thông ?

Thông rằng : Ư căn đă thuộc về hiểu biết. Hiểu biết ắt tư tưởng tạp loạn nổi lên, như biển nổi sóng đào, nơi Tánh Lặng Nhiên rốt chẳng thể thấy. Dù khiến cái hiểu biết trở về chỗ không hiểu biết, tư tưởng về chỗ không tư tưởng cũng thuộc về tưởng niệm, chưa dễ giải thoát, nên chẳng thể được Viên Thông.

Có nhà sư hỏi Thiều Quốc Sư : “Như sao là chẳng chứng một pháp ?”

Tổ đáp : “Mắc trong ngôn ngữ”.

Hỏi : “Như sao là chứng các pháp ?”

Đáp : “Say đắm làm chi ?”

Rồi bèn nói : “Chỉ như sơn tăng này, đối đáp kia như vậy, các vị Thượng Tọa hiểu ra làm sao ? Chẳng phải tướng chân thật là thế ư ? Chẳng phải ngay lúc này không có một pháp nào để chứng đấy ư ? Chẳng phải rơ biết chỗ đi đến của y đấy ư ? Chẳng phải là toàn thể hiển lộ đấy ư ? Chớ am hiểu lầm ! Kiến giải thế này, gọi là nương cỏ bám cây, cùng Phật Pháp cách xa trời đất ! Giả như vấn đáp biện luận như nước chảy sông trôi cũng chỉ thành được cái tri kiến điên đảo. Nếu chỉ quư lời đáp biện luận, có ǵ khó đâu? Chỉ e vô ích cho người, trở thành dối gạt. Như các Thượng Tọa, chỗ học, biện luận, vấn đáp trước kia, nói đạo lư cho lắm, v́ sao mà tâm nghi chẳng dừng ? Nghe phương tiện của Thánh xưa một mực chẳng hội, chỉ v́ nhiều hư ít thật. Chẳng bằng các Thượng Tọa ở dưới gót chân một phen nh́n ra, xem đó là đạo lư ǵ, có bao nhiêu pháp môn để cho các vị tự nghi tự giải. Mới biết việc học trước kia chỉ là căn nguyên sanh tử, kế sống trong Ấm Giới. Do đó, cổ nhân nói “Chẳng thoát kiến văn, như trăng ch́m trong nước”. Vô sự, trân trọng”.

Kiến văn c̣n chẳng thể thoát, huống là tưởng niệm ư ? Trên đây là theo năm Căn mà nhập, chẳng hợp với người Sơ Tâm.

 

Kinh :

“Nhăn thức bởi Căn, Trần

“Gạn cùng, không có tướng

“Cả tự thể không định

“Làm sao được Viên Thông ?

Thông rằng : Cảnh thuộc Tướng Phần, Thức thuộc Kiến Phần. Cái Thấy của Nhăn Thức là Căn và Cảnh hợp, Thức sanh ở giữa, ba thứ ḥa hợp mà thành. Gạn đến gốc rễ th́ cái Thấy này vốn không tự thể, không có tướng ǵ nắm bắt được. Ḥa hợp th́ có, chẳng ḥa hợp th́ không nên nói là chẳng định. Vốn là vô định thể, sao có thể chứng Viên Thông ?

Sư Thần Hội, tuổi mới mười ba, từ Ngọc Tuyền đến tham hỏi Lục Tổ.

Tổ nói : “Bậc trí thức gian khổ ở xa đến, lại đem được gốc đến chăng ? Như có gốc th́ hẳn biết chủ, thử nói ra xem”.

Thầy Hội nói : “Lấy vô trụ làm gốc, thấy tức là chủ”.

Tổ nói : “Sa Di này ! Sao hợp được lời nói ấy”.

Thầy Hội mới hỏi rằng : “Ḥa Thượng ngồi thiền là thấy hay chẳng thấy ?”

Tổ lấy gậy đánh ba cái, nói : “Ta đánh ông là đau hay chẳng đau ?”

Đáp rằng : “Cũng đau cũng chẳng đau”.

Tổ nói : “Ta cũng thấy cũng chẳng thấy”.

Thầy Hội hỏi : “Sao là cũng thấy cũng chẳng thấy ?”

Tổ nói : “Chỗ thấy của ta là thường thấy lỗi lầm nơi tự tâm; chẳng thấy sự đúng sai tốt xấu của người, đó là cũng thấy cũng chẳng thấy. Ông nói cũng đau cũng chẳng đau là sao ? Ông nếu chẳng đau, th́ đồng với gỗ đá, nếu đau th́ đồng với phàm phu, liền nổi hờn giận. Trước, ông hỏi thấy hay chẳng thấy, đó là hai bên; đau hay chẳng đau, đó là sanh diệt. Tự Tánh ông c̣n chẳng thấy, sao dám giỡn người ?”

Thầy Thần Hội lễ bái tạ tội.

Tổ nói : “Ông bằng tâm mê chẳng thấy, th́ hỏi thiện tri thức chỉ đường. Ông bằng tâm ngộ, tức tự thấy Tánh, đúng pháp tu hành. Ông tự mê chẳng thấy lại đi hỏi Ta thấy với chẳng thấy. Ta tự biết thấy, đâu đợi cái mê của ông. Ông bằng tự thấy, cũng chẳng đợi chuyện Ta mê. Sao không tự biết tự thấy, mà hỏi Ta thấy với chẳng thấy ?”

Thầy Thần Hội lại lạy hơn trăm lạy, xin tạ lỗi lầm, hầu hạ một bên.

Một hôm, Tổ nói với chúng rằng : “Ta có một vật, không đầu không đuôi, không danh không tự, không lưng, không mặt, các ngươi có biết chăng ?”

Thầy Thần Hội bước ra, nói : “Đó là cội nguồn của Chư Phật, Phật Tánh của Thần Hội”.

Tổ nói : “Đă nói là không danh không tự, ông liền gọi là cội nguồn, Phật Tánh. Ông đi mà có mái tranh che đầu, rốt chỉ thành một tông đồ tri giải”.

Nếu lúc ấy mà như Nhị Tổ : xá bái rồi y chỗ mà đứng, th́ có lỗi ǵ ?

 

Kinh :

“Tâm nghe suốt mười phương

“Do nhân lớn nguyện lực

“Sơ Tâm khó thể đến

“Làm sao được Viên Thông ?

Thông rằng : Chẳng dùng Tai nghe, chẳng dùng Thức nghe nên nói là Tâm nghe, là đă chứng quả vị, cùng Đức Quan Thế Âm nghe suốt mười phương tṛn sáng không khác. Chỗ này cũng là nói “Ta cũng theo trong ấy chứng, chẳng phải chỉ duy nhất Đức Phổ Hiền”. Tâm nghe rỗng suốt mười phương, việc ngoài hằng sa thế giới không ǵ chẳng biết. Do nơi Nhân Địa phát tâm, Hạnh Nguyện cực đại, khắp cơi hư không không đâu chẳng suốt đến. Có cái Nhân lớn này nên chứng đại Quả ấy. Cái ấy chẳng phải đại căn đại khí th́ không thể tiếp nhận đảm đương, chẳng như xoay lại cái Nghe, huân tu tánh Nghe, lần hồi nhập vào. Điều này người Sơ Tâm chưa dễ khế hợp, khó được Viên Thông, với các chỗ nói khác có chút khác biệt.

Thiền sư Động Sơn Lẫm, ngày chỉ ngồi tịnh. Một bữa, kêu thị giả hăy xuống pháp đường, bảo kẻ kéo cây đừng làm hư thềm bực.

Thị giả ra xem, thấy chẳng có ai, trở lại thưa : “Vắng vẻ, không có bóng người nào”.

Tổ Lẫm lại khiến kiếm t́m. Thị giả đến thềm cúi xem, th́ ra bầy kiến kéo cái cánh con chuồn chuồn, theo bực thềm đi lên.

Đây là cực tịnh nên phát ra cái linh tri vậy, nên nghe tiếng con kiến như tiếng sấm. Huống ǵ cái Tâm nghe của Đức Phổ Hiền, tột cùng rộng lớn hơn ở đây biết bao ?

 

Kinh :

“Quán chót mũi vốn quyền cơ

“Chỉ để nhiếp tâm trụ

“Trụ, tâm thành có trụ

“Làm sao được Viên Thông ?

Thông rằng : Nhiếp tâm thật là khó khăn vậy. Ban đầu th́ tán loạn, chỉ sợ chẳng trụ được. Mà đă được lặng yên, lại thành có chỗ trụ. Trụ và chẳng trụ đều chẳng phải là cái bản thể của vô trụ, nên chẳng được Viên Thông.

Thầy Thạch Củng một ngày kia đang làm việc trong bếp.

Ngài Mă Tổ thấy, hỏi rằng : “Làm ǵ thế ?”

Thầy Củng đáp : “Chăn trâu”.

Ngài hỏi : “Chăn làm sao ?”

Thầy Củng nói : “Một khi vào đám cỏ, nắm mũi dắt trở lại”.

Ngài nói : “Ông thật đúng chăn trâu”.

Tổ Nam Tuyền dạy lời rằng : “Vương Lăo Sư này chăn có một con trâu nước đực, định hướng khe Đông đi th́ chẳng khỏi lúa mạ nhà vua; định hướng khe Tây đi cũng chẳng khỏi lúa mạ nhà vua. Sao bằng tùy phận đớp chơi chơi (ít ít), đời nào thấy được !”

Tổ Thiên Đồng nêu rằng : “Nam Tuyền chăn trâu khá là kỳ đặc ! Dầu cho chốn chốn canh giữ cũng chẳng xong. V́ sao như thế ? V́ kia tùy phận đớp chơi chơi !”

Tổ Vân Môn nói : “Hăy nói trong trâu đớp hay ngoài trâu đớp ? Ngay dù ông nói được chỗ ăn rành rẽ, tôi lại hỏi ông t́m trâu ở đâu ?”

Tổ Đại Quy gạn hỏi rằng : “Vân Môn chỉ biết t́m trâu, chẳng biết xỏ mũi !”

Đưa cây gậy lên, nói : “Ba đời Chư Phật cùng lỗ mũi của Lăo Ḥa Thượng trong thiên hạ bị cây gậy của sơn tăng nhất thời xuyên suốt ! Hăy nói lỗ mũi sơn tăng ở đâu ?”

Chặp lâu, nói : “Phao tội cho người, dùng toàn tội buộc !”

Nếu nơi tất cả quyền cơ này mà xuyên suốt, th́ rơ ràng t́m ra lỗ mũi, quyết định được vô thượng Viên Thông !

 

Kinh :

“Thuyết pháp, phát tiếng, câu

“Trước khai ngộ mới thành

“Câu, chữ chẳng vô lậu

“Làm sao được Viên Thông ?

Thông rằng : Căn Lưỡi chỉ có thể phân biệt mùi vị, Thức Lưỡi mới sử dụng âm thanh, thuyết pháp thế gian và xuất thế gian để khai ngộ cho người. Nhưng việc khai ngộ chỉ dành cho người đă thành tựu trước, khi ấy cảm hóa như mưa, chẳng phải chỉ có lời nói cho ra thôi vậy. Huống ǵ thể chữ thể câu, chẳng ĺa văn tự, chẳng phải là pháp vô lậu. Như ngón tay chỉ mặt trăng, ngón tay chẳng phải là mặt trăng, sao có thể được Viên Thông ?

Tổ Pháp Nhăn thượng đường; đại chúng đứng đă lâu, mới nói rằng : “Chỉ như vậy đó mà giải tán đi ! Liệu có đạo lư Phật Pháp hay không ? Thử nói xem ! Nếu không, lại đến trong ấy làm ǵ ? Nếu có th́ trong chợ búa, chốn đông người cũng có. Nào phải đến trong kia ! Các ông mỗi người từng đọc bộ Hoàn Nguyên Quán, Bá Môn Nghĩa Hải, Hoa Nghiêm Luận, Niết Bàn Kinh, lắm thứ văn sách, cuốn nào trong giáo điển có cái thời tiết ấy ? Nếu có, thử đưa ra xem. Nếu trong kinh ấy có cái lời nói ấy, th́ đó là thời tiết ǵ, làm sao giao thiệp ? Bởi thế mà nói “Có chút xíu lời vướng nơi tâm tánh, thường làm cái trường duyên ra lo nghĩ”. Cái thật tế ở ngay trước mắt đổi thành cái cảnh của danh tướng. Lại làm sao đổi được đây ? Nếu đă đổi đi, lại làm sao chánh được đây ? Có am hiểu chăng ? Chỉ ghi nhớ lời sách, có chỗ nào dùng được !”

Đáng tin thay, câu chữ chẳng phải là cái Vô Lậu, chẳng có thể được Viên Thông.

 

Kinh :

“Giữ Giới chỉ buộc thân

“Không thân, không chỗ buộc

“Vốn chẳng khắp tất cả

“Làm sao được Viên Thông ?

Thông rằng : Pháp Thân vô lượng, chẳng mượn ở tu hành làm ra. Cái Ứng Thân có hạn, dễ dàng tạo nghiệp, phải mượn nhờ Giới Luật mà kềm buộc nó. Sự kềm buộc này chỉ thi hành cho Ứng Thân, nhưng không thể dùng thông cho lư Pháp Thân, nên chẳng phải khắp tất cả. Chẳng khắp tức chẳng thể được Viên Thông.

Thiền sư Hoàng Bách Huệ, tuổi nhỏ xuất gia, theo nghiệp Kinh Luận. Nhân thọ thêm Bồ Tát Giới mà than rằng : “Nhiếp giữ Luật Nghi Giới của bậc đại sĩ với gốc thọ Thanh Văn Giới của ta đều “Chỉ, Tŕ, Tác, Phạm”. Nhưng trong Thiên Tụ thêm bớt, cành gốc chung riêng, ư chế định lại nhiều, đều vi tế khó ngăn ngừa. Lại nữa, theo chỗ nhiếp điều thiện, chưa từng làm được ít phần. Huống làm được lợi ích cho chúng sanh ư ? Vả chăng cái thân mạng bọt huyễn thế gian, đâu khá lưu luyến !”

Do đấy dẹp khóa giảng, muốn đem thân nhảy vào nước nuôi loài tôm cá.

Nghĩ xong, sắp bỏ đi, bỗng có hai vị thiền giả lưu lại nói chuyện, bảo rằng : “Phương Nam cũng nhiều thiện tri thức, sao vướng đọng chi nơi một góc”.

Từ đó hồi lại ư định.

Bèn đến Tổ Sớ Sơn, bạch hỏi : “Sát na tiện đi” th́ thế nào ?”

Tổ Sơn nói : “Che lấp hư không, ông làm sao đi?”

Đáp rằng : “Che lấp hư không, chẳng bằng không đi”.

Tổ Sơn bèn thôi.

Sau đó, xuống nhà giảng tham kiến Đệ Nhất Ṭa.

Ngài Đệ Nhất Ṭa nói : “Vừa rồi lời đáp rất kỳ đặc (lạ lùng)”.

Đáp rằng : “Đấy c̣n là nông nổi, dám mong ḷng từ bi, khai thị cho kẻ ngu muội”.

Ngài Chủ Ṭa nói : “Trong một sát na lại có nghĩ định ư ?”

Ngay lời nói xong, tức thời đốn ngộ.

Thiền sư Nguyên Am Từ, lúc nhỏ theo Tổ Thành Đô Chánh Pháp xuất gia. Thọ Giới Luật rồi, đi đây đó giảng Luật. Nghe giảng kinh Viên Giác, đến chỗ “Bốn Đại mỗi ĺa ră, nay đây vọng thân đương ở chỗ nào ? Rốt ráo không thể, thật đồng huyễn hóa”.

