TIN NHÂN  QUẢ - TẠO PHƯỚC ĐỨC -  SỐNG CHÂN THƯỜNG

 ĐẠO TRÀNG TÂY TẠNG                                                                                                              TRỞ VỀ

Google

 KINH

THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG

 Người dịch :

THUBTEN OSALL LAMA - NHẪN TẾ THIỀN SƯ

 

QUYỂN VIII

III. KHAI THỊ BA TIỆM THỨ TU TẬP

Kinh : “Anan, như thế chúng sanh trong mỗi mỗi loài cũng đều đầy đủ hết mười hai thứ Điên Đảo. Cũng như dụi mắt th́ hoa đốm cuồng loạn phát sanh, Chân Tâm tṛn sáng trong sạch nhiệm mầu mà Điên Đảo th́ đầy đủ loạn tưởng hư vọng như thế. Nay ông tu chứng Tam Ma Đề của Phật th́ đối với các loạn tưởng làm nguyên nhân cội gốc của các Điên Đảo, phải lập ra ba tiệm thứ mới trừ diệt được. Cũng như trong đồ đựng sạch sẽ trừ bỏ mật độc, dùng nước nóng và chất tro, chất thơm rửa sạch đồ đựng, rồi sau mới chứa nước cam lồ.

“Thế nào là ba món tiệm thứ ? Một là, tu tập trừ các Trợ Nhân. Hai là, chân tu, nạo sạch Chính Tính. Ba là, tăng tiến trái lại Hiện Nghiệp.

Thông rằng : Mười hai thứ Điên Đảo đều từ trong Chân Tâm minh tịnh biến khởi. Bắt đầu trong một niệm Ái Thủ. Có Thương th́ có Ghét, có Thủ th́ có Xả. Do đó, bốn thứ Thai, Noăn, Thấp, Hóa đều do T́nh, Tưởng, nặng nhẹ tùy theo mỗi loài.

Các loài Hữu Sắc, Vô Sắc, Hữu Tưởng, Vô Tưởng chỉ là hai câu Hữu, Vô. Nhưng do cái Tưởng mà sanh hóa, th́ Tưởng càng ngày càng vi tế, sự sanh hóa càng lần lần thuần khiết. Các loài hoặc chẳng phải Hữu Sắc, hoặc chẳng phải Vô Sắc, hoặc chẳng phải Hữu Tưởng, hoặc chẳng phải Vô Tưởng gồm ở trong ấy hai cái “Cũng Là”, hai cái “Chẳng Phải”. Quả là do T́nh mà biến hóa, T́nh càng vướng mắc th́ càng biến hóa càng khổ. T́nh, Tưởng, Thương, Ghét phô bày lẫn lộn, không loài nào chẳng có, nên trong mỗi loài mỗi mỗi đều đủ mười hai thứ điên đảo.

T́nh, Tưởng giống như mắt nhặm; Điên Đảo giống như hoa đốm lăng xăng. Hoa đốm lăng xăng ở trong hư không mà chẳng ngăn ngại được hư không. Điên Đảo ở trong Chân Tâm Diệu Viên mà chẳng thể chướng ngại Tánh Diệu Viên. Dù đủ loạn tưởng hư vọng thế kia, rốt ráo nơi Chân Tâm minh tịnh chẳng hề ngăn ngại, rồi sau thấy được cái Diệu Viên vậy. Chân Tâm Diệu Viên tức là Tam Ma Địa, rỗng suốt nhiệm mầu bao la như hư không tạnh ráo. Mười hai thứ Điên Đảo chỉ do sáu Vọng Tưởng hỗn loạn làm Bổn Nhân. Mắt nhặm nếu trừ, hoa cuồng tự dứt.

Nhưng trừ loạn tưởng phải lập ra ba món tiệm thứ. V́ sao ? V́ như một cái b́nh sạch, vốn là đồ chứa đựng nước cam lồ, một khi bị mật độc nhiễm dơ mà đổ ngay cam lồ vào th́ cam lồ trở thành thuốc độc. Ắt là phải súc rửa bằng nước sôi cọng với tro, chất thơm cho trơn sạch, trải qua tháng năm, th́ độc khí dần dần tiêu, cam lồ mới có thể cho vào. Ba món tiệm thứ này chính là nước sôi, tro, chất thơm để rửa sạch loạn tưởng vậy.

Bốn thứ khuyên dạy ở trước là Sát, Đạo, Dâm, Vọng đă đủ Chánh Giới, đây lại trừ Trợ Nhân của Dâm, Nộ, Si, nạo sạch cái Chánh Tính của Sát, Đạo, Dâm, Vọng, dần dần xa ĺa Vô Minh hiện hành. Do đấy tăng tiến, ngược ḍng toàn nhất, sáu cái Dụng chẳng hiện hành, trái nghịch Hiện Nghiệp th́ tâm không trôi dạt. T́nh ái khô khan, loạn tưởng không tự khởi lên th́ Điên Đảo lấy đâu mà sanh ? Chỉ một Chân Tâm rồi sau mới lập các Thánh vị. Bốn mươi bốn Tâm để nhập chân Tam Ma Địa của Diệu Giác. Cũng như mật độc đă tiêu, bèn chứa được cam lồ vậy.

Thiền sư Đại Tùy Chân thượng đường nói : “Tánh này vốn xưa nay thanh tịnh, sẵn đủ muôn đức. Chỉ bởi hai duyên nhiễm, tịnh mà có sai khác. Cho nên các Thánh ngộ nó th́ cứ một bề dùng trong sạch mà thành đạo Giác. Người phàm mê nó th́ cứ một bề dùng dơ nhiễm mà ch́m đắm luân hồi. Thể nó không hai, nên kinh Bát Nhă nói “Không hai, không hai phần v́ không riêng không dứt vậy”.

Nếu tin được lời nói của Ngài Đại Tùy, “Thể nó không hai”, th́ vốn là một b́nh chứa tinh sạch, chứa độc mật chẳng có hao bớt mà đựng cam lồ cũng chẳng tăng thêm. Thẳng đến Bồ Đề Vô Thượng, nhiễm tịnh đều không dính dáng, th́ sau có dẹp bỏ chỗ nói về ba món tiệm thứ cũng không phải là không thể được vậy.

 

Kinh : “Thế nào là Trợ Nhân ?

“Anan, mười hai loài chúng sanh đó trong thế giới không thể tự toàn, phải nương theo bốn cách ăn mà sống, đó là Đoạn Thực, Xúc Thực, Tư Thực, Thức Thực. Vậy nên Phật bảo tất cả chúng sanh đều nương cái ăn mà sống c̣n.

“Anan, tất cả chúng sanh ăn thức lành th́ sống, ăn thức độc th́ chết. Vậy những chúng sanh cầu Tam Ma Đề phải dứt bỏ năm thứ rau cay trong thế gian. Năm thứ rau cay này, ăn chín phát ḷng dâm, ăn sống thêm ḷng giận. Trong thế gian, những người ăn rau cay đó dầu có thể tuyên thuyết mười hai bộ kinh, th́ Tiên Thiên mười phương không thích hôi nhớp đều lánh xa cả. Các loài quỷ đói v.v... nhân lúc người ấy đang ăn bèn liếm môi mép. Thường ở với quỷ, nên phước đức ngày càng tiêu ṃn, lâu dài không được lợi ích. Người ăn rau cay ấy, tu Tam Ma Địa, Bồ Tát, Thiên Tiên, Thiện Thần mười phương không đến thủ hộ. Đại Lực Quỷ Vương thừa cơ hội đó hiện làm thân Phật đến thuyết pháp cho, chê phá Cấm Giới, khen Dâm, Nộ, Si. Khi chết tự làm quyến thuộc Ma Vương, hưởng phước Ma hết, đọa vào ngục Vô Gián. Anan, người tu Đạo Bồ Đề vĩnh viễn dứt bỏ năm thứ rau cay.

“Đó là tiệm thứ tu hành tăng tiến thứ nhất.

Thông rằng : Đoạn Thực cũng gọi là Đoàn Thực, nghĩa là lấy tay viên tṛn lại mà ăn. Nhưng có thứ không thể vê tṛn nên đổi thành đoạn. Đoạn là cắt ra từng khúc, như dao cắt. Các thức ăn cơm, bún, rau... ăn theo lối cắt. Đó là cách ăn của con người.

Xúc Thực là ăn theo lối Căn, Cảnh, Thức tiếp xúc nhau mà thành. Chỉ tiếp xúc cái khí vị mà thôi, đó là cách ăn của Quỷ Thần.

Tư Thực là cơi Thiền Thiên không có Đoạn Thực, chỉ có ăn bằng tư tưởng, nên nói “Nghĩ đến ăn th́ được ăn”.

Thức Thực là cơi Vô Biên Xứ, không ăn bằng tư tưởng mà chỉ có cái Thức biết ăn, Thức thủ (hiểu lấy) mùi vị Pháp đầy đủ nên no.

Các lối ăn Xúc, Tư, Thức Thực cũng đều có thể nuôi sống như đoạn thực, nên nói “Đều nương theo cái ăn mà sống c̣n”. Bộ Hiệp Luận nói : “Thức thực là A Lại Da Thức nương theo ba cách ăn trước mà tồn tại. Làm sao để biết ? Năm Thức trước là Tướng Phần Tự Chứng của A Lại Da. Thức Thứ Sáu và Thức Thứ Bảy là Kiến Phần Tự Chứng của A Lại Da. Phạm vi của năm Thức trước nương vào Đoạn Thực. Thức Thứ Sáu phân biệt nương vào Xúc Thực. Thức Thứ Bảy nương vào Tư Thực. Cho nên Thức Thực nương vào ba loại ăn trước mà tồn tại”.

Tất cả chúng sanh ăn thức ăn lành th́ sống, ăn thức ăn độc th́ chết, th́ há năm loại rau cay nhớp mà không trợ Dâm, sanh Giận ư ? Rốt cục Trời, Tiên xa lánh, thường ở với Quỷ, cũng chẳng khác ǵ ăn thức ăn độc. Nhưng Dâm, Giận ngày càng tăng, hẳn là chê phá Cấm Giới, đọa vào ngục Vô Gián. Như vậy há có thể không cẩn thận ngay ở chỗ vi tế ư ?

Ḥa Thượng Kim Ngưu mỗi lần đến giờ ăn, tự đem thùng cơm đến trước tăng đường, múa cười ha hả mà rằng : “Bồ Tát ơi, đến ăn cơm !”

Ngài Tuyết Đậu nói : “Tuy nhiên như thế, Kim Ngưu chẳng phải hảo tâm !”

Nhà sư hỏi Tổ Trường Khánh : “Cổ nhân nói “Bồ Tát ơi, đến ăn cơm”, ư chỉ như thế nào ?”

Tổ Khánh nói : “Cũng giống nhân bữa ăn mà ca mừng”.

Ngài Tuyết Đậu tụng rằng :

“Trong bóng mây trắng cười ha hả

Hai tay bưng đến trao người ta

Nếu quả Kim Mao Sư Tử nhỏ

Ngoài ba ngàn dặm thấy sai ngoa”.

Lại có vị tăng hỏi Tổ Triệu Châu : “Kẻ học nhơn mới vào tùng lâm, xin thầy chỉ bày cho”.

Tổ Châu nói : “Vậy ăn cháo rồi chưa ?”

Vị tăng : “Dạ, ăn rồi”.

Tổ Châu nói : “Th́ rửa chén bát đi !”

Vị tăng tỉnh ngộ.

Tổ Vân Môn nói : “Hăy nói là có chỉ bày hay không chỉ bày ? Nếu nói có th́ Triệu Châu nói cái ǵ với ông ta vậy ? Nếu nói không th́ v́ sao vị tăng kia lại ngộ ?”

Ngài Thiên Đồng tụng rằng :

“Cháo xong th́ dạy rửa bát đi

Rỗng rang tâm địa tự dung thông

Như nay, khách tham thiền no đủ

Thử hỏi khoảng này có ngộ không ?”.

Hợp lại chỗ đề xướng của các vị lăo túc để rơ ràng mùi mẽ, th́ dầu trăm thứ món ngon của lạ cũng cần móc ói ra, huống chi thứ thuốc độc năm loại rau cay há có thể cho vào miệng ư ?

 

Kinh : “Thế nào là Chính Tính ?

“Anan, chúng sanh như thế vào Tam Ma Đề trước hết cốt phải nghiêm tŕ Giới Luật thanh tịnh, vĩnh viễn đoạn trừ ḷng Dâm, chẳng dùng rượu thịt, chỉ ăn đồ ăn trong sạch nấu chín, không ăn đồ sống. Anan, người tu hành đó, nếu chẳng đoạn Dâm Dục và Sát Sanh mà ra khỏi ba cơi, th́ không thể có. Phải quan sát sự Dâm Dục như rắn độc, như thấy giặc thù.

“Trước hết, hăy giữ ǵn Tứ Khí, Bát Khí của Giới Luật Thanh Văn, nắm giữ thân chẳng động. Sau đó, hành tŕ Luật Nghi thanh tịnh của hàng Bồ Tát, nắm giữ tâm chẳng khởi. Giới Cấm thành tựu th́ trong thế gian đời đời không c̣n nghiệp sanh sát nhau. Trộm cướp chẳng làm, th́ không c̣n mắc nợ nhau, và khỏi trả nợ đời trước trong thế gian. Người trong sạch đó tu Tam Ma Địa, ngay nơi thân xác thịt cha mẹ sanh, không cần thiên nhăn tự nhiên xem thấy mười phương thế giới, thấy Phật nghe Pháp, chính ḿnh vâng lĩnh Thánh Chỉ của Phật, đắc đại thần thông, dạo khắp mười phương thế giới, túc mạng được thanh tịnh, được không khó khăn nguy hiểm.

“Đó gọi là tiệm thứ tu hành tăng tiến thứ hai.

Thông rằng : Sát, Đạo, Dâm sao gọi là Chính Tính ?

Kinh Viên Giác nói : “Hết thảy chúng sanh đều lấy Dâm Dục mà “chính()” tánh mạng”. V́ Chánh Báo của chúng sanh do cảm lấy Dâm Dục mà sanh ra, nên lấy Dâm Dục làm Chính Tiùnh, tức là ở trước có nói Tánh Nghiệp, Giá Nghiệp. Lại v́ đối với Trợ Nhân mà nói, nên gọi là Chánh Tính. Nói là Nạo Sạch, ví như nạo khoét cây làm thuyền, dần dần làm cho trống không để mang chở. Nên Tánh Nghiệp, Giá Nghiệp đều không mới hợp với nghĩa nạo vét.

Cái Căn Dâm rất khó đoạn, phải xem như rắn độc, v́ hại đến Pháp Thân vậy. Phải thấy như giặc thù v́ làm tổn thương Huệ Mạng. Trước giữ Giới Thanh Văn khiến không có thân phạm. Sau giữ Giới Bồ Tát khiến không có tư tưởng phạm. Cấm Giới thành tựu th́ Giới mà không có chỗ Giới. Dâm dứt th́ không c̣n Nghiệp tương sanh. Sát dứt th́ không có Nghiệp tương sát. Trộm cắp dứt th́ không có Nghiệp trả nợ. Ngay nơi thân tâm này sáu Căn thanh tịnh, không cần Thiên Nhăn mà chứng Ngũ Thông. Nhăn Thông nên xem thấy mười phương. Nhĩ Thông nên nghe Phật thuyết pháp. Thần Thông nên có thể dạo khắp mười phương cơi. Túc Mạng Thông nên không có khó khăn nguy hiểm. Tha Tâm Thông, tự tại ở trong ấy. Duy chỉ có Lậu Tận Thông th́ không dễ chứng. Chỗ này giống kinh Pháp Hoa dạy rằng : “Thân hiện tại được sáu Căn thanh tịnh tức là địa vị tương tự. Thế th́ nghiêm giữ Giới Luật thanh tịnh đâu có thể tự trễ nải ư ?”

Thiền sư Dũng Tuyền Hưng thượng đường nói : “Tôi bốn mươi chín năm ở trong ấy mà c̣n tự có khi lộn xộn (tẩu tác). Này các ngươi chớ múa mỏ khua môi. Người kiến giải th́ nhiều, người hành giải cả vạn, trong đó không có một người hiểu rơ lời lẽ biết suốt cái cần yếu. Nếu Thức chẳng hết, dám nói hết chuyện luân hồi ư ? V́ sao như vậy ? Bởi v́ Thức Lậu chưa hết. Ông mà hết sạch ngay giờ mới được thành lập. Cũng gọi là Lập Trung Công, chuyển công tựu thành cái kia. Cũng gọi là Tựu Trung Công, thân với cái kia vậy. Bởi thế, tôi mới nói : Người thân chẳng được độ, hắn chẳng độ người thân. Thí dụ như vậy c̣n chẳng hiểu th́ chỉ tiến lên hít lấy cái hơi mù mịt, chỉ nắm giữ cái tánh loạn động nơi đầu lưỡi. Chẳng thấy Tổ Động Sơn nói “Tương tục, ấy là đại nạn”. Các ông cần biết có sự việc này, nếu không biết, có ngày rồi khóc lóc !”

Mới biết rằng Giới Hạnh dũng mănh, cốt yếu là dứt sạch tức th́, chuyển công thành vị, vào Tam Ma Địa. Chẳng thế th́ dùng huyễn để tu huyễn, uổng công siêng nhọc, ăn nhằm ǵ đến Tự Tánh đâu !

 

Kinh : “Thế nào là Hiện Nghiệp ?

“Anan, người giữ ǵn Cấm Giới thanh tịnh như vậy, Tâm không tham dâm, đối với sáu Trần ở ngoài không hay giong ruổi theo. Do không giong ruổi nên tự quay về Tánh gốc. Trần đă chẳng duyên, Căn không chỗ hợp, ngược ḍng toàn nhất, sáu Dụng chẳng hành. Mười phương cơi nước sáng suốt thanh tịnh, như ngọc lưu ly bên trong treo mặt trăng sáng. Thân Tâm rỗng khoái, b́nh đẳng diệu viên, được đại an ổn. Mật Viên Tịnh Diệu của tất cả Như Lai đều hiện trong đó. Người ấy liền được Vô Sanh Pháp Nhẫn. Từ đó lần lượt tu hành, tùy chỗ phát Hạnh mà an lập các Thánh vị.

“Đó gọi là tiệm thứ tu hành tăng tiến thứ ba.

Thông rằng : Hiện Nghiệp là Nghiệp tạo ra của Vô Minh hiện hành, tức là các Nghiệp Sát, Đạo, Dâm ở trên.

Giữ Cấm Giới th́ đối với sáu Trần ở ngoài chẳng hay giong ruổi theo, hay đoạn trừ phiền năo khách trần, hay trừ được Kiến Hoặc. Trần đă chẳng duyên theo th́ Căn không chỗ gặp hợp, hay phá Vô Minh vi tế, hay trừ được Tư Hoặc. Chưa trừ hai cái Hoặc th́ cũng c̣n tùy thuận theo Hiện Nghiệp, chưa chịu nghịch lại. Giờ tự quay vào lặng trong, nghịch lại với Hiện Nghiệp vậy. V́ giong ruổi nên sáu Dụng hiện hành, thế là trái với Giác, hợp với Trần thành sáu Vọng Tưởng loạn khởi ra Nghiệp hiện giờ. Bởi ngược ḍng nên sáu Dụng chẳng hiện hành, thế là trái với Trần, hợp với Giác thành một Tánh trong lặng tṛn sáng, Mật Viên Tịnh Diệu của tất cả Như Lai đều hiện ra trong đó. Lư mật trí viên tịnh hành nhiệm mầu phù hợp không dấu vết. Pháp Thân thanh tịnh như ngọc lưu ly. Chân Trí trong suốt giống như trăng sáng. Thân Tâm rỗng khoái, Căn, Cảnh đều dung thông, Diệu Viên b́nh đẳng, được đại an ổn bèn được Vô Sanh Pháp Nhẫn mà vào Tam Ma Địa. Từ đó tiệm tu, an lập Thánh Vị cho đến bậc Đẳng Giác.

Cái Giác này mới được vị Càn Tuệ Địa ban đầu trong Tâm Kim Cang, bèn chứng Tam Ma Địa của Phật, cứu xét tận hết bổn nhân, cùng tột vị Diệu Giác vậy. Đây là chỗ bước vào, đoạn văn sau là chỗ tu, rốt ráo chỗ chứng, đều là Tam Ma Địa của Phật, đó gọi là “Cửa vào một đường Niết Bàn của mười phương Chư Phật”.

Chỗ này cốt ở Đốn Chứng, cớ sao lại lập thêm các món tiệm thứ để tăng tiến ? Bởi v́ Lư cần Đốn Ngộ, Sự theo đó lần hồi dứt trừ. Trước hết, trừ cái Trợ Nhân, kế nạo sạch Chánh Tánh, rồi trái với Hiện Nghiệp. Tất cả đều ở trên Sự mà tiêu dung dần dần. Cảnh càng vào Chân th́ công phu càng thêm tế mật. Tuy chủ Đốn Ngộ, chẳng bỏ Tiệm Tu. Đây là gồm trọn cả ba căn Thượng, Trung và Hạ nên là Pháp Môn Viên Đốn vậy.

Thiền sư Kính Sơn Liễu Nhất thượng đường, nói: “Người học Đạo chạm cảnh, gặp duyên mà không thể lập tức thấu thoát (tỏ suốt) đều v́ Nghiệp Thức sâu nặng, Vọng T́nh gắn chặt. Sáu cửa chưa dứt th́ một chỗ chẳng thông. Cái Tánh thuần túy trong sạch không một điểm vết th́ phàm phu khó đến. Cần ngay “Vào rừng không động lá, vào nước không nổi sóng” mới có thể thuận ḍng sanh tử, vào với nhân gian. Chư vị ơi, có hiểu chăng ?”

Bèn lấy cây gậy quơ vẽ mà nói : “Chỉ hướng trong ấy mà tiến nhận”.

Giả sử có tay nào ở đây tiến nhận được, giống như lưu ly trong sạch ngậm trăng sáng ở trong, th́ có gọi là người xong việc không, nhỉ ?

Chẳng thấy Tổ Nam Tuyền đang cùng Ngài Triệu Châu thưởng trăng.

Ngài Châu nói : “Bao lâu th́ được tương tự như cái kia ?”

Tổ Tuyền nói : “Vương lăo sư này hai mươi năm trước đă từng như vậy đó”.

Ngài Châu : “Nay th́ sao ?”

Tổ Nam Tuyền bèn quay về phương trượng.

Ngài Thiên Đồng nêu ra rằng : “Hai mươi năm trước để yên đó. Hai mươi năm sau làm sao đây ? Có biết chỗ bước của Vương lăo sư chăng ? Trong nhà không linh sàng, vợ đâu mặc đồ tang !”

Ôi, “Thanh tịnh như lưu ly bên trong treo trăng sáng” tức là chỗ đoạn sau nói “Càn Tuệ Địa” vậy. Mật Viên Tịnh Diệu của tất cả Như Lai đều hiện ra trong đó th́ chỗ thấy chốn nào chẳng sáng tỏ, nhưng c̣n thiếu bước dẫm đi. Thế nên, có biết chỗ dẫm đi của Tổ Nam Tuyền th́ hai mươi năm trước được tương tự cái kia cũng là chưa xong.

 

MỤC HAI :

AN LẬP CÁC THÁNH VỊ

 

I. CÀN TUỆ ĐỊA

Kinh : “Anan, người thiện nam ấy, Dục Ái cạn khô, Căn Cảnh chẳng phối hợp, cái Thân Tâm hiện tại không c̣n sanh tiếp nữa. Nắm lấy Tâm rỗng sáng, thuần là Trí Huệ. Tánh Huệ toàn sáng tỏ sáng mười phương thế giới. Mới có cái Huệ khô khan, gọi là Càn Huệ Địa.

Thông rằng : Dục Ái thấm nhuần thành nghiệp, Căn và Cảnh tạo nghiệp nên sanh tử nối tiếp, mê muội chẳng quay về. Nay ḷng Dục khô cạn, Cảnh lui đi, nên cái Thân Tâm nhân thế chẳng c̣n sanh tiếp. Ngược ḍng toàn nhất ắt giữ lấy cái Tâm rỗng sáng. Sáu Dụng chẳng hiện hành tức thuần là Trí Huệ. Chẳng dùng ǵ nơi Dục Ái th́ Huệ chẳng ĺa ngoài Tự Tánh, như ánh sáng viên ngọc không dùng soi chiếu vật mà chỉ tự chiếu cái Thể của nó.

Đây là cái sáng suốt cho đến chỗ không lập ra cái Sở, th́ cái sáng toàn vẹn vậy. Mười phương cơi nước rỗng sáng thanh tịnh, ví như lưu ly ở trong treo trăng sáng, nên gọi là “Tỏ sáng”. Đây là Dục Ái cạn khô nên phát Huệ, mới gọi là Càn Huệ. Lại chỉ mới có cái Huệ khô khan, chưa đến chỗ Diệu Viên, nên là Sơ Địa. Trong Thập Địa của kinh Đại Phẩm th́ Địa đầu tiên gọi là Càn Huệ. Trong Viên Giáo của Ngài Thiên Thai, trước Thập Tín lập ra Ngũ Phẩm Vị, gọi là nghĩa Thôi() cũng giống như Càn Huệ Địa của kinh Đại Phẩm. Kinh này chưa đến đây mà chỗ lập ra danh vị của Ngài Thiên Thai đă thầm hợp với Tâm Phật. Chẳng phải là bậc tự thân đến được hội Linh Sơn th́ làm sao có được như thế !

Quan Đại Phu Lục Tuyên thưa với Tổ Nam Tuyền : “Đệ tử cũng hiểu sơ sơ Phật Pháp”.

Tổ Tuyền bèn hỏi : “Trong mười hai thời, ông làm ǵ ?”

Đáp : “Chẳng dính mảy lông”.

Tổ Tuyền nói : “C̣n là kẻ dưới thềm”.

Lại nói : “Ông há chẳng nghe “Quân Vương có Đạo chẳng thu bầy tôi có Trí” ư ?”

Về sau, có nhà sư hỏi thiền sư Kim Phong Chí rằng : “Khi “Ngàn núi không mây, ngàn dặm tuyệt ráng” th́ sao ?”

Tổ Chí nói : “Ngọn Phi Thiên Lănh, phía nào mà chẳng mửa hết ra !”

Quả là cùng Tổ Nam Tuyền trước sau một vết bánh xe. Thế biết Càn Tuệ Địa cũng là chỗ tạm nghỉ. Bằng như cùng tận Diệu Giác th́ cái ư rốt ráo phải tự riêng khác.

 

II. THẬP TÍN

Kinh : “Cái tập khí của ngũ dục mới khô cạn chưa tiếp thông được với ḍng nước pháp của Như Lai. Tức nhân tâm này, ngay giữa lần vào Viên Diệu mở bày, theo Diệu Giác Viên chân thật, càng phát ra chân diệu. Diệu Tín thường trụ, tất cả vọng tưởng hết sạch chẳng c̣n. Trung Đạo thuần Chân, gọi là Tín Tâm Trụ.

Thông rằng : Ngay giữa lần vào, chẳng nghiêng về Không, chẳng nghiêng về Giả, đó là Trung Đạo Diệu Quán vậy. Vừa mới vào Quán, Tam Đế viên dung, như ba điểm của chữ Y (  ) nên gọi là Viên Diệu, đây là chỗ sức người có thể làm. Nơi Quán đă thành, theo cái Chân phát ra Diệu, khế hợp với lư Viên, nên gọi là Diệu Viên, đây là chỗ sức người không thể đáp ứng nổi.

Trung Đạo th́ y nơi Chân, Diệu th́ có cái chẳng phải do Chân. Từ Chân phát ra Diệu th́ Diệu đó là Chân Diệu. Diệu mà chẳng phải do Chân nên chẳng thể Thường. Trung Đạo thuần Chân nên Diệu ấy thường trụ. Cái Diệu đă thường trụ th́ hết thảy vọng tưởng không c̣n đất để chân vậy. Cái gọi là Diệu ấy chỉ riêng người ấy rơ biết ư thú của Diệu này, không thể dùng lời nói chỉ bày cho người được. Đức tin này rất chân thật nên gọi là Tín Tâm Trụ.

Tổ Quy Sơn nói với Ngài Ngưỡng Sơn : “Ông nên riêng tự hồi quang phản chiếu, người khác không biết chỗ tri giải của ông. Ông thử đem cái kiến giải chân thật tŕnh lăo tăng xem !”

Ngài Ngưỡng Sơn nói : “Như dạy con tự xem th́ vào trong ấy không có viên vị, cũng không có một vật, một giải nào để tŕnh Ḥa Thượng”.

Tổ Quy nói : “Chỗ không có viên vị là chỗ kiến giải của ông th́ chưa rời tâm, cảnh”.

Ngài Ngưỡng Sơn nói : “Đă không viên vị, chỗ nào có pháp ? Lấy không vật làm cảnh”

Tổ Quy nói : “Vừa rồi, chính ông có kiến giải ấy, phải không ?”

Ngài Ngưỡng đáp : “Dạ, phải”.

Tổ Quy nói : “Nếu như thế th́ đầy đủ tâm, cảnh lẫn pháp, chưa thoát khỏi tâm Ngă-Sở. Nguyên v́ có kiến giải tŕnh tôi. Cho ông rơ được Tín Vị, c̣n Nhân Vị th́ chưa !”

Về sau, Ngài Ngưỡng Sơn hỏi Ngài Song Phụng : “Sư đệ, gần đây chỗ thấy thế nào ?”

Đáp rằng : “Theo chỗ thấy của tôi, thật không có một pháp để lưu t́nh”.

Ngài Ngưỡng nói : “Kiến giải của ông c̣n ở trong Cảnh”.

Đáp rằng : “Tôi chỉ như vậy. Sư huynh th́ sao ?”

Ngài Ngưỡng nói : “Ông há chẳng biết “Không có một pháp để lưu t́nh” ư ?”

Tổ Quy Sơn nghe được, nói : “Một câu của Huệ Tịch e giết hết người trong thiên hạ”.

Xét nghiệm như vậy, chẻ bửa như vậy mới biết “Theo Tánh Chân Thật, Diệu Viên càng phát ra Chân Diệu”. Cái chỗ Chân Tín cách nhau xa hẳn với con đường tri giải vậy.

 

Kinh : “Chân Tín sáng rơ, hết thảy viên thông. Ba thứ Ấm, Xứ, Giới không thể ngăn ngại. Như vậy cho đến trong vô số kiếp quá khứ, vị lai tất cả tập khí bỏ thân, thọ thân đều hiện ra trước mắt, người thiện nam này đều có thể nhớ tưởng không quên mất, gọi là Niệm Tâm Trụ.