Nhờ đó tỉnh ngộ, làm bài tụng rằng :

“Một hạt minh châu

Giá lư trong ta

Xoay được động được

Phóng quang động địa”.

Hai vị tôn túc đây, chẳng ĺa ngoài huyễn thân mà chứng Pháp Thân, có “Chẳng Khắp” ǵ đâu ?

 

Kinh :

“Thần thông : nhân đời trước

“Quan (hệ) ǵ pháp phân biệt

“Duyên niệm chẳng ĺa vật

“Làm sao được Viên Thông ?

Thông rằng : Thần thông Tiểu Thừa đều là tác ư. Duyên với vật th́ có, ĺa vật th́ không, chẳng phải ĺa vật mà có thể hiển hiện, cho nên duyên với hữu niệm vậy. Đấy là hệ thuộc cái thần lực thành tựu của đời trước, chứ chẳng liên quan với diệu pháp phân biệt mà được hiển hiện. Đă chấp trước vào thần thông, nên chẳng thế nói chỗ Viên Thông được.

Tổ Hoàng Bá ban đầu đi thăm núi Thiên Thai, gặp một nhà sư như đă từng quen, bèn cùng nhau đi. Đến khe suối nước đầy chảy mạnh, Tổ Bá chống gậy mà nghỉ. Nhà sư thúc Tổ Bá cùng qua.

Tổ Bá nói : “Mời huynh qua trước”.

Nhà sư liền để nón nổi trên mặt nước mà qua.

Tổ Bá nói : “Ta lại cùng với một anh nhăi kết đoàn, tiếc là chẳng đập cho một gậy chết phứt”.

Nhà sư ấy, c̣n ở giữa ḍng nước, từ xa làm lễ, ca ngợi rằng : “Quả thật là Pháp Khí Đại Thừa, ta chẳng theo kịp”.

Đây là thần thông của Tiểu Thừa, bị Ngài Hoàng Bá quở trách.

Ngài Ma Cốc, Nam Tuyền... hai ba vị qua ra mắt Tổ Kính Sơn, giữa đường gặp một lăo bà, mới hỏi: “Đường đi lối nào ?”

Đáp : “Cứ thẳng mà đi”.

Ngài Cốc nói : “Phía trước nước sâu, qua được chăng ?”

Đáp : “Chẳng ướt chân”.

Ngài Cốc lại hỏi : “Bờ trên lúa được ǵ mà tốt, bờ dưới lúa được ǵ mà xấu ?”

Đáp : “Đều bị cua cắn chân”.

Ngài Cốc nói : “Lúa thơm ngát”.

Đáp : “Mất hơi thở”.

Ngài Cốc lại hỏi : “Bà trụ nơi nào ?”

Đáp : “Chỉ tại Trong Ấy”.

Ba vị đến quán.

Lăo bà nấu một b́nh trà, đem đến cái chén, bảo rằng : “Ḥa Thượng có thần thông th́ uống trà”.

Ba vị cùng ngó nhau.

Bà nói : “Hăy xem lăo già vô dụng này tự bày thần thông đây vậy !”

Ngay đó nâng chén rót trà, rồi đi.

Các thần thông này, chẳng thể đồng với các thứ thần thông nhỏ hẹp, nên Ngài Ma Cốc, Nam Tuyền cũng chẳng thể ḍ nổi bờ bến.

Ở trên là theo Sáu Thức mà vào, người Sơ Tâm chẳng dễ ứng hợp.

 

Kinh :

“Nếu quán tánh Địa Đại

“Cứng đọng không thông suốt

“Hữu vi, chẳng Thánh tánh

“Làm sao được Viên Thông ?

Thông rằng : Đất là cứng đọng, vốn chẳng phải tánh thông suốt, nên tŕ giữ Địa Đại, là pháp hữu vi. Đă chẳng phải quả vô vi, nên chẳng thích hợp với Viên Thông. Bậc Tiên Đức nói “Như người rơ được Tâm, địa đại không tấc đất”. Thấy được như thế, c̣n chỗ nào ngại ?

Tổ Bửu Phước nhân có vị tăng đứng hầu, nói : “Ông được cái tâm thô đấy”.

Vị tăng nói : “Đâu là chỗ tâm thô của con ?”

Tổ Phước cầm lên một cục đất, đưa cho vị tăng, nói : “Quăng ra ngoài cửa đi !”

Vị tăng ném xong, vào lại, hỏi : “Đâu là chỗ tâm thô của con ?”

Tổ Phước nói : “Ta thấy có tiếng đá chạm nhau đó, nên nói ông là thô tâm”.

Nếu vị tăng này bừng tỉnh ngộ, liền thông suốt Thánh Tánh, tức được Viên Thông vậy.

 

Kinh :

“Nếu quán tánh Thủy Đại

“Móng tưởng, chẳng chân thật

“Như như, chẳng thể quán

“Làm sao được Viên Thông ?

Thông rằng : Quán Nước là trong mười Pháp Quán Tưởng. Chỗ thành tựu của móng tưởng, há đồng Chân Thật ư ? Cái lư chân thật, như như chẳng động, chẳng mượn đến tạo tác, nên chẳng phải là chỗ để quán tưởng đến được.

Nhà sư hỏi Tổ Tuyết Phong : “Suối xưa nguồn lạnh th́ thế nào ?”

Tổ Phong đáp : “Trừng mắt chẳng thấy đáy”.

Hỏi : “Người uống th́ sao ?”

Tổ Phong đáp : “Chẳng theo miệng vào”.

Nhà sư nói y lại với Tổ Triệu Châu.

Tổ Châu nói : “Chẳng thể theo trong lỗ mũi vào”.

Nhà sư lại hỏi : “Suối xưa nguồn lạnh th́ thế nào ?”

Tổ Châu nói : “Khổ”.

Hỏi : “Người uống th́ sao ?”

Tổ Châu nói : “Chết”.

Tổ Tuyết Phong nghe được, bèn nói : “Triệu Châu là Cổ Phật”; ở xa hướng vọng làm lễ.

Từ ấy chẳng có lời đối đáp.

Ngài Thiên Đồng nêu ra rằng : “Dựng lập Tông Thừa, cần tay tuyệt diệu ! Tuyết Phong biện luận thân tâm bậc thiện tri thức của một ngàn năm trăm người. Triệu Châu dùng thủ đoạn của lăo già một trăm hai mươi tuổi, chẳng ngại kỳ quái. Như nay trong chúng, tùy theo lời định ư chỉ, chê bai bác bỏ loạn xạ, vùi lấp người xưa ! Nhưng gặp nhau han hỏi, h́nh như có tri âm, khắc cốt ghi ḷng, ít gặp gương soi tỏ sáng !”

Chỗ thấy của nhà sư kia vướng trệ ở chỗ trong lặng không động lay. Triệu Châu là ḱm dùi, th́ Tuyết Phong là kim chỉ. Sao nói là chẳng đồng ư ?

 

Kinh :

“Nếu quán tánh Hỏa Đại

“Chán tướng, chẳng (phải) thật ĺa

“Chẳng (phải) phương tiện Sơ Tâm

“Làm sao được Viên Thông ?

Thông rằng : Ngài A La Hán Hỏa Đầu nghe nói đến lửa dục mà sanh chán ghét ĺa bỏ, đó là chán tướng hữu vi. Đă có ưa, chán, th́ chẳng phải là Chân Giải Thoát. Vả lại, người Sơ Tâm nhập đạo, kiềm chế dục chẳng bằng cùng tột cái lư. Lư càng sáng th́ Dục càng tiêu. Như muốn cùng lư, thử quán xem Lửa là vật ǵ ?

Tổ Triệu Châu nhân có nhà sư hầu bên, bèn chỉ lửa hỏi rằng : “Cái ấy là Lửa, ông không được gọi là Lửa, lăo tăng nói rồi vậy”.

Nhà sư không đáp được.

Tổ Châu lại gắp lửa lên, hỏi : “Hội chăng ?”

Đáp : “Chẳng hội”.

Tổ Châu nói : “Ở Thơ Châu có Ḥa Thượng Đầu Tử, ông sang làm lễ mà hỏi, chắc sẽ v́ ông nói ra. Nhân duyên khế hợp nhau, chẳng cần trở lại, chẳng khế hợp nhau, th́ hăy trở về”.

Nhà sư đến Tổ Đầu Tử.

Tổ Tử hỏi : “Vừa ĺa chốn nào ?”

Đáp : “Triệu Châu”.

Tổ Tử hỏi : “Triệu Châu có lời nói ǵ ?”

Nhà sư nêu ra lời trước.

Tổ Tử nói : “Ông hội chăng ?”

Đáp : “Chẳng hội, xin thầy bày dạy”.

Tổ Tử bèn xuống thiền sàng, đi ba bước, ngồi lại, hỏi : “Hội chăng ?”

Đáp : “Chẳng hội”.

Tổ Tử nói : “Ông về nói y lại với Tổ Triệu Châu”.

Nhà sư trở lại nói y thế với Tổ Triệu Châu.

Tổ Châu nói : “Vậy hội chăng ?”

Đáp : “Chẳng hội”.

Tổ Châu nói : “Đầu Tử như vậy cũng chẳng qua loa lắm đâu”.

Ôi, hai vị lăo túc, phương tiện đến như thế, c̣n chẳng chịu ngộ, luống là ai khác ?

 

Kinh :

“Nếu quán tánh Phong Đại

“Động, tĩnh là đối đăi

“Đối, chẳng (là) Vô Thượng Giác

“Làm sao được Viên Thông ?

Thông rằng : Tánh của các thứ động này, đến không từ đâu, đi không về đâu, nguyên chẳng có chỗ đối đăi. Quán sát sức Gió không chỗ nương, ngộ Bồ Đề Tâm tức là Vô Thượng Giác, nào đến đỗi có hai tướng động tĩnh ǵ đâu ? Chỉ v́ người sơ cơ, ở trong cái động, biết cái Tánh chẳng động, phân ra động với bất động, hai tướng đă có, tức là có đối đăi. Đă là đối đăi, tức sanh diệt pháp, th́ xa Bồ Đề Vô Thượng lắm vậy.

Tổ Thứ Mười Bảy, Ngài Tăng Ca Nan Đề, độ cho Đồng Tử Tŕ Giám, đặt tên lại là Già Da Xá Đa. Một hôm, nghe tiếng linh() gió thổi rung trên điện.

Tổ hỏi rằng : “Linh kêu ư, gió kêu ư ?”

Xá Đa nói : “Chẳng phải gió, linh kêu, tâm ḿnh kêu vậy”.

Tổ nói : “Tâm là chi vậy ?”

Xá Đa nói : “Đều tịch tĩnh vậy”.

Tổ nói : “Hay thay, hay thay ! Kế tục đạo ta, không ông th́ ai”.

Về sau, Lục Tổ nhân hai nhà sư bàn luận nghĩa gió với phướn.

Một người nói : “Gió động”.

Người kia nói : “Phướn động”.

Định luận chẳng dứt.

Tổ bước tới nói : “Chẳng phải gió động, chẳng phải phướn động, tâm các vị động”.

Cùng với lời Ngài Xá Đa, như từ một miệng.

Tổ Tuyết Phong nêu lên lời của Lục Tổ “Chẳng phải gió động, chẳng phải phướn động, tâm quư vị động”. Bèn nói : “Tổ Sư lớn bé, đầu rồng đuôi rắn, đáng cho hai mươi gậy !”

Khi ấy, Thượng Tọa Đại Nguyên Phu đứng hầu bất giác nghiến răng.

Tổ Phong nói : “Vừa rồi tôi nói thế cũng đáng ăn hai mươi gậy !”

Thiều Quốc Sư thượng đường : “Phương tiện cổ Thánh dường như hà sa. Tổ Sư nói “Chẳng phải gió động, chẳng phải phướn động, tâm quư vị động”. Đây mới là pháp môn tâm ấn vô thượng.

“Bọn chúng ta là khách môn hạ của Tổ Sư, liệu làm sao am hiểu ư Tổ Sư ? Chớ nói : Gió, phướn chẳng động, tâm ông vọng động ! Chớ nói : Chỗ động của gió phướn là ở đâu ? Hoặc nói : Nương vật rơ Tâm, chẳng cần nhận vật. Hoặc nói : Sắc tức là Không. Hoặc nói : Chẳng phải gió, phướn động; phải nên nhiệm mầu am hiểu. Am hiểu như thế th́ cùng với ư Tổ Sư có ǵ giao thiệp ? Chẳng thể chịu cho kiểu am hiểu như thế.

“Các vị Thượng Tọa, nên biết rốt ráo. Như ở Trong Ấy tỏ ngộ rốt ráo, th́ pháp môn nào chẳng rơ ? Trăm ngàn phương tiện của Chư Phật nhất thời hiểu suốt, c̣n có chút nghi t́nh nào. Bởi thế, cổ nhân nói “Một rơ ngàn thông, một mê muôn lầm”. Này các Thượng Tọa, đâu phải là ngày nay hiểu được một đoạn, ngày mai lại hiểu nữa. Chẳng phải là có một phần chuyện hướng thượng khó hiểu, có một phần phàm phu yếu kém chẳng hiểu được. Cái kiến giải như vậy th́ có trải qua số kiếp nhiều như bụi cũng chỉ tự mệt thần khổ trí. Làm ǵ có chuyện ấy !”

Thiều Quốc Sư nói thế, sánh với Tổ Tuyết Phong ít nhiều, cũng nên cho ăn hai chục gậy !

 

Kinh :

“Nếu quán tánh Không Đại

“Không-trơ, chẳng phải Giác

“Không biết, khác Bồ Đề

“Làm sao được Viên Thông ?

Thông rằng : Nghiêng về cái không ắt trơ độn chẳng phải Giác. Cái Chơn Không th́ tức Giác, tức Không. Người sơ cơ định luận cái Không thật dễ lầm đường, nên cần phải xét biện.

Tổ Huyền Sa thượng đường : “Người đời nay chẳng tỏ ngộ cái lư Trung Đạo, vọng tự kết dính với sự, kết dính với trần, chốn chốn nhiễm trước, mỗi mỗi buộc trói. Dầu có chỗ tỉnh ngộ, mà trần cảnh phân vân, danh tướng chẳng thiệt. Bèn định ngưng tâm thâu niệm, nhiếp sự về không, nhắm con mắt, chứa tinh thần, vừa có khởi niệm, lập tức phá trừ, mống tưởng vừa sanh, bèn liền đè tiệt. Như kiến giải này tức là rơi vào cái Không-trơ của ngoại đạo, người chết mà hồn chẳng tan, mờ mờ mịt mịt, vô giác vô tri, bịt tai mà trộm chuông, uổng tự khinh, dối.

“Trong Ấy rơ ràng th́ chẳng như vậy, chẳng cà rà ngoài cửa, chẳng lẩn lút bên song. Lời lời hiện tiền, không có chỗ để thương lượng, chẳng quan hệ đến văn tự. Vốn tuyệt trần cảnh, vốn không vị thứ : tạm gọi là kẻ xuất gia, rốt ráo không tung tích. Nào là Chân Như, phàm Thánh, địa ngục, trời người, chỉ là phương thức chữa bệnh cho gă cuồng. Hư không c̣n chẳng cải biến, Đại Đạo há có thăng trầm ? Ngộ th́ dọc ngang chẳng rời Bổn Tánh. Đến vào Trong Ấy, phàm Thánh cũng chẳng có chỗ lập. Nếu hướng trong câu khởi ư, ắt ch́m đắm chết người. Nếu hướng ngoài rông cầu, lại sa vào Ma cơi. Như như hướng thượng, tuyệt dấu an bài. Vừa vặn ḷ lửa, chẳng chứa muỗi ṃng.