Thông rằng : Niệm Tâm Trụ ở trong Thập Tín này là Túc Mạng Thông. Trước có nói “Cấm Giới thành tựu, sáu Căn thanh tịnh không cần Thiên Nhăn, xem thấy mười phương túc mạng thanh tịnh, được không khó khăn nguy hiểm, cũng lần lần ra khỏi ngăn ngại” Ở đây, cả quá khứ, vị lai trong vô số kiếp đều có thể tưởng nhớ, ắt viên thông sáng rơ. Đây là trong Chân Tín phát khởi, Tánh Không đâu chẳng toàn khắp, nên suốt thông không đâu chẳng thấu đến. Đây là đă chứng Chân nên địa vị “Tương Tự” chẳng thể sánh được. Không chứng Chân th́ Ấm, Xứ, Giới làm ngăn ngại, nên không thể thông suốt. Nay nắm giữ cái tâm rỗng sáng; căn, cảnh chẳng dính nhau, lâu ngày th́ Chân Diệu một ḿnh bày lộ, siêu vượt lên căn, cảnh. Do đó, tất cả tập khí do Tư Hoặc kết thành như quá khứ bỏ thân, vị lai thọ thân đều rơ ràng trước mắt, mà không quên mất.

Cái Niệm Tâm vốn thuộc sanh diệt, nay lấy Chân Tín mà nắm giữ nó th́ niệm cũng an trụ, tức niệm tức Chân, lấy Chân, Vọng dung nhau thành một. Túc Mạng Thông từ bậc A La Hán cho đến cơi Phi Phi Tưởng, các ngoại đạo th́ biết trước sau đến tám vạn kiếp. Nhưng vô số kiếp tức là A Tăng Kỳ kiếp th́ ngoài Phật không ai chứng được. Xứ này, người biết quá khứ th́ cũng đă có, c̣n người biết vị lai th́ không nhiều.

Thiền sư Huệ Trung ở núi Ngưu Đầu nghe thiền sư Uy ra đời bèn đến thăm.

Thiền sư Uy vừa thấy, nói rằng : “Sơn chủ đến vậy”.

Ngài Huệ Trung cảm ngộ, ở lại hầu hạ.

Sau này, Huệ Trung xin đi các nơi tham học.

Một hôm, thiền sư Uy thấy cây Lăng Tiêu nơi Viện Cụ Giới gặp mùa Hạ nên héo úa. Có người muốn chặt đi, Ngài bảo : “Đừng chặt, khi Huệ Trung về, nó sẽ sống lại !”

Sau, Ngài Huệ Trung trở về, quả như lời nói, bèn giao Sơn Môn cho Huệ Trung.

Lại như Ngài Linh Thọ, suốt hai mươi năm không có Thủ Ṭa. Ngài thường nói : “Thủ Ṭa của ta đă sanh rồi ! Thủ Ṭa của ta đang chăn trâu ! Thủ Ṭa của ta đang hành cước !”

Một hôm, bảo đánh chuông, ra ngoài tam môn tiếp đón vị Thủ Ṭa. Đại chúng ra đón th́ quả là Ngài Vân Môn đến, bèn mời thẳng vào liêu Thủ Ṭa.

Mở gói hành lư xong, tŕnh thơ cho Tổ Linh Thọ, viết rằng : “Đây là vị Thủ Ṭa trong chùa, con mắt của trời, người”.

Ngài bèn mời Tổ Vân Môn khai đường.

Hai vị tôn túc trên, có thể nói là đắc Niệm Tâm Trụ.

 

Kinh : “Diệu Viên thuần Chân, Chân Tinh phát hóa ra, các tập khí vô thủy thông thành một Tinh Minh. Chỉ nhân Tinh Minh ấy tiến đến chỗ Chân Tịnh, gọi là Tinh Tiến Tâm.

Thông rằng : Từ Chân Tín lần vào nên có thể tưởng nhớ. Từ Thuần Chân lần vào nên được cái Tinh Minh. Chân hay chuyển hóa cái Vọng th́ Chân Tinh phát hóa là không thể nghĩ bàn, nên tập khí từ vô thủy hóa thành Tinh Minh. Ở trước nói “Tập khí hiện tiền”, đến đây hóa thành Tri Giác Vô Thượng vậy. Tịnh mà đối với nhiễm th́ chưa là Chân Tịnh. Chẳng dơ, chẳng sạch mới là Chân Tịnh. Nhân dùng cái Tinh Minh này tiến đến Chân Tịnh, ấy là muốn dẹp bằng dấu vết của cái “Thông thành một Tinh Minh” mà đều chuyển hóa hết vậy. Sự chuyển hóa này chẳng thể làm được th́ sự Tiến cũng chẳng Tinh vậy.

Nhà sư hỏi Tổ Hoàng Bá : “Thế nào là Tinh Tiến?”

Tổ Bá nói : “Thân tâm chẳng khởi, đó là Tinh Tiến mạnh mẽ đệ nhất. Vừa khởi Tâm hướng ngoài t́m cầu th́ gọi là “Vua Ca Lợi ưa đi săn bắn”. Tâm chẳng đi rong ở ngoài tức là “Tiên nhơn nhẫn nhục”. Thân tâm đều không, đó là Phật đạo”.

Kinh Pháp Cú nói : “Nếu khởi tâm Tinh Tiến, đó là vọng chứ chẳng phải Tinh Tiến. Nếu Tâm thường chẳng vọng, đó là Chân Tinh Tiến”.

Ngài Thiên Thai Trí Giả tụng kinh Pháp Hoa ở núi Nam Nhạc đến chỗ phẩm Dược Vương : “Đó là Chân Tinh Tiến, đó gọi là Chân Pháp cúng dường Như Lai”, ngay đó ngộ nhập Pháp Hoa Tam Muội, được gọi là Toàn Đà La Ni, thấy Pháp Hội Linh Sơn rơ ràng chưa tan.

Đây có thể nói là tập khí vô thủy thông thành một Tinh Minh vậy. Hẳn là tiến đến chỗ thân tâm đều Không, mới gọi là Chân Tịnh. Ĺa ngoài Chân Tịnh mà riêng cầu chuyện tinh tiến đó là vọng vậy.

Kinh : “Tâm Tinh hiện tiền, thuần dùng Trí Huệ, gọi là Huệ Tâm Trụ.

Thông rằng : Càn Huệ Địa ở trước sao không gọi là Huệ Tâm Trụ ? Trước nói : “Nắm giữ Tâm rỗng sáng”, là c̣n có nắm giữ vậy. Đây nói : “Tâm Tinh hiện tiền”, tức là cái nắm giữ đă chuyển hóa rồi vậy. Trước nói : “Thuần là Trí Huệ”, tức c̣n mang lấy cái “Là”. Đây nói : “Thuần dùng Trí Huệ”, tức đâu đâu cũng là cái dùng của Trí Huệ, đều mất cái Là vậy.

Chỗ này nếu chẳng phải Tinh Minh rơ suốt, linh quang hiển hiện th́ chưa dễ nói ra được. Ban đầu th́ nói có cái Trí Huệ ấy. Đến chỗ thuần là Trí Huệ th́ có mà an trụ rồi, lại tiến thêm một bước.

Trong thiền môn thuần dùng Trí Huệ, duy chỉ có một tay Lâm Tế thật khó gặp một người thứ hai. Ngài thường nói : “Sơn tăng chốn này đoán định ba thứ Căn Khí : như hàng căn khí trung hạ đến, ta bèn đoạt Cảnh nó mà chẳng trừ Pháp nó. Nếu là hàng căn khí trung thượng đến, ta bèn Cảnh, Pháp đều đoạt. Như có người căn khí thượng thượng đến, ta bèn Cảnh, Pháp, Người đều đoạt. Như có người kiến giải xuất cách đến th́ sơn tăng chốn đây bèn toàn thể tác dụng, chẳng cần Căn Khí. Các Đại Đức, đến trong ấy mà chỗ nỗ lực của học nhơn chẳng thông rơ phong đại, lửa đá, chớp xẹt tức qua liền vậy. Người học mà con mắt định nếu động, liền mất giao thiệp. Tâm nghĩ tức sai, động niệm tức trái ! Có người nào rơ biết, chẳng ĺa trước mắt. Các Đại Đức, các ông mang bát phẩn, vác con chạy nhà người, cầu Phật, cầu Pháp tức nay cùng cái ǵ chạy t́m thế ? Các ông chẳng biết nó chăng ? Sống sờ sờ ra đó, chỉ cái chẳng bám níu. Ôm lấy chẳng tụ, vứt đi chẳng tan. T́m cầu liền mất xa, không cầu là trước mắt”.

Linh âm phó chúc bên tai, như chẳng có tin uổng nhọc trăm năm lần lữa. Như tin được “Sống sờ sờ ra đó” th́ với Huệ Tâm Trụ đâu có xa !

 

Kinh : “Nắm giữ Trí sáng, lặng trong cùng khắp, lặng lẽ nhiệm mầu thường lắng đọng, gọi là Định Tâm Trụ.

Thông rằng : Đă thuần dùng Trí Huệ th́ Huệ Tâm thường trụ, sao lại c̣n dùng sự nắm giữ ? Nói nắm giữ ư là quên cơ bỏ trí. Trí Huệ thường dùng, dùng tức ứng vật, bèn ở trong thể lặng trong chẳng được Tổng Tŕ. Nay gom lại ánh sáng rực rỡ, giữ mà chẳng dùng. Như Tổ Lâm Tế nói : “Kiếm xuy mao dùng xong cần mài ngay !”, tức là trong Tánh Diệu Trạm được Tổng Tŕ vậy.

Tổng Tŕ tánh chẳng động th́ thường lắng đọng. Phàm, tánh lặng trong, bản nhiên thanh tịnh, toàn khắp pháp giới, vốn không động lay, lặng mà chẳng phải lặng, chẳng đồng với tĩnh-chết, nước đọng, nên gọi là Tịch Diệu.

Cái Định Tâm Trụ này là “Khi Định th́ Huệ ở tại Định”, hoàn toàn chẳng liên can ǵ với cái thuyết “Trước Định sau Huệ, trước Huệ sau Định” do sức người tu tŕ.

Ngài Trí Hoàng ban đầu ra mắt Ngũ Tổ, sau đó ở trong am ngồi thiền suốt hai mươi năm.

Ngài Huyền Sách, đệ tử của Lục Tổ, đến thăm, hỏi rằng : “Ông ở đây làm ǵ vậy ?”

Đáp : “Nhập định”.

Ngài Sách nói : “Ông nói nhập định, là có tâm nhập hay không có tâm nhập ? Nếu không tâm nhập th́ tất cả vô t́nh cỏ cây, ngói đá cũng là đắc định. Nếu có tâm nhập th́ tất cả hữu t́nh các loài hàm thức cũng đều đắc định”.

Ngài Hoàng nói : “Chính khi tôi nhập định chẳng thấy có tâm “Có-Không”.

Huyền Sách nói : “Chẳng thấy có cái tâm Có-Không, đó là thường định, nào có xuất nhập ! Nếu có xuất, có nhập ắt chẳng phải là Đại Định”.

Trí Hoàng không đáp được.

Giây lâu hỏi rằng : “Thầy ông là ai ?”

Ngài Sách đáp : “Thầy tôi là Lục Tổ”.

Trí Hoàng hỏi : “Ngài Lục Tổ lấy ǵ làm thiền định ?”

Huyền Sách đáp : “Thầy tôi nói rằng : “Cái Diệu Trạm Viên Tịch, thể dụng như như. Năm Ấm vốn Không, sáu Trần chẳng có. Chẳng xuất chẳng nhập, chẳng định chẳng loạn. Tánh thiền không trụ, ĺa trụ thiền tịch. Tánh thiền vô sanh, ĺa sanh thiền tưởng. Tâm như hư không, cũng không có cái lượng hư không”“.

Ngài Trí Hoàng nghe nói vậy, bèn đến ra mắt Lục Tổ, kể lại hết sự việc.

Lục Tổ nói : “Quả đúng như vậy. Ông chỉ Tâm như hư không, chẳng giữ không kiến, ứng dụng không ngại, động tĩnh vô tâm, t́nh phàm Thánh mất, Năng Sở đều tiêu. Tánh Tướng như như, không lúc nào mà chẳng là Định”.

Trí Hoàng ngay đó đại ngộ, cái tâm sở đắc trong hai mươi năm trọn chẳng có ảnh hưởng ǵ. Đêm ấy ở Hà Bắc(), quan dân nghe trên không có tiếng nói “Hoàng Thiền Sư ngày nay đắc Đạo !”

Ngài trở về Hà Bắc khai hóa cho bốn chúng.

Lại có vị tăng hỏi thiền sư Hiển Đoan : “Lắng đọng lặng trong th́ như thế nào ?”

Tổ Đoan nói : “Chẳng phải là chỗ an thân lập mạng của thầy Xà Lê”.

Hỏi : “Như sao là chỗ an thân lập mạng của học nhân này ?”

Đáp : “Mây có thế ra núi, nuớc không tiếng vào khe”.

Ngay đây hiểu được th́ hằng vắng lặng mà chẳng ĺa hằng tỏ soi. Đủ biết Định Huệ là pháp môn không hai vậy.

 

Kinh : “Ánh sáng của Định phát ra vào sâu tánh sáng, chỉ có tiến chớ không lui, gọi là Bất Thối Tâm.

Thông rằng : Do Huệ vào Định, Định ấy chân chánh. Do Định phát sáng, cái sáng đó thâm sâu. Cái sáng không do định lực sanh th́ nông cạn, không có gốc nên chẳng thể vào sâu. Nay Định Huệ giúp nhau nên tánh sáng càng thấu suốt, có chỗ nhỏ nhiệm nào mà chẳng soi, có chỗ mật nhiệm nào mà chẳng tột, cho nên có thể t́m đường hướng thượng. Tiến tới không thôi, chỉ có tiến không có lui, đủ để thấy ánh sáng ấy là sâu xa vậy. Nếu có chút chẳng sáng th́ phải có ư thối lui. Địa vị chẳng thối này do Vô Minh từ vô thủy bị đào thải gần hết, không thể bị chao động lầm lạc, cho nên chẳng thể lui sụt vậy.

Ngài Càn Phong thượng đường rằng : “Pháp Thân có ba loại bệnh, hai loại ánh sáng. Mỗi mỗi cần phải thấy suốt mới hiểu việc về nhà ngồi yên. Cần biết lại c̣n có hướng thượng nhất khiếu nữa”.

Ngài Vân Môn bước ra hỏi : “Người trong am cớ sao không biết chuyện ngoài am ?”

Tổ Phong ha hả cười lớn.

Vân Môn thưa : “Đó cũng là chỗ nghi của kẻ học nhơn này.”

Tổ Phong nói : “Ông là cái tâm hạnh nào đó ?”

Vân Môn nói : “Cũng xin Ḥa Thượng giải quyết cho”.

Tổ Phong nói : “Ngay đây cần cái ǵ thêm nữa mới hiểu chỗ ngồi yên ?”

Ngài Vân Môn cất tiếng : “Dạ, dạ”.

Ngài Thiên Đồng nêu ra rằng : “Ngồi kẹt, bệnh hết thuốc chữa. Dùng kẹt, ánh sáng chẳng thấu thoát. Dầu cho tung hoành ngang dọc, toàn chuyển nhất-cơ cũng là chưa biết c̣n một cái Hướng thượng nhất khiếu. C̣n được cái địa vị ngồi yên đấy chăng ? Rốt cùng, sương trăng tối, mặc nhiên rớt đầu khe”.

Vân Môn thật là người trong cửa, c̣n chẳng biết việc ngoài cửa bởi v́ đắc “Địa vị ngồi yên”. Nếu chưa đến chỗ phần hạn của Vân Môn th́ phải hướng về câu nói của Tổ Càn Phong nhai nhấm một phen mới rơ đường mạch chân thật của Bất Thối Tâm.

 

Kinh : “Tâm an nhiên tiến tới, giữ ǵn chẳng mất, giao tiếp với khí phần của mười phương Như Lai, gọi là Hộ Pháp Tâm.

Thông rằng : Định Huệ dung nhau vào bất sanh diệt. Tâm mà không cái tâm, tiến mà không chỗ tiến. Một niệm tương ưng, không có tạo tác nên nói là an nhiên. Chưa đến chỗ an th́ c̣n mượn sự nỗ lực ǵn giữ. Đă đến chỗ an th́ ǵn giữ chẳng mất vậy.

Nói rằng chẳng mất là chẳng mất vật ǵ ? Giữ ǵn là giữ ǵn việc ǵ ? Đây là mạng mạch của Chư Phật, xuyên suốt mười phương. Nay ta đă được Tổng Tŕ, ắt mạng mạch của Chư Phật là ở ta, tinh thần có thể thông nhau, khí phần tự nhiên giao tiếp. Khí phần của ta giao tiếp với Phật, đó là ta hộ tŕ Chánh Pháp của Như Lai. Khí phần của Phật giao tiếp với ta, đó là Phật hộ tŕ Chánh Pháp của ta. Đến chỗ này th́ Tư Hoặc về ba cơi hết sạch, ấy là Chánh vị của sáu Căn thanh tịnh vậy. So với Đại Phẩm là tương đương với Phật Địa, nên nói là “Chỗ hộ niệm của Chư Phật”.

Xưa, Đức Lục Tổ giặt áo trên tảng đá bỗng có một nhà sư đến lễ bái, bạch rằng : “Tên là Phương Biện, người xứ Tây Thục, mới rồi ở Nam Ấn mộng thấy Tổ Sư Đạt Ma phú chúc rằng “Phương Biện hăy qua ngay Trung Thổ, ta truyền Chánh Pháp Nhăn Tạng từ Đại Ca Diếp và y Tăng-Già-Lê nay đă đến đời Thứ Sáu ở Thiều Châu Tào Khê, ông đến đó mà chiêm lễ”. Phương Biện này từ xa đến mong được thấy y bát của Tổ Sư truyền lại”.

Lục Tổ bèn đưa cho xem.

Đây là một chứng nghiệm về khí phần giao tiếp.

Ngài Phong Huyệt ban đầu đến Tổ Hoàng Long.

Tổ Long hỏi : “Sừng đá xuyên đường mây, ư nghĩa ấy thế nào ?”

Ngài Huyệt đáp : “Ráng hồng lồng tượng ngọc. Ngăn che chiếu đầu sông”.

Tổ Long nói : “Theo nhau đến vậy”.

Ngài Huyệt nói : “Ḥa Thượng nói nho nhỏ !”

Ngài Đầu Tử tụng rằng :

“Chỗ tối châu ngời vô giá treo

Đêm khuya định nắm mộc nhân() xeo

Ai ngờ lại bị trâu bùn thấy

Nuốt trọn ráng hồng sóng biếc theo”.

Nhà nghề gặp nhau th́ chưa từng chẳng lấy sự hộ tŕ trân trọng mà khuyên gắng. Chỗ này cũng có thể thấy tâm hộ pháp của chư vị vậy.

 

Kinh : “Giữ ǵn tâm giác sáng có thể dùng diệu lực xoay Từ Quang của Phật lại nơi ḿnh và hướng về Phật mà an trụ, như hai tấm gương ánh sáng đối nhau, trong ấy các bóng nhiệm mầu trùng trùng tương nhập, gọi là Hồi Hướng Tâm.

Thông rằng : Xoay Từ Quang của Phật lại là xoay Quả mà hướng về Nhân vậy. Hướng về Phật mà an trụ là xoay Nhân mà hướng về Quả vậy. Quả, Nhân một niệm khế hợp th́ ánh sáng giao nhau, nhập vào nhau, chỗ nhiệm mầu này khó dùng lời lẽ tỏ bày. Chỉ có cái diệu lực chứ chẳng liên quan đến công phu. Ánh sáng nhân tâm Từ mà hiển, chẳng cần phương tiện. Chỗ trụ đồng với Phật, nên không c̣n thứ bậc. Bổn Giác và Thủy Giác hai cái Giác dung ḥa lẫn nhau, ví như ánh sáng đối nhau trong hai tấm gương. Có cái diệu lực này mới có diệu ảnh này. Giữ ǵn tâm Giác sáng, không trở lại cái biết hư vọng th́ cái Minh này là Diệu Minh vậy. Diệu Minh minh diệu, một tức tất cả, tất cả tức một, diệu ảnh trùng trùng dung nhập vào nhau. Nói là diệu ảnh th́ chẳng phải ảnh của tiền trần hay pháp trần. Ở đây, ảnh trộn lẫn trong ánh sáng, ánh sáng cũng ḥa lẫn nơi ảnh, tương tự Một Trí Đại Viên Cảnh vậy.

Xoay Trí Phật làm trí ḿnh, xoay trí ḿnh về trí Phật, tâm tâm chế nhau, gần như đồng với Phật há chỉ có khí phần giao tiếp thôi ư !

Tổ Quy Sơn một hôm bảo các học tṛ tŕnh ra chỗ hiểu biết.

Tổ nói : “Ngoài Thanh-Sắc, cùng ta thấy nhau”.

Ngài Ngưỡng Sơn qua ba lần tŕnh lời đều nói : “Như hai mặt kính soi nhau, trong đó không có h́nh tượng”.

Tổ Sơn nói : “Lời này chân chánh nhưng ta phải mà ông chẳng phải, v́ đă sớm lập h́nh tượng rồi”.

Ngưỡng Sơn lại hỏi Tổ : “Con tinh thần tối tăm, đối đáp vụng về. Chưa rơ Ḥa Thượng khi ở với Sư Ông Bách Trượng tŕnh lời ra sao ?”

Tổ Quy Sơn nói : “Khi ở với Tiên Sư Bách Trượng, ta tŕnh lời như vầy : “Như trăm ngh́n gương sáng soi h́nh tượng, bóng sáng chiếu nhau, trần trần, sát sát, mỗi mỗi chẳng mượn nhau”“.

Ngài Ngưỡng Sơn liền lễ tạ.

Hai vị tôn túc khéo nói Lăng Nghiêm. Một đằng như hai tấm gương ánh sáng đối nhau. Một đằng như diệu ảnh trùng trùng tương nhập. Hợp lại mà nói, ư nghĩa mới đầy đủ.

Tổ Tuyết Phong thượng đường : “Cần rơ việc này, như gương xưa trên đài, (người) Hồ đến Hồ hiện, Hán đến Hán hiện”.

Ngài Huyền Sa ra khỏi chúng, nói : “Bổng gặp gương sáng đến th́ thế nào ?”

Tổ Phong nói : “Hồ, Hán đều ẩn”.

Ngài Huyền Sa nói : “Gót chân lăo Ḥa Thượng c̣n chưa chấm đất !”

Biết được v́ sao Ngài Huyền Sa không chịu lời Tổ Tuyết Phong th́ biết ngay chỗ Ngài Ngưỡng Sơn lễ tạ Tổ Quy Sơn vậy.

 

Kinh : “Tâm quang thầm xoay lại, được chỗ thường lắng đọng Vô Thượng Diệu Tịnh của Chư Phật, an trụ vô vi, được không bỏ mất gọi là Giới Tâm Trụ.

Thông rằng : Tâm quang thầm xoay lại, hướng về Phật mà an trụ được thường lắng đọng tịch diệu của Chư Phật, đối cảnh mà chẳng động. Được chỗ Vô Thượng Diệu Tịnh của Phật th́ giao thiệp với trần mà chẳng nhiễm. Đây là Tự Tánh Thiên Chân Phật, vô vi chân thật vậy. An trụ trong đó th́ không tạo không làm, không chứng không đắc. Phàm có được ắt có mất, không được th́ không mất. Có mất th́ cần dùng Giới. Không mất th́ đâu cần dùng Giới. Tự Tánh vô vi, tức đó là Giới. Giới mà không có chỗ Giới, đó là Chân Giới. Giới này tại tâm quang, chỗ âm thầm xoay lại mà gọi là mật v́ không thể lấy ư thức đo lường, há có thể nói đồng với Giới Luật tầm thường sao ? Tức Giới tức Định, tức Giới tức Huệ, chỉ một thể mà khác danh thôi.

Xưa, Ngài Thạch Đầu ban đầu đến Tổ Thanh Nguyên tham lễ.

Tổ Nguyên nói : “Ông chốn nào đến ?”

Đáp : “Tào Khê”.

Tổ Nguyên nói : “Đem được cái ǵ đến vậy ?”

Đáp : “Chưa đến Tào Khê cũng chẳng mất”.

Tổ Nguyên nói : “Nếu như thế, đến Tào Khê làm ǵ ?”

Đáp : “Nếu không đến Tào Khê, sao biết là chẳng mất”.

Ngài Thạch Đầu lại nói : “Đại Sư ở Tào Khê có biết Ḥa Thượng không ?”

Tổ Nguyên nói : “Nay ông có biết tôi chăng ?”

Đáp : “Biết th́ lại làm sao biết được ?”

Tổ Nguyên nói : “Loài có sừng tuy nhiều mà một con kỳ lân là đủ rồi vậy”.

Về sau, Tổ Dược Sơn một hôm đang ngồi trên tảng đá, Ngài Thạch Đầu hỏi : “Ở trong ấy làm ǵ thế?”

Ngài Sơn nói : “Một vật cũng chẳng làm”.

Ngài Đầu nói : “Như thế là ngồi chơi (nhàn tọa) vậy”.

Ngài Sơn nói : “Nếu ngồi chơi tức là làm”.

Ngài Đầu : “Ông nói chẳng làm là chẳng làm cái ǵ ?”

Ngài Sơn nói : “Ngàn Thánh cũng chẳng biết”.

Ngài Thạch Đầu nhân đó dùng kệ ca ngợi rằng :

“Xưa nay cùng ở chẳng hay danh

Nhậm vận cùng nhau chỉ thế hành

Từ cổ Thánh Hiền c̣n chẳng rơ

Phàm phu há biết, nhọc lăng xăng”.

Ngài Đơn Hà tụng rằng :

“Huyền vi cùng tận vốn an nhiên

Nếu cho y rộng tám vạn thiên

Trăng in sông lặng, nào tăm cá

Đâu mệt ông câu thả lưới nôm”.

Xem chỗ nói “Chẳng làm” của Ngài Dược Sơn, chỗ nói “Chẳng mất” của Ngài Thạch Đầu th́ rốt ráo chẳng thể đo lường hiểu biết, ấy khá mật nhiệm vậy. Có thể qua cửa ải này bèn được chỗ thường lắng đọng vô thượng diệu tịnh của Phật, có thể gọi là Giới Tâm Trụ.

 

Kinh : “Trụ giới tự tại có thể dạo khắp mười phương, đến đâu tùy nguyện, gọi là Nguyện Tâm Trụ.

Thông rằng : Trụ Giới tự tại th́ quên luôn cái ǵ là Giới. Thường lắng đọng nơi Chân Tịnh, thích ǵ mà chẳng được, nên có thể đi dạo khắp mười phương, đến đâu tùy nguyện. Trong Viên Giáo của Thiên Thai Tông, nếu chưa đoạn Vô Minh th́ sanh sang cơi Đồng cư, gọi là Nguyện Sanh, quả là phù hợp với đoạn kinh này. Thiên Thai Tông lại nói hàng Thập Tín ra khỏi Giả Quán mà làm lợi ích cho chúng sanh. Đoạn này nói “Dạo khắp mười phương” th́ cũng hợp với nghĩa ấy.

Thiền sư Thủ Sơn Niệm vào giờ Ngọ, ngày mồng Bốn, tháng Chạp năm Thứ Ba niên hiệu Thuần Hóa, thượng đường nói bài kệ :

“Năm nay sáu mươi bảy

Già bệnh tùy duyên qua tháng ngày

Năm nay ghi nhớ việc năm sau

Năm sau nhớ rơ sáng hôm nay”.

Đến ngày tháng của năm sau không sai chạy, thượng đường từ biệt đại chúng, rồi nói bài kệ :

“Thế giới bạch ngân vàng sắc thân

T́nh với vô t́nh cùng Nhất Chân

Sáng, tối hết rồi đều chẳng chiếu

Mặt trời sau Ngọ trọn bày thân”.

Rồi an tọa mà tịch.

Đệ tử của Ngài Phần Dương Chiểu có t́nh cố cựu với Doăn Lư Hầu ở phủ Long Đức. Hầu sai người đến chùa Thừa Thiên mời Ngài. Sứ giả ba phen mời không được, bị phạt nên muốn được Ngài cùng đi.

Ngài cười rằng : “Cái nghiệp của lăo tăng là chẳng ra khỏi chùa ba mươi năm nay rồi. Nếu đi th́ phải có trước sau, cần ǵ cùng một lúc !”

Rồi bảo thiết trai, chuẩn bị hành lư và bảo đại chúng : “Lăo tăng đi đây, người nào theo được ?”

Một vị tăng bước ra thưa : “Con theo được”.

Ngài bảo : “Mỗi ngày ông đi mấy dặm ?”

Vị tăng đáp : “Năm mươi dặm”.

Ngài nói : “Ông theo ta chẳng được !”

Lại có một vị tăng bước ra, nói : “Con theo được”.

Ngài bảo : “Mỗi ngày ông đi mấy dặm ?”

Vị tăng đáp : “Bảy mươi dặm”.

Ngài nói : “Ông cũng theo ta chẳng được”.

Vị thị giả bước ra nói : “Con theo được, Ḥa Thượng đến đâu con đến đó”.

Ngài bảo : “Ông theo được đó”.

Nói xong Ngài bảo với sứ giả rằng : “Tôi đi trước nghe”. Rồi vui vẻ ngồi tịch. Vị thị giả liền đứng mà tịch.

Đây chẳng phải là “Đến đâu tùy nguyện” ư ? Chẳng phải đă chứng Thập Tín th́ chưa dễ đến chỗ này. Tin là chân thật không hư vọng, v́ tương ưng với Thật Tế Lư Địa vậy. Nên có câu : “Chỉ một sự thật này, dư hai ắt chẳng Chân”. Ban đầu ắt Dục Ái cạn khô, giữ tâm rỗng sáng rồi sau mới có thể vào Chân Tánh Diệu Viên. Chân Tánh phát hóa, tập khí nhỏ nhiệm đều dung thông. Lại nhờ Định Huệ mà giữ ǵn, lấy sự Hộ Tŕ mà tiến tới; xoay Từ Quang của Phật, được Tịnh Giới của Phật. Từ đó, sanh vào nhà Như Lai, mà chỗ đi tùy nguyện vậy. Thập Tín chẳng phải là Thập Trụ nhưng tại sao đều gọi là Trụ ? Bồ Tát Vô Trước lập ra mười tám địa vị, phán định địa vị trước sau của kinh Kim Cương, do đó bậc Sơ Trụ cũng được gọi là Trụ, v́ y vào Trí Vô Trụ, vĩnh viễn chẳng bị thối chuyển, nên được cái tên Trụ.

 

III. THẬP TRỤ

Kinh : “Anan, người thiện nam đó dùng phương tiện chân thật phát được mười cái tâm ấy. Tâm tinh phát huy mười cái Dụng xen lẫn vào nhau, viên thành một tâm, gọi là Phát Tâm Trụ.

Thông rằng : Từ Chân Diệu Viên trùng phát Chân Diệu, đây gọi là phương tiện chân thật. Dùng phương tiện chân thật mà phát được mười thứ Tín Tâm này. Tin ấy là Chân. Chân ấy là Tin, không dung chứa niệm nào khác xen tạp vào, th́ cái Tâm ấy tinh thuần vậy. Sự tinh minh của tâm tự phát ánh sáng. Hoặc Định hoặc Huệ, hoặc Giới hoặc Nguyện, mười cái Dụng xen lẫn vào nhau : ngay trong Định mà Huệ, Giới đều sẵn đủ, ngay nơi Giới mà Định, Huệ đều tṛn đầy. Tóm lại, là phát minh cái Bổn Lai, hướng nơi Phật mà an trụ, nên gọi là “Viên thành một tâm”. Mười cái Dụng chưa tṛn th́ tâm lượng chưa đầy, hẳn phải mười cái Dụng viên thành mới có thể gọi là Phát Tâm Trụ.

Ngài Thiên Thai Trí Giả lấy mười Tâm Anh Lạc (chuỗi ngọc) đối với mười quán pháp Đại Thừa, ước định Sơ Trụ của Viên Giáo, tỏ đủ mười Đức th́ ư nghĩa cũng phù hợp nhau.

Xưa, Đức Lục Tổ canh ba vào thất, Đức Ngũ Tổ lấy áo cà sa che quanh không để người thấy, nói cho kinh Kim Cang, đến câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”(), Lục Tổ ngay nơi lời nói đại ngộ, rơ tất cả muôn pháp chẳng ĺa Tự Tánh, bèn bạch cùng Ngũ Tổ:

“Nào ngờ Tự Tánh vốn tự thanh tịnh

Nào ngờ Tự Tánh vốn chẳng sanh diệt

Nào ngờ Tự Tánh vốn tự sẵn đủ

Nào ngờ Tự Tánh vốn không động lay

Nào ngờ Tự Tánh sanh ra muôn pháp”.

Đức Ngũ Tổ biết đă ngộ Bổn Tánh, nói rằng : “Chẳng rơ Bổn Tâm, học pháp vô ích. Như rơ Bổn Tâm ḿnh, thấy Bổn Tánh ḿnh th́ gọi là trượng phu, thầy của Trời, Người, là Phật”.

Cho nên viên thành một tâm, như chỗ ngộ của Đức Lục Tổ mới có thể nói là Phát Tâm Trụ.

 

Kinh : “Trong tâm phát sáng, như ngọc lưu ly trong sạch, ở trong hiện chói sắc vàng ṛng. Dùng cái diệu tâm trước kia bước đi thành địa vị, gọi là Trị Địa Trụ.

Thông rằng : Chỗ thấy rơ ràng mới có thể bước đi. Chỗ thấy không rơ ràng dầu có cất bước đi nữa cũng chẳng phải là un đúc Tự Tánh, chỉ là chạy theo việc ngoài, ví như cất nhà trên đất người khác, đối với ta có dính dáng ǵ ?

Cái “Trong tâm phát sáng” đây tức là Vô Sư Trí, Tự Nhiên Trí, từ trong Pháp Giới Tánh mà hiện bày, như ngọc lưu ly trong sạch, ở trong hiện chói sắc vàng ṛng. Thấy rất chân thật, ngộ rất thấu suốt, chỗ thấy cùng pháp không hai nhưng chỗ hành chưa tới. Từ đây ǵn giữ, từ đây bước đi. Dùng mười thứ tâm mầu nhiệm trước kia, mỗi mỗi tự thân hành đạo, thân tâm như nhất, bước bước vững vàng như đất. Hễ cất nhà th́ trước sửa sang nền đất. Đây là chỗ bắt đầu khởi bước, nên gọi là Trị Địa Trụ.

Thiền sư Vân Cư Ứng thượng đường : “Người xưa nói “Muốn kham giữ việc này cần hướng về đảnh núi chót vót mà đứng, đáy bể thăm thẳm mà đi mới có đôi chút hơi hám”. Bằng các ông chưa rơ đại sự hăy nên dẫm bước trên đường huyền”.

Có nhà sư hỏi : “Thế nào là chỗ bước đi của người hướng thượng ?”

Tổ Cư nói : “Thiên hạ thái b́nh”.

Lại có nhà sư hỏi thiền sư Quảng Pháp Viện Nguyên : “Từ xưa các Thánh hướng chỗ nào mà đi ?”

Tổ Nguyên nói : “Đầu đường chữ thập (+)”.

Hỏi : “Thế tức là hư khuyết vậy”.

Đáp : “Biết ông chưa đến đất đai ấy”.

Hỏi : “Đến rồi th́ sao ?”

Tổ nguyên nói : “Nhà thường cơm nước”.

Cho nên lấy cái chỗ mà các vị tôn túc gọi là dẫm bước th́ rơ Trị Địa Trụ. Cái dẫm bước này thật nhiệm mầu vậy.

 

Kinh : “Tâm địa biết khắp, đều được tỏ rơ, dạo đi mười phương, được không ngăn ngại, gọi là Tu Hành Trụ.

Thông rằng : Tâm, do đâu mà biết là Địa ? Địa, do đâu mà biết là Tâm ? Tâm ấy là Diệu Tâm. Hạnh ấy là Diệu Hạnh. Trí ấy là Diệu Trí vậy. Lư, Hạnh, Trí ba Đức viên dung mới có thể nói là Tâm Địa biết khắp, sáng tỏ chẳng mờ, rơ ràng thường biết. Tâm tức là Hạnh, Hạnh tức là Tâm, dạo đi mười phương, có ǵ ngăn ngại. Đă không ngăn ngại nào cần dùng đến tu hành, mà ở đây gọi là Tu Hành Trụ ? Một là dẫm bước trên Thật Tế, không giữ bám chấp, nên lấy sự dạo đi làm Tu. Một là nắm chặt cái tâm sáng tỏ bèn là ngăn ngại, nên lấy sự không ngăn ngại làm Tu. Thật ra, là Hành mà không chỗ Hành, Tu mà không chỗ Tu vậy.

Thiền sư Thạch Sương chỉ dạy đại chúng rằng : “Hàng sơ cơ chưa rơ đại sự trước cần biết nắm cái đầu th́ cái đuôi tự đến”.

Ngài Sơ Sơn bước ra, hỏi : “Thế nào là đầu ?”

Tổ Sương nói : “Cần biết ngay đang có”.

Ngài Sơ hỏi : “Thế nào là đuôi ?”

Tổ Sương nói : “Hết sạch hiện giờ”.

Hỏi : “Có đầu không đuôi th́ sao ?”

Đáp : “Mửa được vàng ṛng c̣n làm ǵ nữa ?”

Hỏi : “Có đuôi không đầu th́ sao ?”

Đáp : “Vẫn c̣n nương dựa”.

Hỏi : “Được ngay đầu đuôi tương xứng th́ thế nào ?”

Đáp : “Y chẳng làm cái hiểu biết, cũng chưa cho là y có đó !”

Về sau có nhà sư hỏi thiền sư Cửu Phong Kiền : “Thế nào là đầu ?”

Tổ Phong đáp : “Mở mắt chẳng hiểu biết”.

Hỏi : “Thế nào là đuôi ?”

Đáp : “Chẳng ngồi sàng muôn năm”.

Hỏi : “Có đầu không đuôi th́ thế nào ?”

Đáp : “Rốt là chẳng quư”.

Hỏi : “Có đuôi không đầu th́ thế nào ?”

Đáp : “Tuy no mà không có sức”.

Hỏi : “Được ngay đầu đuôi tương xứng th́ thế nào ?”

Đáp : “Con cháu đắc lực, trong nhà chẳng biết”.

Ngài Cửu Phong hiểu được ư Tổ Thạch Sương như từ cùng một ấn in ra.

Ngài Thiên Đồng tụng rằng :

“Quy th́ tṛn, củ() th́ vuông

Dùng th́ làm, bỏ th́ cất

Vụng chậm loài chim nương ổ, quanh quẩn thứ dê đụng rào

Ăn cơm nhà người, nằm giường của ḿnh

Mây kéo đổ mưa, móc kết thành sương

Chỉ ngọc qua lỗ kim vừa hợp, tơ dài chẳng dứt ruột thoi ra

Gái-đá máy ngừng, hề, màu đêm sắp Ngọ

Người gỗ chuyển đường, hề, bóng nguyệt dời khuya”.

Bài tụng này đầu đuôi tương xứng. Phải Tu như thế, Hành như thế mới có thể tương ưng cùng pháp môn Viên Đốn.

 

Kinh : “Hạnh đồng với Phật, lănh nhận khí phần của Phật, như thân trung ấm tự t́m cha mẹ. Cái âm tín thầm thông vào ḍng giống Như Lai, gọi là Sanh Quư Trụ.

Thông rằng : Hạnh đồng với Phật là từng phần Chân Trí b́nh đẳng với Cứu Cánh Trí. Nhận khí phần của Phật là từng phần Chân Lư b́nh đẳng với Cứu Cánh Lư. Đoạn trước nói : “Khí Phần giao tiếp” th́ c̣n là hai, Đến đây, vào ḍng giống Như Lai th́ cơ hồ hợp làm một vậy.

Thân Trung Ấm là cái Ấm này đă hết mà cái Ấm kia chưa sanh, ở khoảng giữa hai cái Ấm này, lơ lững giữa hư không bốn mươi chín ngày tự t́m cha mẹ. Nghiệp Duyên tương tự th́ đến thai sanh. Chỗ này là âm tín thầm thông, chẳng phải do suy tính t́m cầu. Quyền trí như cha, thực trí như mẹ, nhậm vận tương hợp, chẳng mượn công sức, cái quả đức âm thầm bằng nhau. Đâu thể biết sự tự nhiên nhi nhiên, do đó như âm như thầm mới có thể vào ḍng giống Như Lai.

Nói là Sanh Quư cũng giống như Vương Tử c̣n trong thai mà ngôi vị đă khác thường dân, nên nói rằng Quư. Quư ở chỗ đốn chứng Vô Thượng Đệ Nhất Pháp Môn vậy.

Tổ Động Sơn có họa đồ Ngũ Vị Vương Tử. Một là Đản Sanh. Hai là Triều Sanh. Ba là Mạt Sanh. Bốn là Hóa Sanh. Năm là Nội Sanh. Tất cả đều dùng để phát minh cơ duyên hướng thượng.

Tổ Thạch Sương tụng về “Ngũ Vị Vương Tử Đồ” như sau :

Một là Đản Sanh :

Sang cả tự nhiên vốn chẳng công

Đức hợp Càn Khôn nuôi thịnh ḍng

Đầu đuôi một giống không sai khác

Cung phân sáu trạch (nhà) cũng đồng tông

Trên ḥa dưới kính, âm dương thuận

Cộng khí (phần) liền cành, khí lượng đồng

Muốn rơ Đản Sanh Vương-Tử-Phụ

Vút ra lồng bạc hạc thong dong.

 

Hai là Triều Sanh

Khổ học t́nh đời luận khó b́

Ra rồi phàm sự đă vô vi

Thơ thành năm chữ, ba đông tuyết

Bút phẩy tơ hào, bốn biển mây

Công chứa muôn pho nên thời thánh

Một ḷng trung hiếu giúp minh quân

Mặn chua chẳng phải sanh hay (biết) được

Nào nhọc bảng vàng hiển đại công.

 

Ba là Mạt Sanh

Nương lâu hang hốc dụng công phu

Giường cỏ cửa cây giữ chí cô (đơn)

Nghe, thấy mười năm tâm tự chứa

Một thân đông hạ, áo y không

Trong lặng mỉm cười ba thu ư

Thanh khổ cao danh thượng triết đồ

Nên nghiệp cao khoa đền chí cũ

So ra quan tướng chẳng ai bằng

 

Bốn là Hóa Sanh

Nương phần đế mệnh để truyền tŕ

Muôn dặm sơn hà hiển chánh uy

Mặt trời đỏ bóng ngừng cơi dưới

Mây dồn gió mát lúc oi nồng

Thấp cao há bỏ tôn ti lệnh

Năm khố xa gần biết phục sinh

Tay cầm diệu ấn biên cương lặng

Ngôi trời nào lộ chút cơ vi

 

Năm là Nội Sanh

Thẳm chốn cửu trùng há lại tuyên

Khoác xấu xa để hiển diệu truyền

Chỉ thờ một đấng trời đất quư

Theo kia các đạo tự phân quyền

Tử La màn khép, vua tôi cách

Hoàng Các rèm buông, cấm chế toàn

V́ ngươi chốn chốn cung thần mến

Mượn lá vàng ngưng nín khóc liền

 

Có nhà sư hỏi Tổ Thụy Nham : “Thế nào là Vương Tử Đản Sanh ?”

Tổ Nham nói : “Thâm cung dẫn chẳng ra”.

Ngài Đầu Tử tụng rằng :

“Quư lạ thiên nhiên hẳn có th́

Vườn Xuân sáu viện ít tương tùy

Nửa đêm sao hợp thiên luân khác

Đuốc chiếu trong cung lặng rủ rèm”.

Cho nên một đường Sanh Quư là tông phong của Tào Động, rất là miên mật. Chẳng vào thất này khó cùng nói năng.

 

Kinh : “Đă vào Đạo Thai, chính ḿnh nhờ được sự nuôi sống của Tánh Giác, như Thai đă thành, tướng người không thiếu gọi là Phương Tiện Cụ Túc Trụ.

Thông rằng : Thánh Thai đă thành th́ không chỉ nhận cái khí phần mà chính ḿnh c̣n được sự nuôi sống của Tánh Giác, tiếp nối mạng mạch của Phật, ứng cơ tiếp vật, đủ đầy phương tiện. Tuy chưa đến chỗ viên măn, nhưng cũng cụ thể chi tiết, như người ở trong thai, tướng mạo đầy đủ. Tướng mạo hiển bày để có thể thấy được, đó thuộc về phương tiện ứng dụng, nên gọi là Phương Tiện Cụ Túc Trụ.

Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn đại sư, người ở xứ Hoàng Mai Kỳ Châu. Kiếp trước là đạo giả Tài Tùng ở Phá Đầu Sơn, từng hỏi Đức Tứ Tổ : “Có thể nghe được đạo pháp chăng ?”

Tổ đáp : “Ông đă già, có nghe được rồi làm sao rộng hóa ? Nếu sanh lại được th́ tôi c̣n chờ ông”.

Đạo giả bèn đi, đến bờ sông, thấy một cô gái đang giặt áo, chắp tay hỏi rằng : “Ở nhờ được chăng?”

Cô gái nói : “Tôi có phụ huynh, có thể đến đó mà xin”.

Nói rằng : “Đồng ư tôi mới dám đi”.

Cô gái gật đầu ưng chịu. Đạo giả bèn quay gậy mà đi.

Cô gái là con út nhà họ Châu, khi về nhà th́ có thai. Cha mẹ rất xấu hổ, đuổi đi. Cô gái không chỗ nương tựa, ngày th́ quay tơ mướn trong xóm, tối th́ ngủ nhờ trong quán tiệm. Rồi sanh ra một đứa con trai, cho đó là chẳng lành, nên đem ném xuống một rạch nước đục. Sáng ngày thấy trôi ngược trở lên, khí phách tươi tốt, rất kinh sợ, vớt lên nuôi nấng. Đứa bé theo mẹ đi xin ăn, người làng gọi là thằng bé không họ.

Có hôm, gặp một vị trí giả than rằng : “Đứa bé này thiếu mất bảy tướng tốt nữa, nên chẳng bằng Như Lai”.

Sau này, gặp Đức Tứ Tổ, Tổ hỏi : “Cậu bé tánh (họ) ǵ ?”

Đáp rằng : “Tánh (họ)ï th́ có, nhưng chẳng phải tánh (họ) thường”.

Tổ hỏi : “Là tánh (họ) ǵ ?”

Đáp rằng : “Là tánh Phật”.

Tổ hỏi : “Con không có tánh (họ) ư ?”

Đáp rằng : “Tánh Không vậy”.

Tứ Tổ biết là pháp khí, bảo thị giả đến chỗ ở bà mẹ để xin cho Ngài xuất gia. Bà mẹ v́ duyên cũ, nên không cản trở, cho theo làm đệ tử, về sau nối ngôi Tổ.

Ngài Thiên Đồng tụng rằng :

“Hoàng Mai quả chín, sen trắng hoa khai

Hỏi, chỉ họ Phật, thân khác phàm thai

Y truyền Nam Lănh người đem mất

Tùng lăo Tây Sơn, trở lại đây

Hai lớp túi da thành nên chuyện

Một bầu trăng gió lặng bụi đời”.

Ngài Thủy Am tụng rằng :

“Hẹn đi, Tài Tùng, ấy lăo nhơn

Trở lui vui pháp cậu đồng chân

Thân có mẹ sanh, cha Không Tánh

Linh miêu ngoài kiếp chẳng phạm xuân”.

Nếu đạo giả chưa đến Phương Tiện Cụ Túc Trụ th́ làm sao đến đi tự do, gần được đầy đủ tướng tốt Như Lai ?

 

Kinh : “Dung mạo như Phật, tâm tướng cũng đồng, gọi là Chánh Tâm Trụ.

Thông rằng : Dung mạo ví dụ cho sự ứng dụng, tâm tướng ví dụ cho Chân Trí. Dù cho bề ngoài giống nhau mà bên trong hơi khác th́ chẳng phải Chánh Tâm vậy. Chánh Tâm cũng khó nói ra, v́ phải phàm Thánh đều quên, T́nh hết sạch, Thể hiện bày, mới có thể nói là Chánh.

Thiền sư Nam Tháp Quang Dũng lên miền Bắc gặp Tổ Lâm Tế rồi trở lại hầu Tổ Ngưỡng Sơn.

Tổ Sơn hỏi : “Ông đến làm ǵ ?”

Đáp : “Ra mắt thân cận Ḥa Thượng”.

Tổ Sơn hỏi : “Có thấy Ḥa Thượng chăng ?”

Đáp : “Dạ, thấy”.

Tổ Sơn nói : “Ḥa Thượng sao giống con lừa ?”

Đáp : “Con thấy Ḥa Thượng cũng chẳng giống Phật”.

Tổ Sơn nói : “Nếu chẳng giống Phật th́ giống cái ǵ ?”

Đáp : “Nếu có chỗ giống th́ đâu khác con lừa”.

Ngài Ngưỡng Sơn rất kinh ngạc, nói : “Phàm Thánh đều quên, t́nh dứt, thể lộ. Ta lấy chỗ này để xét nghiệm người, hai mươi năm nay không người rơ thấu. Ông giữ ǵn đi”.

Ngài Ngưỡng Sơn thường chỉ sư mà nói với người khác : “Ông ấy là nhục thân Phật vậy”.

Xem đây th́ “Dung mạo như Phật, tâm tướng cũng đồng”, chỉ có Ngài Quang Dũng là gần đó vậy.

 

Kinh : “Thân Tâm hợp thành, ngày càng tăng trưởng, gọi là Bất Thối Trụ.

Thông rằng : Địa vị Bất Thối Tâm() ở trước chỉ sự vào sâu trong Tánh Sáng, có tiến không có lùi, th́ chỉ mới nói về phương diện Tâm. C̣n địa vị Bất Thối Trụ ở đây là Thân Tâm hợp thành, ngày càng tăng trưởng, là tiến tới gồm cả trong lẫn ngoài. Tức là ở địa vị trước đây, dung mạo, tâm tướng thoải mái, nhàn hạ mà chờ tự tăng trưởng, chứ chẳng phải chứa công dồn hạnh mà so sánh được.

Có nhà sư nêu lên bài kệ của thiền sư Ngọa Luân :

“Ngọa Luân có tài khéo

Hay dứt trăm tư tưởng

Đối cảnh, Tâm chẳng khởi

Bồ Đề ngày tăng trưởng”.

Đức Lục Tổ nghe xong, nói rằng : “Kệ này chưa rơ Tâm Địa, nếu nương theo đó mà tu hành th́ càng thêm trói buộc.

Nhân đó chỉ bày bằng bài kệ :

“Huệ Năng không tài khéo

Chẳng đoạn trăm tư tưởng

Đối cảnh, tâm tâm khởi

Bồ Đề nào tăng trưởng”.

Ngài Thiên Đồng nêu ra rằng : “Hoa Quỳ hướng nhật, tơ liễu tùy phong”.

Ôi, một khiếu hướng thượng, chẳng tăng chẳng giảm, chỉ v́ thức t́nh tiêu ma chưa hết nên thấy có tăng trưởng, có thối sụt đó thôi. Nếu có cái Thấy nơi chỗ chẳng tăng chẳng giảm mà xu hướng theo đó, liền đồng như hoa Quỳ hướng theo mặt trời. Nếu có cái Thấy nơi chỗ chẳng tăng chẳng giảm mà bỏ quên đi, liền đồng như tơ liễu tùy theo gió. Như vô tâm đối với cả hai, tùy thời ăn cơm mặc áo, nuôi lớn Thánh Thai, mới được gọi là Bất Thối Trụ.

 

Kinh : “Linh tướng của mười thân, cùng lúc đầy đủ, gọi là Đồng Chân Trụ.

Thông rằng : Mười Thân là Bồ Đề Thân, Nguyện Thân, Hóa Thân, Lực Thân, Trang Nghiêm Thân, Uy Thế Thân, Ư Sanh Thân, Phước Thân, Pháp Thân và Trí Thân vậy. Linh Tướng đầy đủ so với “Tướng người không thiếu” ở trước th́ đă viên măn. Tuy cả hai đều đầy đủ cái Thể mà ở đây đă thành đứa bé, nên gọi là Đồng Chân Trụ.

Thiền sư Phần Dương Chiêu thượng đường rằng : “Phàm thuyết pháp, cần phải đủ mười Trí Đồng Chân. Nếu không đủ mười Trí Đồng Chân th́ tà chánh chẳng rơ, tăng tục chẳng rành, không thể làm bậc tai mắt cho trời, người để quyết đoán phải quấy. Như chim bay giữa không mà găy cánh, như bắn tên mà đứt dây cung. Cánh găy chẳng thể bay lên không, dây cung đứt bắn chẳng trúng đích. Dây cung chắc, cánh cứng th́ đích bắn hay hư không đều thấu suốt. Thế nào là mười Trí Đồng Chân ? Xin chỉ ra cùng quư Thượng Tọa. Một là Đồng Nhất Chất(). Hai là Đồng Đại Sự(). Ba là Tổng Đồng Tham(). Bốn là Đồng Chơn Chí(). Năm là Đồng Biến Phổ(). Sáu là Đồng Cụ Túc(). Bảy là Đồng Đắc Thất(). Tám là Đồng Sanh Sát. Chín là Đồng Âm Hống(). Mười là Đồng Đắc Nhập().

Ngài lại nói : “Cùng với người nào Đồng Đắc Nhập ? Cùng với ai Đồng Âm Hống ? Thế nào là Đồng Sanh Sát ? Vật ǵ Đồng Đắc Thất ? Cái ǵ Đồng Cụ Túc? Cái ǵ là Đồng Biến Phổ ? Người nào Đồng Chân Chí ? Ai có thể Tổng Đồng tham ? Cái ǵ Đồng Đại Sự ? Vật nào Đồng Nhất Chất ? Có chỉ ra được chăng ? Chỉ ra được th́ chẳng tiếc từ bi. Chỉ không ra th́ chưa có con mắt tham học vậy. Cần thiết chọn lấy, biết rơ phải quấy cái mặt mũi hiện tại. Chẳng thể đứng lâu, trân trọng!”

Mười Trí Đồng Chân này chỉ bày tỏ sự việc bên phía Trí Thân. Mười thân mà đầy đủ lại phải càng nhập vào chỗ vi diệu. Tuy thế, tất cả chỉ là một thể Bồ Đề, tùy chỗ khác tên mà thôi. Như riêng có chỗ đặc sắc th́ làm sao có thể “Cùng Lúc Đầy Đủ” ư ?

 

Kinh : “Thành đủ h́nh hài, ra khỏi thai, chính ḿnh là Phật Tử, gọi là Pháp Vương Tử Trụ.

Thông rằng : Tự ḿnh thọ nhận khí phần của Phật, vào ḍng giống Như Lai, lần hồi thành thai, tiến tới “Dung Mạo”, tiến tới “Tăng Trưởng”, tiến tới “Đồng Chân” mới được h́nh thể hoàn thành mà ra khỏi thai làm Pháp Vương Tử. Đă nhập Phật Tri Kiến mà c̣n được bảo nhậm như thế mới càng sáng càng suốt, thay Phật hoằng hóa. Sự thành tựu quả là không dễ dàng vậy.

Ngài Xá Lợi Phất tự miệng Phật sanh, từ Pháp hóa sanh làm trưởng tử của Phật. Ngài là Trí Huệ Đệ Nhất, từ nhiều kiếp đến nay chứ chẳng phải là sức lực một sớm một chiều vậy.

Tổ Quy Sơn đang ngủ, Ngài Ngưỡng Sơn đến thăm hỏi. Tổ bèn quay mặt vào vách.

Ngài Ngưỡng nói : “Ḥa Thượng sao được như vậy ?”

Tổ Quy Sơn ngồi dậy bảo : “Ta vừa có một giấc mộng, ông thử suy đoán giùm ta xem !”

Ngài Ngưỡng Sơn bèn đem một thau nước đến cho Tổ rửa mặt.

Lát sau, Ngài Hương Nghiêm cũng đến thăm lễ.

Tổ Quy Sơn nói : “Ta vừa có một giấc mộng, Huệ Tịch đă suy đoán giùm ta rồi, ông suy đoán giùm ta xem nào !”

Ngài Nghiêm bèn rót một chén trà bưng tới.

Tổ Quy nói : “Chỗ kiến giải của hai ông vượt cả Ngài Thu Tử()”.

Ôi, trí huệ như Ngài Xá Lợi Phất mà c̣n lại vượt qua th́ há chẳng phải “Thành đủ h́nh hài, ra khỏi thai” mà c̣n “Lại ra khỏi thai” nữa ư ?

 

Kinh : “Cốt cách đă thành người lớn, như vị Quốc Vương phân công ủy nhiệm các việc nước cho vị Thái Tử, khi vị Thế Tử trưởng thành, Sát Lợi Vương kia bày ra lễ Quán Đảnh, gọi là Quán Đảnh Trụ.

Thông rằng : Vị Pháp Vương Tử v́ phương tiện, tâm tướng đều giống như Phật, đủ sức nối tiếp địa vị Phật, thay Phật làm việc cho nên lấy ví dụ Quốc Vương và Thái Tử, cũng như Sát Lợi Vương và thế tử bày ra lễ Quán Đảnh.

Con Quốc Vương gọi là Thái Tử, con Chư Hầu gọi là Thế Tử. Cốt cách đă thành người lớn, sắp được phó thác ngôi vua, cũng tương tự như Lễ Đội Mũ. Dùng nước biển lớn rưới trên đầu để biểu trưng rằng làm vua th́ nên dùng các bậc Trí, như biển thu nạp trăm sông. Dùng nước biển là dùng tất cả nước vậy. Đây chỉ lấy việc nước nhà phân công ủy nhiệm, khiến nắm lấy mà lo liệu chứ chẳng phải chánh thức giao phó ngôi báu để được “Tức Chân” vậy.

Bởi địa vị này thầm đủ các đức, đủ sức phân hóa mười phương mà làm Phật sự nên gọi là Quán Đảnh Trụ. Đến hàng Thập Địa, hạnh viên măn, gần với bực Đẳng Giác, mới có thể chánh thức được giao phó chức vị Phật. V́ thế, Pháp Vân Địa gọi là Quán Đảnh Bồ Tát, đó là Tức Chân vậy, chẳng c̣n trụ nơi trụ.

Vị Tăng hỏi Tổ Tào Sơn : “Thế nào là sư tử ?”

Tổ Sơn đáp : “Các thú chẳng thể gần”.

Hỏi : “Thế nào là sư tử con ?”

Đáp : “Nuốt mất cha mẹ”.

Hỏi : “Đă là các thú chẳng thể gần v́ sao lại bị con nuốt ?”

Đáp : “Há chẳng nghe nói : “Con mà gầm rống, tổ phụ đều mất sạch” ư ?”

Hỏi : “Mất sạch rồi th́ thế nào ?”

Đáp : “Toàn thân về với cha”.

Hỏi : “Chưa rơ khi tổ mất th́ phụ về chỗ nào ?

Đáp : “Chỗ nào cũng mất hết”.

Hỏi : “Vậy sao mới vừa nói “Toàn thân về với cha” ?”

Đáp : “Thí như con vua hay thành việc của cả nước”.

Tổ lại nói : “Thầy Xà Lê, nơi chuyện này, chẳng được vướng hẹp. Ngay như bây giờ, trên cành khô lại tung ra một ít hoa !”

Đây là từ trong Thể khởi ra cái Dụng, đó gọi là Diệu Trạm vậy.

Ông Tư Mă Đầu Đà từ Hồ Nam đến, thưa với Tổ Bách Trượng rằng : “Vừa rồi ở Hồ Nam, tôi có t́m được một ngọn núi tên là Đại Quy. Đó là chỗ ở của vị Thiện Tri Thức của một ngàn năm trăm đồ chúng vậy”.

Tổ Trượng nói : “Lăo tăng ở được chăng ?”

Đầu đà đáp : “Chẳng phải chỗ ở của Ḥa Thượng”.

Tổ hỏi : “Sao vậy ?”

Đầu đà đáp : “Ḥa Thượng là người xương mà kia thuộc về núi thịt, giả sử có ở th́ đồ chúng chưa đủ ngàn người”.

Tổ nói : “Trong chúng của ta không có ai ở được sao ?”

Đầu đà đáp : “Xin chờ xem qua đă !”

Khi ấy Ngài Hoa Lâm Giác đang làm Đệ Nhất Ṭa. Tổ Trượng bảo thị giả mời đến rồi hỏi : “Người này th́ sao ?”

Ông Đầu Đà mời Ngài tằng hắng một tiếng và đi vài bước; rồi nói : “Không được”.

Tổ Trượng lại bảo gọi Ngài Quy Sơn khi ấy đang làm Điển Ṭa.

Đầu Đà vừa thấy bèn nói : “Đây chính là chủ nhân của Quy Sơn vậy”.

Tổ Trượng đêm đó gọi Ngài Quy Sơn vào thất, phó chúc rằng : “Ta hóa duyên ở đây. Thắng cảnh Quy Sơn ông nên ở đó để nối tiếp Tông ta, rộng độ lớp sau”.

Ngài Hoa Lâm Giác hỏi : “Con ở địa vị đầu chúng, sao vị Điển Ṭa lại được trụ tŕ ?”

Tổ Trượng nói : “Nếu có thể ở trước đại chúng nói được một lời xuất cách th́ sẽ trụ tŕ”.

Liền chỉ cái tịnh b́nh hỏi : “Không được gọi là tịnh b́nh th́ ông gọi là cái ǵ ?”

Ngài Hoa Lâm nói : “Không thể gọi là khúc bộng cây vậy !”

Tổ Trượng bèn hỏi Ngài Quy sơn, Ngài đá đổ tịnh b́nh, bỏ đi ra.