“Cái Ấy xưa nay vốn bằng phẳng, nào dùng sự tỉa trừ. Động tĩnh, nhướng mày chính là Chân Giải Thoát Đạo. Chẳng gượng suy tính, dựng lập là trái Chân. Như đến vào Trong Ấy, mảy lông chẳng thọ, bày ư tức sai. Dầu cho ngàn Thánh ra đời, bày ra một chữ cũng chẳng được. Trân trọng”.

Như rơ được lời Huyền Sa tức thấu đạt ư chỉ Chân Không. Cái Vô Thượng Bồ Đề cũng gượng đặt tên đó thôi. Há chẳng Viên Thông hiện tiền ư ?

 

Kinh :

“Nếu quán tánh Thức Đại

“Thức chẳng phải thường trụ

“Giữ tâm là hư vọng

“Làm sao được Viên Thông ?

Thông rằng : Như Lai Tạng Diệu Chân Như Tánh tức là Đệ Bát Thức, vốn chẳng phải là hư vọng. Người chưa thấy Tánh chẳng thể chuyển Thức, chỉ bị Thức chuyển, bèn dùng sự quán tưởng soi xét, th́ quán cũng là Thức, niệm niệm sanh diệt, chẳng phải thường trụ. Dầu cho có thể giữ tâm lắng trong chẳng động, ấy là do lực quán tưởng tŕ giữ, cũng thuộc về hư vọng. Há cái Diệu Trạm Tổng Tŕ, vốn tự vô tâm, chẳng đợi giữ cho c̣n mà tự không đâu chẳng c̣n đấy ư ?

Tổ Thứ Mười Sáu, Ngài La Hầu Đa La đến chỗ Ông Tăng Già Nan Đề, gặp ông nhập định. Tổ cùng chúng chờ xem, trải qua hai mươi mốt ngày mới từ định dậy.

Tổ hỏi rằng : “Thân ông định hay tâm ông định?”

Thầy Đề đáp : “Thân tâm đều định”.

Tổ nói : “Thân tâm đều định, sao có vào ra ?”

Thầy Đề đáp : “Tuy có ra vào, chẳng mất định tướng, như vàng trong giếng, thể vàng thường tịch”.

Tổ nói : “Như vàng trong giếng, như vàng khỏi giếng, vàng không động tĩnh, th́ vật ǵ ra vào ?”

Thầy Đề nói : “Chỉ có lời nói vàng là động tĩnh, đâu có vật ra vào. Chỉ có lời nói vàng ra vào, mà vàng chẳng phải động tĩnh”.

Tổ nói : “Nếu vàng trong giếng, th́ ra khỏi giếng là vàng nào ? Vàng nếu ra khỏi giếng, th́ ở lại là vật ǵ ?”

Thầy Đề đáp : “Vàng như khỏi giếng, ở giếng chẳng phải vàng. Như vàng ở giếng, khỏi giếng chẳng phải vật”.

Tổ nói : “Nghĩa này chẳng phải”.

Thầy Đề nói : “Nghĩa kia chẳng rơ”.

Tổ nói : “Nghĩa này phải rớt”.

Thầy Đề nói : “Nghĩa kia chẳng thành”.

Tổ nói : “Nghĩa kia chẳng thành, nghĩa cái ta thành vậy”.

Thầy Đề nói : “Nghĩa cái Ta tuy thành, pháp chẳng phải cái Ta vậy”.

Tổ nói : “Nghĩa Ta đă thành, Ta không Ta vậy.

Thầy Đề nói : “Ta không ta th́ lại thành nghĩa ǵ ?”

Tổ nói : “Ta mà không ta, nên thành nghĩa của ông”.

Thầy Đề nói : “Thầy nhân giả là ai, mà đắc vô ngă ấy ?”

Tổ nói : “Thầy ta là Già Na Đề Bà, chứng Vô Ngă ấy”.

Thầy Đề dùng kệ ca ngợi rằng :

“Kính lễ Đề Bà sư

Nhân giả ra từ đó

Nhân giả vô ngă vậy

Tôi muốn người làm thầy”.

Tổ dùng kệ đáp rằng :

“Bởi v́ ta vốn là vô ngă

Ông cần thấy cái Ngă của ta

Ông nếu muốn coi ta là Thầy

Biết ta chẳng phải Ngă của ta”.

Thầy Nan Đề tâm ư rỗng nhiên, bèn cầu độ thoát.

Tổ nói : “Tâm ông vốn tự tại, chẳng ràng buộc Ngă-Sở”.

Rồi phó bài kệ Chánh Pháp Nhăn rằng :

“Trong Pháp, thật không chứng

Chẳng giữ cũng chẳng ĺa

Pháp chẳng tướng Hữu Vô

Trong ngoài chỗ nào khởi”.

Thế nên, biết chuyển Thức thành Trí th́ trong khoảng mảy tơ. C̣n không thấy cái Chân Thật, rốt cũng là hư vọng.

 

Kinh :

“Các hành đều vô thường

“Tưởng niệm vốn sanh diệt

“Nhân quả nay khác biệt

“Làm sao được Viên Thông ?

Thông rằng : Căn cứ theo pháp môn niệm Phật th́ niệm tức là Phật, hành tức là Phật, độc chỉ Tâm là Phật, độc chỉ Tâm làm Phật. Quả và Nhân là một. Vốn chẳng phải khác biệt. Nay Ngài Văn Thù chỉ quy về một đường hướng thượng, nên cho hành là vô thường, niệm thuộc sanh diệt, lấy đó mà cầu quả Phật thường trụ, chắc chẳng thể được.

Thiền sư Tề Kỷ nhân đạo hữu của Hội Liên Xă mời, thượng đường, nói : “Dần dần tóc bạc da mồi, cha trẻ mà con già ! Xem coi bước đi suy yếu, nghi chết Thượng Tọa ngốc ! Dầu cho vàng ngọc đầy nhà, coi chừng giặc vô h́nh ! Há khỏi suy tàn, già bệnh, hăy nên rất lưu ư ! Mặc ngươi ngàn chuyện khoái vui, hắn ta vẫn được tự do ! Vô thường rốt cuộc lại đến, về nhà uống trà đi thôi. Chỉ có nẻo tắt tu hành, y cũ đi ṿng quanh ! Chỉ niệm A Di Đà Phật, niệm được chẳng nên chuyện !”

Lại nói : “Ái chà ! Cái con đường sống ấy đă bị Thiện Đạo Ḥa Thượng chỉ thẳng rơ ràng ra rồi vậy. Chính các ông sáng tối qua lại trong con đường tắt, v́ sao ngay trước mặt mà lầm đi qua A Di Đà Phật. Trong ấy tiến cử được, bèn hay trừ cái chướng mê mờ điên đảo, nhổ mũi tên dụ dự, cắt lưới nghi lầm, dứt sông si ái, chặt phá rừng tâm rậm, rửa tâm uế trược, làm thẳng ngay tâm tà vạy, dứt tuyệt tâm sanh tử. Rồi sau chuyển nhập mé kia, dỡ cao chân, hướng về chỗ Phật Tổ dẫm bước chẳng tới mà tiến một bước ! Mở miệng ra, hướng về chỗ Phật Tổ dạy dỗ chẳng tới mà nói một câu ! Gọi trở lại Thiện Đạo Ḥa Thượng, riêng cầu nẻo tắt tu hành ! Nếu mà cứ y theo trước, bỏ cha chạy trốn, lưu lạc phương người, đụng Đông chạm Tây, khổ thay A Di Đà Phật !”

Lại c̣n Tổ Huỳnh Long Tân, thượng đường rằng: “Ngọc Thanh Châu bỏ vào nước đục, nước đục chẳng thể chẳng trong. Niệm Phật để vào trong tâm rối loạn, tâm loạn chẳng thể chẳng Phật. Phật đă chẳng loạn, nước đục tự trong. Nước đục đă trong, công quy về đâu ?”

Chập lâu, nói : “Mấy độ hắc phong tràn biển lớn, chưa từng nghe nói lật thuyền câu !

“Phàm trọn thu nhiếp sáu Căn, tu pháp môn niệm Phật, là c̣n dùng nẻo đường công cán. Một phen lột thoát, nơi cái Thấy này xoay cái Nghe thẳng thấu nguồn Tánh, bèn xa lầm lỗi”.

Thật là cái cơ tu chứng Viên Thông Tối Thượng vậy.

 

IV. NHĨ CĂN VIÊN THÔNG HƠN HẾT

Kinh :

“Tôi nay bạch Thế Tôn

“Phật xuất cơi Ta Bà

“Phương này, chân giáo thể

“Thanh tịnh tại nghe thanh

“Muốn vào Tam Ma Đề

“Thật do cái Nghe nhập

Thông rằng : Thánh nhân thiết lập giáo pháp, tùy chốn chẳng đồng. Hoặc có chỗ dùng ánh sáng mà làm Phật sự, hoặc có chỗ dùng cây Bồ Đề của Phật mà làm Phật sự, cho đến dùng vườn rừng đài cao, hoặc dùng hư không, hoặc dùng sự lặng lẽ không nói, không chỉ bày, như ở cơi Phật Hương Tích, không có lời nói văn tự, chỉ lấy hư không, khiến cho người-trời được vào Luật, Hạnh. Cái giáo thể ở phương này, độc tại chỗ Nghe tiếng. Chẳng lẫn lộn với trần cấu, cực kỳ trong sạch. Thuần là trong sạch nên dễ dàng khế nhập Tam Ma Đề. Thế giới Ta Bà này dùng cái Nghe làm đương cơ vậy.

Nhà sư hỏi Tổ Huyền Sa : “Kẻ học nhân mới vào rừng Thiền, xin thầy chỉ con đường vào”.

Tổ Sa nói : “Có nghe tiếng nước suối Yển chăng?”

Đáp : “Nghe”.

Tổ Sa nói : “Theo trong ấy vào”.

Đáng gọi là chỉ bày thẳng suốt vậy.

 

Kinh :

“Ĺa khổ được Giải Thoát

“Lành thay Quán Thế Âm

“Trong hằng sa số kiếp

“Vào cơi Phật vi trần

“Đắc sức đại tự tại

“Vô Úy Thí chúng sanh

“Diệu Âm, Quán Thế Âm

“Phạm Âm, Hải Triều Âm

“Cứu thế, yên lành thảy

“Xuất thế, hằng thường trụ

Thông rằng : Lành thay Đức Quán Thế Âm, đă ĺa khổ năo nên hay cứu đời ắt thảy yên lành, đă giải thoát đó nên hay khiến cho người xuất thế được thường trụ. Trong hằng sa kiếp vào cơi nước nhiều như số bụi nhỏ, ba mươi hai Ứng Thân không đâu chẳng khắp. Bố thí mười bốn pháp Vô Úy, đắc lực Đại Tự Tại, th́ bốn diệu Đức không thể nghĩ bàn. Tâm Nghe chí diệu, như tiếng qua vách, thảy hóa thành một Diệu Âm vậy. Diệu ở chỗ Thanh Tịnh, tức gọi là tiếng Phạm Âm, Diệu ở chỗ Hưởng Ứng, tức gọi là Triều Âm, Diệu ở chỗ T́m Thanh (Cứu Khổ), tức gọi là Quán Thế Âm, âm thanh thế gian chẳng thể so sánh, mà là âm thanh mầu nhiệm của Tự Tánh vậy.

Có nhà sư hỏi Tổ Quy Tông : “Như thế nào là Huyền Chỉ ?”

Tổ Tông nói : “Không người hiểu được”.

Hỏi : “Hướng đến th́ thế nào ?”

Tổ Tông nói : “Có hướng liền sai”.

Hỏi : “Không hướng đến th́ thế nào ?”

Tổ Tông nói : “Ai cầu Huyền Chỉ ?”

Lại nói : “Đi đi ! Không có chỗ cho ông dùng tâm”.

Hỏi : “Há không có cửa phương tiện khiến học nhân được vào ?”

Tổ Tông nói : “Quán Âm trí lực mầu. Hay cứu thế gian khổ”.

Hỏi : “Như sao là Quán Âm trí lực mầu ?”

Tổ Tông gơ nắp đỉnh lư ba cái, hỏi : “Ông có nghe chăng ?”

Đáp : “Nghe”.

Tổ Tông nói : “Sao ta chẳng nghe ?”

Nhà sư không có lời đáp.

Tổ Tông dùng gậy đuổi xuống.

Hôm khác, thượng đường : “Hôm nay ta muốn nói Thiền !”

Các đệ tử đều đến gần phía trước.

Tổ Tông nói : “Hăy nghe hạnh Quán Âm ứng khắp các nơi chốn !”

Hỏi : “Như sao là hạnh Quán Âm?”

Tổ Tông liền khảy móng tay, nói : “Các ông lại nghe chăng ?”

Đáp rằng : “Nghe”.

Tổ Tông nói : “Cái lũ này, hướng Trong Ấy kiếm cái ǵ ?”

Tổ Quy Tông thấy rơ, một đoạn diệu âm an nhiên thường trụ của mọi người, chẳng tiếc mà trùng trùng chỉ ra, thật quá đổi từ bi.

 

Kinh :

“Nay kính bạch Như Lai

“Như Quan Âm đă nói

“Ví như người ở yên

“Mười phương đều nổi tiếng

“Mười chốn đồng thời nghe

“Đó là Viên Chân Thật

Thông rằng : Tam Muội vẹn tṛn soi chiếu của Đức Quán Âm không khởi không làm, nên như người ở yên lặng, mười phương đánh trống, mười chốn đều nghe. Đâu phải bốn phần thiếu mất nửa phần. Đây là ở cảnh hiện bày đầy đủ cái Viên này vậy.

Thiền sư Hoàng Bá Duy Thắng ngẫu nhiên dùng cây quạt vỗ vào song cửa thành tiếng, bỗng nhớ lại trong kinh nói, “Mười phương đều nổi trống. Mười chốn đồng thời nghe”, nhân đó đại ngộ.

Về sau, Thái Thú Thoại Châu phó thác cho Tổ Hoàng Long chọn lựa người trụ tŕ chùa Hoàng Bá.

Tổ Long nhóm chúng, nói rằng : “Lên lầu chuông niệm tán(). Dưới chân sàng trồng rau”. Người nào nói được, sang đấy trụ tŕ”.

Ngài Duy Thắng bước ra nói rằng : “Mănh hổ giữa đường ngồi”.

Tổ Long rất khoái ư, bèn khiến sang đó.

Như Ngài Duy Thắng, có thể nói là tự thân chứng cái Viên Chân Thật vậy.

 

Kinh :

“Tánh âm thanh, động tĩnh

“Trong (cái) Nghe là có, không

“Không tiếng, gọi (là) không nghe

“Chẳng thật không Tánh Nghe

“Không tiếng, đă không diệt

“Có tiếng cũng chẳng sanh

“Sanh diệt đều trọn ĺa

“Đó là Thường Chân Thật

“Dầu cho trong mộng tưởng

“Không nghĩ nhưng chẳng không

“Tánh Nghe ngoài suy nghĩ

“Thân tâm không bằng được

Thông rằng : Âm thanh có động có tĩnh, nên sự Nghe khi có khi không. Tánh Nghe th́ thường trụ, chẳng do tiếng mà có sanh, chẳng phải không tiếng mà diệt mất. Lấy đâu mà nghiệm xét ? Trong mộng tưởng nghe tiếng chày giă gạo mà cho là tiếng chuông trống, khi ngủ cũng như khi thức, chẳng có mượn đến nghĩ suy. Cái Biết này đối với cái biết chẳng thường hằng có khác, nên trong sự ghi nhớ có thể thấy là nó thường hằng. Năm Căn kia ở trong mộng cũng thấy cảnh rơ ràng, nhưng chưa chắc đối với cảnh trước mắt mà biết, phải có suy nghĩ mới kết thành. Nên năm Căn kia suy nghĩ th́ có, không suy nghĩ th́ không, khi thức tỉnh đối cảnh ắt có, khi ngủ mộng đối cảnh ắt không, vướng trệ nơi thân tâm, bị Căn Trần trói buộc. Độc chỉ Tánh của Nhĩ Thức chẳng đợi khi thức rồi suy nghĩ mới có, chẳng chờ khi mộng mà chẳng suy nghĩ th́ không. Tánh ấy siêu việt khỏi ngoài sự suy nghĩ và chẳng suy nghĩ. Bởi thế, Tánh Giác Quán của sự xoay lại cái Nghe ĺa ngoài nghĩ suy và chẳng nghĩ suy, khác hẳn với cái quán chiếu thông thường sử dụng đến suy nghĩ. Đă ra ngoài cảnh giới của nghĩ suy, nên nơi Căn mà ĺa Căn, nên thân chẳng đến được vậy. Ở nơi Thức mà ĺa Thức, nên tâm chẳng đến được vậy. Đây là “Sanh diệt đă diệt, tịch diệt hiện tiền”, chẳng gọi cái ấy là Phật Tánh Chân Thường sao ?

Ông Trương Vô Cấu nói với Tổ Đại Huệ rằng : “Con mỗi khi trong mộng th́ thấy đọc Luận Ngữ, Mạnh Tử, như vậy là sao ?”

Tổ Huệ lấy từ kinh Viên Giác, nói : “Do bởi lặng dứt, nên Tâm Chư Như Lai mười phương thế giới trong đó hiển hiện, như bóng trong gương”.

Ông Vô Cấu nói : “Chẳng phải là lăo sư th́ không thể nghe được luận này”.

Ông Vô Cấu trong chiêm bao dường như tập khí chưa trừ. Tổ Đại Huệ chỉ ra Đại Viên Cảnh Trí chẳng ngại ǵ tập khí lăng xăng khởi diệt. Đáng gọi là thấu suốt rốt ráo cái “Một đường chân thường”.

 

Kinh :

“Nay cơi Ta Bà này

“Thanh luận được tỏ rơ

“Chúng sanh mê gốc Nghe

“Theo thanh nên lưu chuyển

“Anan tuy nhớ kỹ

“Chẳng khỏi lạc tưởng tà

“Há chẳng tùy chỗ đắm

“Xoay ḍng được Thường Chân

“Anan, ông nghe kỹ :

“Tôi nương oai lực Phật

“Tuyên nói Kim Cang Vương

“Như huyễn, chẳng nghĩ bàn

“Phật Mẫu, chân Tam Muội

“Ông nghe hằng sa Phật

“Tất cả pháp bí mầu

“Trước chẳng trừ dục lậu

“Chứa nghe thành lầm lỗi

“Dùng Nghe tŕ Pháp Phật

“Sao chẳng nghe (cái) tự nghe ?

Thông rằng : Luận cái căn cơ của cơi này, nên chẳng rơ Tâm Tánh, phải nương theo tiếng luận giải mà được tỏ rơ, nghĩa là nhân lời nói mà ngộ Đạo, đó là sự thường vậy. Nhưng chúng sanh chẳng thấu đạt bổn nguyên, theo tiếng mà lưu chuyển, gọi đó là mê. Thế đó, chạy theo vật là tà, về gốc là chánh. Nếu có thể ngược ḍng đến tột nguồn, đến chỗ chẳng sanh diệt, đó là xoay cái Nghe mà chứng Chân Thường, chẳng theo ḍng ch́m đắm. Đây là pháp môn một đường Niết Bàn của hằng sa Phật vậy. Tam Muội Kim Cang Văn Huân Văn Tu gọi là như huyễn, v́ không nguyện, không làm vậy. Không nguyện, không làm, thông suốt gốc Nghe, Chư Phật đều do đó mà xuất. Nếu có nguyện, có làm là dục lậu chẳng trừ, tuy rộng giữ các pháp môn bí mật, cũng đổi thành lầm lỗi. Chẳng phải chỉ tâm ô nhiễm, t́nh thức c̣n mới gọi là dục lậu, mà chỉ ḷa mắt khởi lên niệm thấy Phật cũng gọi là tà. Nên xoay cái Nghe, nghe vào Tự Tánh mới là cơ đệ nhất đối trị bệnh đa văn vậy.

Vua Tống Hiến Tông hỏi nhà sư Thiên Trúc rằng: “Đă là “Ngọn núi bay đến()” sao chẳng bay về?”

Đáp rằng : “Một động chẳng bằng một tĩnh”.

Lại hỏi : “Đức Quán Âm trong tay lần chuỗi niệm ǵ ?”

Đáp rằng : “Niệm Đức Quan Thế Âm Bồ Tát”.

Lại hỏi : “Tự niệm danh hiệu ḿnh làm ǵ ?”

Đáp rằng : “Cầu người chẳng bằng cầu ḿnh !”

Có nhà sư hỏi thiền sư Chí Siêu : “Như sao là Phật ?”

Tổ Siêu nói : “Ông là người nào ?”

Nói rằng : “Há chẳng phải “Bèn là()” hay sao ?”

Tổ Siêu nói : ““Bèn là” tức mất giao thiệp !”

Hai tắc này đều hợp với ư chỉ “Nghe cái tự nghe”.

 

Kinh :

“Cái Nghe chẳng tự nhiên sanh

“Nhân Thanh có danh tự

“Xoay Nghe thoát khỏi Tiếng

“Giải Thoát đâu có danh

“Một Căn đă về nguồn

“Sáu Căn thành Giải Thoát

“Thấy, Nghe như ḷa, huyễn

“Ba cơi là không-hoa

“Nghe lại, gốc ḷa trừ

“Trần tiêu, Giác tṛn sạch

“Sạch tột, quang thông suốt

“Lặng chiếu trùm hư không

Thông rằng : Dưới đây nói rơ đường vào bằng cách tự nghe cái Tánh Nghe.

Trước cần xét định cái Tánh Nghe này. Từ Nhân Duyên sanh ư ? Từ Tự Nhiên sanh ư ? Tánh Nghe vốn chẳng phải sanh, nên chẳng phải Nhân Duyên hay Tự Nhiên sanh, đặc biệt nhân có âm thanh th́ hiển nên lập ra cái tên “Nghe”. Nếu quay lại với cơ Phản Văn th́ đến chỗ chẳng sanh diệt. Đă không có người nghe, tự không có chỗ nghe, hẳn nhiên với âm thanh chẳng quan hệ ǵ nhau. Cái ấy vốn thoát khỏi âm thanh, không thể trở lại gọi là cái Nghe vậy. Gọi là ǵ ư ? Cái ấy đặt tên cho tất cả mà tất cả không thể đặt tên cho cái ấy. Chỉ có thể ví cái đó như nguồn cội mà thôi. Cho nên quay về nguồn, trở về cội, th́ cái Tánh Nghe c̣n không có tên, lấy ǵ làm ràng buộc ? Tức ngay một Căn ấy, đương thể giải thoát, nên sáu Căn nhất thời trong sạch vậy. Sáu Căn vốn tự trong sạch, bỗng dấy lên cái Thấy, Nghe mà làm cái Năng, giống như trừng mắt nh́n th́ sanh ḷa huyễn; bỗng thấy ba cơi mà làm cái Sở, như mắt ḷa thấy hoa đốm giữa hư không.

Ḷa huyễn, không-hoa vốn tự chẳng có, mà đuổi theo ḍng quên trở lại, chẳng biết là hư vọng. Giờ nghe trở lại cái gốc nghe, căn ḷa trước hết diệt mất, ắt sáu Trần tan biến, mà cái Bổn Giác thường hằng tṛn sạch. Như mắt sáng th́ hoa đốm chỗ nào nảy sanh ? Cái gọi là vẹn tṛn trong sạch là chẳng dẹp bỏ muôn tượng mà Căn và Trần đồng đều trong sạch. Trong sạch cùng cực, thấy suốt mười phương, như ngọc lưu ly trong ngần, ngậm mặt trăng báu ở trong, th́ ánh sáng có chỗ nào không thấu suốt ? Đó là ở trong sáng sạch phát ra ánh sáng, lặng mà khắp soi, tức chỗ gọi là sự chiếu soi của Nguyên Minh. Chiếu soi mà chẳng sanh cái Sở, ắt lặng khắp hư không. Như mảnh mây tại khoảng trời xanh, mà biển Giác toàn vẹn lắng trong, được cái gốc nguyên diệu vậy. Muốn đại giải thoát bèn xoay lại cái Nghe th́ xong rồi vậy.

Tổ Hoàng Bá nói : “Pháp ấy b́nh đẳng, không có cao thấp, tức là Bồ Đề. Tâm Bổn Nguyên Thanh Tịnh đây cùng với chúng sanh, Chư Phật, núi sông thế giới, có tướng, không tướng, khắp mười phương cơi, cả thảy b́nh đẳng, không có tướng kia, đây. Cái Tâm Bổn Nguyên Thanh Tịnh này thường tự tṛn sáng, soi khắp.

“Người đời chẳng ngộ, chỉ nhận Thấy, Nghe, Hay, Biết làm Tâm, bị Thấy Nghe, Hay Biết ngăn che, v́ đó mà chẳng thấy cái Bản Thể thuần túy sáng suốt. Chỉ ngay đấy vô tâm, Bản Thể tự hiện. Như vầng mặt trời lớn mọc lên giữa hư không, soi chiếu khắp mười phương, suốt không chướng ngại. Thế nên, người học Đạo chỉ nhận thức nơi cái Thấy, Nghe, Hay, Biết động tác nhỏ nhặt. Dẹp đi cái Thấy, Nghe, Hay, Biết th́ nẻo tâm bặt chẳng có chỗ vào. Chỉ ngay nơi chỗ Thấy, Nghe, Hay, Biết nhận là Bổn Tâm, nhưng Bổn Tâm chẳng thuộc Thấy, Nghe, Hay, Biết cũng chẳng ĺa ngoài Thấy, Nghe, Hay, Biết. Chỉ chớ ở trong Thấy, Nghe, Hay, Biết mà khởi kiến giải, chớ ở trên Thấy, Nghe, Hay, Biết mà động niệm, cũng chẳng ĺa Thấy, Nghe, Hay, Biết mà giữ pháp. Chẳng Tức, chẳng Ly, chẳng trụ, chẳng bám, dọc ngang tự tại, không đâu chẳng đạo tràng”.

Như lời Tổ Hoàng Bá, liền nơi bệnh ḷa cạo chùi hết ráo. Đó cũng là một sự giúp trở lại nguồn.

 

Kinh :

“Xem trở lại thế gian

“Giống như việc trong mộng

“Ma Đăng Già trong mộng

“Ai giữ được h́nh ông ?

“Như đời, huyễn sư khéo

“Huyễn làm các nam nữ

“Tuy thấy các Căn động

“Cốt do một máy giật

“Máy nghỉ là lặng yên

“Các huyễn thành vô tánh

Thông rằng : Đă là thanh tịnh tột cùng, ánh sáng thông suốt, lặng chiếu trùm hư không th́ hư không c̣n bao trùm được, huống là các sự vật ở trong hư không ? Cho nên bệnh ḷa hết dứt, th́ không chỉ ba cơi hoa đốm xưa nay không tịch, mà nào Căn nào Trần ở trong ba cơi đều như mộng huyễn vậy. Cô Ma Đăng Già trong mộng làm sao bắt giữ h́nh hài người tỉnh. Tâm dù tỉnh táo, đâu thể nắm được sự vật trong mộng ? Đây là một chứng cớ về Căn, Cảnh vốn tự giải thoát vậy.

Bộ Liệt Tử có chép huyễn sư khéo làm nên người huyễn, trong đủ năm tạng, ngoài đủ năm căn, chạy nhảy diễn tṛ đủ thứ, y như người thật. Tṛ vui đă xong, người huyễn lại vời ái thiếp của vua, vua nổi giận. Huyễn sư vội tháo người huyễn, toàn là bằng gỗ. Cái giận của vua mới tiêu tan. Cái giận của vua chẳng có ăn nhằm chi người huyễn, v́ người huyễn vô tâm. Huyễn vốn không tánh, sao có chuyện vui buồn trong ấy ! Đây cũng là một chứng cớ Căn Cảnh vốn tự giải thoát.

Thiền sư Ngũ Tổ Diễn dạy chúng rằng : “Hôm qua sơn tăng vào thành, thấy một rạp hát tượng gỗ múa rối, bèn đến gần trước xem. Hoặc thấy uy nghiêm lạ lùng, hoặc thấy xấu xí không chịu nổi, chuyển động đi, ngồi, xanh vàng đỏ trắng, mỗi mỗi rơ ràng. Khi xem kỹ lưỡng th́ trong tấm màn xanh có người. Sơn tăng ḱm giữ chẳng được, mới hỏi quư tánh ông ta.

“Người kia nói : “Lăo Ḥa Thượng xem rồi thôi, lại hỏi tánh nào ?”

“Sơn tăng bị một câu ấy, liền chẳng có lời đối lại, không lư lẽ để trải bày. Giờ có người nào v́ sơn tăng nói được chăng ? Hôm qua trong kia lạc tiết, hôm nay trong ấy bứng gốc !”

Như hiểu được tin tức “Bứng gốc” này th́ có thể nói là “Máy nghỉ tức lặng yên” vậy.

 

Kinh :

“Sáu Căn cũng như thế

“Vốn y một Tinh Minh

“Phân thành sáu Ḥa Hiệp

“Một chỗ đă về nghỉ

“Sáu dụng đều chẳng thành

“Một niệm trần cấu tiêu

“Thành Viên Minh Tịnh Diệu

“C̣n Trần là Hữu Học

“Sáng tột tức Như Lai

Thông rằng : Tổ Hoàng Bá nói rằng : “Đồng là một Tinh Minh (cái Thuần Sáng), phân làm sáu Ḥa Hiệp. Một Tinh Minh ấy là Một Tâm vậy. Sáu Ḥa Hiệp là sáu Căn vậy. Sáu Căn này mỗi cái cùng với Trần hiệp : Mắt với Sắc hiệp, Tai với Tiếng hiệp, Ư với Pháp hiệp. Khoảng giữa sanh ra sáu Thức, thành mười tám Giới. Như rơ mười tám Giới không chỗ có, gồm sáu cái hiệp thành một Tinh Minh. Một Tinh Minh là Tâm vậy. Người học đạo đều biết thế. Chỉ chẳng khởi lư giải “Một Tinh Minh sáu Ḥa Hiệp” bèn bị pháp buộc, chẳng khế hợp Bổn Tâm.

“Như Lai ra đời muốn thuyết Chân Pháp Nhất Thừa. Chúng sanh chẳng tin, khởi lên bài báng, ch́m trong biển khổ. Bằng trọn chẳng nói, th́ rơi vào lẫn tiếc, chẳng v́ chúng sanh khắp xả đạo mầu. Bèn bày phương tiện, nói có ba thừa. Thừa có lớn, nhỏ; chỗ được có cạn sâu, đều chẳng phải là Bổn Pháp. Nên nói : Duy chỉ có một Đạo Nhất thừa, dư hai th́ chẳng phải Chân. Nhưng rốt cuộc chưa bày pháp Nhất Tâm. Nên vời Ca Diếp cùng chia ṭa ngồi, riêng phó chúc Nhất Tâm, ngoài lời mà thuyết pháp. Đây là một ngành biệt hành, nếu có thể khế ngộ bèn đến Phật địa vậy”.