Tổ Trượng cười rằng : “Đệ Nhất Ṭa thua mất ḥn núi rồi vậy”.

Ngài Quy Sơn bèn sang núi kia ở, hoằng hóa thịnh hành đất Hồ Nam, gọi là Quy Ngưỡng Tông.

Nếu chẳng có cái thấy xuất cách làm sao có thể rộng hóa một phương, phân công ủy thác Phật sự như vị Thái Tử một nước được ? Hàng Thập Tín c̣n phải bỏ Vọng về Chân, hàng Thập Trụ th́ thuần Chân vậy, chỉ v́ sức lực chưa sung măn nên có giai cấp như thế.

 

IV. THẬP HẠNH

Kinh : “Anan, người thiện nam đó đă thành Phật Tử, đầy đủ Diệu Đức của vô lượng Như Lai, tùy thuận mười phương, gọi là Hoan Hỷ Hạnh.

Thông rằng : Diệu Đức của Như Lai là “Tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên”. Ở chốn trần ai mà chẳng nhiễm nên gọi là Diệu. Đă thành con Phật đầy đủ Diệu Đức. Can gậy tùy thân, gặp trường sân khấu th́ làm tṛ múa men, nên có thể tùy thuận với mười phương, lấy cái vui thích của thiền mà tự vui chơi. Hoan Hỷ Hạnh này tùy thuận với chúng sanh, phương tiện mà tiếp dẫn chính là muốn hiển phát Diệu Đức của Như Lai vậy. C̣n cứ một bề nương bám th́ Diệu sao được ?

Tổ Triệu Châu trên tám mươi tuổi mà vẫn c̣n hành cước. Một hôm đến chỗ Ngài Vân Cư.

Tổ Cư nói : “Già cả lắm rồi sao chẳng t́m cái chỗ trụ ?”

Tổ Châu nói : “Chỗ nào trụ được ?”

Tổ Cư nói : “Trước núi có cái nền chùa xưa”.

Tổ Châu nói : “Ḥa Thượng tự trụ lấy !”

Sau lại đến Ngài Thù Du.

Tổ Thù Du nói : “Già cả lắm rồi sao chẳng t́m cái chỗ trụ ?”

Tổ Châu nói : “Hướng về chỗ nào trụ ?”

Tổ Du : “Già cả lắm rồi mà chỗ trụ cũng chẳng biết !”

Tổ Châu : “Ba mươi năm giỡn đùa cỡi ngựa, hôm nay lại bị lừa đá !”

Ngài Vân Cư Tích nói : “Chỗ nào là chỗ Triệu Châu bị lừa đá ?”

Sau này, có vị tăng từ giă Tổ Triệu Châu.

Tổ hỏi : “Đi đâu vậy ?”

Vị tăng đáp : “Kẻ học nhơn định đến phương Nam học Phật Pháp”.

Tổ Châu dựng đứng cây phất tử, nói : “Chỗ có Phật chẳng được trụ, chỗ không Phật chạy mau qua ! Ngoài ba ngàn dặm gặp người, không được đề ra sai quấy !”

Vị tăng nói : “Như vậy th́ không đi ư ?”

Tổ Châu nói : “Hái bông Dương (Liễu), hái bông Dương !”

Ngài Thiên Đồng nêu ra rằng : “Đắm không, vướng vết; tay chạm mũi đâm đều chưa phải là chỗ nạp tăng tựu đến. Liền phải : chớ vào hàng quán của người, chớ ngồi giường phản ai khác. CHÁNH chẳng lập huyền, THIÊN chẳng nương vật, mới có thể nắm-ở, buông-đi, có phần tự tại !

Chỉ có Triệu Châu đầy đủ Diệu Đức của vô lượng Như Lai, có phần tự do nên thường hành Hoan Hỷ Hạnh, tuy già mà chẳng mỏi mệt.

 

Kinh : “Khéo hay lợi ích cho hết thảy chúng sanh, gọi là Nhiêu Ích Hạnh.

Thông rằng : Sự lợi ích cho chúng sanh tuôn ra từ Tâm Từ Bi. Có Tâm Từ Bi th́ có khả năng ấy, mà lại khéo làm được. Trí đă soi khắp, Dụng cũng viên dung. Ḷng Từ cứu độ chúng sanh mà không có ư. Chẳng kể là tài thí hay pháp thí, chỉ cốt quy về sự lợi ích cho chúng sanh hữu t́nh mà thôi, nên gọi là Nhiêu Ích Hạnh.

Thiền sư Ngưu Đầu Dung đă được Đức Tứ Tổ thọ kư, từ đó hoằng pháp rất thịnh hành. Vào niên hiệu Vĩnh Huy đời Đường, đồ chúng thiếu lương thực, Ngài sang xứ Đơn Dương quyên gạo, cách núi tám mươi dặm. Tự ḿnh vác bao gạo một thạch tám đấu, sáng đi chiều về cung cấp cho ba trăm vị tăng hai bữa ăn mỗi ngày. Đây thật là hay hành Nhiêu Ích Hạnh vậy.

 

Kinh : “Tự giác, giác tha, được không-chống-trái, gọi là Vô Sân Hận Hạnh.

Thông rằng : Tự giác để giác tha. Có Trí thế gian, có Trí xuất thế gian, có Trí xuất thế gian thượng thượng để đem ra nói cho người, được không có sự chống trái, như đá thả xuống nước. Đó là chỗ nói “Gặp rồi nối truyền, cùng đẹp ḷng để hiểu rơ”, nên không có sân hận. Cái sân hận này chẳng phải t́nh phàm có thể so sánh. Hận là hận tất cả chúng sanh đều có Trí Huệ, Đức Tướng của Như Lai mà chẳng tự biết; mà sân là giận rằng ta chưa độ thoát cho hết.

Đức Lục Tổ có đoạn kệ :

“Muốn định hóa độ người

Cần tự có phương tiện

Chớ khiến người có nghi

Tức là Tự Tánh hiện

Phật pháp tại thế gian

Chẳng ĺa thế gian ; Giác

Ĺa thế kiếm Bồ Đề

Khác nào t́m sừng thỏ

Chánh Kiến là xuất thế

Tà Kiến là thế gian

Tà, Chánh dẹp hết ráo

Bồ Đề Tánh rơ ràng”.

Thế nên dùng Trí Thế Gian mà giác tha đó là cái nhân Trời, Người; dùng Trí Xuất Thế Gian mà giác tha là nhân Bồ Đề. Độc chỉ cái Vô Thượng Bồ Đề, cả hai đều phá bỏ mới gọi là Thượng Thượng Trí. Dùng cái Trí ấy mà giác tha là cái nhân Đẳng Giác, Diệu Giác vậy.

 

Kinh : “Theo loài mà sanh ra, cùng tột vị lai, ba đời đều b́nh đẳng, mười phương đều thông suốt gọi là Vô Tận Hạnh.

Thông rằng : Theo loài mà sanh ra, được Ư Sanh Thân, tùy theo loài mà dạy dỗ, dọc cùng ba đời, ngang khắp mười phương, không đâu chẳng phải là chỗ tự giác, giác tha. Đó là chỗ nói “Hư không có tận, nguyện ta vô cùng” vậy.

Vào đời Thái B́nh, niên hiệu Hưng Quốc, ở Kiện Dương có nhà sư tên Biện Thông dạo chơi vùng núi Ngũ Đài. Vị Thượng Tọa chùa này đă già, bị trong chúng khinh rẻ, riêng một ḿnh Biện Thông vẫn cung kính hầu hạ. Khi Biện Thông sắp về kinh sư, vị tăng già đó đưa cho ông một bức thơ, bảo t́m Bộc Hạ ở phía Bắc thành đưa giùm.

Giă từ đi, Ông Thông lén mở ra xem th́ không viết ǵ khác, chỉ có mấy chữ : “Độ chúng sanh xong, gấp gấp trở lại, nếu gượng ở lại sợ rằng tạo nghiệp”. Biện Thông rất kinh hoảng, vội dán thơ lại.

Khi đến xứ Quảng Tế, bên bờ sông nghe trẻ kêu Bộc Hạ.

Ông hỏi : “Bộc Hạ ở đâu ?”

Đứa bé chỉ con heo lớn nằm dưới chân bức tường phía Tây ngă tư đường, cổ có mang cái ṿng vàng. Biện Thông hỏi : “Bác đồ tể là ai ?”

Đáp : “Nhà Triệu Sinh”.

Hỏi : “Sao tên là Bộc Hạ ?”

Đáp : “V́ chỉ ăn bạc hà nên trẻ trong xóm gọi thế. Mỗi ngày tôi làm thịt cả trăm, ngàn con, heo chạy tứ tán khó bắt, mà hễ con heo này dẫn tới th́ ngoan ngoăn chịu chết, nên nuôi đă mười lăm năm nay !”

Ông bèn lấy thơ đưa cho nó, con heo ăn liền rồi bỗng đứng lên như người mà chết.

Do đây mà xét, th́ Ứng Thân phân hóa theo loài làm sao mà suy lường được ? Giới hạn nào cho cùng ? Chúng sanh vô tận, sự độ thoát cũng vô tận, nên gọi là Vô Tận Hạnh.

 

Kinh : “Tất cả hợp thành đồng nhất, thảy thảy pháp môn đều không sai lầm, gọi là Ly Si Loạn Hạnh.

Thông rằng : Đă đầy đủ Diệu Đức của vô lượng Như Lai, tự giác, giác tha ích lợi cho đời vô tận, nào có đến nỗi si loạn sai lầm ư ? Bởi thảy thảy pháp môn th́ có đủ thảy thảy tam muội, nên chẳng đủ con mắt pháp phân biệt th́ chẳng thể phân biện. Nay tất cả đều ḥa đồng mà dung hội, được sự không sai lầm. Như Khổng Tử đại thành Tập, Thanh, Nhiệm, Ḥa mà đúng thời đưa ra, th́ vốn lấy cái Trí làm đầu. Trí ví như sự khéo giỏi, chẳng phải là sự gắng sức có thể so sánh, nên không có si loạn, ở ngay sau Vô Tận Hạnh vậy.

Tướng Quốc Bùi Hưu đề tựa cho cuốn thiền Nguyên Chư Thuyên Đô Tập của Ngài Khuê Phong Tông Mậât rằng : “Những môn hạ trong các tông đều có người thấu đạt, nhưng mỗi tông đều theo chỗ tu tập của ḿnh nên dung thông th́ ít mà hạn cục th́ nhiều, nên mấy mươi năm nay pháp Tổ càng băng hoại. Lấy chỗ học được làm cửa nẻo, mỗi mỗi tự khai trương, lấy kinh luận làm giáo mác công kích lẫn nhau. T́nh theo cung tên mà biến cải. Pháp vào nhân ngă mà thấp cao. Phải quấy lăng xăng chẳng thể nào phân biện. Nếu các tông phái mà tranh luận nhau th́ người hậu học càng tăng thêm bệnh phiền năo, nào có lợi ích chi đâu !

“Đại sư Khuê Phong đă lâu than rằng : “Tôi ở thời này không thể làm thinh vậy !”

“Ngài bèn lấy ba thứ giáo nghĩa của Như Lai để ấn chứng cho ba loại pháp môn của thiền tông. Nung chảy thau, mâm, ṿng thành độc một thứ vàng ṛng, khuấy tô lạc, đề hồ thành một vị. Nắm giềng lưới đưa lên th́ mọi chỗ đều thuận theo. Căn cứ vào yếu lư dung hội th́ người đến cùng theo. C̣n sợ hàng học giả khó minh bạch nên lại chỉ thẳng gốc ngọn của nguồn thiền, chỗ ḥa hợp của chân vọng, chỗ ẩn hiển của Không Tánh, chỗ sai khác của giáo nghĩa, chỗ khác của đốn tiệm, chỗ hỗ tương đắp đổi của che đậy và bày tỏ, chỗ sâu cạn của quyền thực, chỗ phải quấy của hạn cuộc và dung thông.

“Như Thầy tôi (Khuê Phong) quả là nâng mặt trời Phật mà soi chiếu mọi ngóc ngách th́ các nghi ngờ, che khuất đều trừ sạch. Thuận tâm Phật mà ban rải Đại Bi, tột kiếp đều được lợi ích. Vậy th́ Đức Thế Tôn là giáo chủ khai mở giáo pháp, Thầy tôi là người dung hội giáo pháp, gốc ngọn phù hợp nhau, xa gần soi rọi nhau. Có thể nói là “Hoàn tất cái công việc một đời truyền giáo của Như Lai” vậy.

“Hoặc có người hỏi : “Từ Đức Như Lai chưa hề có tổng hợp mà thông suốt, nay một phen làm trái với tông thú mà chẳng chịu giữ, bỏ sự quan pḥng mà chẳng chịu trông nom th́ há chẳng trái với Đạo bí tàng thầm hợp ư ?”

“Xin đáp rằng : “Đức Như Lai tuy ban đầu nói riêng ba thừa, về sau mới thông thành một Đạo. Bởi thế trong kinh Niết bàn, Bồ Tát Ca Diếp thưa : “Chư Phật có mật ngữ, không có chỗ chứa giấu bí mật !” Đức Thế Tôn mới khen rằng : “Lời nói của Như Lai mở tỏ rơ ràng, thanh tịnh không che lấp. Người ngu chẳng hiểu, gọi đó là bí mật chứa giấu. Người trí rơ thông th́ chẳng gọi là chứa dấu”. Đây là chứng cớ vậy. Bởi thế Vương Đạo hưng thịnh, th́ cửa nẻo chẳng phải đóng, chỉ cần giữ chốn biên cương. Phật đạo đầy đủ th́ các pháp tự tổng tŕ mà chỉ đề pḥng ma ngoài. Chẳng nên giữ lấy t́nh chấp, mà tranh căi lẫn nhau vậy”.

Như Ông Bùi Hưu, đắc pháp nơi Tổ Hoàng Bá, rơ việc hướng thượng mà lại không bỏ một lối cát đằng của Ngài Khuê Phong quả có thể nói là “tất cả ḥa đồng, được không sai lầm” vậy. Là người sanh trở lại ư ?

 

Kinh : “Ở ngay trong cái Đồng mà hiện ra các cái Khác. Mỗi mỗi Tướng Khác đều mỗi mỗi thấy Đồng, gọi là Thiện Hiện Hạnh.

Thông rằng : Đă ĺa Si Loạn ắt Lư Sự vô ngại. Tức Lư, tức Sự ắt Đồng chẳng ngại Khác vậy. Tức Sự, tức Lư ắt Khác chẳng ngại Đồng. Ở trong thể ḥa đồng, chẳng ngại hiển ra cái Khác. Ở trong chỗ khác tướng, lại mỗi mỗi thấy Đồng. Hiện Đồng, hiện Khác cả hai đều chẳng ngăn ngại nhau. Đó chỉ v́ không si loạn, tách bạch rơ ràng cùng cực mảy tơ mới có thể biến hiện như thế, nên gọi là Thiện Hiện Hạnh.

Tổ Quy Sơn đang cho quạ ăn, quay đầu thấy Ngài Ngưỡng Sơn, bèn nói : “Hôm nay v́ nó mà thượng đường một phen”.

Ngưỡng Sơn : “Con cũng tùy lệ được nghe !”

Tổ Quy : “Nghe việc ấy thế nào ?”

Ngưỡng Sơn : “Quạ kêu tiếng quạ, bồ cắt kêu tiếng bồ cắt !”

Tổ Quy : “Sao lại c̣n thanh sắc ?”

Ngưỡng Sơn : “Ḥa Thượng mới nói ǵ thế ?”

Tổ Quy : “Ta chỉ nói v́ nó mà thượng đường một phen”.

Ngưỡng Sơn : “V́ sao lại gọi là thanh sắc ?”

Tổ Quy : “Tuy nhiên như thế, nghiệm suốt qua rồi th́ không ngại”.

Ngưỡng Sơn : “Đại sự nhân duyên nghiệm ra làm sao ?”

Tổ Quy đưa nắm tay lên.

Ngưỡng Sơn : “Rốt cũng chỉ Đông vẽ Tây”.

Tổ Quy : “Ông vừa hỏi cái ǵ thế ?”

Ngưỡng Sơn : “Hỏi Ḥa Thượng đại sự nhân duyên”.

Tổ Quy : “V́ sao lại gọi là chỉ Đông vẽ Tây ?”

Ngưỡng Sơn : “V́ vướng nơi thanh sắc nên con mới hỏi qua”.

Tổ Quy : “Thật chưa hiểu rơ chuyện này”.

Ngưỡng Sơn : “Như sao là được hiểu rơ chuyện này ?”

Tổ Quy : “Huệ Tịch thanh sắc, lăo tăng Đông Tây”.

Ngưỡng Sơn : “Một mặt trăng ngàn con sông, Thể chẳng phân theo nước !”

Tổ Quy : “Vậy nên thế nào mới được ?”

Ngưỡng Sơn : “Như vàng với vàng rốt không khác sắc, huống có khác tên ?”

Tổ Quy : “Vậy th́ cái đạo lư không có khác tên là thế nào ?”

Ngưỡng Sơn : “Thoi, mâm, trâm, ṿng làm quách cái chậu bồn”.

Tổ Quy : “Huệ Tịch nói thiền như sư tử rống, làm các loài chồn cáo, giả can kinh hoảng tứ tán”.

Xem cha con Quy Ngưỡng tơ lại sợi qua, trong Đồng hiện Khác, trong Khác hiện Đồng, nói Đồng nói Khác như hạt châu lăn trên mâm. Đó là chơn đắc Thiện Hiện Hạnh bí mật tạng. Chẳng phải là bậc mắt sáng th́ có ai biết nỗi !

 

Kinh : “Như thế cho đến mười phương hư không đầy khắp vi trần, trong mỗi mỗi vi trần hiện mười phương thế giới. Hiện vi trần, hiện thế giới, không ngăn ngại nhau, gọi là Vô Trước Hạnh.

Thông rằng : Đây là từ Thiện Hiện Hạnh mà mở rộng ra. Không những Đồng, Khác hỗ tương hiển lộ mà Một, Nhiều cũng hỗ tương dung thông, hiện vi trần, hiện thế giới, trong mười phương giao thiệp lẫn nhau. Trong một vi trần hiện bày mười phương cơi, gọi là hiện thế giới. Ngay chỗ hiện ra cơi không phá hoại h́nh tướng vi trần, gọi là hiện vi trần. Tương tự lưới ngọc Đế Thích trùng trùng, cảnh tượng của sự sự vô ngại. Mới bắt đầu vào cảnh giới này, nên chỉ gần với Vô Trước, chứ chưa đến chỗ nhiệm mầu của tất cả thần hóa giải thoát thuần ṛng chẳng thể nghĩ bàn. Hạnh Vô Trước này th́ Vô Trước cũng không, nên so với cái Vô Trước ở đoạn Bảy Chỗ Trưng Tâm hoàn toàn khác hẳn. Nếu có chút tơ hào cái chẳng bám trước chưa hết sạch th́ không thể gọi là Vô, v́ đă có đối đăi làm sao khỏi ngăn ngại nhau ư ?

Ngày khai đường, có vị tăng hỏi thiền sư Đại Huệ Tông Cảo : “Trời, người tụ hội, trường tuyển Phật mở, Tổ lệnh đang hành, rao bảo thế nào ?”

Tổ Cảo nói : “Chim ngu bay ngược gió”.

Vị tăng hỏi : “Khắp cơi c̣n không nơi t́m thấy. Rơ ràng một điểm giữa ṭa viên”.

Tổ Cảo nói : “Nhơn gian muôn nước chảy về Đông !”

Lại có vị tăng giành bước ra, Tổ Cảo ngăn đứng lại mà nói : “Giả sử nghiền nát trái đất thành vi trần, mỗi mỗi hạt bụi có một cái miệng. Mỗi mỗi miệng đầy đủ tướng lưỡi rộng dài vô ngại, phát ra vô lượng sai biệt ngôn từ. Mỗi mỗi ngôn từ có vô lượng sai biệt diệu nghĩa. Hàng nạp tăng nhiều như số vi trần trên, mỗi vị đều đầy đủ miệng như thế, lưỡi như thế, âm thanh như thế, ngôn từ như thế, diệu nghĩa như thế, cùng lúc đưa ra trăm ngàn vấn nạn, mỗi mỗi vấn nạn khác nhau, chỉ như một tiếng ho hen của lăo tăng là đáp xong hết một lượt. Thừa khi ở tại giữa ấy, làm vô lượng vô biên Phật sự rộng lớn cùng khắp pháp giới. Đó là chỗ nói “Trong một mảy lông hiện thần biến, tất cả Phật cùng thuyết, trải khắp vô lượng kiếp không cùng ngằn mé”. Bèn như thế là xong.

“C̣n làm náo nhiệt trong môn đ́nh, đứng trong chánh nhăn mà xem, đó chính là nghiệp thức mang mang không gốc rễ. Môn hạ của Tổ Sư một điểm cũng chẳng có dùng, huống là gai góc cú chương, đối đáp giỡn đùa. Chẳng những làm mai một tông thừa từ xưa, mà c̣n cười giỡn lỗ mũi nạp tăng. Bởi thế mà nói “Tơ hào vướng niệm, là nhân nghiệp của ba đường. Thoáng chút sanh t́nh là muôn năm bị trói buộc”. Danh Thánh, hiệu phàm đều là tiếng tăm giả dối. Tướng tốt, h́nh hèn đều là huyễn sắc. Các ông cầu theo đó làm sao khỏi mang lụy ? Mà chán bỏ đi lại càng đại hoạn. Hăy xem Thánh xưa bảo dạy như vầy : “Như binh khí quốc gia, bất đắc dĩ mới dùng”. Trên “Việc bổn phận”, không làm ǵ có chuyện ấy.

“Hôm nay sơn tăng rao bày như vậy, thật cũng giống như không mộng mà nói mộng, da thịt lành mà khoét cho thành ghẻ. Bậc hiểu biết mà đến th́ quả đáng ăn gậy. Chỉ v́ nay không có tay hạ được độc thủ ư ? Nếu có th́ có thể báo đáp cái ân không thể báo đáp, cùng chung hoằng hóa vô vi. Như không làm ngược lệnh này, tốt rồi vậy.”

Bổng đưa cây gậy lên, nói : “Đưa ngang kiếm thần toàn chánh lệnh. Thái b́nh hoàn vũ, chém si ngoan !”

Dộng gậy một cái, hét một hét, liền xuống ṭa.

Theo chỗ thấy của Ngài Đại Huệ th́ hiện vi trần, hiện thế giới cũng chưa là kỳ đặc. Đáng nói là “Vô Trước cũng không”.

 

Kinh : “Mọi thứ trước mắt đều là Đệ Nhất Ba La Mật Đa, gọi là Tôn Trọng Hạnh.

Thông rằng : Hiện vi trần, hiện thế giới, hiện thân thể, hiện thuyết pháp đều chẳng ngăn ngại nhau, đều từ trong Tâm Bát Nhă tuôn ra. Sáu Ba La Mật gọi là Đáo Bỉ Ngạn(), chỉ có Bát Nhă là tối cao Đệ Nhất. Bát Nhă là Đại Trí Huệ, vượt tất cả những ǵ tôn quư nhất nên gọi là Tôn Trọng Hạnh. Nếu chỉ nhận thấy, nghe, hay, biết, đuổi theo trần trôi lăn mà cho là diệu dụng, đó là việc phía “Con tôi cái tớ”, “Trước lừa sau ngựa”, chẳng có ǵ là tôn quư.

Tổ Cư nói : “Như người nơi mỗi thứ đều rơ. Nơi mỗi vật đều thông th́ chỉ gọi là người rơ chuyện, rốt cuộc chẳng thể gọi là Tôn Quư. Hăy biết Tôn Quư là một đường tự khác. Tức đó là vật cực quư cực trọng, chẳng được rồi đem hướng về phía Tôn Quư. Hăy biết cái đó chẳng thể nghĩ bàn, chẳng đợi tâm mong. Bởi thế, người xưa nói : “Giống như hai tấm gương, ánh sáng mỗi bên đối nhau, quang minh cùng chiếu, chẳng hề thêm bớt há chẳng phải là một thứ sao ?” C̣n gọi là chuyện phía bên ảnh tượng. Như mặt trời mọc, chiếu sáng thế gian, một phần là sáng tỏ c̣n phần nửa kia gọi là ǵ ? Như nay người chưa rơ được bóng sáng ở nơi đầu cửa, là chuyện nông cạn bên ngoài, mà cho là chuyện trong nhà th́ sao được ?”

Vị tăng hỏi Tổ Vân Cư : “Như sao là chỗ tôn trọng của Sa Môn ?”

Tổ Cư nói : “Chỗ tâm thức chẳng đến”.

Có vị tăng hỏi thiền sư Quảng Lợi Dung : “Ngàn đường bặt nẻo, nghĩ nói chẳng thấu th́ thế nào ?”

Đáp rằng : “Vẫn c̣n là kẻ dưới thềm”.

Hỏi : “Như sao là người trên thềm ?”

Đáp rằng : “Lầu rồng chẳng giở tay”.

Rồi nói : “Thế nào là người tôn quư ấy ? Thử nói xem ! Chớ có ngồi măi trên thiền sàng, gặp người khác th́ chẳng chịu đâu. Bổng bị bậc sáng mắt bức bách liền hướng về trong núi Thiết Vi ẩn ḿnh. Nếu đến cửa Quảng Lợi này phải nói cho được Đệ Nhất Cú, liền mở một mối Đạo, cùng huynh đệ thương lượng”.

Khi ấy có một vị tăng bước ra lễ bái.

Ngài nói : “Sắp nói ấy là chủ tàu bè nước khác, nào hay là người buôn bán xứ này !”

Chỗ này mà chẳng thấu rơ Đệ Nhất Ba La Mật Đa th́ quả khó mà thấy suốt một đường Tôn Trọng rơ ràng như lằn chỉ tay.

 

Kinh : “Như thế viên dung, thành tựu Quy Tắc của mười phương Chư Phật, gọi là Thiện Pháp Hành.

Thông rằng : Ở địa vị trước hiện vi trần hiện thế giới, mọi thứ diệu dụng đều là Đệ Nhất Ba La Mật Đa từ trong chỗ Bất Từ Ngh́ tuôn ra, nên viên dung vô ngại, thành tựu Quy Tắc lợi sanh của mười phương Chư Phật. Quy Tắc ấy là Pháp vậy. Viên dung không dấu vết, đó là Thiện Pháp. Chẳng phải Thiện Pháp th́ không thể độ chúng sanh. Hạnh này đă viên măn, dần dần hướng về Bi Nguyện vậy.

Thiền sư Đại Huệ Tông Cảo thượng đường : “Muốn rơ nghĩa Phật Tánh phải xem thời tiết nhân duyên. Thời tiết đến, Lư ấy tự sáng”.

Ngài dựng đứng cây phất tử mà nói : “Có thấy không ?”

Gơ thiền sáng nói : “Có nghe không ? Thấy, nghe rơ ràng là cái ǵ thế ? Như hướng vào trong ấy đưa ra được th́ ơn vua ơn Phật một lúc đền xong. Nếu chưa như thế th́ Kính Sơn() phá dây leo cho”.

Lại đưa cây phất tử lên mà nói : “Xem đây, xem đây ! Phật Vô Lượng Thọ trên đầu cây phất tử của Kính Sơn, phóng đại quang minh chiếu soi không thể nói, không thể nói, lại ở nơi cơi Phật số vi trần thế giới không nói hết chuyển đại pháp luân, làm vô lượng vô biên Phật sự rộng lớn. Trong đó, dầu phàm dầu Thánh, dầu chánh dầu tà, dầu cỏ dầu cây, dầu hữu t́nh dầu vô t́nh gặp ánh sáng ấy đều đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề. Do đó, Chư Phật ở đây mà đắc th́ đầy đủ Nhất Thiết Chủng Trí. Chư Đại Bồ Tát ở đây mà đắc th́ thành tựu hết các Ba La Mật. Bậc Bích Chi, Độc Giác ở đây mà đắc, ra đời không có Phật, hiện thần thông quang minh. Các vị chúng Thanh Văn kịp tới nghinh đón năm trăm vị A La Hán, ở đây mà đắc, được tám Giải Thoát, đủ sáu Thần Thông. Trời, Người ở đây mà đắc th́ tăng trưởng Thập Thiện. Tu La ở đây mà đắc th́ trừ bỏ kiêu mạn. Địa ngục ở đây mà đắc th́ đốn siêu Thập Địa. Ngạ quỷ, bàng sanh cùng bốn loại sanh, chín cách sanh, tất cả hữu t́nh ở đây mà đắc th́ tùy theo căn tánh đều được thọ dụng.

“Phật Vô Lượng Thọ phóng đại quang minh, làm xong các Phật sự, sau đó dùng nuớc bốn biển lớn rưới lên đỉnh đầu Đức Phật Di Lặc mà thọ kư A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, sẽ nơi ngôi Bổ Xứ làm đại Phật sự.

“Phật Vô Lượng Thọ có thần thông như thế, có tự tại như thế, có oai thần như thế, vào trong ấy, c̣n có biết ân, báo ân hay chăng ? Nếu có, đưa ra cho Kính Sơn này cùng xem. Nếu không, hăy nghe lấy một bài tụng :

“Pháp giới mười phương trong miệng người

Cả thảy pháp giới tức cái lưỡi

Chỉ nhờ chót lưỡi với miệng này

Chúc tôi, ông thọ không hở sót

Đây ức vạn năm nhuần nguồn phước

Như biển rộng sâu đời không cạn

Sư tử hang, sanh sư tử con

Phụng hoàng hẳn xuất Đơn Sơn động

Là tốt là lành khắp chín trời

Cây cỏ côn trùng trọn đẹp vui

Đảnh lễ Bất Khả Tư Ngh́ Phật

Như bầy sao chầu mặt trăng soi

Khiến được rao bày vi diệu kệ

Trong Đệ Nhất Nghĩa nói Thật Chân”.

Đoạn cát đằng dây leo này của Ngài Đại Huệ hiển bày đầy đủ quy tắc của mười phương Chư Phật, đủ làm nghi thức Thiện Pháp cho khắp nơi. Chỉ tiếc là lúc ấy không có một tri âm tương kiến để liền lật ngược thiền sàng, xem coi Ngài c̣n lời nào chỉ dạy !

 

Kinh : “Mỗi mỗi đều là Nhất Chân vô vi thanh tịnh vô lậu, v́ Tánh Bổn Nhiên là như thế, gọi là Chân Thật Hạnh.

Thông rằng : Toàn Tánh là Tu, nên thành Quy Tắc. Toàn Tu là Tánh, nên vốn Vô Vi. Rơ được Tánh vốn Vô Vi bèn chẳng hướng đến Bồ Đề, v́ vốn tự trong sạch. Chẳng trừ phiền năo, v́ vốn tự Vô Lậu. Nhậm vận liền liền, trọn gọi là Thật Hạnh. Nếu một niệm dính vào hữu vi th́ trọn chẳng phải Chân vậy. Hữu vi thuộc về tạo tác, làm sao được là Bổn Nhiên.