Lời của Tổ Hoàng Bá đây trọn chẳng luận đến “C̣n Trần là Hữu Học”, đúng là khí trượng Đại Thừa.

Hiệp Luận nói rằng : “Bồ Tát Sơ Hạnh thấy cái Dụng bậc trung, bởi thâm tín Chân Như nên thấy được chút ít, biết thân Như Lai là không đến, không đi, không có chỗ dứt mất, duy tâm ảnh hiện, chẳng ĺa Chân Như. Nhưng Bồ Tát này c̣n chưa ĺa phân biệt vi tế v́ chưa nhập vị Pháp Thân. Bồ Tát Tâm Tịnh thấy cái Dụng vi tế, như vậy mà vượt chuyển, cho đến Bồ Tát Cứu Cánh Địa cái Thấy mới hết. Dụng vi tế gọi là Thân Thọ Dụng. V́ có Nghiệp Thức, thấy Thân Thọ Dụng. Nếu ĺa Nghiệp Thức ắt không ǵ để thấy. Tất cả Như Lai đều là Pháp Thân. Pháp Thân không có sắc tướng sai biệt kia, đây, mà hỗ tương thấy vậy.

Ôi, phàm lấy cái Dụng vi tế gọi là Thân Thọ dụng, lấy sự hết cái Nghiệp Thức vi tế gọi là trong địa vị Bồ Tát, nên nói “C̣n Trần là Hữu Học”. Nếu ĺa Nghiệp Thức ắt không ǵ để thấy, gọi đó là Pháp Thân Như Lai, nên kinh nói “Sáng tột tức Như Lai”.

 

Kinh :

“Đại chúng cùng Anan

“Xoay cơ nghe điên đảo !

“Quày nghe, nghe Tự Tánh

“Tánh thành : Vô Thượng Đạo

“Có thể thật như vậy

“Đây một đường Niết Bàn

“Cửa vào hằng sa Phật

“Chư Như Lai quá khứ

“Pháp môn này thành tựu

“Hiện tại các Bồ Tát

“Thảy theo, vào Viên Minh

“Người vị lai tu học

“Hăy y Pháp như thế

“Tôi cũng trong ấy chứng

“Chẳng riêng Quan Thế Âm

Thông rằng : Cơ nghe theo ngoài buông tuồng, ắt mê gốc theo ngọn, nên gọi là đảo điên. Quày cái Nghe nên xoay lại cái Cơ ấy vậy. Nghe trở lại Tự Tánh, là ngược Trần hiệp Giác, nên gọi rằng Chánh. Nghe Tự Tánh bèn nh́n thấy mặt mũi xưa nay, th́ cái Tánh Nghe này tiện thành Vô Thượng Bồ Đề, Chân Thường Viên Thông; chẳng nhờ ngoài được. Đó là Đốn Môn chứng thành Vô Thượng Bồ Đề của ba đời Chư Phật vậy.

Có nhà sư hỏi Tổ Trường Sa : “Thế nào là Văn Thù ?”

Tổ Sa nói : “Tường vách, ngói gạch đó vậy”.

Hỏi : “Thế nào là Quan Âm ?”

Tổ Sa nói : “Âm thanh ngôn ngữ đó vậy”.

Hỏi : “Thế nào là Phổ Hiền ?”

Tổ Sa nói : “Tâm chúng sanh đó vậy”.

Hỏi : “Thế nào là Phật ?”

Tổ Sa nói : “Sắc thân chúng sanh đó vậy”.

Hỏi : “Thể của hằng sa Chư Phật đều đồng, sao lại có đủ thứ danh tự ?”

Tổ Sa nói : “Theo căn Mắt trở lại nguồn gọi là Văn Thù. Theo căn Tai trở lại nguồn gọi là Quan Âm. Theo Tâm trở lại nguồn gọi là Phổ Hiền. Văn Thù là Diệu Quan Sát Trí của Phật. Quan Âm là Vô Duyên Đại Từ của Phật. Phổ Hiền là Vô Vi Diệu Hạnh của Phật. Ba Thánh là Diệu Dụng của Phật. Phật là Chân Thể của ba Thánh. Dụng th́ có hằng sa giả danh. Thể th́ gọi chung là Bạc Già Phạm”.

Thế nên biết, mỗi Vị nhập Viên Minh cùng Chư Phật không khác. Nhưng căn Tai th́ tột viên, nên phải lấy Quan Thế Âm làm Pháp.

 

Kinh :

“Thật như lời Thế Tôn

“Hỏi tôi các phương tiện

“Để cứu đời rốt chót

“Người cầu xuất thế gian

“Thành tựu Tâm Niết Bàn

“Quan Thế Âm hơn cả

“C̣n các phương tiện khác

“Đều là Phật oai thần

“Nơi sự bỏ trần lao

“Chẳng phải Pháp học thường

“Sâu cạn đồng nghe Pháp

“Đảnh lễ Như Lai Tạng

“Vô Lậu, chẳng nghĩ bàn

“Nguyện gia bị vị lai

“Trong Pháp này không lỗi

“Phương tiện dễ thành tựu

“Nên dùng dạy Anan

“Cùng đời sau ch́m đắm

“Chỉ nơi Căn này tu

“Viên thông hơn tất cả

“Chân Thật Tâm là thế”.

Thông rằng : Đây là Đức Văn Thù trả lời chỗ hỏi của Phật, chọn lựa Viên Thông th́ không ǵ bằng pháp môn xoay lại cái Nghe của Đức Quan Âm, đáng dạy cho Ông Anan để chữa trị cái lỗi chứa lắm chuyện nghe, và cứu được cho đời mạt kiếp, dứt đi cái khổ trôi xoay. Chẳng như các phương tiện khác, t́nh cờ chạm nhằm một cơ duyên, phát minh việc ḿnh, người sâu th́ nhập vào chỗ vi diệu, sơ tâm chẳng b́ kịp, người cạn vướng nơi dấu vết, đối với Viên Thông chưa hợp, trước sau đều chẳng phải là chỗ tu học lâu dài. Độc chỉ theo căn Tai mà vào th́ sâu cạn đều hợp nên, đáng tu học lâu dài, lại rất dễ thành tựu, phương tiện tột cùng. Thế nên Đức Văn Thù xin Thế Tôn âm thầm gia bị th́ cái tâm chân thực v́ người của Ngài mới an ổn vậy.

Thiền sư Trung Hội Cừu thượng đường : “Nhân duyên cơm cháo của tôi ở chốn này, v́ các anh em xướng nêu, rốt chẳng phải là thường hằng. Muốn Viên Thông chỗ tỉnh yếu, hăy chính nơi núi sông, đất đai cùng ông phát tỏ. Đạo ấy Chân Thường, cũng vốn rốt ráo. Như theo cửa Văn Thù vào th́ tất cả đất, cây, ngói, gạch vô vi giúp ông phát tỏ cơ yếu. Như theo cửa Quan Âm vào th́ tất cả tiếng tăm, ếch nhái, trùn dế giúp ông phát tỏ cơ yếu. Như theo cửa Phổ Hiền vào th́ chẳng động bước mà đến nơi. Ba cửa phương tiện này mở hoác cho ông. Giống như lấy một mũi tên găy khuấy nuớc biển cả khiến cho loài cá, rồng kia biết nước là sinh mệnh. Hội chăng ? Bằng không Trí Nhăn mà thẩm xét chân chánh đó, tha hồ ông trăm thứ khéo hay cũng chẳng là cứu cánh”.

Lại có nhà sư hỏi thiền sư Đạo Phổ : “Kẻ Sơ Tâm hậu học, mới vào tùng lâm, trong cửa phương tiện, xin thầy chỉ bày”.

Tổ Phổ gơ khuôn cửa.

Nhà sư hỏi : “Hướng thượng lại có sự việc hay không ?”

Tổ Phổ nói : “Có”.

Hỏi : “Như sao là việc hướng thượng ?”

Tổ Phổ lại gơ khuôn cửa.

Ôi ! Đức Phổ Hiền nói “Tâm nghe suốt mười phương”. Đức Văn Thù nói “Ta cũng từ trong đó chứng”. Ba vị Thánh thay nhau cổ xướng khiến người theo căn Tai nhập, đều để ứng với cơ yếu của cơi này vậy. Nếu các vị tôn túc phát minh, trước sau tiếp dẫn chỗ hướng thượng, nào từng chẳng tuân lối vết Viên Thông ư ? Chỉ sao người đốn chứng ít vậy ? Chứng nhập Tịch Diệt Hiện Tiền tự chẳng có dễ.

Nhưng trong Trí Độ Luận nói rằng : “Căn Tai không có sự tỏ biết, nên chẳng có nghe. Nhĩ Thức chỉ chốc lát, nên chẳng thể phân biệt. Tai chẳng nghe, Ư Thức cũng chẳng có nghe. V́ sao thế ? Năm Thức trước biết năm Trần, rồi sau Ư Thức biết. Ư Thức chẳng thể biết năm Trần hiện tại, mà chỉ biết năm Trần quá khứ và vị lai. Nếu Ư Thức có thể biết năm Trần hiện tại th́ người mù điếc cũng biết được Thanh Sắc !”

Hay thay chỗ luận này ! Thật hạp với ư chỉ tịch diệt. Thanh th́ vô giác vô căn, nên “Hai tướng động tĩnh rơ ràng chẳng sanh”. Căn th́ vô giác, nên “Chẳng trụ ở chỗ hết nghe”. Thức th́ không có sắc, không đối đăi, không xứ sở, nên “Giác, Sở Giác không”. Sở không, Năng không, sanh diệt đă diệt, nhất niệm liền chứng. C̣n với sự lần hồi thêm, lần hồi hóa, vốn chẳng phải hai đường. Nên xoay lại cái Nghe mà vào ḍng, đến chỗ chẳng sanh diệt, thật phải tuân theo vậy.

 

Kinh : Ngay đó, Ông Anan cùng cả đại chúng thân tâm suốt nhiên, đắc đại khai thị. Thấy rơ Bồ Đề cùng Đại Niết Bàn của Phật, như người nhân có việc đi xa, chưa được trở về, song đă rơ con đường về nhà.

Tất cả đại chúng trong hội, tám bộ Trời Rồng, Nhị Thừa Hữu Học cùng tất cả các Bồ Tát mới phát tâm, số lượng cả mười hằng hà sa đều đắc Bản Tâm, xa ĺa trần cấu, được Pháp Nhăn Tịnh.

Tánh Tỳ Khưu Ni nghe bài kệ xong, thành quả A La Hán. Vô lượng chúng sanh đều phát tâm Vô Đẳng Đẳng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Ông Anan nghiêm chỉnh y phục, ở trong đại chúng chấp tay đảnh lễ. Tâm tánh trọn sáng, vừa mừng vừa tủi, v́ muốn lợi ích cho khắp các chúng sanh đời sau, cúi đầu bạch Phật : “Con nay đă ngộ pháp môn thành Phật, trong đó tu hành, không c̣n nghi hoặc. Con thường nghe Như Lai nói lời thế này : “Ḿnh chưa được độ, trước đă độ người, đó là sự phát tâm của các Bồ Tát. Tự giác đă tṛn, thường giác cho người, đó là sự ứng thế của Chư Như Lai”.

“Con tuy chưa được độ, nguyện độ tất cả chúng sanh đời mạt thế. Thưa Thế Tôn, các chúng sanh ấy cách Phật ngày càng xa, nghe tà sư thuyết pháp nhiều như cát sông Hằng; nếu muốn họ nhiếp tâm vào Tam Ma Địa, làm sao khiến họ an lập đạo tràng, ĺa các ma sự, trong Bồ Đề Tâm được không thoái khuất ?”

Thông rằng : Vô Đẳng Đẳng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác tức là Tối Thượng Thừa vậy. Không vật ǵ bằng mà hay b́nh đẳng cùng vật, nên gọi là Vô Đẳng Đẳng. Đă ĺa phiền năo nên gọi là Phật Bồ Đề. Đă ĺa sanh diệt nên gọi là Đại Niết Bàn. Vô lượng chúng sanh đều biết ở nơi chỗ này phát tâm, rơ biết phiền năo chẳng phải là nhà, mà Tánh Giác là nhà vậy. Rơ biết sanh diệt chẳng phải là nhà mà Niết Bàn là nhà vậy. Pháp môn xoay lại cái Nghe, tự vào ḍng, mất cái Sở, đến chỗ Tịch Diệt Hiện Tiền, trong đó tu hành, được con đường đạo Viên Thông nhiệm mầu. Thật là rơ ràng như đường chỉ trong bàn tay.

Ông Anan tuy chưa tự độ, chưa dứt hết hai thứ phân đoạn sanh tử và biến dịch sanh tử mà đến bờ kia, nhưng muốn độ chúng sanh đời sau đều được vào Chánh Định, chẳng bị ma quấy rối. V́ ma sự rất nhiều, pḥng ngừa chẳng dễ. Như Tánh Tỳ Khưu Ni, nếu không được thần chú Như Lai làm sao được tâm dâm liền ngừng thành A La Hán. Năm mươi thứ Ấm Ma ở đoạn sau đều để đáp chỗ hỏi này, lại khiến rơ ràng con đường về nhà vậy.

Thiền sư Thủ Sơn Niệm dạy chúng rằng : “Lăo tăng định muốn về quê, có người nào theo được ?”

Khi ấy có nhà sư hỏi : “Chẳng hay khi nào Ḥa Thượng đi về ?”

Tổ Niệm nói : “Đợi cho có bạn th́ nói với ông”.

Nhà sư hỏi : “Không có bạn việc ấy thế nào ?”

Tổ Niệm nói : “Trọn ngày chẳng gặp ai, rơ ràng không biết chỗ !”

Nhà sư hỏi : “Bỗng gặp một người th́ lại thế nào?”

Tổ Niệm nói : “Con mê chẳng về nhà, mất rồi đường lúc đến”.

Nhà sư hỏi : “Xin thầy chỉ cái đường về quê”.

Tổ Niệm nói : “Rồng ẩn cây khô, chẳng c̣n nương dựa”.

Nhà sư hỏi : “Khi nào Ḥa Thượng lại trở lại ?”

Tổ Niệm nói : “Một đi chẳng tri âm, sáu nước không tin tức”.

Nhà sư hỏi : “Chính lúc đang về th́ thế nào ?”

Tổ Niệm nói : “Độc xướng khúc nhà Hồ(), không người ḥa cho nổi !”

Nhà sư hỏi : “Lúc ấy bỗng gặp tri âm th́ thế nào”.

Tổ Niệm nói : “Đầu non người-đá xúm vỗ tay. Bên suối lăo quê cười ha hả”.

Nhà sư hỏi : “Về nhà rồi trở lại, việc ấy thế nào?”

Tổ Niệm nói : “Tám nước dâng áo lễ, bốn tướng không cải đổi”.

Nhà sư hỏi : “Chẳng rơ ở vị thứ nào ?”

Tổ Niệm nói : “Văn Thù chẳng tọa Kim Đài Điện, tự có tiêu dao nhánh trúc lay”.

Xem Tổ Niệm Pháp Hoa() tỏ lại chỉ qua, gơ rao tự tại. Thật y cái khí vị của Tổ Ngưỡng Sơn.