Đức Mă Tổ khai thị cho đại chúng rằng : “Đạo chẳng dùng tu, chỉ không ô nhiễm. Sao là ô nhiễm ? Hễ có tâm sanh tử tạo tác hướng theo đều là ô nhiễm. Như muốn hội thẳng vào Đạo th́ b́nh thường tâm là Đạo. Sao là b́nh thường tâm ? Không tạo tác, không thị phi, không nắm bỏ, không đoạn thường, không phàm không Thánh. Kinh nói “Chẳng phải hạnh phàm phu, chẳng phải hạnh Thánh Hiền đó là hạnh Bồ Tát”.

“Chỉ như nay đi, đứng, nằm, ngồi, ứng cơ tiếp vật trọn hết là Đạo. Đạo chính là Pháp Giới, cho đến hằng sa diệu dụng chẳng lọt ra ngoài Pháp Giới. Nếu chẳng như thế sao nói được là Tâm Địa pháp môn ? Sao nói là Vô Tận Đăng ? Tất cả pháp đều là tâm pháp. Tất cả danh đều là tâm danh. Muôn pháp đều từ tâm sanh. Tâm là nguồn gốc của vạn pháp. Kinh nói “Rơ Tâm, thấu suốt nguồn gốc, nên gọi là Sa Môn”.

“Danh b́nh đẳng, nghĩa b́nh đẳng, tất cả các pháp đều b́nh đẳng thuần nhất không tạp. Nếu ở trong giáo môn được tùy thời tự tại, kiến lập pháp giới th́ trọn cả là pháp giới, nếu lập Chân Như th́ trọn cả là Chân Như, nếu lập Lư th́ tất cả pháp trọn là Lư, nếu lập Sự th́ tất cả pháp trọn là Sự. Đưa lên th́ một th́ ngàn theo, Lư-Sự không khác, trọn hết thảy là diệu dụng, không c̣n Lư nào khác, tất cả đều do sự xoay chuyển ứng dụng của Tâm. Thí như bóng trăng có biết bao nhiêu mà mặt trăng chỉ là một cái. Các loại nước có biết bao nhiêu mà Tánh nước vốn là một. Mọi thứ lập thành đều do Nhất Tâm vậy. Kiến lập cũng được, quét sạch cũng được, trọn cả là diệu dụng, đều là nhà ḿnh, chẳng có ĺa Chân Như mà có được chỗ lập. Chỗ kiến lập tức Chân, trọn cả là Chân Thể của nhà ḿnh. Nếu chẳng như thế lại là ai khác ? Tất cả pháp đều là Phật Pháp. Hết thảy các pháp, đó là giải thoát. Giải thoát tức là Chân Như. Các pháp chẳng ra ngoài Chân Như. Đi, đứng, nằm, ngồi chính là hoạt dụng Bất Khả Tư Ngh́, nào đợi thời tiết. Kinh nói “Chốn chốn, nơi nơi ắt đều có Phật”.

“Phật là Năng Nhân, tṛn trí huệ, khéo cơ quyền, hay phá trừ lưới nghi của hết thảy chúng sanh, khỏi ngoài trói buộc của hữu, vô, t́nh phàm Thánh hết tận, Nhân-Pháp đều Không, chuyển pháp luân vô đẳng, siêu vượt số lượng, chỗ làm không ngại, Sự-Lư suốt thông. Như trời nổi mây, thoạt có liền không, chẳng lưu dấu ngại. Cũng như vẽ nước thành chữ, chẳng sanh chẳng diệt. Đó là Đại Tịch Diệt.

“Trong trói buộc() có tên là Như Lai Tạng. Khỏi trói buộc() gọi là Thanh Tịnh Thân. Pháp Thân vô cùng, thể không tăng giảm, lớn được nhỏ được, vuông được tṛn được. Ứng vật hiện h́nh, như trăng trong nước, làu làu vận dụng chẳng gieo mầm rễ. Chẳng hết hữu vi, chẳng trụ vô vi. Hữu vi là cái thường dùng của vô vi. Vô vi là chỗ nương của hữu vi. Không trụ vào chỗ nương nên gọi là Như Không Vô Sở Y.

“Nghĩa tâm sanh diệt cũng là nghĩa Tâm Chân Như. Tâm Chân Như là như gương sáng soi h́nh tượng. Gương ví dụ cho Tâm, h́nh tượng ví dụ cho các Pháp. Nếu tâm bám nắm Pháp tức là dính líu với nhân duyên ở ngoài, đó là nghĩa sanh diệt. Chẳng bám nắm các Pháp đó là nghĩa Chân Như.

“Thanh Văn th́ nghe thấy Phật Tánh; Bồ Tát th́ mắt thấy Phật Tánh. Rơ thấu Vô Nhị gọi là Tánh B́nh Đẳng. Tánh nào có khác nhau, Dụng th́ chẳng đồng. Ở mê là Thức, ở ngộ là Trí. Thuận với Lư là ngộ, thuận với sự là mê. Mê tức là mê Bổn Tâm chính ḿnh. Ngộ tức là ngộ Bản Tánh chính ḿnh. Liền ngộ th́ vĩnh viễn là ngộ, chẳng trở lại mê. Như mặt trời mọc chẳng hợp với tối. Mặt trời Trí Huệ hiện ra th́ chẳng c̣n tối tăm phiền năo.

“Tỏ suốt tâm cùng cảnh giới, vọng tưởng liền chẳng sanh. Vọng tưởng đă chẳng sanh đó là Vô Sanh Pháp Nhẫn. Xưa có, nay có, chẳng mượn tu Đạo, tọa thiền. Không tu, không tọa đó là Như Lai Thanh Tịnh Thiền.

“Như nay mà thấy lư chân chánh này th́ chẳng tạo các nghiệp, tùy phận qua một đời, một thân một áo, ngồi đứng có nhau, Giới Hạnh tăng huân chứa trong nghiệp sạch. Chỉ là như thế, lo ǵ chẳng thông. Các người đứng đă lâu. Trân trọng !”

Đại sư Mă Tổ nói về cái Bản Lai Chân Thật, không mượn tu làm, mà lại không phế bỏ Giới Hạnh tăng huân chứa trong nghiệp sạch. Quả là đắc pháp yếu Viên Đốn.

Mười Hạnh như vậy chẳng rời Mười Trụ ở trước, tùy theo địa vị tiến tới thêm, không Hạnh nào mà chẳng khai thác Tánh Giác, đó là thành thục quả Phật mà thôi.

Trụ, tiếp theo đó là Hạnh chính là muốn chẳng trụ vào chỗ nương-y mà hành Bồ Tát Hạnh, rơ ràng như Đại Sư Mă Tổ chỉ bày. Đó mới là một vị (mùi) Chân Thật Hạnh vậy.

 

V. THẬP HỒI HƯỚNG

Kinh : “Anan, người thiện nam ấy đầy đủ thần thông, thành tựu Phật sự rồi, thuần khiết tinh chân, xa các lỗi nạn. Hiện độ chúng sanh mà diệt dứt các tướng hóa độ. Quày tâm vô vi hướng lối Niết Bàn, gọi là Cứu Hộ Nhất Thiết Chúng Sanh, Ly Chúng Sanh Tướng Hồi Hướng.

Thông rằng : Mười Hạnh đă đủ, hiện trần, hiện sát, Một là Vô Lượng, Vô Lượng là Một, đó là Thần Thông. Hay thành tựu quy tắc của mười phương Chư Phật, đó là Phật sự. Thuần khiết tinh chân chỉ một cái Chân Thật duy nhất, trong sạch không phiền năo, xa ĺa các lỗi nạn ngăn ngại, có thể nói là người tự độ vậy. Cứ thế mà một đường nhắm hướng Vô Vi th́ gọi là người rơ xong, cho nên đảm đương việc độ thoát chúng sanh. Giả sử khi độ chúng sanh mà h́nh tướng hóa độ chưa diệt tức là bám mắc vào Ngă, Nhân, Chúng Sanh, Thọ Giả. Cho nên phải diệt dứt những sự làm vẻ có cứu độ, quày cái tâm vô vi của ta, hướng về hết thảy chúng sanh kia mà cùng bước vào con đường Niết Bàn Tịch Diệt. Tự chứng Niết Bàn, Tánh vốn Vô Vi. Hiện dẫn dắt chúng sanh hướng bước chốn Niết Bàn cũng chỉ là Vô Vi. Nên suốt ngày độ thoát chúng sanh mà thật không có tướng độ nào để đắc. Nếu thấy có người để cứu độ liền dính lấm hữu vi, trái ngược với đường Niết Bàn Tịch Diệt, chẳng trở về được cội gốc quyết định chẳng sanh chẳng diệt vậy. Nên diệt dứt các tướng hóa độ tức gọi là Ly Chúng Sanh Tướng Hồi Hướng. Tướng độ thoát c̣n không có, tướng chúng sanh nào đâu có được ?

Có nhà sư hỏi Tổ Hoàng Bá : “Phật có độ chúng sanh chăng ?”

Tổ Bá nói : “Thật không có chúng sanh để Như Lai độ. Ngă chẳng thể đắc, phi ngă nào đâu để đắc ? Phật, chúng sanh đều chẳng thể đắc”.

Nhà sư hỏi : “Hiện có ba mươi hai tướng cho đến việc độ chúng sanh, sao nói được là không ?”

Tổ Bá nói : “Phàm hễ có tướng đều là hư vọng. Như thấy các tướng chẳng phải tướng liền thấy Như Lai”.

Ông Sơn Nhân tên Sử hỏi thiền sư Khuê Phong : “Các kinh đều nói độ thoát chúng sanh, mà chúng sanh tức phi chúng sanh th́ cớ sao phải nhọc nhằn độ thoát ?”

Tổ Phong đáp : “Chúng sanh nếu là thật có th́ độ thoát hẳn là nhọc nhằn. C̣n đă tự nói “Tức phi chúng sanh” th́ nào chẳng khác độ mà không độ”.

Hợp hai chuyện trên là đủ để chú giải đoạn kinh này.

Lại như Nam Nhạc Huệ Tư đại thiền sư khi nghe Ngài Chí Công sai người đến bảo rằng : “Sao chẳng xuống núi giáo hóa chúng sanh mà cứ một mực làm kẻ “Đưa mắt trông mây” là sao ?”

Ngài nói : “Ba đời Chư Phật bị một cái miệng của ta nuốt ráo th́ c̣n chỗ nào có chúng sanh để độ nữa ?”

Ngài Bảo Giác Nhất tụng rằng :

“Mắt nh́n hơi khói, nằm mây trắng

Kể ǵ dưới núi có càn khôn

Từ đâu lại có chúng sanh độ ?

Một miệng, ba đời Phật, nuốt luôn”.

Ni sư Nhàn Lâm An tụng rằng :

“Một miệng nuốt luôn Phật, chúng sanh

Mảy may chẳng lập, mới rành rành

Đầu cây (gậy) khêu dậy vầng nhật nguyệt

Khua động tam thiên núi biển mờ”.

Như đại sư Huệ Tư() thật đắc Ly Chúng sanh Tướng Hồi Hướng vậy. Há chỉ chứng địa vị Thiết Luân mà thôi ư ?

 

Kinh : “Hoại diệt cái có thể hoại diệt, xa ĺa các sự ĺa, gọi là Bất Hoại Hồi Hướng.

Thông rằng : Hoại diệt cái có thể hoại diệt tức là ĺa chúng sanh tướng. Xa ĺa các sự ĺa tức là chỗ ĺa tướng cũng ĺa bỏ. Hoại diệt các tướng là Sở Không, xa ĺa sự ĺa là Năng Không. Năng Sở đều Không mà Bản Giác chẳng hoại, nên gọi là Bất Hoại Hồi Hướng. Nói là Bất Hoại để mà phân biệt với cái Ngoan Không của Nhị Thừa và Đoạn Kiến của ngoại đạo. Tuy hoại diệt các tướng mà cái Bất Hoại vẫn thường tồn, thế mới là Bất Hoại Hồi Hướng vậy.

Chân thiền sư hỏi Bổn Tịnh thiền sư : “Đạo đă vô tâm th́ Phật có tâm chăng ? Phật và Đạo là một hay là hai ?”

Tổ Tịnh nói : “Chẳng một, chẳng hai”.

Thiền sư Chân hỏi : “Phật độ chúng sanh v́ là có tâm. Đạo chẳng độ chúng sanh v́ là vô tâm. Một độ, một chẳng độ sao lại không hai ?”

Đáp rằng : “Nếu nói Phật độ chúng sanh, Đạo th́ không độ : đó là Đại Đức vọng sanh nhị kiến. Như sơn tăng th́ chẳng thế. Phật là hư danh, Đạo cũng vọng lập, cả hai đều không thực, toàn là giả danh. Trọn trong một cái giả, làm sao phân hai ?”

Hỏi : “Phật và Đạo nếu là giả danh thế ngay khi lập danh đó là ai lập ? Nếu có người lập sao lại nói không ?”

Đáp : “Phật và Đạo nhân tâm mà lập. Suy cho cùng cái tâm lập ra này th́ cũng là không. Cả hai đều chẳng thực, biết như mộng huyễn liền tỏ ngộ cái Bổn Không. Gượng lập hai danh Phật, Đạo đó là kiến giải hàng Nhị thừa”.

Nhơn đó nói bài kệ Vô Tu Vô Tác rằng :

“Thấy Đạo mới tu Đạo

Không thấy lấy ǵ tu ?

Tánh Đạo như hư không

Hư không chỗ nào tu ?

Xem khắp kẻ tu hành

Bươi lửa t́m bọt nước

Hăy xem h́nh gỗ múa

Dây đứt cả thảy ngừng”.

H́nh gỗ múa rối có thể hoại diệt, nhưng người làm cho h́nh gỗ múa rối chẳng thể hoại diệt, nên khi tướng chúng sanh hoại th́ đó là hư không chẳng hoại, chứ chẳng phải ĺa ngoài cái tướng bị hoại diệt mà riêng có cái gọi là chẳng hoại. Ngay hoại là chẳng hoại, nên gọi là Bất Hoại Hồi Hướng.

 

Kinh : “Bản Giác lặng trong như nhiên, Giác ấy bằng cái Giác của Phật, gọi là Đẳng Nhất Thiết Phật Hồi Hướng.

Thông rằng : Hành tướng có thể hoại diệt, nhưng cái Biết sự hoại diệt th́ chẳng hoại. Cái ĺa có thể ĺa, nhưng cái Biết sự ĺa th́ chẳng có ĺa. Đây là Bổn Giác vậy. Lặng trong hợp vào lặng trong, Thức tức là Trí, cũng có thể gọi là lặng trong như nhiên.

Chỗ này nói “Bản Giác lặng trong như nhiên” th́ chẳng phải là chỗ không dao động của Thức lặng yên vậy. Chỉ v́ cái Bổn Giác này chẳng phải là Thức, nên có thể ngang bằng cái Giác của Phật. T́nh phàm Thánh giải tất cả tiêu tan, chỉ c̣n một cái Chân thật, nên có thể bằng ngang với tất cả Chư Phật. Tuy ngang với cái Giác của tất cả Chư Phật, nhưng không phải là Đẳng Giác v́ c̣n sự hồi hướng trong đó, c̣n có sự tiến đến ở trong đó, nên gọi là Đẳng Nhất Thiết Phật Hồi Hướng.

Tổ Hoàng Bá nói : “Bậc Thanh Văn là do âm thanh mà đắc ngộ nên gọi là Thanh Văn. Chỉ là chẳng rơ Tự Tâm, ở trên Thanh Giáo() khởi ra hiểu biết, hoặc do thần thông, hoặc nhờ tướng tốt, ngôn ngữ vận động, nghe có Bồ Đề Niết Bàn, trải qua ba tăng kỳ kiếp tu thành Phật Đạo, đều thuộc về đạo Thanh Văn, gọi là Thanh Văn Phật. Độc chỉ ngay đây tức thời rơ suốt Tự Tâm, xưa nay là Phật, không một pháp khá đắc, không một Hạnh để tu, đó là Vô Thượng Đạo, đó là Chân Như Phật.

“Này người học Đạo, chỉ sợ một niệm có : liền cách xa Đạo. Niệm niệm Vô Tướng, niệm niệm Vô Vi, tức đó là Phật. Này người học Đạo, như muốn thành Phật th́ tất cả Phật Pháp đều chẳng dùng đến chuyện học, độc chỉ học không cầu, không bám mắc. Không cầu th́ tâm chẳng sanh, không bám mắc th́ tâm chẳng diệt. Chẳng sanh chẳng diệt, tức đó là Phật.

“Tám vạn bốn ngàn pháp môn để đối với tám vạn bốn ngàn phiền năo,, đó chỉ là cửa dẫn dắt giáo hóa, vốn thật chẳng có pháp nào. Ĺa tức là pháp; biết ĺa, đó là Phật. Chỉ ĺa tất cả phiền năo th́ liền chẳng có pháp nào để đắc”.

Nếm được mùi vị “Biết ĺa là Phật” của Tổ Hoàng Bá th́ rơ ràng cái ư kinh “Bản Giác lặng trong như nhiên, Giác ấy bằng cái Giác của Phật”.

Lại như Ngài Huệ Siêu hỏi Tổ Pháp Nhăn : “Như sao là Phật ?”

Tổ Nhăn nói : “Ông là Huệ Siêu”.

Vị tăng hỏi Tổ Sơ Sơn : “Như sao là Phật ?”

Tổ Sơn nói : “Sao chẳng hỏi cái lăo già Sơ Sơn ?”

Như lời đáp ấy là quá chừng nhiều. Thảy cốt đề tỉnh Bản Giác, th́ ngay đây b́nh đẳng với Phật.

 

Kinh : “Tinh Chân phát sáng, địa như Phật Địa, gọi là Chí Nhất Thiết Xứ Hồi Hướng.

Thông rằng : Cái Tinh Chân của Bản Giác chẳng phải chỉ là linh nhiệm sáng suốt vững bền mà thôi, lại có thể phát sáng rải bày, bước đi để thành Địa Vị. Địa Vị như Phật Địa, đối với Trị Địa Trụ ban đầu thật khác xa vậy. Có cái Thể của Chân Như toàn khắp pháp giới như thế th́ cũng cùng ngay cái Dụng của Chân Như toàn khắp pháp giới như thế. Cho nên, cái Giác của Phật cùng khắp tất cả chỗ th́ cái Hành của Phật cũng cùng khắp tất cả chỗ. Có chỗ chưa khắp th́ chẳng phải là Phật Địa. Đây chỉ mới có thể như Phật chứ chưa có thể là một với Phật, nên gọi là Chí Nhất Thiết Xứ Hồi Hướng.

Vị tăng hỏi Tổ Lâm Tế : “Thế nào là Tam Nhăn Quốc Độ ?”

Tổ Lâm Tế nói : “Ta cùng ông vào trong quốc độ Tịnh Diệu, mặc áo thanh tịnh, thuyết nói Pháp Thân Phật. Lại vào trong quốc độ Vô Sai Biệt, mặc áo không sai biệt, thuyết nói Báo Thân Phật. Lại vào trong quốc độ Giải Thoát, mặc áo quang minh, thuyết nói Hóa Thân Phật. Tam Nhăn Quốc độ này đây đều là Y Báo biến hóa. Theo các kinh luận gia th́ lấy Pháp Thân làm căn bản, Báo Thân, Hóa Thân là Dụng. Chỗ thấy của sơn tăng th́ Pháp Thân chẳng mượn đến lời nói. Bởi thế cổ nhân nói “Thân (Pháp, Báo, Hóa) y theo nghĩa mà luận, Độ căn cứ nơi Thể mà luận”. Pháp Tánh Thân, Pháp Tánh Độ rơ ràng là pháp kiến lập. Quốc độ y-thông là nắm tay không, là chiếc lá vàng để dối gạt trẻ nít. Trái tật lê, củ ấu sừng hột khô queo th́ t́m nước ǵ đây ? Ngoài tâm không pháp, trong c̣n chẳng thể đắc th́ cầu vật ǵ ?

Thiền sư Thiên Y Hoài thượng đường : “Vô biên cơi Phật, đây kia chẳng cách hở mảy lông. Hăy nói Bất Động Như Lai thế giới Diệu Hỷ thuyết pháp ǵ đó? Bao đời xưa nay thủy chung chẳng ĺa Đương Niệm. Vậy như trong một hội tối sơ Phật Oai Âm Vương độ người nhiều ít ? Như thật là người suốt khắp thử nói xem !”

Giây lâu, Ngài nói : “Đường đi khó ! Đường đi khó ! Đầu núi muôn tầm ông tự thấy !”

Bởi thế, ngộ Pháp Tánh Thân, Pháp Tánh Độ cốt yếu là quay về Vô Vật(), đó là Chân Phật Địa. Nếu có chỗ đắc th́ đă có nơi chốn, làm sao “Đến khắp tất cả chỗ()” ?”

 

Kinh : “Thế giới, Như Lai hỗ tương, dung nhập, được không chướng ngại, gọi là Vô Tận Công Đức Tạng Hồi Hướng.

Thông rằng : Thế giới tức là Chân Như Pháp Giới, thuộc Tướng Phần. Như Lai tức là Chân Như Bản Thể, thuộc Kiến Phần. Kiến Phần và Tướng Phần vốn đồng một nguồn nên tuy Căn Trần phân minh, mà đây kia vẫn là dung nhập. Nêu Kiến Phần th́ Tướng Phần ở ngay trong đó. Nêu Tướng Phần th́ Kiến Phần ở ngay trong đó. Tức Kiến không ǵ chẳng phải là Tướng, tức Tướng không ǵ chẳng phải là Kiến. Thế nên, Thế Giới, Như Lai hỗ tương dung nhập. Vốn không chướng ngại mà chẳng khỏi có chướng ngại, là cái thấy chưa dung thông vậy.

Tinh chân phát sáng đến khắp mọi chốn nhưng vẫn c̣n ở mọi nơi chốn thấy có hai. Nay hỗ tương dung nhập, tinh chân là tất cả mọi chốn, tất cả chốn chính là tinh chân. Tâm, cảnh trọn dung thông, cả hai không ngăn ngại. Lư chẳng ngại Sự, Sựï chẳng cản Lư, đầy ắp tất cả chỗ, nên gọi là Vô Tận Công Đức Tạng.

Vô Lượng Công Đức của mười Hạnh trước chỉ đủ đức ở thân, c̣n Vô Tận Công Đức Tạng này là kho công đức không cùng, dùng mà chẳng hết, lấy ra chẳng cạn, ấy là chỉ cái Biển Tạng Thức Như Lai vậy. Hầu như ngang bằng với Hư Không Tạng Bồ Tát, thân và cơi dung nhập mà hay rộng làm Phật sự, tùy thuận chúng sanh.

Ngài Ngũ Tổ Diễn thượng đường rằng : “Ngàn núi bày xanh, bến liễu rủ vàng, lăo tiều ca hát, ngư ông nhảy múa, sênh phách rộn ràng, chim hát líu lo, người đẹp phấn hồng, công tử phong lưu, mỗi mỗi đều v́ các ông mà phát tỏ cái thượng thượng cơ, mở ra Chánh Pháp Nhăn. Nếu hướng trong ấy mà tiến cử được th́ Kim Sắc Đầu Đà() không chỗ dung thân. Nếu chẳng am hiểu, ăn cháo, nhai cơm, chịu cho ông bảy hang tám lỗ()!”

Lại như Ngài Pháp Đăng nói bài kệ :

“Ai tin Thiên Chân Phật ?

Hưng Bi khắp vạn đường

Bờ xưa, hoa Liêu nở

C̣ trắng đứng băi vàng

Sương rơi sân cỏ mọc

Mây thâu, lạnh trăng khe

Mỗi mỗi : nơi bày chỉ

Tử tế, hăy nh́n xem”.

Đây là Thế Giới, Như Lai chung thành một phiến. Theo đây mà ngộ nhập gọi là Chân Giải Thoát. Dùng công đức này tiếp dẫn chúng sanh, v́ thế giới vô tận nên công đức cũng là vô tận.

 

Kinh : “Ở nơi đồng với Phật Địa, trong ấy mỗi mỗi sanh nhân thanh tịnh. Nương nhân ấy mà phát huy, giữ lấy đạo Niết Bàn, gọi là Tùy Thuận B́nh Đẳng Thiện Căn Hồi Hướng.

Thông rằng : Đồng Phật Địa, đồng thanh tịnh, đồng Niết Bàn sao lại nương nơi nhân mà phát huy mỗi mỗi chẳng đồng ? Đó là do các thiện căn đă trồng trong những đời trước, mỗi cái do sự huân tập mà có đặc tánh riêng. Tánh thiện tuy b́nh đẳng mà do căn (rễ) nảy mầm, nương Nhân chứng Quả mà muôn vật chẳng đồng. Dầu chẳng đồng vẫn không ngại sự tự tu tự ngộ, chứng lấy Niết Bàn. Đúng là chẳng cần cố chấp một pháp môn, mỗi mỗi phải đều theo một lối.

Nói tùy thuận nghĩa là tùy theo căn cơ mà tiếp dẫn, chứ chẳng miễn cưỡng làm chỗ không thể được. Đây mới là quyền nghi lớn để độ khắp chúng sanh vậy.

Ngài Tuyết Phong ở nơi Tổ Động Sơn làm đầu bếp.

Một hôm, đang đăi gạo, Tổ sơn hỏi : “Đăi cát bỏ gạo, hay đăi gạo bỏ cát ?”

Ngài Phong rằng : “Cát gạo đồng thời bỏ”.

Tổ nói : “Đại chúng lấy ǵ ăn ?”

Ngài Phong bèn đậy bồn gạo lại.

Tổ nói : “Theo cái nhân duyên của ông th́ hợp với Đức Sơn”.

Về sau quả nối pháp Tổ Đức Sơn.

Ngài Đầu Tử nêu ra rằng : “Này đại chúng ! Tổ Động Sơn nói như vậy là đạo lư ǵ thế ? Tuy là một sắc Càn Khôn, khốn nỗi núi cao sông rộng. Bởi thế lăo dă này nói “Công phu chẳng tới, chẳng vuông tṛn. Ngôn ngữ không thông chẳng phải bà con”“.

Bèn thay thế, nói : “Đăi cát bỏ gạo, đăi gạo bỏ cát : Cây quế trường sanh không ảnh, trải qua sương tuyết kết trái đều”.

“Đại chúng lấy ǵ ăn : Chim Kim Phụng hái bông ngậm chẳng hết, Ngọc Sô() ăn nhụy lá tươi hoài”.

Tụng rằng :

“Hiện đầy b́nh bát : không một vật

Há đồng Hương Tích hóa đồ ngon

Nhật nguyệt xoay hoài soi chẳng thấu

Người gỗ múa tay hướng ḷ hồng”.

Ngài Đầu Tử rất rành ư chỉ của Tổ Động sơn, biện biệt rất rơ ràng.

Có nhà sư hỏi Ngài Ngũ Tổ Diễn : “Thế nào là chuyện nhà Lâm Tế ?”

Tổ Diễn nói : “Kẻ phạm tội ngũ nghịch nghe sấm sét !”

Hỏi : “Thế nào là chuyện nhà Vân Môn ?”

Đáp : “Cờ hồng sáng ḷe”.

Hỏi : “Thế nào là chuyện nhà Quy Ngưỡng ?”

Đáp : “Dẹp cái bia ngang lối xưa”.

Hỏi : “Thế nào là chuyện nhà Tào Động ?”

Đáp : “Đem thơ chẳng tới nhà”.

Nhà sư làm lễ.

Tổ Diễn nói : “Sao chẳng hỏi chuyện nhà Pháp Nhăn ?”

Đáp : “Để lại cho Ḥa Thượng”.

Tổ Diễn nói : “Người đi tuần phạm tội đi đêm”.

Ở đây, thiện căn của năm Tông, mỗi Tông đều có chỗ khế hợp riêng. Chẳng phải chỉ có Tổ Động Sơn chỉ dạy Ngài Tuyết Phong đến Tổ Đức Sơn mà thôi.

Từ Tổ Huệ An ở Tung Sơn chỉ cho Ngài Nam Nhạc Hoài Nhượng đến ra mắt Đức Lục Tổ, Tổ Thạch Đầu chỉ Ngài Dược Sơn ra mắt Đức Mă Tổ, rồi Đức Mă Tổ chỉ Ngài Đơn Hà đến Ngài Thạch Đầu đều là tùy thuận thiện căn b́nh đẳng, khiến nương nơi nhân mà phát huy, giữ lấy đường Niết Bàn. Nào có từng cố chấp theo riêng một pháp môn để chứng Cực Quả đâu?

 

Kinh : “Chân Căn đă thành, mười phương chúng sanh đều là Bản Tánh của ḿnh. Tánh tṛn vẹn tựu thành, không bỏ sót một chúng sanh, gọi là Tùy Thuận Đẳng Quán Nhứt Thiết Chúng Sanh Hồi Hướng.

Thông rằng : Thiện căn là cái thiện căn ai cũng sẵn đủ. Nương thiện căn này, giữ lấy đường Niết Bàn th́ thiện căn hóa thành Chân Căn vậy. Không c̣n cái Thiện nào để chỉ ra, độc chỉ một cái Chân Thật, Thể Tánh viên dung toàn khắp Pháp Giới, nên chúng sanh mười phương đều là Bản Tánh của ḿnh. Bản Tánh đă tṛn vẹn, đă tự thành tựu, nên gọi là Viên, không ngại mà hội với chúng sanh thành một Thể, nhưng cũng chẳng bỏ mất tướng chúng sanh. Chúng sanh chưa hẳn mỗi mỗi đều thành tựu, nhưng Tánh ta tṛn vẹn th́ không một chúng sanh nào chẳng phải là Phật Tánh. Bởi thế Tánh tṛn vẹn thông suốt tựu thành, cho đến không bỏ sót một chúng sanh nào cả.

Sự Tùy Thuận Đẳng Quán Nhất Thiết Chúng Sanh này th́ chẳng kể người, vật, thiện, ác... dưới đến các loài xuẩn động hàm linh đều có Phật Tánh. Không chỉ tùy thuận b́nh đẳng thiện căn mà thôi, như Ngài Thường Bất Khinh Bồ Tát, gặp ai cũng lễ lạy mà nói : “Tôi chẳng dám khinh các người. Các người đương nhiên sẽ thành Phật”, thật hợp ư chỉ này.

Thiền sư Dục Vương Dụ thượng đường : “Trọn khắp đại địa là con mắt của Sa Môn, khắp mười phương là ánh sáng của tự ḿnh. Vậy th́ cớ sao ở Đông Phất Du Đăi đánh trống th́ Tây Cù Da Ni chẳng nghe ? Nam Thiệm Bộ Châu đốt đèn, Bắc Uất Đơn Việt vẫn tối. Dù cho hướng vào trong ấy nói được đầy đủ th́ vẫn c̣n ở trong bóng dáng mà làm kế sanh nhai !”

Ngài rung cây phất tử, nói : “Trăm thứ tạp nhạp nát rồi, sao là một đường thoát thân ?”

Ném cây phất tử đi, nói : “Hăy tham ! Chuyện này mà chẳng thực tham, thực chứng, làm sao trộm thấy tin tức của Chân Căn ?”

Ngài Tuyết Phong dạy rằng : “Ở đ́nh Vọng Châu đă cùng các ông tương kiến rồi ! Ở đỉnh Ô Thạch đă cũng các ông tương kiến rồi ! Trước tăng đường đă cùng các ông tương kiến rồi vậy !”

Khi ấy, có nhà sư bước ra hỏi : “Trước tăng đường hăy để đó, c̣n đ́nh Vọng Châu, đỉnh Ô Thạch chỗ tương kiến là thế nào ?”

Tổ Phong hốt nhiên lui về phương trượng.

Đây là thấy được th́ mới tin mười phương chúng sanh đều là Bổn Tánh của ḿnh.

 

Kinh : “Tức cả thảy pháp, ĺa cả thảy tướng. Cả Tức và Ĺa đều không chỗ dính mắc, gọi là Chân Như Tướng Hồi Hướng.

Thông rằng : Ở trước, nói “Ĺa cả thảy tướng, tức cả thảy pháp” ấy là nơi tướng mà ĺa tướng, vẫn c̣n có tướng của pháp vậy. Ở đây, nói “Tức cả thảy pháp, ĺa cả thảy tướng” ấy là nơi pháp mà ĺa pháp, quên mất cả pháp tướng vậy. Có Tức có Ĺa th́ tuy không có pháp tướng nhưng chẳng phải không có cái không pháp tướng, đó cũng c̣n là sự trừ bỏ pháp tướng. Ở đây th́ đồng đều là không có, mảy tơ hết sạch, chỉ một Chân Thể như như bất động. Đó gọi là Chân Như Tướng, chẳng thể lấy các thứ tướng như Tướng, Pháp Tướng cho đến sự trừ bỏ Pháp Tướng mà so sánh được.

Chỗ nói “Ĺa cả thảy tướng” tức xem sự ĺa Tướng chúng sanh là nhiệm mật. Chỗ nói “Cả hai đều không dính mắc” tức xem sự xa ĺa các thứ Ĺa là nhiệm mật. Đến đây th́ Sở Tri Chướng đă được trong sạch, cái Chân Tánh hiện tiền, đến không từ đâu, đi không về đâu, vốn tự như như, nên gọi là Chân Như.

Thiền sư Dục Vương Dụ thượng đường : “Khi hành bặt mất dấu của hành, khi thuyết không có vết của thuyết. Hành, thuyết mà có chỗ đến ắt có đích sanh ra th́ tên liền tới. Hành, thuyết chưa sáng rơ ắt mũi kiếm linh quyết đoán vạch rơ. Dù cho thuyết không có sấm lậu, hành chẳng mê nơi chốn th́ vẫn c̣n vướng mắc ở xác thân. Nếu là đại bàng cánh vàng th́ vút lên trăm ngàn do-tuần. Nếu là ngựa Thần Câu thập ảnh th́ ruổi nhanh bốn phương tám cơi, chẳng cần thứ lớp ăn uống, chẳng theo chốn mà chôn thân. Tóm lại, chẳng có dựa nương th́ lại có cái phần dẫm bước, thực hành không nhỉ ? Chốn chốn, mảy mảy, chính là Bờ Giác !”

Lời dạy này có thể nói là đắc cốt tủy Chân Như. Chỗ đó mà được siêu thoát bèn khế hợp Như Như.

 

Kinh : “Thật đắc Như Như, mười phương không ngại, gọi là Vô Phược Giải Thoát Hồi Hướng.

Thông rằng : Xa ĺa các tướng, chỉ một Chân Như th́ gọi là Vô Phược, không trói buộc. C̣n cái Tướng Chân Như, ấy là c̣n bị cái Vô Phược trói buộc, chưa thể Vô Ngại, nên chưa là Chân Giải Thoát.

Thật đắc Như Như th́ ở đâu cũng Như Như, không c̣n trệ ngại, ngay cái tướng Chân Như cũng quên mất. Ban đầu trừ bỏ chấp pháp gọi là Hữu Phược Giải Thoát. Nay trừ bỏ cái không chấp pháp gọi là Vô Phược Giải Thoát. Đă không có Phược() để thoát th́ c̣n có Phược nào nữa ? Đă không có chỗ trói buộc th́ chỗ nào chẳng Như Như ? Cái “Mười phương không ngại” này nếu chẳng đắc cái Tối Chân trong Chân Như th́ chẳng đủ sức để nói vậy.

Ngài Lạc Phổ ban đầu làm thị giả của Tổ Lâm Tế. Tổ thường giữa chúng khen Ngài rằng : “Ấy là mũi tên chiếc trong môn hạ Lâm Tế, ai dám đối đầu với mũi nhọn ấy ?”

Ngài Lạc Phổ tự cho là đă đầy đủ, từ giă Tổ đi du phương về Nam.

Tổ Lâm Tế nói : “Môn hạ Lâm Tế có con lư ngư sạch chút đỉnh, ngoảy đầu quạt đuôi hướng về phía Nam, chẳng biết hướng về trong hũ dưa muối nhà nào mà chết vùi đây ?”

Ngài Lạc Phổ đi du phương xong đến thẳng Giáp Sơn dựng am, suốt năm không hỏi thăm Tổ Giáp Sơn. Tổ bèn viết thơ bảo một vị tăng đưa sang. Lạc Phổ tiếp thơ bèn cất luôn, lại đưa tay đ̣i nữa, vị tăng không đáp được.

Ngài Lạc Phổ bèn đánh mà nói : “Về nói y lại cho Ḥa Thượng”.

Vị tăng về kể lại cho Ngài Giáp Sơn, Tổ nói : “Ông tăng ấy mà mở thơ ra th́ trong ba ngày phải đến đây. C̣n chẳng mở thơ th́ không cứu nổi ông ta rồi”.

Ba ngày sau, quả Ngài Lạc Phổ đến ra mắt Tổ Giáp Sơn, không lễ bái, ngay trước mặt Tổ mà đứng.

Tổ Sơn nói : “Gà nương ổ phụng, chẳng cùng đồng loại. Lui ra !”

Ngài Phổ : “Từ xa nghe tiếng đến đây, xin thầy tiếp đón một lần”.

Tổ Sơn : “Trước mắt không có Xà Lê, nơi đây không có Lăo Tăng !”

Lạc Phổ bèn hét : “Một chữ Vô() cũng chẳng cho lập !”

Tổ Sơn : “Chớ có hấp tấp vội vàng ! Phải biết mây, trăng th́ đồng, mà núi, khe mỗi khác. Cắt đứt đầu lưỡi thiên hạ th́ chẳng phải là không có, c̣n làm sao dạy người không có đầu lưỡi mở lời ?”

Lạc Phổ không có lời đáp.

Tổ Sơn bèn đánh. Lạc Phổ bèn khuất phục. Quả nhiên là hướng vào trong hũ dưa muối của Giáp Sơn mà chết vùi.

Ngài Đầu Tử nêu lên rằng : “Đến trong ấy, làm sao đây ? Nói được một câu th́ đồng thân, cùng mạng, một hơi thở, liền lá cành !”

Rồi nói thay : “Đôi phụng không mắt đủ năm màu. Vọt lên trời không thấu mây xanh !”

Tụng rằng :

“Người đá không bạn đêm vào núi

Mây lồng đỉnh đỏ áo lục hàn

Hét khai điềm kiếp ba chót đỉnh

Bưng áo vàng() ra, dưới nhật xem”.

Hai câu đầu tụng ư chỉ : Dứt hết đầu lưỡi người trong thiên hạ, chỗ ẩn thân, mất dấu vết.

Hai câu sau tụng ư chỉ : Người không có lưỡi lại mở lời, chỗ mất dấu vết, chớ ẩn thân.

Cái ông Lạc Phổ lộn xộn, chỉ được một cái hàm thiết, đă bị Tổ Lâm Tế khám phá. Giả sử không gặp Tổ Giáp Sơn th́ cơ hồ bị cái Vô Phược trói buộc mà tống táng một đời vậy.

 

Kinh : “Tánh Đức viên thành, hạn lượng về Pháp Giới diệt mất, gọi là Pháp Giới Vô Lượng Hồi Hướng.

Thông rằng : Từ Chân Như Tánh phát khởi cái Đức Dụng. Ba Đức Lư, Trí, Hạnh đều tṛn vẹn. Lư, Sự vô ngại, Không, Có đều chẳng phải. Thành tựu thuần nhiên Một Tánh, rốt ráo không c̣n dấu vết. Ở trước nói “Đến tất cả chỗ” là dường c̣n cái thấy có hạn lượng(), nên Pháp Giới Tánh chưa ĺa hữu lượng. Nay hạn lượng về Pháp Giới diệt mất(), nên gọi là Vô Lượng().

Tổ Phật Quả Khắc Cần gặp cư sĩ Trương Vô Tận, đàm luận ráo riết về yếu chỉ kinh Hoa Nghiêm.

Tổ nói : “Cảnh giới hiện lượng của Hoa Nghiêm th́ Lư, Sự toàn chân. Ngay ban đầu đă không có giả pháp, bởi thế, ngay Một mà Muôn, rơ Muôn là Một, Một trở lại Một, Muôn trở lại Muôn, mênh mông không cùng. Tâm, Phật, chúng sanh cả ba không sai biệt. Cuốn, mở tự tại, vô ngại viên dung. Chỗ này tuy là tột lư, nhưng rốt cuộc cũng là không gió mà nổi sóng ṿng ṿng !”

Cư sĩ này không lănh hội nổi, lúc lắc cái giường ngồi.

Tổ Khắc Cần bèn hỏi : “Đến chỗ này th́ cùng với ư Tổ Sư từ Tây sang là giống hay khác ?”

Cư sĩ : “Dạ, giống”.

Tổ Cần nói : “Hăy được cái chỗ không có giao thiệp”.

Cư sĩ có sắc giận.

Tổ Cần nói : “Chẳng nghe Vân Môn nói “Núi sông đất đai không mảy tơ lầm lỗi”. Đó c̣n là chuyển cú. “Chẳng thấy một sắc” mới là một nửa đề. C̣n phải biết cái toàn đề của thời tiết hướng thượng. Các Tổ Đức Sơn, Lâm Tế há chẳng phải là toàn đề đấy sao ?”

Cư sĩ bèn gật đầu đồng ư.

Hôm sau lại bàn về Sự Pháp Giới, Lư Pháp Giới cho đến Sự Lư Vô Ngại Pháp Giới.

Tổ Khắc Cần lại hỏi : “Đây có thể nói thiền chăng?”

Cư sĩ đáp : “Chính nên nói Thiền vậy”.

Tổ cười nói : “Chẳng phải ! Chính v́ c̣n trong cái suy lường về Pháp Giới nên hạn lượng về Pháp Giới chưa diệt mất. Nếu vào đến Sự Sự Vô Ngại Pháp Giới, hạn lượng về Pháp Giới diệt mất, mới nên nói Thiền ! Như sao là “Phật là que cứt khô” ? Như sao là “Phật là ba cân gai” ? Thế nên Tổ Chân Tịnh có kệ rằng :

“Sự Sự vô ngại

Như ư tự tại

Tay nắm đầu heo

Miệng tụng tịnh giới

Lướt khỏi nhà thổ

Chưa trả nợ rượu

Đầu ngă tư đường

Mở banh túi bố !”.

Cư sĩ : “Chỗ luận bàn tuyệt thay ! Há dễ được nghe ư ?”

Như diệu nghĩa này, chẳng bàn luận sâu xa như vậy th́ không thể giăi bày hết yếu chỉ.

Mười địa vị Hồi Hướng ở trên là hồi Chân, hướng Tục, hồi Trí hướng Bi khiến Chân - Tục viên dung, Trí - Bi bất nhị. Đến đây hạn lượng, t́nh kiến đều đă hồn hóa, mới có thể đăng địa, chứng quả Bồ Tát vậy.

 

VI. TỨ GIA HẠNH

Kinh : “Anan, người thiện nam đó tu hết bốn mươi mốt tâm thanh tịnh ấy rồi, tiếp đến thành tựu bốn thứ Gia Hạnh Diệu Viên : tức lấy Phật Giác dùng làm tâm ḿnh, như ra mà chưa ra, cũng như dùi cây cho ra lửa để đốt cái cây, gọi là Noăn Địa.

Thông rằng : Bốn mươi mốt tâm ở trên, từ Càn Huệ đến Mười Hồi Hướng lần hồi sửa trị, lần hồi điều phục, đào thải phàm t́nh, đă thành cùng cực thanh tịnh. Nhưng Thánh vị khó lên, Thánh quả khó chín muồi. Đến miếng đất này, Thần không thể xét đến, “Hóa chẳng thể giúp tăng trưởng. An nhiên mà thong dong, chờ cái tự nó đến mà thôi vậy.

Đức Thế Tôn nhiều kiếp tu hành, suốt thấu rơ ràng chỗ huyền vi, ở đây lại lập ra bốn thứ Gia Hạnh Diệu Viên. Giữa khoảng sắp thành tựu và chưa thành tựu, quả thực là có bốn địa vị này, chẳng phải là Phật nhăn th́ ai mà biện biệt ra được ?

Ở trước, nói “Giác bằng cái Giác của Phật”, ấy là ở trong tâm rơ ràng mà chưa thể dùng được. Đến đây th́ “Lấy Phật Giác dùng làm tâm ḿnh”, đưa lên xem ngắm mà chẳng ra, giống như dùi cây cho ra lửa mà cây chưa cháy, nên gọi là Noăn() Địa. Lửa có ra th́ cũng vô tâm, dùi lâu th́ cây tự cháy. Giác mà dùng th́ cũng vô ư, Định lâu th́ Huệ tự hiện, trong khoảng ấy chẳng để cho sức người góp vào vậy.

Tổ Thúy Nham Chân thượng đường, nêu lên bài tụng của Tổ Long Nha rằng : “Học đạo như dùi lửa, thấy khói chưa thể ngừng, chờ đến Kim Tinh hiện, về nhà mới đến nơi !” Và bài tụng của Tổ Thần Đỉnh rằng : “Học Đạo như dùi lửa, thấy khói có thể dừng, chớ chờ Kim Tinh hiện, cháy cẳng lại cháy đầu !”

Tổ Chân nói : “Nếu luận Đốn th́ Long Nha quả ở nửa đường ! Nếu luận Tiệm th́ Thần Đỉnh mới ngộ ít. Ở đây th́ thế nào ? Này các nhân giả, năm nay nhiều lá rụng, chỗ nào quét về nhà ?”

Theo chỗ thấy của Ngài Thúy Nham, cháy chẳng hết th́ hiện củi, dùng chẳng hết th́ hiện lửa, thế dùng sự dùi làm chi ? Tuy thế, phải là người xuất cách mới xong !

 

Kinh : “Lại lấy tâm ḿnh thành chỗ hành vi của Phật. H́nh như nương mà chẳng phải nương, như lên núi cao, thân đă vào hư không mà bên dưới c̣n chút ngăn ngại, gọi là Đảnh Địa.

Thông rằng : Chỗ thấy cùng Phật không khác, nhưng c̣n phải quư trọng hành vi cho tương xứng. Nếu đă có thể lấy cái Giác của Phật dùng làm tâm ḿnh th́ có thể lấy tâm ḿnh thành chỗ hành vi của Phật. Ở nơi hỗ tương đối đăi mà nói th́ v́ c̣n có cái thấy của Phật, của ḿnh nên h́nh nhưng nương mà chẳng phải nương, là thấy có quy tắc của Phật. H́nh như nương nơi Phật th́ đó chỉ là quy tắc của ḿnh. Nếu không có chỗ nương, đó là hành vi của Phật không vết tích. Nay có chút so nghĩ, tính toán, bởi v́ lằn vết chưa mất. Giống như lên núi cao, thân đă vào hư không mà bên dưới c̣n chút ngăn ngại.

Cho là Nương th́ thân ở hư không nên chẳng phải nương vậy. Cho là Chẳng phải nương th́ chân c̣n dẫm trên đảnh nên chẳng phải là Không nương. Sắp vào chỗ Thần Hóa mà c̣n chút đầu lông chưa tiêu dung, nên h́nh như có ngăn ngại. Kinh Đại Bát Nhă cho sự chấp trước hư không là Pháp Thân gọi là Đỉnh Đọa, rơi nơi đỉnh, chính thật tương đương với chỗ này.

Nhà sư hỏi Tổ Triệu Châu : “Như sao là cô đỉnh Diệu Phong ?”

Tổ Châu nói : “Lăo tăng không đáp câu ấy của ông”.

Hỏi : “V́ sao không đáp câu ấy ?”

Tổ Châu nói : “Ta đáp cho ông, sợ rơi trên đất bằng”.

Ư vị thay ! Rơ ràng đă đáp rồi vậy.

Về sau, hai Ngài Bửu Phước và Trường Khánh đang dạo núi.

Ngài Bửu Phước lấy tay chỉ, nói : “Chỉ trong ấy bèn là đỉnh Diệu Phong !”

Ngài Trường Khánh nói : “Đúng là như vậy th́ đáng tiếc cho !”

Có nhà sư kể lại với Ngài Cảnh Thanh. Ngài Cảnh Thanh nói : “Nếu chẳng phải là bậc Tôn Công th́ thấy sọ khô đầy đồng !”

Ngài Tuyết Đậu tụng rằng :

“Diệu Phong cô đảnh cỏ dẫy đầy

Nêu được rơ ràng, phó chúc ai ?

Chẳng phải tôn công phân đích xác

Sọ khô đầy đất, mấy ai hay !”.

Tôn Công Trường Khánh khá tiếc cho chính là sợ rớt trên đất bằng. Nếu rớt nơi đất bằng mà thương lượng th́ trước sọ khô thấy quỷ ma vô số !

Lại như Tổ Động Sơn hỏi nhà sư : “Chỗ nào đến?”

Đáp : “Dạo núi đến”.

Tổ Sơn nói : “Có đến đỉnh chăng ?”

Đáp : “Dạ có đến”.

Tổ Sơn nói : “Trên đỉnh có người không ?”

Đáp : “Không người nào”.

Tổ Sơn : “Như vậy chắc chưa tới đỉnh”.

Đáp : “Nếu chưa tới đỉnh sao biết là không người?”

Tổ Sơn : “Sao chẳng ở (trụ) lại ?”

Đáp : “Tôi chẳng từ chối ở, chỉ v́ Tây Thiên có người chẳng chịu”.

Tổ Sơn nói : “Vậy mà lâu nay ta lại nghi gă ấy !”

Như nhà sư này, đến đỉnh chẳng trụ th́ c̣n ǵ ngăn ngại ? Tức là cái hoạn nạn Đỉnh Đọa c̣n không có, lo ǵ tai họa Đất Bằng ư ?

Kinh : “Tâm, Phật cả hai đồng, khéo được Trung Đạo, giống như người biết nhẫn nhịn, chẳng phải ôm ấp, chẳng phải phát ra, gọi là Nhẫn Địa.

Thông rằng : Tâm ḿnh và hành vi Phật, cả hai dấu vết đều dung thông, ḥa thành một thể, không c̣n ngăn ngại. Đă không phải Tức Tâm tức Phật, cũng không phải Phi Tâm phi Phật, chỉ nói là “Chẳng phải vật”, đó chỗ gọi là Trung Đạo.

Ban đầu th́ ngay chính giữa mà lần vào, cho đến khi Trung Đạo thuần chân. Thứ lớp Tín, Trụ, Hạnh, Hướng đến đây mới có thể khéo được Trung Đạo. Gọi là Khéo được th́ chẳng phí mảy lông công lực, ấy là đắc cái Không-chỗ-đắc. Đă không chỗ đắc th́ cũng không chỗ thuyết. Như người nhẫn nhịn, đă không ôm ấp ḷng nghi mà cũng không nói ra, chỉ có im lặng ẩn chứa mà thôi, nên gọi là Nhẫn Địa.

Quan Long Đồ tên là Vương Tiêu, tự là Quan Phục, một hôm ở chùa Chiêu Giác, nghe tiếng bản ra thiền mà có tỉnh ngộ.

Bèn hỏi Tổ Nam Đường : “Tôi có cái chỗ-thấy, bỗng bị người hỏi, lại mở miệng chẳng được, chưa rơ lỗi ở đâu ?”

Tổ Đường nói : “Lỗi tại có cái chỗ-thấy”.

Tổ hỏi lại : “Ông đến nhậm chức hồi nào ?”

Ông đáp : “Dạ ngày mồng Bốn tháng Tám năm ngoái”.

Tổ lại hỏi : “Ông rời nhiệm sở khi nào ?”

Đáp rằng : “Ngày Hai Mươi tháng trước”.

Tổ Đường nói : “Vậy tại sao nói là mở miệng chẳng được ?”

Ông Tiêu bèn khế ngộ.

Ông Vương Long Đồ tương tự chứng Nhẫn Địa, nhờ vài câu của Tổ Nam Đường mà chỗ-thấy liền mất.

Nhưng cũng có trường hợp đă siêu quá Nhẫn Địa mà chưa thấu thoát. Như Ngài Ngũ Tổ Diễn được Ngài Phù Sơn Viễn chỉ đến ra mắt Tổ Bạch Vân Đoan. Ngài Ngũ Tổ Diễn đem chuyện nhà sư hỏi Tổ Nam Tuyền về ngọc ma-ni để xin bày dạy yếu nghĩa. Tổ Đoan liền quát nạt cho. Ngài Diễn lănh ngộ, tŕnh bài kệ Đầu Cơ rằng :

“Trước non một mảnh đất đai nhàn

Hầu Tổ chấp tay bạch hỏi han

Tự bán bao phen rồi mua lại

V́ thương tùng trúc giỡn gió trong”.

Tổ Đoan đặc biệt ấn khả, cho làm tri sự trong chùa. Chẳng bao lâu, Tổ Đoan đến nói rằng : “Có mấy vị thiền khách ở Lư Sơn tới, đều có chỗ ngộ nhập. Bảo y nói, cũng nói được có mối manh. Nêu nhân duyên hỏi y, cũng bày tỏ được. Bảo y hạ một câu chuyển ngữ, cũng buông ra được. Chỉ có điều là chưa ở trong đó”.

Ngài Diễn ở chỗ này phát đại nghi, tự suy nghĩ rằng : “Đă ngộ rồi th́ cũng nói được, rơ cũng đă rơ, thế sao lại chưa ở trong đó ?”

Bèn tham cứu lâu ngày, bỗng nhiên tỉnh ngộ, ḷng tiếc của báu trước kia một phen buông bỏ hết, chạy đi t́m Ngài Bạch Vân Đoan. Tổ Đoan dậm chân múa tay. Ngài Diễn cũng cười x̣a một tiếng mà thôi.

Tổ Diễn về sau nói với người ta rằng : “Tôi nhờ đó mà ra khỏi một xác chết, liền rơ được cái việc chở gió trong”.

Thế nên biết, mảy tơ chưa hóa th́ vẫn c̣n Lư Chướng. Bốn thứ Gia Hạnh diệu viên như thế, đâu chỉ có bốn mối ư ?

 

Kinh : “Số lượng tiêu diệt, sự Mê, Giác và Trung Đạo cả hai đều không danh mục, ấy là Thế Đệ Nhất Địa.

Thông rằng : Tâm, Phật cả hai đồng, là đă quên đây, kia; khéo đắc Trung Đạo là đă ĺa hai bên. Nhưng có hai cái đồng nhau, thế là c̣n tin tức trong đó. Đó là số lượng, đó là danh mục vậy. Số lượng là chỗ thế nhân có thể đo lường, danh mục là chỗ thế nhân có thể chỉ ra, tức là chẳng vượt khỏi thế gian.

Phật Thân là vô vi, chẳng rơi vào số lượng. Tiêu diệt số lượng đo đếm đi th́ chẳng có việc rơi vào vậy. Sao gọi là tiêu diệt ? Cái ǵ có Đồng, có Khác, có Mê, có Giác, có Được, có Mất đều thuộc vào số lượng, đều có thể xếp thành danh mục. Hiện nay độc chỉ khéo đắc Trung Đạo, nên không thể cho đó là Mê, lại sắp cùng với chỗ sở đắc mà quên mất, nên không thể cho đó là Giác. Chẳng thể suy đoán, chẳng thể h́nh dung, chính là chỗ chân thực tiêu diệt mọi số lượng vậy.

Cái chỗ t́nh suy lượng của thế nhân có thể đến, là biết có Phật, biết có Đạo mà thôi. Nay nói : “Tâm chẳng phải Phật, Trí chẳng phải Đạo”, th́ chỗ nào đâu mà suy nghĩ dung thân ? Cái chỗ mà danh mục của thế nhân có thể thấy đến là đồng như vậy, đắc như vậy mà thôi. Nay nói, “Đồng không chỗ đồng, đắc không chỗ đắc”, th́ chỗ nào đâu để trộm thấy cái nhiệm mầu ?”

Đến đây th́ Nội Phàm đă hết, sắp vào Thánh vị. Chỉ có Thánh mới biết được Thánh, chẳng phải ư kiến người đời mà trộm thấy được, v́ cao vượt cái cao của người đời, nên gọi là Thế Đế Đệ Nhất Địa. Nếu vào Thập Địa, đến tột Diệu Giác th́ lại gọi là Xuất Thế Đệ Nhất Địa.

Có nhà sư hỏi Tổ Động Sơn : “Trong ba Thân, Thân nào chẳng sa vào số lượng ?”

Tổ Sơn nói : “Ta thường ở trong ấy không cách hở”.

Ngài Thiên Đồng tụng rằng :

“Chẳng nhập thế, chưa theo duyên

Kiếp bầu “Không Xứ” có gia truyền

Sông thu gió nhẹ, rau tần trắng

Bến cổ thuyền chiều một giải sương”.

Bài tụng này ở chỗ chẳng rơi vào số lượng lại càng thân thiết.

Thiền sư Đồng An Chí kế thừa Tổ Đồng An Phi. Khi sắp thị diệt, Tổ Phi thượng đường nói : “Trước Đa Tử tháp() toàn con cháu tuấn tú, việc của năm vị trưởng lăo tiền bối là thế nào ?”

Nói ba lần, không ai đối đáp được.

Cuối cùng Ngài Đồng An Chí bước ra, nói : “Đêm sáng ngoài rèm bày trải vững, muôn dặm vui ca đạo thái b́nh”.

Tổ Phi nói : “Phải là cái tên lừa ấy mới được”.

Sau, khi trụ tŕ, có nhà sư hỏi Ngài : “Chỗ hai cơ chẳng đến, cử xướng thế nào ?”

Tổ Chí nói : “Khắp nơi chẳng gặp, trong Huyền chẳng mất”.

Ngài Đơn Hà tụng rằng :

“Mé kia bờ nọ khó tương phùng

Vô tư hai chữ cũng không trong

Vầng hồng Tây lặn ngoài kia núi

Luống lưu cô ảnh chiếu khe đông”.

Chỗ này th́ Mê-Giác và Trung Đạo, cả hai đều không chỗ chỉ gọi, chính là chỗ hai cơ duyên chẳng đến nơi. Nhưng Ngài Đồng An Chí th́ hai bên chẳng lập, Trung Đạo chẳng dừng, sắp Trung Đạo cũng chẳng ở. Thế mới là Chân Tông Vô Trước(), trong tông môn là cao tột thứ nhất. Đâu phải chỉ là Thế Đệ Nhất Địa mà thôi sao ?

 

VII. THẬP ĐỊA

Kinh : “Anan, người thiện nam đó trong Đại Bồ Đề, khéo được thấu suốt. Giác thông với Như Lai, suốt hết cảnh giới Phật, gọi là Hoan Hỉ Địa.

Thông rằng : Nói Đại Bồ Đề đó chính là “Một đường hướng thượng”, chỗ quan yếu của mệnh mạch Chư Phật. Nơi đây mà thấu suốt, đắc đại triệt ngộ, “Thấy các tướng chẳng phải tướng, bèn thấy Như Lai”. Đă thấy Như Lai, nên suốt hết cảnh giới Phật.

Cảnh giới Phật th́ chỉ Phật cùng với Phật mới có thể thông suốt cùng tột, đó là cảnh giới không thể nghĩ bàn. Lấy ba Đế() viên dung để tương ưng cũng chưa cùng tột. Trung Đạo thuần chân dường như không khác Bồ Đề, nhưng biết cái Trung Đạo chẳng an trụ, đó là Đại Bồ Đề vậy. Địa vị Hoan Hỉ Hạnh ở trước đầy đủ vô lượng diệu đức, mười phương đều tùy thuận, lấy chỗ công đức mà nói, nên thuộc về Hạnh. Ở đây bèn thấu suốt Vô Thượng Bồ Đề, vượt phàm vào Thánh, đă rảo bước trong cảnh Phật, đă lên quả vị nên gọi là Địa.

Bắt đầu được sự hoan hỉ của Pháp, hỉ là do thấu suốt, đắc không có ǵ chướng ngại, mà thật là đắc không chỗ đắc, hỉ không chỗ hỉ, chẳng phải là cái hoan hỉ của thế t́nh có thể suy lường nổi.

Quan Thiêm Phán Lưu Kinh Thần, nhỏ tuổi nhờ có tài mà ra làm quan, đối với Phật Pháp chưa có tin. Nhờ gặp thiền sư Chiếu Giác Tổng chỉ dẫn nên say mê Tổ Đạo.

Khi đến kinh sư, ra mắt thiền sư Huệ Lâm Xung, gặp lúc vị tăng hỏi Tổ Tuyết Đậu : “Như sao là bổn nguyên Chư Phật ?”

Đáp rằng : “Sắc lạnh ngàn núi”.

Lời dứt, có tỉnh ngộ.

Hơn năm trời chờ bổ nhậm, ông tham học với Ngài Thiều Sơn Cảo. Khi sắp đi nhậm chức, từ giă Ngài, Ngài căn dặn rằng : “Ông cứ thế mà dụng tâm, lo ǵ chẳng ngộ. Về sau hoặc có cái cảnh giới phi thường, hoan hỉ vô lượng th́ thu thập cho mau. Nếu thu thập được liền thành pháp khí. Nếu thu thập chẳng được, liền có bệnh chẳng an mà thành cái lỗi lầm thất tâm đó”.

Chẳng bao lâu ông lại đến kinh sư, theo thiền sư Chánh Giác Dật mà thưa hỏi nhân duyên.

Tổ Dật nói : “Người xưa nói “B́nh thường tâm là Đạo”. Nay ông trong mười hai thời phóng quang động địa, chẳng tự biết lấy, lại hướng ngoài chạy rông t́m kiếm, ngày càng lạ càng xa !”

Ông càng thêm nghi, chẳng hiểu.

Một đêm vào thất, Tổ Dật đem chỗ trong Truyền Đăng Lục : “Quốc Vương Hương Chí hỏi Tổ Ba La Đề Tôn Giả : “Cái ǵ là Phật ?” Tổ Đề nói : “Tánh Thấy là Phật”, ra mà hỏi ông.