 

Kinh : Bấy giờ Đức Thế Tôn ở trong đại chúng khen ngợi Ông Anan : “Hay lắm, hay lắm, như chỗ ông hỏi về an lập đạo tràng, cứu vớt chúng sanh ch́m đắm trong đời mạt kiếp, nay ông hăy nghe cho rơ, Ta v́ ông nói ra”.

Ông Anan cùng cả đại chúng vâng nghe lời dạy.

Phật bảo Ông Anan : “Ông thường nghe trong Luật Tạng của Ta tuyên nói ba nghĩa quyết định của sự tu hành, đó là : Nhiếp Tâm là Giới, nhân Giới sanh Định, nhân Định sanh Huệ. Ấy gọi là ba Vô Lậu Học.

Thông rằng : Ở trước nói hai nghĩa quyết định. Một là xét cái Tâm Nhân Địa. Hai là lựa chọn Căn Viên Thông, trở lại cùng tột ḍng căn, đến chỗ chẳng sanh diệt; thẳng đến Vô Thượng Bồ Đề, chẳng phải luận ǵ đến cái học Giới Định Huệ. Đây là một môn siêu xuất, con đường Xa Ma Tha nhiệm mầu của mười phương Như Lai để tiếp người thượng thượng căn vậy. Trong đó nói “Căn và Trần chẳng sánh hợp”, chưa từng không có Giới. “Như lóng nước dơ”, chưa từng không có Định. “Ở trong rực rỡ phát sáng”, chưa từng không có Huệ. Chỉ chẳng dùng Giới Định Huệ tự trói buộc, nên là Đệ Nhất Nghĩa Đế.

Nay lại trước hết nói rơ nơi Giới, mà nên bày bốn Cấm trong Luật là để tiếp người trung-hạ căn. Để pḥng ngừa Ma, không thể không nghiêm về Giới. Tiểu Thừa th́ vâng theo Pháp là Giới, đối trị thô thiển, cái ngọn. Đại Thừa nhiếp tâm là Giới, dứt trừ tinh vi gốc rễ. Giới nơi Pháp th́ không phạm nơi thân mà thôi, Giới nơi Tâm th́ không phạm cả trong tư tưởng. Giới châu (tṛn sáng như ngọc) là chuyển Thức thành Trí, không năm Ấm, phá năm Trược vậy. C̣n có ma sự nào để lo sợ ư ?

Đức Lục Tổ dạy chúng rằng : “Pháp môn này của ta lấy Định Huệ làm gốc. Đại chúng chớ mê, nói Định Huệ khác nhau. Định Huệ một thể, chẳng phải hai. Định là Thể của Huệ, Huệ là Dụng của Định. Ngay trong Huệ, Định ở tại Huệ. Ngay trong Định, Huệ ở tại Định. Như rơ nghĩa này, tức là cái học Định Huệ b́nh đẳng. Các người học Đạo, chớ nói trước Định mới phát Huệ, trước Huệ rồi phát Định, mỗi cái khác nhau. Thấy ra như vậy hóa ra Pháp có hai tướng. Miệng nói lời lành, trong tâm chẳng lành th́ không có Định Huệ, v́ Định Huệ chẳng đồng đều. Nếu tâm và miệng đều lành, trong ngoài một thứ th́ Định Huệ đồng đều. Tự ngộ tu hành, chẳng vướng nơi tranh căi. Nếu tranh trước sau là đồng với người mê, chẳng dứt hơn thua là thêm ngă pháp, chẳng ĺa bốn tướng. Thiện tri thức, Định Huệ giống như đèn và ánh sáng. Có đèn th́ sáng, không đèn th́ tối. Đèn là Thể của ánh sáng, ánh sáng là Dụng của đèn. Danh tuy có hai, Thể vốn đồng nhất”.

Ở đây, Đức Lục Tổ tuy bày rơ Định Huệ nhất thể, mà trong đó nói tâm, miệng đều lành, trong ngoài như một thứ, Định Huệ bèn đồng đều, th́ Giới cũng đă có trong ấy vậy.

Một hôm, Tổ nói với Chí Thành rằng : “Chỗ thuyết pháp của ta, chẳng ĺa Tự Tánh. Ĺa Thể thuyết pháp, gọi là Tướng thuyết, vẫn thường mê Tự Tánh. Phải biết hết thảy muôn pháp đều từ Tự Tánh khởi dụng. Đó là pháp Giới Định Huệ chân thật.

Hăy nghe kệ ta :

“Tâm địa không trái (phi) : Tự Tánh Giới

Tâm địa không si : Tự Tánh Huệ

Tâm địa không loạn : Tự Tánh Định

Chẳng tăng chẳng giảm : Tự Kim Cang

Thân đến thân đi : Hằng Tam Muội”.

Thầy Thành nghe kệ tỉnh ngộ, bèn tŕnh một bài kệ :

“Năm Uẩn huyễn thân

Huyễn đâu cứu cánh ?

Hướng đến Chân Như

Pháp lại chẳng tịnh !”.

Tổ bằng ḷng.

Đó là chỗ thuyết Giới Định Huệ của Tối Thượng Thừa, đều là lời trong nhà, đối với lời khác ở ngoài cửa, cách nhau như trời với đất.

 

Kinh : “Anan, nhiếp tâm thế nào th́ gọi là Giới ?

“Nếu chúng sanh lục đạo của các thế giới tâm họ chẳng dâm, ắt chẳng sanh theo ḍng sanh tử nối tiếp nhau. Ông tu pháp Chánh Định cốt để ra khỏi trần lao, nếu ḷng dâm không trừ th́ không ra khỏi cảnh ma được. Dầu có nhiều trí thiền định hiện tiền, mà không đoạn ḷng dâm, hẳn lạc vào ma đạo : hạng trên thành Ma Vương, hạng giữa thành ma dân, hạng dưới thành ma nữ. Các chúng ma kia cũng có đồ chúng, mỗi mỗi tự xưng là thành Đạo Vô Thượng. Sau khi Ta diệt độ, trong đời mạt pháp, nhiều bọn ma này lẫy lừng trong thế gian, lan rộng hành vi tham dâm, giả làm thiện trí thức, khiến các chúng sanh sa vào hầm ái kiến, bỏ mất con đường Bồ Đề.

“Ông dạy người đời tu Tam Ma Đề : trước phải dứt ḷng dâm. Đó là lời dạy rơ ràng trong sạch, chỗ quyết định thứ nhất của Chư Như Lai Tiên-Phật Thế Tôn.

“Thế nên, Anan, nếu không đoạn ḷng dâm mà tu thiền định th́ cũng như nấu cát đá mà muốn thành cơm, trải trăm ngàn kiếp cũng chỉ gọi là cát nóng. V́ sao thế ? V́ nói là cát đá mà thành, chẳng phải gốc là cơm vậy. Ông dùng thân dâm cầu diệu quả Phật, dầu được diệu ngộ cũng đều là gốc dâm, căn bản thành dâm, xoay chuyển trong ba đường sanh tử, hẳn không ra khỏi, đường nào mà tu chứng Niết Bàn của Như Lai ? Hẳn phải khiến cho cái cơ dâm, dù thân hay tâm, đều đoạn dứt, cho đến tánh ĺa dứt cũng không c̣n, th́ đối trong Bồ Đề của Phật mới có thể trông mong.

“Như Ta nói đây, gọi là lời Phật; chẳng như đây nói tức lời Ba Tuần.

Thông rằng : Chúng sanh trong lục đạo, sanh tử nối tiếp nhau, kia yêu ḷng đây, đây mến cái sắc kia, đời đời kiếp kiếp thường bị ràng buộc. Duy cái Dâm là gốc rễ bắt đầu. Cái thấy phát minh th́ Sắc phát khởi, thấy có th́ Tưởng thành, khác với chỗ thấy thành ghét, cùng với chỗ Tưởng thành thương. Một tưởng niệm, gốc Ái khởi động trước hết nên lấy Cấm Dâm làm đầu. Chẳng bỏ dâm mà tu thiền định, dầu được diệu ngộ chỉ ích cho cơ dâm, nên rốt cuộc chẳng thành Phật mà thành quyến thuộc của Ma. Ma cũng có thần thông biến hoá, cũng có thể nói Đạo Vô Thượng, chỉ v́ nghiệp dâm chẳng trừ, phước ma đến lúc hết, rốt lại trôi lăn trong ba đường khổ. Sự dâm phát lên có cơ, mà tâm là cội gốc, nên gọi là Tâm Dâm. Tâm mà chẳng động th́ cơ tự chẳng phát, nên nhiếp tâm giữ Giới Luật, trước đoạn dứt ḷng dâm, gọi là Tánh Đoạn Dứt. C̣n Tánh Đoạn Dứt th́ chưa ĺa đối trị. Sự đối đăi c̣n sờ sờ th́ cơ dâm c̣n ẩn phục. Hẳn Tánh Đoạn Dứt cũng không mới là đoạn diệt chân thật vậy. Dâm là căn nguyên phiền năo, ĺa dứt nó th́ Bồ Đề mới có thể trông mong. Chỉ có dâm là gốc rễ sanh tử, đoạn dứt nó th́ Niết Bàn có thể chứng. Nói là đoạn ĺa như chặt ĺa chân tay, chẳng dùng lại được. Cái dâm mà đoạn ĺa, tức là lấy cái chẳng sanh chẳng diệt làm Tâm Nhân Địa, nên đắc Chánh Định. Chẳng có như thế, nấu cát mà thành cơm làm sao có chuyện ấy được !

Kinh Pháp Hoa nói rằng “Chẳng thể đối với thân người nữ, giữ tướng hay sanh dục tưởng mà thuyết pháp cho, cũng chẳng ưa thích thấy. Như có vào nhà, chẳng có truyện tṛ với người thiếu nữ, trinh nữ, đàn bà góa, cũng chẳng gần với năm loại người bán nam bán nữ, rồi thành thân thiết. Chẳng vào nhà họ một ḿnh. Nếu có nhân duyên cần phải vào một ḿnh, chỉ một ḷng niệm Phật. Nếu v́ người nữ nói pháp, chớ cười lộ răng, chẳng bày hở ngực. Cho đến v́ nói pháp c̣n chẳng thân mật, huống lại có sự ǵ khác. Chẳng thích nuôi đệ tử nhỏ tuổi, Sa Di ấu thơ, cũng chẳng ưa kẻ đồng môn. Thường thích ngồi thiền, ở nơi vắng vẻ, tu nhiếp tâm ḿnh”.

Đó là phép tắc của Tiên Phật Thế Tôn như vậy.

Xưa, Đức Nhị Tổ thường trà trộn ở chốn thanh lâu quán rượu; người ta cười cợt.

Tổ nói : “Ta tự điều tâm, nào liên can ǵ việc ngươi”.

Chẳng phải là người thật ra thoát làm sao xuống bùn, vào nước ?

Thiền sư Bá Trượng Duy Chính thượng đường : “Ḥa Thượng Nham Đầu lấy ba đồng tiền t́m được bà vợ chỉ biết ṃ tôm vớt ốc, nhưng lại chẳng biết sanh trai nuôi gái ! Cho đến như nay môn phong dứt tuyệt. Muốn biết vợ Khoát Công() chăng ? Bá Trượng ngày nay chẳng tiếc môi mép, giải rơ cho các ông : chuyện lấy cây trâm cưới vợ - đời ít có. Quần vải vẫn c̣n là y phục thuở lấy chồng. Kỳ thay, lại gọi đó là vợ lăo Khoát Công, nguyên lai cùng với mặt mũi Khoát Công tương tợ !”

Lại có nhà sư hỏi Tổ Trấn Sơn : “Như sao là gia phong() Ḥa Thượng ?”

Tổ Trấn nói : “Túi gấm đầy hương bạc, gió thổi thơm ngập đường”.

Tổ Nham Đầu nghe được, bảo một nhà sư đến nói : “Truyện kể mười tám chị, thờ Phan Lang tốt lắm”.

Tổ Nham Đầu tợ nói thiền-phong-lưu, c̣n Tổ Duy Chính mượn sự chỉ dấu của Tổ Nham Đầu, phong lưu càng lắm. Đều là hoa sen tháng Chạp vậy.

 

Kinh : “Anan, lại các chúng sanh lục đạo trong các thế giới ḷng chẳng giết hại, ắt chẳng theo ḍng sanh tử nối tiếp nhau. Ông tu pháp Chánh Định cốt để ra khỏi trần lao, nếu ḷng Sát không trừ, th́ không thể ra khỏi trần được. Dầu có nhiều trí thiền định hiện tiền mà không đoạn dứt sự Giết Hại hẳn lạc vào Thần Đạo, người bậc trên làm đại lực quỷ, bậc giữa th́ làm phi hành dạ xoa và các loại Quỉ Soái, bậc dưới th́ làm địa hành La Sát. Các Quỉ Thần ấy cũng có đồ chúng, mỗi mỗi tự xưng là thành Đạo Vô Thượng. Sau khi Ta diệt độ, trong đời mạt pháp nhiều thứ Quỉ Thần này lẫy lừng trong thế gian, tự nói ăn thịt cũng được Đạo Bồ Đề.

“Anan, Ta bảo hàng Tỳ Khưu ăn năm thứ tịnh nhục, thịt ấy đều do thần lực Ta hóa sanh, vốn không có mạng căn. Bà La Môn các ông, đất đai phần nhiều nóng, ướt, lại thêm cát đá, rau cỏ không sanh, Ta dùng sức Đại Bi gia bị, nhân Tâm Đại Từ Bi giả gọi là thịt, các ông cũng nếm được vị ấy.

“Làm sao sau khi Như Lai diệt độ, người ăn thịt chúng sanh mà gọi là Phật tử ! Các ông phải biết, những người ăn thịt đó, dầu có được tâm khai mở, giống như Tam Ma Đề, đều là đại La Sát, quả báo hết rồi phải ch́m đắm trong bể khổ, chẳng phải đệ tử Phật. Những người như vậy, giết nhau, nuốt nhau, ăn nhau không dứt, làm sao ra được khỏi ba cơi ?

“Ông dạy người đời tu Tam Ma Đề, thứ đến, phải ĺa dứt sự sát sanh, đó là lời dạy rơ ràng trong sạch, chỗ quyết định thứ hai của Như Lai Tiên Phật Thế Tôn.

“Thế nên, Anan, nếu chẳng dứt sự Giết Hại mà tu thiền định th́ cũng như có người tự bịt tai ḿnh, cất tiếng kêu lớn mà mong người khác không nghe, bọn đó gọi là muốn ẩn th́ càng lộ. Hàng Tỳ Khưu trong sạch, cho đến các vị Bồ Tát, đi trên đường rẽ, không dẫm cỏ non, huống lấy tay nhổ. Làm sao trong Tâm Đại Bi mà lấy máu thịt của các chúng sanh làm đồ ăn ?

“Nếu các hàng Tỳ Khưu không mặc những đồ tơ lụa, lượt là phương Đông và không dùng những giày dép, áo lông hay các thứ sữa, phó-mát, đề hồ, các Tỳ Khưu đó đối với thế gian thật thoát khỏi sự báo đền nợ nghiệp, chẳng đi vào trong ba cơi. V́ sao thế ? Dùng bộ phận thân thể chúng sanh là có duyên nợ với vậy, như con người ăn trăm thứ mễ cốc của đất th́ chân không ĺa khỏi đất. Quyết phải khiến cho thân tâm đối với bộ phận hay thân thể chúng sanh đều không mặc, không ăn, những người như thế, Ta mới gọi là thật Giải Thoát.

“Như Ta nói đây, gọi là lời Phật; chẳng như đây nói, tức là lời Ba Tuần.