Ông không nói năng được, càng nghi dữ. Bèn về chỗ ngủ, ngủ say.

Đến canh năm, tỉnh giấc, vừa chợt nhớ lại th́ thấy đủ thứ tướng lạ, trong ngoài thông suốt, sáu căn chấn động, trời đất cùng quay, như mây mở trăng hiện, vui không ǵ hơn. Bỗng nhớ lại lời dặn ḍ của Tổ Thiền Sơn khi từ biệt mà nén lại, đợi đến sáng mới thuật lại chỗ biết được.

Ông nói : “Chẳng cần thực hành ư ?”

Tổ Dật nói : “Cái ấy là việc ǵ mà lại nói đến thực hành ?”

Ông lặng im khế hợp.

Về sau, có viết Phát Minh Tâm Địa Tụng tám bài, và thiên Minh Đạo Dụ Nho để cảnh tỉnh thế gian.

Như chỗ chứng của Ông Lưu, đối với Sơ Địa chưa biết ra sao, nhưng cái hoan hỉ phi thường là đă chẳng cô phụ sự thọ kư của Ngài Thiều Sơn. Cũng là việc hiện thân Tể Quan mà đến đó ư ?

 

Kinh : “Tánh Khác nhập vào Đồng, tánh Đồng cũng diệt, gọi là Ly Cấu Địa.

Thông rằng : Ở trước th́ Tâm, Phật hai cái đều Đồng, số lượng tiêu diệt là chỉ quy về một cái Tánh Thiện của ta mà luận. Nay th́ tánh Khác nhập vào Đồng là nêu bày chúng sanh, quốc độ đồng một Tánh đây. Rắn, rồng lẫn lộn, phàm Thánh xen nhau, đó là cảnh giới của Bồ Tát. Nếu chẳng giác thông suốt ư chỉ chẳng dơ chẳng sạch của Như Lai th́ chưa dễ thấu đạt chỗ này. Nếu thấy Tánh chúng sanh là khác, tức thấy chúng sanh dơ. Nay đă nhập vào Đồng là đă ĺa cái dơ của bờ mé dơ vậy. Nếu thấy chúng sanh tánh Đồng th́ tánh Đồng chưa mất, ấy là pháp dơ. Nay tánh Đồng cũng diệt mất, tức là ĺa cái dơ của bờ mé sạch vậy. Cái Ly Cấu Địa này là chỗ tôn trọng trong địa vị Bồ Tát : dứt ĺa cái dơ của bờ mé thanh tịnh, trở về Bản Thể vốn không dơ của Như Lai, chứ chẳng phải lấy sự ĺa cái dơ của bờ mé dơ mà có thể bàn đến.

Nhà sư hỏi Tổ Thụy Nham : “Như sao là Phật ?”

Đáp : “Trâu đá”.

Hỏi : “Như sao là Pháp ?”

Đáp : “Trâu đá con”.

Hỏi : “Như vậy tức chẳng đồng ư ?”

Đáp : “Hợp chẳng được”.

Hỏi : “V́ sao hợp chẳng được ?”

Đáp : “Không có cái Đồng để đồng với th́ hợp cái ǵ ?”

Lại có nhà sư hỏi Tổ Tào Sơn : “Tuyết phủ ngàn núi, v́ sao đỉnh cô chót ấy chẳng trắng ?”

Tổ Sơn nói : “Phải biết có cái khác trong cái khác”.

Hỏi : “Như sao là khác trong khác ?”

Tổ Sơn nói : “Chẳng sa vào màu sắc các núi”.

Tổ Thụy Nham khéo nói cái Đồng, Tổ Tào Sơn khéo nói cái Khác. Hợp hai tắc trên mà xem, ắt biết tánh Khác nhập vào Đồng th́ không có cái Đồng nào để đồng. Ĺa dơ th́ thành khác, hóa ra là Khác ở trong Khác. Ở đây há có thể lấy sự nông cạn mà nh́n vào được ư ?

 

Kinh : “Thanh tịnh cùng tột, sáng suốt sanh ra, gọi là Phát Quang Địa.

Thông rằng : Như tấm gương tṛn lớn bụi bặm không c̣n, đă gọi được là thanh tịnh, nhưng chẳng phải thanh tịnh cùng tột v́ c̣n Pháp Cấu(). Pháp Cấu đă ĺa, cái Sở Tri Chướng sạch, rồi sau cái sáng suốt của Bổn Giác sanh ra, từ Định phát Huệ, tự có một phần ánh sáng rực rỡ, chẳng phải sự Giác Chiếu tầm thường có thể so sánh. Bài kệ ở trước đă nói : “Tịnh cực, sáng thông suốt. Lặng chiếu trùm hư không”, cảnh giới như thế th́ mỗi mỗi đều tự sáng tỏ, vật vật đều tự suốt thông, há chỗ ấy c̣n có sự lờ mờ ư ?

Tổ Động Sơn hỏi Ông Mật Sư Bá : “Làm ǵ thế?”

Đáp : “Cầm kim”.

Tổ Sơn nói : “Việc cầm kim ra làm sao ?”

Đáp : “Mỗi kim đều như nhau”.

Tổ Sơn nói : “Hai mươi năm đồng hành, lại nói lời thế ư ?”

Ông Mật hỏi : “C̣n trưởng lăo th́ thế nào ?”

Tổ Sơn nói : “Đại địa lửa phát !”

Ngài Thiên Đồng nêu rằng :

“Đại địa lửa phát

Trong chẳng dung sợi tóc

Nam Hải, Côn Lôn

Trời lạnh chẳng mang vớ

Tổ Tổ truyền nhau

Một thứ dơ uế !”.

Đó là chỉ ra cái Chân Ngộ đă phát, liền cùng Phật, Tổ tâm tâm ấn nhau. Cái Phát Quang Địa này chẳng thể dễ dăi đàm luận.

Ḥa Thượng Ẩn Sơn có bài kệ :

“Ba gian nhà lá xưa nay ở

Một đạo thần quang, vạn cảnh nhàn

Chớ đem phải quấy ra xét tới

Phù sinh xuyên tạc, há tương quan ?”.

Chỗ Ngài nói chẳng phải là “Thanh tịnh cùng tột, sáng suốt sanh ra” đó ư ?

 

Kinh : “Sáng suốt cùng tột, Giác đầy khắp, gọi là Diệm Huệ Địa.

Thông rằng : Sáng suốt đă cùng tột, Giác đă đầy khắp, giống như đống lửa lớn, đụng vào là cháy thiêu, cả thảy bóng duyên (duyên ảnh) đều thiêu tuyệt. Không chỉ nói là Huệ mà nói Diệm Huệ() là Huệ đến tột mức vậy. Cái ấy chẳng thể gần, tức là Bát Nhă Trí.

Như con trùng rất nhỏ nhặt, chỗ nào cũng đậu vào, nhưng không thể đậu trên ngọn lửa cháy sáng. Cái thức lự() chốn chốn đều duyên ra, nhưng không thể duyên ra trên Trí Bát Nhă, nên gọi là Diệm Huệ Địa.

Tổ Bàn Sơn thượng đường : “Cái tâm-nguyệt một ḿnh tṛn vẹn kia, ánh sáng nuốt muôn tượng. Ánh sáng chẳng phải chiếu cảnh, cảnh cũng chẳng c̣n. Ánh sáng và cảnh đều mất, đó là vật chi ?”

Tổ Động Sơn riêng nói rằng : “Ánh sáng và cảnh chưa mất, đó là vật ǵ ?”

Tổ Bửu Phước đem ra hỏi Ngài Trường Khánh : “Theo hai vị th́ rốt cuộc chưa tuyệt hết, vậy làm sao tuyệt hết đây ?”

Ngài Trường Khánh lặng im giây lâu.

Tổ Phước nói : “Rơ ràng ông hướng vào trong hang quỷ mà sanh nhai !”

Ngài Khánh hỏi : “Ông lại làm sao ?”

Tổ Phước nói : “Hai tay đỡ con trâu nước cao quá đầu gối !”

Ngài Thiên Đồng nêu ra rằng : “Đều mất, chưa mất, đoạt người, đoạt cảnh. V́ sao Tổ Bảo Phước không chịu Ngài Trường Khánh ? Thái b́nh vốn do tướng quân đem lại, chẳng để tướng quân thấy thái b́nh”.

Theo chỗ thấy của Tổ Bửu Phước th́ Diệm Huệ Địa cũng không cho yên níu, huyền lại càng huyền vậy.

 

Kinh : “Hết thảy có Đồng, có Khác không thể đến được, gọi là Nan Thắng Địa.

Thông rằng : Trí của bậc chưa vào Địa gọi là Khác, Trí của bậc Đăng Địa gọi là Đồng, tức như trong chỗ vốn Đồng lại có Đồng, Khác. Ĺa dơ (Ly Cấu) là thanh tịnh, mà thanh tịnh cùng tột th́ sáng suốt sanh ra. Phát ra ánh sáng (Phát Quang) là sáng suốt, mà sáng suốt cùng cực th́ Giác đầy khắp. Chưa đến hết mười phần th́ c̣n có Đồng và Khác để nói; đă đến hết mười phần th́ không c̣n Đồng, Khác để chỉ ra. Như vàng đă có màu như cũ th́ đâu c̣n thêm bớt, theo đâu mà chỉ ra đó là Đồng, nương đâu mà chỉ ra đó là Khác ? Đă không có cái Khác để chỉ, tức phàm t́nh không thể đến. Đă không có cái Đồng để chỉ, tức Thánh giải không thể đến.

Phàm t́nh có thể đến, ắt cái phàm được hơn thắng. Thánh giải có thể đến, ắt cái Thánh được hơn thắng. Nay th́ hết thảy Đồng, Khác, Thánh, Phàm, Trí, Lự đều chẳng thể đến. Cái đến đă không có th́ cái ǵ vượt thắng đây ? Nên gọi là Nan Thắng Địa.

Đức Phật nói : “Nếu như có một pháp hơn cả Niết Bàn, ta cũng nói là như mộng huyễn”.

Niết Bàn như thế là Pháp Tối Nan Thắng vậy.

Tổ Lâm Tế đến Ngài Phụng Lâm.

Ngài hỏi : “Có chuyện nhờ nhau, hỏi được chăng?”

Tổ Tế nói : “Sao lại khoét thịt làm vết thương ?”

Ngài Lâm nói : “Biển trăng ngần không ảnh. Cá (lội) chơi riêng tự mê !”

Tổ Tế nói : “Biển trăng đă không ảnh, cá (lội) chơi sao lại mê ?”

Ngài Lâm nói : “Xem gió nh́n sóng dậy. Ngắm trăng mặc buồm trôi”.

Tổ Tế nói : “Cô luân() độc chiếu non sông lặng. Hú dài một tiếng đất trời sầu”.

Ngài Lâm nói : “Cứ đem “Ba Tấc” sáng trời đất. Một câu gặp chuyện (lâm cơ) nói ra xem”.

Tổ Tế nói : “Đường gặp kiếm khách nên tŕnh kiếm. Chẳng phải nhà thơ chẳng tặng thơ”.

Ngài Lâm bèn thôi.

Tổ Tế bèn tụng rằng :

“Đại đạo bặt đồng

Tùy ư Tây Đông

Lửa đá chẳng kịp

Điện quang không thông”.

Tổ Quy Sơn hỏi Ngài Ngưỡng Sơn : “Lửa đá chẳng kịp, điện quang không thông th́ từ xưa Chư Thánh lấy ǵ mà v́ người ?”

Ngài Ngưỡng nói : “Ư Ḥa Thượng thế nào ?”

Tổ Quy rằng : “Chỉ có lời nói, toàn không thực nghĩa”.

Ngài Ngưỡng nói : “Chẳng phải vậy”.

Tổ Quy nói : “Vậy ông thế nào ?”

Ngài Ngưỡng nói : “Quan chẳng cầm kim, riêng thông xe ngựa”.

Đại để, Lâm Tế cùng Phụng Lâm tương kiến, tuy là điển quang, lửa đá không thể thí dụ cho nổi, mà Ngưỡng Sơn lại cho là riêng thông xe, ngựa. Chính đó là chỗ nói là “Ngộ th́ Ca Diếp chẳng che giấu, chẳng ngộ th́ Như Lai có mật ngữ” vậy.

Cái chỗ “Hết thảy Đồng, Khác không thể đến được” này nếu chẳng phải khế ngộ chân thực th́ ai rơ được chỗ Nan Thắng của nó ư ?

 

Kinh : “Tánh Chân Như vô vi thanh tịnh bày lộ rơ ràng, gọi là Hiện Tiền Địa.

Thông rằng : Đồng, Khác chẳng đến được, không thể tạo tác. Đă không tạo tác, đó là Chân Như. Tánh Chân Như này, nơi mê chẳng giảm bớt, nơi ngộ chẳng tăng thêm. Chỉ v́ T́nh Kiến ô nhiễm mà chẳng bày lộ rỡ ràng. Duy chỉ thanh tịnh cùng tột, sáng suốt cùng tột liền “tṛn vo vo, sáng rỡ rỡ, trong leo lẻo” không thể cầm nắm. Cái thể tịch diệt liền được hiện tiền, nên gọi là Hiện Tiền Địa.

Ngài Đại An sắp qua đất Hồng Châu, trên đường qua khỏi huyện Thượng Nguyên th́ gặp một ông già bảo rằng : “Ông sang Nam Xương sẽ có chỗ đắc”.

Ngài An bèn đến Tổ Bá Trượng, làm lễ mà hỏi : “Kẻ học nhơn muốn cầu biết Phật, cái ấy là ǵ ?”

Tổ Trượng nói : “Thật như cỡi trâu lại t́m trâu!”

Ngài An ngay nơi lời nói có tỉnh ngộ, hỏi rằng : “Biết được rồi th́ như thế nào ?”

Tổ Trượng nói : “Cũng giống cỡi trâu về nhà”.

Ngài An nói : “Chưa rơ trước sau giữ ǵn thế nào?”

Tổ Trượng rằng : “Như người chăn trâu cầm roi trông coi, khiến chẳng động đến lúa mạ của người”.

Ngài Đại An từ đó lănh nhận ư chỉ, chẳng c̣n t́m kiếm, sau kế pháp trụ tŕ ngọn Quy Sơn.

Ngài thượng đường, nói : “Hết thảy các ông đều t́m đến An này, để t́m kiếm cái ǵ thế ? Như muốn làm Phật, chính ông tự là Phật. Vác Phật chạy qua nhà người, khác nào con nai khát nước đuổi theo bóng nắng, bao giờ mới được tương ưng đây ? Ông muốn làm Phật, chỉ việc không có những thứ điên đảo, bám níu, vọng tưởng, ác giác, dơ sạch là cái tâm chúng sanh, th́ đó bèn là Sơ Tâm Phật Chánh Giác. C̣n hướng đi đâu nữa mà toan tính ? Bởi thế mà An này ở Quy Sơn ba mươi năm, ăn gạo Quy Sơn, đi phân Quy Sơn mà chẳng học thiền Quy Sơn. Chỉ trông coi một con trâu đực, nếu lạc đường vào cỏ liền nắm mũi kéo lui, vừa phạm đến lúa mạ người liền roi vọt ngay, đă lâu điều phục. Khá thương kiếp sanh ra chịu lời lẽ của người, như nay hóa thành con trâu trắng bày lộ rỡ ràng, thường ngay trước mặt, suốt ngày bày hiện sờ sờ ra đó, đuổi chẳng chịu đi.

“Này các ông, mỗi người đều hiện đang tự có vật báu vô giá, từ cửa mắt phóng ánh sáng soi suốt đất đai, sông núi. Nơi cửa tai phóng ánh sáng, gồm góp hết thảy tiếng vang lành dữ. Sáu cửa như thế, ngày đêm thường phóng ra ánh sáng rực rỡ, cũng gọi là Phóng Quang Tam Muội.

“Ông chẳng tự biết giữ lấy, nó hiện ẩn trong thân tứ đại, giúp giữ trong ngoài, khiến chẳng nghiêng ngă. Ví như người mang nặng qua cầu độc mộc, nó khiến khỏi trợt chân. Hăy nói đó là vật ǵ kham giữ mà được như thế ? Lại không có mảy tơ để có thể thấy ! Há chẳng nghe Ḥa Thượng Chí Công nói : “Trong ngoài t́m kiếm rốt lại không. Trên cảnh rộn ràng toàn thực có”. Trân trọng !”

Có nhà sư đến hỏi Ngài Đại Ninh Khoan : “Như sao là trâu trắng sờ sờ ?

Ngài Khoan lấy đũa gắp lửa khươi trong ḷ, nói : “Hiểu ư ?”

Nhà sư nói : “Dạ, chẳng hiểu”.

Ngài nói : “Đầu chẳng thiếu, đuôi chẳng dư”.

Hai vị tôn túc trên nói việc tánh thanh tịnh bày lộ rơ ràng một cách vui khoái, đáng cùng nhau lên Hiện Tiền Địa vậy.

 

Kinh : “Cùng tột bờ cơi Chân Như, gọi là Viễn Hành Địa.

Thông rằng : Thanh tịnh chưa cùng tột, sáng suốt chưa cùng tột, cái Đồng, Khác có thể đến th́ chẳng thể gọi là bờ cơi Chân Như. Đồng, Khác đă mất, sanh diệt đă diệt, Chân Như vô vi đă bày lộ rơ ràng đă lâu, trong ngoài rỗng suốt, tột mười phương thế giới đều là bờ cơi Chân Như, khắp hư không, đầy Pháp Giới, toàn thể tŕnh bày hiển lộ th́ chẳng chỉ có hiện tiền mà thôi vậy.

Lư vốn không bờ mé, cái bờ cỏi không bờ mé kia mới là bờ cơi Chân Như. Chân Như không bờ mé th́ hành cái Hành của Chân Như, há có xa gần ư ? Gọi đó là Viễn Hành là để rơ rằng sức người chẳng thể đến được.

Hễ cái mà hành có thể đến được th́ tuy tích lũy qua năm tháng, cũng chẳng gọi là Viễn(). Chỉ cái mà hành không thể đến được mới gọi là Chân Viễn. Giống như thí dụ của Trang Tử, ở nước Kiến Đức, trông ra chẳng thấy bến bờ, đi khắp mà không chỗ cùng tột. Tiễn đưa người đi, đều đến bến bờ rồi lui, từ đây người xa vậy. Thí dụ đủ h́nh dung cái Địa này.

Có nhà sư hỏi Thượng Lam Ḥa Thượng : “Đồng tử Thiện Tài sau khi ra mắt đức Văn Thù, v́ sao lại qua phương Nam ?”

Ngài nói : “Học ở nơi nhập thất. Biết mới khắp suốt thông”.

Nhà sư hỏi : “Đến thành Tô Ma v́ sao Đức Di Lặc trở lại bảo ra mắt Đức Văn Thù ?”

Ngài nói : “Đạo rộng không bờ, gặp người bất tận”.

Ngài Đầu Tử nêu ra rằng : “Đạo không mê, ngộ; Pháp chứng do thầy. Chẳng trụ Thánh, phàm; trang nghiêm diệu hạnh. Bởi thế Văn Thù khiến đi lên núi Tu Di, bờ biển gặp thầy, chợ triền lễ bạn. Hoặc núi đao, phường điếm, tù tội, cung ma. Hoặc đồng nữ, đồng nam, Cù Di Thánh Hậu. Di Lặc khảy móng tay, Phổ Hiền đích thân chiêm ngưỡng. Trở lại ra mắt Văn Thù lại có chuyện ǵ đây ? Tin th́ biết : khắp nơi là bạn, đạo rộng không bờ, chẳng mờ dấu sáng, khắp chốn cùng tột nhiệm mầu. Này các nhân giả, lại biết chăng c̣n có một người mà v́ sao Thiện Tài chẳng đến ra mắt (tham) ? Thử nói đó là người nào ?”

Giây lâu, Ngài nói :

“Đầy đầu tóc bạc ĺa hang núi

Khuya tối xuyên mây vào chợ triền”.

Tụng rằng :

“Mặt trời lên không, khắp thấp cao

Chi nhánh Côn Luân các sông vào

Núi xuân mây gió ḥa vô tận

Nhạn bỏ về Nam đất trời sầu”.

Đây có thể làm khuôn mẫu của Viễn Hành Địa, v́ thấu suốt hết thảy pháp, cùng tột bờ cơi Chân Như vậy.

 

Kinh : “Một Tâm Chân Như gọi là Bất Động Địa.

Thông rằng : Cùng tột bờ cơi Chân Như, phóng ra th́ khắp cùng vũ trụ. Một Tâm Chân Như, cuốn lại th́ không vết. Hành không vết tích, đó gọi là Viễn Hành. Đă cùng tột bờ cơi Chân Như tức là tṛn vẹn cái thể, ứng hiện muôn loài mà Chân Như chẳng động.

Cái Bất Động Địa này là trong chỗ Viễn Hành mà thấy vốn chẳng động vậy. Bờ cơi (tế) chính là Tâm, Tâm chính là bờ cơi. Mé (tế) trước, mé giữa, mé sau, ba bờ mé đều bất khả đắc. Quá khứ, hiện tại, vị lai, ba tâm đều bất khả đắc. Rốt đây toàn một Chân Như th́ có cái ǵ là đi, ǵ là dừng, ǵ là động, ǵ là bất động ư ? Tuyệt không động tịnh, thế mới có thể nói là Chân Bất Động vậy.

Thiền sư Đông Kinh Tuấn ban đầu ra mắt Tổ Đầu Tử.

Tổ hỏi : “Đêm qua ngụ chốn nào ?”

Ngài Tuấn nói : “Đạo tràng bất động”.

Tổ nói : “Đă nói bất động, do ǵ đến đây ?”

Ngài Tuấn nói : “Đến đây há có động sao ?”

Tổ nói : “Th́ vốn ngụ chỗ chẳng dính bám”.

Bèn im lặng hứa khả cho.

Tổ Tịnh Từ Phật Hạnh thượng đường, nói : “Nhạn qua trời không, ảnh lồng nước lạnh. Nhạn không có ư để lại dấu vết, nước không có tâm lưu giữ bóng h́nh. Được là như thế mới nên mua giày cỏ du phương. Bởi vậy, mới nói “Động th́ bóng liền hiện, biết tức th́ băng sanh” C̣n chẳng động, chẳng biết th́ thật ở trong Nước Chết(). Ông Lăo Tiến Phúc() xuất đầu chẳng được th́ hăy để đó, thế ông A Dục Vương ngày nay lại làm sao ?”

Hướng đạo, chớ đi đường dưới núi

Quả nhiên vượn hú tiếng đoạn trường.

Bất Động Địa đây cần phải tự thân thấu đến một lần mới được. Chẳng thế th́ mấy ai không ngồi trong Nước Chết mà làm kế sống !

 

Kinh : “Phát cái Dụng Chân Như, gọi là Thiện Tuệ Địa.

“Anan, các vị Bồ Tát đó từ đây về trước công hạnh tu tập đă xong, công đức viên măn. Cũng gọi Địa này là Tu Tập Vị.

Thông rằng : Từ Tâm Chân Như phát cái Dụng Chân Như. Đó là Vô Sư Trí, Tự Nhiên Trí, Nhất Thiết Trí, Tứ Vô Ngại Trí diễn nói vô lượng a tăng kỳ các nghĩa không có cùng tận. Làm đại pháp sư khắp độ sanh linh, Trí Bi đồng vận dụng, ứng thời hợp tiết, nên gọi là Thiện Huệ.

Diệm Huệ Địa ở trước th́ chỉ nói “Ánh sáng rực rỡ của chính ḿnh”, nay Thiện Huệ Địa th́ lấy thiện pháp ban bố cho người, hiển bày cái Dụng của Huệï nên chẳng đồng.

Từ Viễn Hành Địa đến Bất Động Địa th́ đă chứng Tịch Diệt, Vô Công Dụng Đạo sao c̣n gọi Địa này là Tu Tập Vị ? V́ sau Thập Địa công đức viên măn mà so ra th́ c̣n thiếu đôi phần nên gọi Địa này là Tu Tập Vị. Nghĩa là bắt đầu phát cái Dụng của Huệ, chưa quên cái Huệ, so với Pháp Vân Địa trùm khắp không thiếu không dư, th́ h́nh như c̣n khoảng cách vậy. Lại nữa, đây tu mà không tu, tập mà không tập, như thuyền sắp đến bờ, sào, chèo chẳng dùng mà vẫn c̣n trong sự vận hành vậy.

Ngài Ngưỡng Sơn một hôm đang nằm, mộng thấy vào nội viện của Đức Di Lặc, mọi vị trí đều đủ người, chỉ có ṭa Thứ Hai c̣n trống. Ngài Ngưỡng Sơn bèn đến ngồi.

Có một vị Tôn Giả bạch chùy(), nói : “Nay là Đệ Nhị Ṭa thuyết pháp”.

Ngài đứng lên bạch chùy, nói : “Đại thừa pháp, ĺa Tứ Cú, tuyệt Bách Phi, nghe kỹ, nghe kỹ !”

Đại chúng giải tán.

Khi tỉnh dậy, Ngài kể lại cho Tổ Quy Sơn nghe.

Tổ nói : “Ông đă vào Thánh Vị”.

Ngài bèn làm lễ.

Ngài Thiên Đồng tụng rằng :

“Mộng về được dịp thăm kỳ cựu

Bên phải chư Thánh ngồi thật đông

Từ bi chẳng sụt, đánh bản kêu

Thuyết pháp Vô Úy, sư tử rống

Tâm an như biển, lượng chứa như đấu

Mắt cá giao lệ rơi, ruột trai phanh ḷi ngọc

Lời mộng ai hay lộ cơ ta

Ông lăo nên cười việc bày xấu nhà ḿnh

Ĺa “tứ cú” tuyệt “bách phi”

Cha con thầy Quy bệnh hết chữa !”.

Ngài Ngưỡng Sơn trong mộng phát cái Dụng Chân Như, nào mượn tu tập. Tổ Quy Sơn tự ḿnh ấn chứng cho. Do đó mà biết : Nhân Vị th́ đă liễu, c̣n Tín Vị không đủ nói vậy.

 

Kinh : “Bóng Từ mây Diệu trùm biển Niết Bàn, gọi là Pháp Vân Địa.

Thông rằng : Công đức Trí Huệ viên măn, không c̣n tự lợi, thuần ṛng lợi tha nên bóng mát của đại từ đầy ắp khắp Pháp Giới. Vô Tâm, Vô Duyên mà ứng với tâm duyên tất cả. Ban rải lợi ích thấm nhuần mà vốn tịch diệt không tạo tác. Như mây trùm trải vô tâm, che khắp tất cả.

Bảo rằng mây Diệu tức cái Diệu của Tánh Giác diệu minh. Từ vốn là tự Diệu, chẳng mượn tu tập nên gọi là che trùm biển Niết Bàn vậy. Tự Tánh Niết Bàn, vốn không sanh diệt, mây từ của biển Giác xứng Tánh mà khởi ra, cũng không sanh diệt. Tất cả chúng sanh vốn ở trong Niết Bàn, lại khiến chúng sanh chứng quả Niết Bàn : như thế mà che, như thế mà trùm, không thiếu không dư mới có thể xưng là Diệu vậy.

Pháp mà thí dụ như mây v́ Pháp vốn vô tâm. Mây mà tương hệ với Pháp th́ tức mây tức Pháp, nên chẳng nói là cái Dụng của Huệ mà chỉ nói là mây. V́ đă hồn đồng tạo vật, chẳng c̣n cái Thấy có hai.

Pháp Vân Địa này gần với Phật Địa, gọi là quán Đảnh Bồ Tát Vị.

Đức Lục Tổ khai thị đại chúng rằng : “Này các thiện tri thức, nếu muốn thể nhập pháp giới thậm thâm cùng Bát Nhă Tam Muội, hăy tu hạnh Bát Nhă, tŕ tụng kinh Kim Cang Bát Nhă liền được thấy Tánh. Phải biết kinh này công đức vô lượng vô biên, trong kinh rơ ràng tán thán không thể nói hết. Pháp môn đây là Tối Thượng Thừa, v́ người đại trí mà nói, v́ người thượng căn mà nói. Người ít căn, ít trí nghe qua sanh ḷng chẳng tin. V́ sao thế ?

“Ví như rồng lớn làm mưa ở cơi Diêm Phù Đề th́ thành, ấp, xóm làng thảy đều trôi hết như cỏ lá trôi dạt, nhưng mưa ở biển lớn th́ chẳng thêm chẳng bớt. Như người Đại Thừa, như người Tối Thượng Thừa nghe thuyết kinh Kim Cang th́ Tâm khai tỏ ngộ. Do đó mà biết Bổn Tánh tự có Trí Bát Nhă, tự dùng Trí Huệ thường quán chiếu, không mượn nhờ văn tự. Ví như nước mưa, chẳng phải từ trời mà có, nguyên là do rồng tạo ra, khiến hết thảy chúng sanh, hết thảy thảo mộc, hữu t́nh, vô t́nh đều đă thấm nhuần. Trăm sông, ngàn suối đều vào biển cả, hợp làm một thể. Bản Tánh chúng sanh tức là Trí Huệ Bát Nhă cũng lại như thế.

“Này các thiện trí thức ! Người căn ít nghe qua Đốn Giáo này đây th́ cũng như cỏ cây, căn tánh nhỏ mà bị mưa lớn ắt đều nghiêng ngă, chẳng thể tăng trưởng. Người ít căn cũng như vậy đó, vốn có Trí Bát Nhă không khác ǵ người đại trí, vậy cớ sao nghe pháp chẳng tự khai ngộ ? Bởi v́ tà kiến nặng nề ngăn ngại, gốc rễ phiền năo sâu dày. Giống như đám mây lớn che mặt trời, nếu không được gió thổi đi th́ ánh sáng mặt trời chẳng hiện.

“Cái Trí Bát Nhă vốn không có lớn, có nhỏ. Chỉ v́ tất cả chúng sanh tâm họ mê ngộ chẳng đồng. Mê lầm cái Tâm, ở ngoài mà thấy, tu hành t́m Phật, chưa ngộ Tự Tánh tức là căn ít. Như khai ngộ Đốn Giáo, chẳng chấp vào bên ngoài mà tu, chỉ trong Tự Tâm thường khởi chánh kiến, trần lao phiền năo thường chẳng có thể nhiễm dính, tức là Thấy Tánh.

“Này các thiện trí thức, trong ngoài chẳng trụ, đến đi tự do, hay trừ tâm bám nắm, thấu suốt không ngại. Thường tu hạnh này th́ cùng với kinh Bát Nhă vốn không có ǵ sai khác”.

Đức Lục Tổ chẳng biết một chữ mà thuyết pháp như mây, như mưa. Lại có thể phân biệt chỗ khác nhau của căn khí lớn, nhỏ nơi người nghe pháp, cũng đủ bổ sung chỗ chưa nói rơ thêm về Bậc Thập Địa vậy.