Thông rằng : Trong mười hai năm sau khi Phật thành Đạo th́ chưa đặt định Giới Luật, tạm cho Tỳ Khưu ăn năm thứ tịnh nhục. Sau đó, nhân đám Lục Quần Tỳ Khưu cố t́nh giết hại để ăn, từ đấy đặt định Luật phải vĩnh viễn dứt trừ giết hại. Trong các kinh nói năm thứ tịnh nhục là không thấy, không nghe, không nghi, cùng là chim chết già, tự chết. Ở đây, nói năm thứ tịnh nhục là do thần lực hóa sanh, cũng giống như ở Ngũ Đài Sơn có một loại thịt bằng thảo mộc, vốn không có mạng căn, nên gọi là tịnh. Con người không bỏ đi sự Giết Hại, v́ để ăn mặc vậy. Nếu mặc áo lông, tơ, sợi của chúng sanh, và ăn máu thịt chúng sanh, đều v́ duyên nợ đó chưa thể giải thoát thật sự, muốn ra khỏi ba cơi sao được ?

Như con người trong kiếp ban đầu, h́nh thể có ánh sáng vàng, chân như dẫm trên mây. Nhân v́ ăn chất bổ báo của đất là lúa thơm, nên thân thể cứng nặng, chân chẳng rời đất, cũng v́ duyên nợ với đất. Cho nên tu thiền tập định, vốn để tránh tội, trái lại làm điều giết hại, có khác ǵ bịt tai mà trốn tránh người, đáng ra phải nín hơi th́ lại kêu lớn tiếng. Muốn khỏi luân hồi, làm ǵ có chuyện ấy được. Dầu cho có được thiền định, cũng là tà định của Quỉ Thần. Cái tà định của Quỉ Thần tương tự như cái thiền định, nên nói “Giống như Tam Ma Đề”, rốt lại phải lạc vào Thần Đạo. Thân thể là loại máu thịt, bộ phận thân thể là loại da lông vậy. Thân chẳng ăn, mặc các thứ ấy, đều do tâm ngăn cấm, nên lấy nhiếp tâm làm Giới. Nếu là người đại giải thoát, không tuân giữ Luật này, phải riêng có đầy đủ “Một con mắt lẻ”.

Ḥa Thượng Hiện Tử, chẳng rơ người xứ nào, từ lúc được ấn tâm ở Tổ Động Sơn bèn chung lộn với thế tục ở Mân Xuyên, mùa Đông mùa Hạ chỉ mặc một áo; hàng ngày nơi bờ sông lượm lặt tôm ṣ để nuôi bụng, ban đêm về ở trong miếu-đốt-giấy-vàng-bạc Bạch Mă.

Thiền sư Hoa Nghiêm Tịnh muốn biết chân, giả. Vào ẩn trước trong miếu giấy-vàng-bạc.

Đến khuya, Hiện Tử trở về.

Tổ Nghiêm nắm đứng lại, nói : “Như sao là ư Tổ Sư từ Tây sang ?”

Liền đáp : “Đài mâm rượu trước Thần”.

Tổ Nghiêm nói : “Quả thật, đồng sanh căn với ta”.

Không ai biết cuộc đời về sau thế nào.

Đây gọi là Dị loại trung hành() vậy.

Tổ Nam Tuyền nhân hai bên nhà Đông, nhà Tây tranh nhau con mèo. Tổ Tuyền bắt gặp, rao bảo với chúng rằng : “Nói được th́ cứu được con mèo, nói chẳng được th́ chém bỏ vậy”.

Trong chúng không có lời đối đáp. Tổ Tuyền liền chém.

Tổ Triệu Châu từ ngoài về, Tổ Tuyền nêu lại chuyện lúc năy.

Tổ Châu liền cởi chiếc dép cỏ để lên đầu mà đi ra.

Tổ Tuyền nói : “Lúc ấy mà có ông th́ cứu được con mèo rồi”.

Lại Tổ Tuyết Phong, đang cùng đại chúng làm ruộng, thấy một con rắn, lấy gậy khêu lên.

Rồi kêu chúng rằng : “Xem đây này !”

Bèn lấy dao chặt làm hai khúc.

Huyền Sa lấy gậy hất ra sau lưng chẳng thèm ngó lại. Cả chúng ngạc nhiên.

Tổ Phong nói : “Tài thay !”

Tổ Tuyết Phong thần dụng y tợ Tổ Nam tuyền. Ngài Huyền Sa chẳng chút ǵ ngó lại, y cách Ngài Triệu Châu !

Tổ Tuyền th́ nói : “Lúc ấy có ông th́ cứu được con mèo rồi !”

Tổ Phong th́ nói : “Tài thay !”

Cha con hai nhà ấy tiết tấu thành tựu, như một ấn mà ấn ra. Chỗ tụng của hai Ngài Tuyết Đậu, Thiên Đồng cũng là y dạng vẽ hồ lô().

Ngài Tuyết Đậu tụng rằng :

“Hai nhà đều dẹp hết thiền ḥa

Dấy lên khói bụi ngại ǵ phiền

Nhờ được Nam Tuyền đưa cử lệnh

Một đao hai khúc mặc t́nh nghiêng”.

 

“Công án nên chăng hỏi Triệu Châu

Trường An thành nội mặc nhàn du

Đầu mang dép cỏ không người hiểu

Về trong nhà núi tức yên thôi”.

Ngài Thiên Đồng tụng rằng :

“Hai nhà mây nước lắm phiền hà

Vương lăo sư tăng nghiệm chánh tà

Dao bén chặt ĺa đều mất dấu

Thiên cổ bảo người mến tác gia”.

 

“Đạo này chưa mất, tri âm khá khen !

Đẽo núi thấu biển, hề, chỉ tôn Đại Vũ

Đội đá vá trời, hề, riêng hiền Nữ Oa

Triệu Châu riêng có chỗ sanh nhai

Dép rơm đầu đội có chi sai

Đến trong chỗ-khác toàn soi tỏ

Chỉ cái vàng ṛng chẳng lẫn sa (cát)”.

Đây là hai, ba lăo nhà nghề() dùng sát sanh làm Phật sự. Ấy là cảnh giới bậc đại nhơn, nên người tầm thường chẳng thể đo lường.

 

Kinh : “Anan, lại các chúng sanh lục đạo trong các thế giới ḷng chẳng trộm cắp, ắt chẳng theo ḍng sanh tử nối tiếp nhau. Ông tu pháp Chánh Định cốt để ra khỏi trần lao, nếu ḷng trộm cắp chẳng trừ, th́ không ra khỏi trần được. Dầu có nhiều trí thiền định hiện tiền mà không đoạn dứt sự trộm cắp, hẳn lạc vào tà đạo: hạng trên là tinh linh, hạng giữa là yêu mị, hạng dưới là người tà bị tà mị nhập vào.

Các đám tà kia cũng có đồ chúng, mỗi mỗi tự xưng là thành Đạo Vô Thượng. Sau khi Ta diệt độ, trong đời mạt pháp, lắm thứ yêu tà đó lẫy lừng trong thế gian, lén núp gian dối, xưng là thiện tri thức. Mỗi kẻ tự xưng đă được pháp siêu nhân, lừa gạt người không biết, dọa dẫm khiến mất ḷng tin, chúng qua đến đâu cửa nhà hao tán.

Ta dạy hàng Tỳ Khưu theo pháp khất thực để bỏ ḷng tham, thành Đạo Bồ Đề. Các hàng Tỳ Khưu không tự nấu ăn, gởi cái sống thừa nương tạm nơi Tam Giới, thị hiện một lần đi về, đi rồi không trở lại. Làm sao bọn giặc mượn y phục của Ta buôn bán Như Lai, tạo đủ thứ nghiệp mà đều gọi là Phật pháp, lại chê bai các Tỳ Khưu xuất gia đầy đủ Giới Luật là đạo Tiểu Thừa; do chỗ làm cho nghi lầm vô lượng chúng sanh mà đọa địa ngục vô gián.

Như sau khi Ta diệt độ, nếu có Tỳ Khưu phát tâm quyết định tu Tam Ma Đề, ở trước h́nh tượng Như Lai, chính ḿnh thắp một ngọn đèn, đốt một ngón tay hay ở trên thân đốt một điểm hương, Ta nói người ấy nợ cũ từ vô thủy trong một thời trả hết, đời đời cáo biệt thế gian, vĩnh viễn thoát khỏi các lậu. Người ấy tuy chưa rơ liền con đường Vô Thượng Giác, nhưng đối với Phật pháp đă có tâm quyết định. Nếu không làm được cái nhân xả thân nhỏ mọn ấy, dầu có thành Đạo Vô Vi, cũng phải sanh lại làm người, trả hết nợ cũ, như chuyện ăn lúa-ngựa của Ta(), thật không sai khác.

“Ông dạy người đời tu Tam Ma Đề, sau nữa phải đoạn dứt ḷng trộm cắp, đó là lời dạy rơ ràng trong sạch, chỗ quyết định thứ ba của Chư Như Lai Tiên Phật Thế Tôn.

“Thế nên, Anan, nếu chẳng dứt trừ trộm cắp mà tu thiền định th́ cũng như người rót nước vào chén thủng, mong cho được đầy, dầu trải qua số kiếp nhiều như bụi, rốt chẳng thể đầy. Như các Tỳ Khưu, ngoài y bát ra, mảy may không tích trữ, xin bữa ăn có dư th́ bố thí cho chúng sanh đói; nơi nhóm hội lớn, chấp tay vái chào đại chúng, có người đánh mắng cũng đồng như khen ngợi, quyết tự buông bỏ thân tâm, máu xương thân thịt chung với chúng sanh, không đem lời dạy bất liễu nghĩa của Như Lai làm chỗ hiểu của ḿnh, làm lầm lạc người mới học, th́ Phật ấn chứng cho người ấy thật được Tam Muội.

“Như Ta nói đây, gọi là lời Phật, chẳng như đây nói, tức lời Ba Tuần.

Thông rằng : Tham mà chẳng ngừng hẳn đến chỗ lén cắp. Trộm cắp vật của người để nuôi thân ḿnh, hại chỉ ở thân mà thôi, cho nên thắp đèn đốt tay hẳn có thể đền xong. C̣n buôn bán lời dạy bất liễu nghĩa của Như Lai, lấy làm chỗ hiểu của ḿnh để lầm lạc người mới học, đó là kẻ trộm cắp pháp vậy, hại này không kể xiết, bởi trong ḷng khắn khít cái tự ái, muốn có riêng sở trường, chưa thể tự buông bỏ. Bỏ thân dễ, bỏ tâm khó. Phải khiến thân tâm đều xả bỏ th́ tâm trộm cắp ắt trừ, thế mới nói được là thật đắc Tam Muội vậy.

Xưa, có Bà La Môn() họ Hắc vận thần lực, vui vẻ dùng hai tay dỡ lên cao hai cây bông ngô đồng đến cúng dường Phật.

Đức Phật gọi lớn : “Tiên nhơn !”

Người Bà La Môn ứng tiếng “dạ”.

Phật bảo : “Buông bỏ đi !”

Người Bà La Môn liền buông một cành bông bên tay trái.

Phật lại gọi lớn : “Tiên nhơn, buông bỏ đi !”

Người Bà La Môn lại liền buông một cành hoa bên tay phải.

Phật lại gọi : “Tiên nhơn, buông bỏ đi !”

Người Bà La Môn nói : “Bạch Thế Tôn ! Nay con hai tay đều không, Ngài c̣n dạy buông bỏ cái ǵ ?”

Phật nói : “Ta chẳng dạy ông buông bỏ bông đi. Ông phải buông bỏ ngoài sáu Trần, trong sáu Căn, giữa sáu Thức, buông bỏ hết một lượt. Cái chỗ không có ǵ để buông bỏ chính là chỗ khỏi sanh tử của ông”.

Người Bà La Môn ngay nơi lời ngộ Vô Sanh Nhẫn.

Thiền sư Hoàng Long Duy Thanh được ấn tâm ở Tổ Hối Đường, thường v́ người nói : “Người học Đạo ngày nay chưa thoát khỏi sanh tử, bệnh ở tại chỗ nào ? Bệnh ở ḷng trộm cắp chưa chết vậy. Nhưng đó không phải là tội của người ấy, mà là tội của ông thầy vậy. Như Hán Cao Đế dối gạt Hàn Tín mà giết đi th́ Hàn Tín tuy chết mà tâm nào có chết ? Người học Đạo đời xưa, ngay lời nói thoát sanh tử. Công hiện tại chỗ nào ? V́ ḷng trộm cắp đă chết vậy. Nhưng chẳng phải người học tự có thể đâu, chính do ông thầy kềm kẹp đập phá kín nhiệm vậy. Như Lương Vơ Đế ngụ tại sân chầu, thấy Hầu Cảnh chẳng động âm hơi, ḷng Hầu Cảnh đă khô kiệt không c̣n ǵ cả vậy. Chỗ nói của các phương, chẳng phải không đẹp đẽ nhưng nói cho cùng th́ như Triệu Xương() vẽ hoa, hoa tuy giống thật nhưng chẳng phải là hoa thật !”

Đây đáng làm giới răn kẻ buôn bán Như Lai.

 

Kinh : “Anan, chúng sanh lục đạo trong thế giới như thế, tuy thân tâm không có Sát, Đạo, Dâm ba hạnh đă tṛn nhưng nếu có Đại Vọng Ngữ th́ Tam Ma Đề không được thanh tịnh, thành ma ái kiến, mất giống Như Lai. Đó là chưa được mà nói được, chưa chứng nói là chứng. Hoặc cầu sự tôn trọng tột bậc của thế gian, bảo người khác rằng “Tôi nay đă đắc quả Tu Đà Hoàn, quả Tư Đà Hàm, quả A Na Hàm, đạo A La Hán, thừa Bích Chi Phật, Tam Hiền hay Bồ Tát Thập Địa”, trông mong người kia lễ sám, tham sự cúng dường. Đó là những kẻ nhất-điên-ca, tự diệt giống Phật, như người lấy dao chặt cây Đa La; Phật nói người ấy mất hẳn căn lành, không c̣n chánh tri kiến, ch́m trong ba biển khổ, chẳng thành Tam Muội.

“Ta bảo các hàng Bồ Tát và A La Hán, sau khi Ta diệt độ, Ứng Thân sanh vào đời mạt pháp, đủ thứ h́nh, độ người ch́m đắm. Hoặc làm Sa Môn, cư sĩ áo trắng, vua chúa, quan lại, đồng nam, đồng nữ như thế cho đến người dâm nữ, quả phụ, người gian dối, trộm cắp, người đồ tể, buôn bán, cùng họ đồng sự, khen ngợi Phật Thừa, khiến cho thân tâm họ vào Tam Ma Địa, nhưng rốt ráo chẳng tự nói ra tôi thật là Bồ Tát, thật là A La Hán, khinh xuất nói với người chưa học, làm tiết lậu mật nhân của Phật. Chỉ trừ ra đến lúc lâm chung, hoặc chăng thầm có lời di chúc. Làm sao hạng người ấy có thể rối gạt chúng sanh để thành Đại Vọng Ngữ.

“Ông dạy người đời tu Tam Ma Đề, sau hết phải đoạn trừ các Đại Vọng Ngữ, đó là lời dạy rơ ràng trong sạch, chỗ quyết định thứ tư của Chư Như Lai Tiên Phật Thế Tôn.

“Thế nên, Anan, nếu không đoạn dứt được Đại Vọng Ngữ th́ như khắc phân người làm ra h́nh cây Chiên Đàn, muốn có hương thơm, thế nào có chuyện ấy. Ta dạy hàng Tỳ Khưu, trực tâm là đạo tràng, trong bốn oai nghi, tất cả hành vi, c̣n không chút hư dối, huống sao tự xưng đắc pháp thượng nhân, ví như người hèn mạt tự xưng bậy là Đế Vương, tự chuốc lấy sự tru diệt. Huống là bậc Pháp Vương, làm sao đặt bày hư vọng ? Nhân địa chẳng chân, quả phải quanh co, thế mà cầu Phật Bồ Đề, như người cắn rốn, muốn thành tựu cái ǵ ? Như các Tỳ Khưu, tâm như dây đàn thẳng, mỗi mỗi chân thật mà vào Tam Ma Địa, vĩnh viễn không có ma sự. Ta ấn chứng người ấy thành tựu Tri Giác Vô Thượng của Bồ Tát.

“Như Ta nói đây, gọi là lời Phật, chẳng như đây nói, tức là lời Ba Tuần”.

Thông rằng : Thân, Khẩu, Ư đầy đủ mười nghiệp. Thân nghiệp là Dâm, Sát, Đạo. Ư nghiệp là Tham, Sân, Si. Khẩu nghiệp là Ác Khẩu, Lưỡng Thiệt, Ỷ Ngữ, Vọng Ngữ. Thân tâm không có hành động Sát, Đạo, Dâm có thể tin là không có Ác Khẩu, Lưỡng Thiệt, Ỷ Ngữ. Duy cái Đại Vọng Ngữ dường là c̣n đấy. V́ sao thế ? Trong không có tâm Sát, Đạo, Dâm, ngoài không có việc Sát, Đạo, Dâm, ba hạnh đă tṛn, trong ngoài thanh tịnh, đời chẳng có nhiều. Nhưng xét theo Tối Thượng Thừa, chưa là kỳ lạ. Bởi căn si kia khó trừ, nên trong Tam Ma Địa, vẫn c̣n ái kiến. Mới bèn nói láo, xưng là đă chứng được Thập Địa, hay Tam Hiền là Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, cho đến Bích Chi Phật, Bốn Thánh Quả. Ư đồ tham sự cúng dường, tức là Ái Ma. Cho là vào bậc Thánh, tức là Kiến Ma.

Ở trước nói là hầm Ái Kiến, là tâm vướng mắc nơi cảnh, mất đường Bồ Đề, là chẳng giăy sạch mầm mống vậy. Ở đây nói về ma Ái Kiến, tâm kẹt nơi pháp, mất giống Như Lai, là người giúp cho mầm giống lớn lên vậy. Người chẳng giăy sạch mầm giống mà hồi tâm hướng Đạo, c̣n được Bồ Đề. Người giúp mầm giống thêm lớn, chiếm ngôi Đế xưng Vương, tự ôm lấy sự tru diệt, nên cái hại thật là quá lắm. Nói rằng yếu chỉ, hiểu biết sai lầm mà cho là cực tắc, khiến cho chúng sanh chẳng c̣n biết có việc hướng thượng, nên làm tiêu mất hạt giống Phật. Chuyện Đại Vọng Ngữ há không nên răn cấm ư ? Như người trong quả vị, Ứng Thân hiển hóa c̣n chẳng dám coi thường tiết lậu mật nhân, tự nói ra chỗ đắc.

Như Ḥa Thượng Pháp Hoa Chí Ngôn(), sắp hóa (tịch), gọi người nói : “Ta từ vô lượng kiếp đến nay, thành tựu qua nhiều quốc độ, phân thân xiển dương giáo hóa, nay trở về Nam !”

Nói xong, nằm nghiêng bên phải mà tịch.

Ông Tập Tiên Vương Chất hỏi Tổ Pháp Hoa : “Như sao là ư Tổ Sư từ Tây sang ?”

Tổ nói :

“Trong bóng núi xanh suối lam khởi

Tháp báu cao ngâm lay gió mai”.

Lại nói : “Mời thầy Pháp Hoa đốt hương”.

Tổ nói : “Chưa từ trai-giới kiếm. Chẳng hướng phía Phật cầu”.

Hoặc hỏi : “Sư là phàm ư, là Thánh ư ?”

Bèn dở tay lên, nói rằng : “Tôi chẳng trụ trong ấy”.

Xem người ở trong quả vị, lời lẽ riêng khác, nào làm chuyện dối vọng.

Nhà sư hỏi Tổ Dược Sơn : “Như sao là cái rất báu trong Đạo ?”

Tổ Sơn nói : “Chẳng cong nịnh”.

Hỏi : “Khi chẳng cong nịnh th́ sao ?”

Tổ Sơn nói : “Nghiêng (đất) nước chẳng đổi”.

Đức Tịnh Danh nói rằng : “Trực tâm là đạo tràng, v́ không hư giả”.

Tâm như dây đàn thẳng tắp, mỗi mỗi chân thật, th́ không chỉ vĩnh viễn không có ma sự, mà đối với Tri Giác Vô Thượng cũng như thế thành tựu. Giới Đại Vọng Ngữ này sau khi ba Hạnh đă tṛn, thâu nhiếp nó ắt thành Tri Giác Vô Thượng, c̣n chẳng giữ ắt ch́m ba biển khổ. Giới này duyên với thân tâm trong sạch th́ sức mạnh cực lớn. Một niệm chẳng giới th́ sự trong sạch của thân tâm chẳng thiện dụng, mà là ác dụng, cái ác ấy là muốn khác người vậy. Nên sự Giới Cấm càng phải nhiệm mật.

Trước đă nói “Nhiếp tâm là Giới, nhân Giới sanh Định, nhân Định phát Huệ, đó là ba Vô Lậu Học”. Bây giờ chỉ nói rơ ràng bốn Cấm Giới, mà chẳng nói đến Định, Huệ. Sao thế ? Ngay trong Giới th́ Định Huệ đă tự sẵn, vốn là một thể, vốn không có thứ lớp trước sau.

Như nói rằng “Ông dạy người đời tu Tam Ma Đề”, th́ nào không từng lấy Định Huệ làm gốc. Đến chỗ nói, “Phật ấn chứng người ấy thật được Tam Muội”, th́ đó là bằng chứng rơ ràng của sự “Nhân Giới sanh Định” vậy.

Lại nói rằng “Ta ấn chứng người ấy thành tựu Tri Giác Vô Thượng của Bồ Tát” th́ đó là bằng chứng rơ ràng “Nhân Định phát Huệ” vậy. Cho nên ngay nơi Giới là Định Huệ tự tại, chẳng phải riêng cầu cái gọi là Định Huệ vậy.

Ba Vô Lậu Học này chỉ bậc A La Hán chứng được. Người chứng Đạo này là giết giặc, là Vô Sanh, là Ứng Cúng, là làm Ma sợ, không đủ nói hết.

Ba Tuần là tên của Vua Ma, đây nói là kẻ ác.

 

PHỤ LỤC

 

Kinh Lăng Nghiêm, quyển VI, nói rằng “Từ Văn, Tư, Tu vào Tam Ma Địa. Ban đầu ở trong cái Nghe, vào ḍng mất Sở. Chỗ vào đă lặng, hai tướng động tĩnh rơ ràng chẳng sanh. Như thế tăng dần, cái Nghe và chỗ Nghe hết, cũng không trụ vào cái hết Nghe này, th́ cái Giác và chỗ Giác đều không. Cái không Giác cùng tột tṛn vẹn, th́ năng không và sở không đều diệt. Sanh diệt đă diệt, Tịch Diệt hiện tiền”.

Đây là cửa vào Đạo của Bồ Tát Quán Thế Âm, lư rất tinh thâm, ngôn ngữ luận bàn chẳng tới nổi.

Tôi t́nh cờ cùng pháp sư Càn đàm luận, thấy có ư vị, nhân thuật ra đây.

Chỗ nói rằng “Từ Văn, Tư, Tu mà vào Tam Ma Địa” là nói từ việc “Xoay lại cái Nghe” mà xuy xét (Tư); từ xoay lại cái Nghe mà Tu. Tức từ xoay lại cái Nghe mà thể nhập, cho đến địa Chánh Định chẳng sanh chẳng diệt. Tam Ma Địa này vốn không động lay, lặng trong thường tịch. Chỉ v́ cảm theo thanh trần, nên cái căn nghe dính che tánh trong lặng mà khởi ra, cho đến nghe tiếng rồi đuổi theo tiếng, trôi lăn mà quên trở lại, cách ĺa hẳn với Tam Ma Địa rồi vậy.

Như chỉ từ Văn, Tư, Tu mà vào, th́ tánh Nghe tức là Lư, Tư là Trí, Tu là Hạnh. Ba đức Lư, Trí, Hạnh viên dung, cùng đến một lúc. Cho nên, hễ xoay lại cái Nghe th́ Tư (suy xét) đă ở trong ấy rồi; hễ xoay lại cái Nghe th́ Tu đă ở trong ấy rồi. Cái Thánh Huệ Tư, Tu từ chỗ xoay lại cái Nghe mà sanh, bước bước về Chân, địa địa tăng tiến, như văn đoạn sau nói rơ, đó là thứ tự vào Tam Ma Địa.

Ban đầu, ở trong cái Nghe, ngược ḍng mà xuôi vào : chẳng vào thanh trần mà vào ḍng Thánh, tức cùng Tự Tánh nương nhau, ngoài mất đi cái Sở.

Phàm cảm nhận thanh trần hẳn phải có cái Sở, nay tuy mất cái Sở, c̣n chưa vắng lặng được. Đang khi tiếng động, th́ thấy có tướng động mà muốn cho mất đi. Đang khi tiếng im lặng th́ thấy có tướng tĩnh mà muốn theo trụ vào. Hai tướng động tĩnh rơ ràng nên chưa có thể vắng lặng. Tuy từ chỗ mất đi cái Sở mà nhập vào cho đến chỗ tịch nhiên, mà cái động tự nó động, ta chẳng biết cái động ấy, th́ tướng động nào có tự sanh ? Cái tĩnh ấy là tự tĩnh, ta chẳng biết cái tĩnh, th́ tướng tĩnh nào tự có sanh ? Mất cái sở đến cùng cực, th́ không chỉ tướng động bất khả đắc, mà tướng tịnh cũng bất khả đắc vậy.

Hai tướng động tĩnh đó là chỗ duyên ra của cái căn Nghe, nên là cái cảnh Sở Văn. Hai tướng chẳng sanh, rơ ràng sáng tỏ, đó cũng là cái căn Năng Văn. Mất cái Sở Văn th́ dễ, mà mất cái Năng Văn th́ khó. Như thế tăng dần, đi tới chẳng ngừng, đă mất cái Sở, lại mất cái Năng, th́ cả Sở Văn và Năng Văn đều hết sạch. Sở Văn (Chỗ Nghe) là thanh trần. Từ chỗ mất cái Sở lần lần cho đến khi Sở Văn hết, rốt không có ǵ để nghe nữa, ắt thanh trần tiêu mất vậy. Năng Văn là cái căn Nghe. Từ vào ḍng lần lần cho đến chỗ Năng Văn hết, rốt không c̣n cái Nghe ắt căn Nghe tiêu mất. Căn, Trần đều mất, quay về chỗ dứt tận. Có tướng hết để được, tức là chấp không. Nếu trụ nơi không, th́ tuy được Sở Giác không mà chưa được Năng Giác không vậy. Nay ngoài hết sạch các Trần, trong hết sạch căn Nghe, như vậy chỗ hết nghe cũng không trụ bám, th́ không chỉ Sở Giác không mà Năng Giác cũng không.

Sở Giác không, là nhân vô ngă. Năng Giác không, là pháp vô ngă. Chứng Nhân Vô Ngă dễ, chứng Pháp Vô Ngă khó. Phải lấy cái Chân Không Đại Thừa mà không th́ Năng Giác mới không. Có cái không để không cái Giác, th́ cái không chưa được toàn vẹn. Có cái Giác để giác cái không th́ cái Giác chưa được viên dung. Độc chỉ lấy cái Không mà không cái Giác, cùng quên đi cái Không, lấy cái Giác mà giác cái Không, cùng quên đi cái Giác mới có thể gọi là Viên Dung vậy.

Nhưng như vậy c̣n chưa cùng cực. Cùng cực th́ Không tức là Giác, cầu tướng Không chẳng thể có. Giác tức là Không, cầu tướng Giác chẳng thể có. Đó là Giác mà không có giác, Không mà không có không, nên mới là toàn vẹn rốt ráo. Độc chỉ Giác cùng cực tṛn đầy, nên không có tướng giác để đắc, th́ cái Sở Không diệt. Độc chỉ Không cùng cực, tṛn đầy, nên không có tướng không để đắc, th́ cái Năng Không cũng diệt. Sở Không diệt, đó là pháp không. Năng Không diệt, đó là không không. Năng Không, Sở Không đều chẳng sanh, mới gọi là “Sanh diệt đă diệt” vậy.

C̣n tiếng th́ có tiếng sanh, tiếng diệt. C̣n cái Nghe th́ có cái Nghe sanh, cái Nghe diệt. C̣n cái Giác th́ có cái Giác sanh, cái Giác diệt. C̣n cái Không, th́ có cái Không sanh, cái Không diệt. Đều là chưa ĺa sanh diệt. Nay nhân không, pháp không, mà lại không không, phàm các thứ thuộc về sanh diệt đều đă diệt hết. Đó là chẳng sanh, chẳng diệt, một tánh Chân Như hiện bày trước mắt. Ôi, một tánh Chân Như sở dĩ chẳng hiện tiền, đều là do các pháp sanh diệt che khuất. Nay một mảy tơ sạch ráo, Chân Thể lộ bày, vốn tự tịch nhiên, vốn không có diệt, chẳng phải diệt dứt rồi sau mới diệt, nên gọi là Tịch Diệt.

Cái tánh tịch diệt này tùy chỗ hiển bày, chẳng cầu ĺa tiếng mà tiếng tăm tự tịch diệt, chẳng cầu ĺa nghe mà cái Nghe tự tịch diệt, chẳng cầu ĺa giác mà giác tự tịch diệt, chẳng cầu ĺa Không mà Không tự tịch diệt. Tịch diệt hiện tiền, chỗ nào chẳng Không ư?

Tam Ma Địa này, tức Đại Định Thủ Lăng Nghiêm, nên pháp môn Phản Văn, Xoay Lại Cái Nghe, là cương lĩnh bộ kinh này.

Đă được Tịch Diệt hiện tiền, phát khởi từ bi diệu dụng, th́ há có pháp nào khác để độ người ư ? Đời có người chưa được nhân không th́ nói nhân không để độ. Đời có người chưa được pháp không th́ nói pháp không để độ. Đời có người chưa được không không th́ nói không không để độ. Cần yếu là về chỗ Tịch Diệt Hiện Tiền mà thôi vậy.

Đây là Nhất Tâm của Phật Phật, chẳng phải riêng ǵ Đức Quán Âm !

Chứng Đạo Ca của Ngài Vĩnh Gia nói :

“Tâm là căn, pháp là trần

Cả hai như dấu vết trên gương

Vết nhơ hết sạch, quang bày hiện

Tâm pháp đều vong, Tánh tức Chân”.

Đại ư là vậy.

 

GIỚI THIỆU - MỤC LỤC - QUYỂN 1 - QUYỂN 2 - QUYỂN 3 - QUYỂN 4

QUYỂN 5 - QUYỂN 6 - QUYỂN 7 - QUYỂN 8 - QUYỂN 9 - QUYỂN 10 - CHỈ MỤC

 

Copyright ©2005 FITEC & SearchVN. All rights reserved.