 

VIII. ĐẲNG GIÁC VÀ DIỆU GIÁC

Kinh : “Như Lai ngược ḍng, c̣n vị Bồ Tát như thế thuận ḍng mà đến. Ranh giới của Giác thể nhập vào nhau, gọi là Đẳng Giác.

“Anan, từ Tâm Càn Huệ đến Đẳng Giác rồi, cái Giác này mới được Sơ Càn Huệ Địa trong Tâm Kim Cương.

Thông rằng : Quyền Trí (Hậu Đắc Trí) của Như Lai, xuống tùy theo cơ cảm nên ngược ḍng mà ra. Thực Trí của Bồ Tát (Căn Bản Trí) lên mà hợp với Giác Tâm nên thuận ḍng mà vào. Kinh Anh Lạc nói : “Đẳng Giác chiếu tịch, Diệu Giác tịch chiếu”, tức là nghĩa này. Ranh giới của hai Giác nên gọi là nhập vào nhau. Thể nhập vào nhau tức là tiếp hợp với ḍng nước pháp của Như Lai vậy. Bèn ở chỗ này gọi là Đẳng Giác Vị, tức nói cái Giác cùng Như Lai b́nh đẳng không sai khác, chỉ chưa cùng tột trong chỗ Diệu đó thôi. Tức thời từ biển Đại Tịch Diệt ngược ḍng mà ra, Diệu đồng khắp vạn vật, mới gọi là Diệu Giác.

Sơ Càn Huệ Địa trong Tâm Kim Cương tức là Tâm Càn Huệ ở trước, sao đến đây mới được ư ? Chưa cùng ḍng nước pháp tiếp hợp th́ chỉ mới có cái Không Kiến về Thể. Đă cùng ḍng nước pháp tiếp hợp mới là chứng nghiệm cái Thật. Như ánh sáng của trăng non đă lộ ít nhiều h́nh tướng tṛn sáng, vốn chẳng phải thiếu kém, rồi đến lưỡi liềm, rồi đến trăng rằm mới đầy đủ tướng tṛn sáng. Đó cũng chỉ là tướng tṛn sáng lúc mới đầu, chẳng phải là hai vậy.

Kim Cương là nói do phá tan các pháp mà có tên. Các pháp có thể phá hoại, độc chỉ cái Huệ Kim Cương này không thể phá hoại. Ở trước là muốn tu tập cái Sơ Càn thuần là Trí Huệ, Trí Huệ đó không hai, chỉ có cái khô() là không cùng tận. Từ địa vị Thứ Mười trở về trước, cứ lấy một địa để phá hoại một địa, cho đến khi không có một pháp nào để đắc, nên nói : “Cái Giác này mới được Sơ Càn Huệ Địa trong Tâm Kim Cương”. Kinh Niết Bàn nói “Phát tâm và rốt ráo, hai cái chẳng khác nhau”, là nói chỗ này ư ?

Nhà sư hỏi Tổ Hoàng Bá : “Tâm xưa nay đă là Phật lại c̣n tu Lục Độ Vạn Hạnh không ?”

Tổ Hoàng Bá nói : “Ngộ ở nơi Tâm, chẳng liên quan ǵ Lục Độ, Vạn Hạnh. Lục Độ, Vạn Hạnh là chuyện bên phía tiếp vật độ sanh của Pháp Hóa Độ. Giả sử Bồ Đề, Chân Như, Thực Tế, Pháp Thân giải thoát cho đến Thập Địa, Thánh Vị, Tứ Quả cũng đều là pháp môn Hóa Độ, chẳng liên quan ǵ đến Phật Tâm. Tâm tức là Phật, bởi thế trong tất cả độ môn th́ Phật Tâm là Đệ Nhất. Chỉ không có hết thảy các tâm phiền năo, sanh tử... th́ chẳng dùng chi các pháp Bồ Đề, Giải Thoát... Bởi thế, nói rằng “Phật thuyết tất cả pháp để độ cho tất cả tâm của ḿnh. Ḿnh không có tất cả tâm th́ đâu dùng tất cả pháp”.

“Từ Phật đến Tổ, đều chẳng luận bàn việc ǵ khác. Độc chỉ luận Nhất Tâm, cũng gọi là Nhất Thừa. Bởi thế, mười phương cầu Chân Thật th́ không c̣n Thừa nào khác. Chỉ những người Chân Thật đó mới không lạc vào cành lá rườm rà. Thế nên ư này khó tin !”

Đức Đạt Ma qua đất này, đến hai nước Lương, Ngụy chỉ có một ḿnh Khả đại sư thầm kín tin lấy Tự Tâm, ngay nơi lời nói liền trực nhận tức Tâm là Phật, thân tâm đều không, ấy là Đại Đạo. Đại Đạo xưa nay b́nh đẳng, do v́ tin sâu trọn hết sanh linh đồng một Chân Tánh. Tâm với Tánh chẳng khác nhau, tức Tánh tức Tâm. Tâm chẳng khác Tánh, gọi đó là Tổ. Bởi thế nói rằng “Khi nhận được Tâm Tánh có thể nói là không thể nghĩ bàn. Chính cái Tâm chẳng khác Tánh ấy gọi đó là Tổ”.

Có thể thấy rằng khi cái cảnh tượng Ranh giới Giác Ngộ thể nhập vào nhau th́ mọi thềm bậc trước kia hoàn toàn không liên quan ǵ nữa, chỉ là Nhất Tâm, cùng Phật không khác.

 

Kinh : “Lớp lớp như vậy, đơn hay kép mười hai địa vị, mới cùng tột Diệu Giác, thành Vô Thượng Đạo.

Thông rằng : Đơn có bảy địa vị, đó là Càn Huệ, Noăn, Đảnh, Nhẫn, Thế Đệ Nhất, Đẳng Giác và Diệu Giác.

Kép có năm địa vị, đó là Tín, Trụ, Hạnh, Hướng và Địa.

Mỗi địa vị lại có mười bậc nên gọi là kép. Lớp lớp như vậy, tiệm tu tiệm chứng, gồm tất cả mười hai tầng bậc mới đến Diệu Giác mà thành Vô Thượng Đạo. Nên bậc Đẳng Giác vẫn c̣n ở địa vị Thứ Mười Một nên chưa cùng tột, chỉ có địa vị Thứ Mười Hai mới cùng tột vậy.

Cái Diệu này há có thêm cho Càn Huệ ư ? Thật ra chỉ là Càn Huệ nhưng chà xát lau chùi cho rực rỡ trong trẻo th́ hiển bày cái Diệu. Hiệp Luận nói : “Ba đời Chư Như Lai trao truyền cái pháp thức tu chứng cho tất cả Bồ Tát : Chọn lựa lực dụng sâu cạn, phân biệt các chỗ sai biệt của các địa vị. Bắt đầu từ Thập Tín nhưng v́ cái Tín này c̣n thuộc sanh diệt nên phải trụ tâm, bèn lập ra Thập Trụ. Lại v́ Trụ c̣n thiếu vốn liếng để phát khởi cái Dụng của phương tiện nên thành tựu hạnh tâm, bèn lập ra Thập Hạnh. Lại v́ Hạnh này mới chỉ tự lợi, chưa phổ cập đến chúng sanh, nên bày việc Hồi Hướng, bèn lập ra Thập Hồi Hướng”.

Từ Thập Tín cho đến Trụ, Hạnh, Hồi Hướng là địa vị Tam Hiền. Lại từ Tam Hiền th́ lên Sơ Địa, v́ Đại Từ Đại Bi phát sanh, được nuôi dưỡng sum xuê tươi tốt cho thành tựu mà có tên là Địa. Ở Sơ Địa mới cho là chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn, cho đến hết Thập Địa, do công hiệu mài xát, tôi luyện các tập khí c̣n sót bèn đồng đẳng với Chân Như Bản Giác, nên gọi là Đẳng Giác. Giống như Kinh Dịch nói “Cùng Thần tri hóa” vậy. Đến khi nhập Diệu Giác th́ chỉ Một mà thôi, không có tướng nào nữa. Như chỉ nói là Thần thôi vậy.

Chỗ đặc biệt của kinh này là trước Thập Tín có thêm Càn Huệ Địa ; trước Thập Địa lại thêm Noăn, Đảnh, Nhẫn, Thế Đệ Nhất Địa.

Kinh Hoa Nghiêm, ở Thập Trụ nói là chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn. Các kinh khác th́ nói chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn ở Thập Địa. Tất cả c̣n ở trong số năm mươi lăm địa vị. Đức Thế Tôn ở chỗ này bèn lập ra ba món tiệm thứ, chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn. Ba món tiệm thứ là phương tiện an lập, ra ngoài số năm mươi lăm kia. Ư của Đức Thế Tôn là muốn khai thị theo phàm phu để có thể thật chứng Pháp vậy.

Tổ Hoàng Bá nói với Ông Bùi Hưu rằng : “Phật cùng chúng sanh thật không sai khác. Chỉ v́ chúng sanh bám tướng cầu ngoài. Càng cầu càng thêm mất, đem Phật mà t́m Phật, lấy Tâm mà bắt Tâm, cùng kiếp hết đời, rốt chẳng thể được. Chẳng biết là dứt nghĩ quên suy th́ Phật tự hiện tiền. Tâm đây chính là Phật. Phật tức là chúng sanh. Khi là chúng sanh, Tâm đây chẳng giảm. Khi là Phật, Tâm đây chẳng thêm. Cho đến hằng sa công đức, Lục Độ, Vạn Hạnh vốn tự sẵn đủ, chẳng nương mượn tu để có thêm. Gặp duyên th́ bày trải, hết duyên th́ lặng yên.

“Nếu chẳng quyết định tin đây là Phật mà muốn bám tướng tu hành để cầu công dụng, đó đều là vọng tưởng, cùng với Đạo tự trái. Tâm đây tức là Phật, chẳng có Phật nào khác, cũng chẳng có Tâm nào khác. Tâm này sáng sạch, dường như hư không, không có một điểm tướng mạo. Khởi tâm, động niệm liền trái Pháp Thể, tức liền bám tướng. Từ vô thủy đến nay không có Phật bám tướng ! Tu Lục Độ, Vạn Hạnh muốn cầu thành Phật tức là thứ lớp. Từ vô thủy đến nay không có Phật thứ lớp ! Chỉ ngộ Nhất Tâm, rốt không chút pháp ǵ khá đắc, đó là Chân Phật.

“Phật cùng chúng sanh, Một Tâm không khác. Giống như hư không, không xen tạp, không hư hoại. Như mặt trời chiếu khắp bốn thiên hạ. Khi mặt trời lên cao, sáng khắp thiên hạ, hư không chẳng hề sáng. Khi mặt trời lặn, tối khắp thiên hạ, hư không chẳng hề tối. Cảnh sáng cảnh tối tự lấn đoạt nhau, cái tánh của hư không rỗng nhiên chẳng đổi. Tâm của Phật cùng chúng sanh cũng như thế. Nếu xem thấy Phật cho là cái tướng trong sạch, sáng rỡ, giải thoát; xem thấy chúng sanh cho là tướng dơ bẩn, tối tăm, sanh tử, khởi cái thấy hiểu như vậy th́ trải qua hằng sa kiếp rốt cuộc chẳng nắm được Bồ Đề, v́ bám tướng vậy. Độc chỉ Nhất Tâm đây, ngoài ra chẳng có vi trần pháp nào có thể đắc. Tức Tâm là Phật !”

Nhiệm mầu thay ! Nhiệm mầu thay ! Chẳng phải Tổ Hoàng Bá thật chứng Diệu Giác, không rơi vào tầng bậc th́ làm sao thông suốt như thế ? Đă lời dạy này mà lưu lại, để gần với ư chỉ Viên Đốn của kinh này bởi cả hai chẳng ngại nhau vậy.

 

Kinh : “Các thứ Địa này đều dùng Trí Kim Cương quán sát Như Huyễn mười thứ ví dụ sâu xa. Trong Xa Ma tha (Chỉ) dùng Tỳ Bà Xá Na (Quán) của Chư Phật mà thanh tịnh tu chứng, lần lượt tu nhập.

“Anan, như thế đều dùng ba tiệm thứ tăng tiến, khéo có thể thành tựu năm mươi lăm Vị của con đường Bồ Đề Chân Thật.

“Làm cái Quán như vậy, gọi là Chánh Quán. Nếu Quán khác đi gọi là Tà Quán.

Thông rằng : Mười thứ thí dụ sâu xa là nên Quán rằng :

 1. Hết thảy nghiệp như huyễn;

 2. Hết thảy pháp như bóng hơi nóng();

 3. Hết thảy tánh như bóng trăng trong nước;

 4. Sắc diệu như hư không;

 5. Tiếng diệu như vang;

 6. Quốc độ Chư Phật như thành Càn Thát Bà;

 7. Phật sự như mộng;

 8. Phật Thân như ảnh;

 9. Báo Thân như h́nh tượng;

10. Pháp Thân như hoá.

Tất cả đều không thể nắm, bỏ bởi v́ tất cả Không vậy. Thâm nhập cái Không này mới gọi là Thật Tướng. Đây chẳng phải là cái Pháp làm ra nên vốn không hoại diệt. Nếu khác với cái Quán này tức là pháp sanh diệt. Ở đây không chỉ Quán Pháp hữu vi như mộng, huyễn, bọt nước, bóng dáng mà cho đến Quán Pháp Thân Phật cũng như mộng, huyễn, bọt nước, bóng dáng nên là ví dụ thâm sâu.

Quán sát như thế th́ chẳng phải Quán Pháp của Tiểu Thừa có thể so được, mà đó là Diệu Quan Sát Trí của Như Lai, sẵn đủ Kim Cương Huệ : do Tịch nên Chiếu, do Chỉ nên Quán. Giống như nước thật trong chẳng nhiễm một chút bẩn, như gương tột sạch chẳng dung một hạt bụi. Lấy đó mà tu th́ tu mà không tu. Lấy đó mà chứng th́ chứng mà không chứng. Nên do Càn Huệ lần lượt thâm nhập cho đến Diệu Giác, đều chẳng rời cái Trí Kim Cương quán sát này. Địa địa đều hoại, pháp pháp đều khô() nên hợp với Diệu Giác.

Thí dụ sâu xa như thế, thâm nhập như thế, đâu có ra ngoài ba tiệm thứ tăng tiến, nghịch ḍng toàn nhất, chờ đến được Vô Sanh Pháp Nhẫn. Theo đó tiệm tu, tùy chỗ hành phát mà an lập Thánh Vị, khéo thành tựu năm mươi lăm địa vị của con đường Bồ Đề Chân Thật.

Tín, Trụ, Hạnh, Hướng, Địa là năm mươi, cọng với Càn Huệ và bốn Gia Hạnh là năm mươi lăm. Không nói đến hai Địa vị Đẳng Giác và Diệu Giác, v́ hai Giác chính là Chân Bồ Đề, là Giác chứ chẳng c̣n là con đường. Năm mươi lăm địa vị là nguyên do, là con đường nhập Giác vậy.

Mười phương Như Lai thành tựu Bồ Đề đều có phương tiện ban đầu là Xa Ma Tha, Tam Ma Bát Đề, Thiền Na mầu nhiệm. Cho đến Trí Kim Cương Quán Sát, Như Huyễn Tam Muội th́ chỉ Đức Quán Thế Âm là Đệ Nhất. Do đó, năm mươi lăm Vị của con đường Bồ Đề cũng do trong ba tiệm thứ tăng tiến, ngược ḍng toàn nhất. Bắt đầu là xoay lại cái Nghe, cái phương tiện tối sơ này cũng là Như Huyễn Quán Sát theo thứ lớp : hết Nghe cũng chẳng trụ, Giác và Sở Giác đều Không; Không, Sở Không diệt, sanh diệt đă diệt đó là Tịch Diệt Hiện Tiền.

Làm cái Quán như thế đó là Một đường vào Niết Bàn của mười phương Chư Phật. Nếu Quán khác đi, chẳng trụ trong mười thứ thí dụ sâu xa của Kim Cang Quán Sát tức thuộc về sanh diệt, tức là Tà Quán vậy.

Ngài Trừng Quán() đời Đường có bài kệ Trụ Địa Tu Chứng :

“Tu tập “không hoa” vạn hạnh

Yên ngồi “trăng nước” đạo tràng

Hàng phục Thiên Ma “gương ảnh”

Chứng đắc Phật Quả “trong mộng”“.

Cũng nói lên vắn tắt mười thứ ví dụ sâu xa.

Tổ Giáp Sơn thượng đường : “Từ khi có Tổ đến nay, người đời lầm hiểu. Cùng nhau thừa thọ cho đến nay, cứ lấy lời lẽ của Phật, Tổ làm kiểu mẫu cho người. Nếu mà như thế tức thành người cuồng, là người không có Trí vậy.

“Kia chỉ bày dạy rằng : “Ông không có pháp, cái không có pháp đó là Đạo. Đạo không có pháp ǵ, không có Phật để thành, không có Đạo để đắc, không có pháp để nắm, không có pháp để bỏ.

“Bởi thế, lăo tăng này nói rằng : Trước mắt không có pháp, trước mắt là ư. Cái kia chẳng phải là pháp trước mắt. Nếu hướng về phía Phật, Tổ mà học th́ người đó chưa ở chỗ đầy đủ con mắt. Sao thế ? V́ đều thuộc về chỗ nương dựa, chẳng có tự tại, đó chỉ là gốc rễ sanh tử mang mang, là cái thức tánh trói buộc. Ngàn dặm muôn dặm t́m cầu thiện trí thức, phải cần đầy đủ cái Chánh Nhăn, cầu thoát cái Thấy Biết sai dối. Xác định lấy sanh tử trước mắt là thực có hay là thực không ? Ai mà định được, cho người ấy thoát thân ! Người thượng căn nghe xong, rơ Đạo; người trung, hạ căn lại bôn ba theo sóng. Sao chẳng hướng về trong sanh tử mà định ngay ra ? C̣n chỗ nào đi mong Phật, mong Tổ dẹp bỏ Sanh Tử cho nữa bây giờ ! Người trí cười vào mũi ông.

“Như chưa chịu hiểu th́ nghe bài tụng :

“Nhọc giữ pháp sanh tử

Chỉ hướng phía Phật cầu

Mê Chánh Lư trước mắt

Khươi lửa t́m bọt sao ?”“.

Chỗ này có thể làm cái cân để định Chánh Quán hay Tà Quán vậy.

 

MỤC BA :

CHỈ DẠY TÊN KINH

 

Kinh : Bấy giờ Ngài Pháp Vương Tử Văn Thù Sư Lợi ở trong đại chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật mà bạch Phật rằng : “Phải gọi tên kinh này là ǵ ? Tôi cùng chúng sanh phụng tŕ như thế nào ?”

Phật bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi : “Kinh này tên là Đại Phật Đảnh Tất Đát Đa Bát Đát Ra, Vô Thượng Bảo Ấn, Thập Phương Như Lai Thanh Tịnh Hải Nhăn”.

Thông rằng : Từ chỗ ban đầu phân biệt chọn lựa hẳn Chân, Vọng, tuyên bày Tánh Chân Thắng Nghĩa trong Thắng Nghĩa, là Kiến Đạo Phần. Từ chỗ muốn do cửa mà vào nhà rực rỡ của Thiên Vương, lựa chọn hai mươi lăm Viên Thông, cho đến phụng tŕ thần chú Phật Đảnh là Tu Đạo Phần. Lại từ chỗ phàm phu rốt đến Đại Niết Bàn, chỉ rơ con đường chân chánh tu hành vô thượng là Chứng Quả Phần. Ư chỉ lớn lao của bộ kinh đủ rồi vậy. Nên Ngài Văn Thù nhân đấy mà thưa hỏi.

Đă hỏi tên kinh tức là phải phụng tŕ mà thành phần Lưu Thông, cớ sao có những điều chưa phát huy ra hết mà lại hỏi tên kinh ? Bởi v́, năm mươi lăm vị của con đường Bồ Đề Chân Chánh đó thật là nhân chánh, quả chánh. Chỉ là chẳng rơ Chân Tâm, tu tập lầm loạn nên mới có luân chuyển các nẻo địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, Tu La, người, Trời vậy. Hai mươi lăm Viên Thông đều trong Tam Ma Địa, vốn không có chuyện Ma. Chỉ bởi chẳng biết Chân Tâm, tu tập lầm loạn nên mới có năm mươi thứ Ấm Ma, đều là chỗ nói “Nếu quán khác đi, gọi là Tà Quán”. Đoạn sau sẽ kê rơ số mục.

Kinh này, tuy nhân Ngài Anan thưa hỏi, mà lấy Thần Chú Phật Đảnh nêu bày Pháp Môn Vô Thượng. Bởi thế, Đại Bạch Tán Cái() này, thể nó bao trùm hết thảy, siêu t́nh, ĺa kiến, tức là Như Lai Tạng Tâm Ấn vậy. Soi chiếu cùng tột biển vô biên cơi Phật, sạch trong tuyệt không mảy bụi, tức là con mắt pháp Kim Cương vậy. Ấn nói là Vô Thượng, v́ chẳng phải là Tối Thượng Thừa th́ không thể Ấn được. Nhăn nói là thanh tịnh v́ nếu c̣n một mảy bụi th́ chẳng soi trùm được. Ấn, gọi là Bảo v́ vốn thường trụ chẳng hoại. Nhăn, gọi là Biển, ắt bao trùm vô tận. Thần Chú bất khả tư ngh́ này tức là cái Tánh bất khả tư ngh́ vậy. Tánh cùng Chú b́nh đẳng, bất khả tư ngh́, há có hai được ư !

Tổ Phong Huyệt ở Tŕnh Châu Nha thượng đường, nói : “Tâm Ấn Tổ Sư giống như then chốt của con trâu sắt. Đi th́ ấn đứng, đứng th́ ấn phá. Chỉ như chẳng đi, chẳng đứng th́ ấn là phải hay không ấn là phải ?”

Khi ấy có Trưởng Lăo Lư Ba bước ra, nói : “Tôi có then chốt của con trâu sắt, xin thầy đừng ráp thêm ấn vào !”

Tổ Huyệt nói :

“Quen câu ḱnh nghê đầm lặng rộng

“Lại than ếch nhái b́ bơm băi cát bùn”.

Ông Lư Ba đang lưỡng lự suy nghĩ th́ Tổ Huyệt quát : “Trưởng Lăo, sao chẳng nói đi ?”

Lư Ba định nói, Tổ Huyệt đánh một cây phất tử : “Lại nhớ được thoại đầu ư, thử nói xem !”

Lư Ba định mở miệng, Tổ Huyệt lại đánh một phất tử.

Ông Mục Chủ nói : “Phật Pháp cùng Vương Pháp là một thứ”.

Tổ Huyệt nói : “Thấy cái ǵ nào ?”

Ông Mục Chủ nói : “Cần đoạn chẳng đoạn, lại chiêu thêm loạn !”

Tổ Huyệt bèn xuống ṭa.

Ngài Thiên Đồng tụng rằng :

“Then chốt trâu sắt, ấn trụ ấn phá

Suốt khỏi đỉnh Tỳ Lô mà đi

Lại đến ngồi đầu lưỡi hóa Phật

Phong Huyệt thử xem, Lư Ba rớt té

Đầu gậy hét rồi : Điện quang, lửa đá

Rờ rỡ rơ ràng, ngọc trên mâm

Nháy mắt, nhăn mày : lại than lỗi”.

Lại Ngài Mân Súy sai sứ giả đưa Ông Châu Kư đến Tổ Bửu Phước.

Tổ Phước thượng đường, nói : “Đi th́ ấn trụ, trụ th́ ấn phá”.

Nhà sư nói : “Chẳng đi chẳng trụ, dùng ấn làm ǵ ?”

Tổ Phước bèn đánh.

Nhà sư nói : “Như thế th́ ở trong hang quỉ núi đều nhân v́ ngày hôm nay vậy”.

Tổ im lặng.

Hợp hai tắc trên mà xem th́ Vô Thượng Bảo Ấn, Lửa đá, Điện quang tức là lầm lỗi vậy. Há có thể suy nghĩ tính toán ư ? Cho nên chẳng phải là Hải Nhăn Thanh Tịnh th́ không đủ để thấy !

 

Kinh : “Cũng gọi tên là Cứu Hộ Thân Nhân, độ thoát Anan cùng Tánh Tỳ Kheo Ni trong hội này, đắc Bồ Đề Tâm, nhập Biến Tri Hải”.

Thông rằng : Phật Đảnh Thần Chú thật không thể nghĩ bàn, khiến cho Tánh Tỳ Kheo Ni ḷng dâm liền khô cạn, cứu hộ Ngài Anan khỏi bị phá giới, cũng đă là lạ lùng. Như Tánh Tỳ Kheo Ni mới đầu đắc quả A Na Hàm, rồi chứng đạo A La Hán, bèn ngộ tánh dâm vốn không, đă được ra khỏi ràng buộc, thể nhập Chánh Biến Tri. Bồ Đề Tâm thuộc về Chánh Tri, v́ rơ chuyện bổn phận vậy. Ở trong ấy chọn rơ chân vọng, gạn lọc để tu sửa điều trị, th́ hết thảy nhân quả chẳng c̣n nghi hoặc, là thuộc về Biến Tri(). Ông Anan đă được Pháp Thân, đắc Bồ Đề Tâm, nay trong tất cả điên đảo, lầm loạn tu tập, đều không ǵ chẳng thông suốt; đó là thể nhập Biển Khắp Biết vậy. Thế đó, rơ được Một th́ vạn sự xong. Chỉ ở nơi Chân Tâm không hoa mắt th́ biến thái của thế gian, chỗ nào mà chẳng suốt thông, v́ tất cả do Tâm tạo vậy.

Thiền sư Nham Đầu Khoát trải qua mùa Hạ ở nhà Ông Cam Chí.

Một hôm, đang cầm cây kim th́ Ông Chí ở ruộng về cầm cái mai đứng sát trước Ngài. Tổ Khoát cầm kim làm thế đâm móc.

Ông Chí vội vàng vào nhà, mặc áo muốn ra lạy tạ ơn.

Bà vợ hỏi : “Có chuyện ǵ thế ?”

Ông Chí nói : “Chẳng được nói !”

Bà vợ nói : “Cần biết chỗ biết của ông”.

Ông Chí kể lại chuyện lúc năy.

Bà la lên : “Chuyện ách yếu này ba mươi năm sau, phải biết một phen uống nước là một phen mắc nghẹn !”

Cô con gái nghe cha nói ra, bèn nói : “Mới biết tánh mạng người ta khắp đại địa đều bị một đầu mũi kim của Thượng Tọa xuyên suốt !”

Lạ thay, lạ thay ! Nào ngờ trên mũi kim may của Tổ Nham Đầu có đủ Đại Phật Đảnh Tát Đát Đa Bát Đát Ra Thần Chú, khiến cho cả nhà Ông Cam Chí trong khoảng sát na nhất thời đắc Bồ Đề Tâm, vào Biến Tri Hải vậy.

 

Kinh : “Cũng tên là Như Lai Mật Nhân, Tu Chứng Liễu Nghĩa.

Thông rằng : Chú ngữ không thể giải thích, đó là mật ngữ của Như Lai. Một đường hướng thượng, ngàn Thánh chẳng truyền, cũng là bí mật của Như Lai vậy. Đă bảo là bí mật há có chỗ để Tu, có chỗ để Chứng ư ? Phàm có Tu, có Chứng đều thuộc về Bất Liễu(). Độc chỉ không Tu, không Chứng mới là Tu Chứng Liễu Nghĩa vậy. Đă không thể lấy Tu Chứng mà được, ắt phải là mật ngộ, một niệm huân tu thiện nghiệp vô lậu, chẳng lấy cái Trí mà biết, chẳng lấy cái Thức mà hay. Phàm có tri thức tức là hữu lậu, chẳng được là mật. Lấy cái mật này làm nhân, như tŕ chú... ấy gọi là Bất Tư Ngh́ Huân Tu vậy. Cái Bất Tư Ngh́ này làm Nhân, ắt chứng Quả Bất Tư Ngh́. Như Lai, đó là chẳng thể nghĩ bàn. Đă chứng Như Lai, th́ chỗ nào chẳng tỏ suốt ư ?

Tổ Triệu Châu, nhân có vị ni hỏi : “Như sao là mật mật ư ?”

Tổ Châu lấy tay phất.

Vị ni nói : “Ḥa Thượng c̣n có Cái Ấy, nhé !”

Tổ Châu nói : “Ấy, chính ngươi lại có Cái Ấy, đó !”

Ngài Từ Thọ Thâm tụng rằng :

“Mật mật, thâm thâm, ư tột cùng

Bao người lầm lạc giữa hư không

Sư cô nếu hiểu lay tay đó

Chắc nát tâm can cũng đoạn trường !”.

Ḥa Thượng Đức Sơn Viên Minh dạy chúng rằng: “Cho đến hết rồi, dầu có được miệng của ba đời Chư Phật treo trên vách th́ vẫn c̣n có một người ha hả cười lớn. Nếu rơ người này, việc tham học xong ngay!”

Ngài Thiên Đồng tụng rằng :

“Ôm nắm chỗ quan yếu

Gió mài, mây quét, nước lặng, trời thu

Chớ cho vảy gấm không mùi vị

Liềm trăng câu hết cả sông Thương”.

Ngài Đầu Tử nêu ra rằng : “Tuy là như vậy, nhưng Đức Sơn quả giống như “Cất hết trăng trời Sở. Vẫn c̣n sao đất Hán”“.

Tụng rằng :

“Đôi mày vào tối nẻo gập gềnh

Trời lặn nương lều tạm sống yên

Cũng tợ nửa đêm người gỗ ngủ

Khỏi học Thuấn nhường chịu ở rừng

Phải hay hoa rụng can ǵ mộc (cây)

Không cẳng vừa đi sớm gặp đường

Sáng qua gió nổi Trường An đạo

Nguyên đó Côn Lôn tiến quốc đồ”.

Các công án như thế cũng không thể đo lường được. Nếu rơ mật ngữ này th́ việc tham học bèn xong!

 

Kinh : “Cũng gọi là “Đại Phương Quảng Diệu Liên Hoa Vương, Thập Phương Phật Mẫu Đà La Ni Chú”.

Thông rằng : Về Viên Giáo th́ không ǵ bằng kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm. Về Đốn Giáo th́ không ǵ bằng kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Về Phật Mẫu Thần Chú, không ǵ bằng Chú Đại Chuẩn Đề. Nay kinh Lăng Nghiêm gồm có cả, có thể gọi là pháp môn Cực Viên, Cực Đốn, Cực Bất Khả Tư Ngh́ vậy. Đại là thường khắp, chỉ Pháp Thân. Phương là nắm trọn, chỉ Bát Nhă. Quảng là rộng trùm, chỉ Giải Thoát. Ba đức Lư, Trí và Dụng đầy đủ, thế chẳng gọi là Viên sao ? Hoa sen mọc lên từ bùn dơ mà chẳng nhiễm. Diệu Liên Hoa Vương tức là hoa Ưu Đàm Bát, khác với loại thế gian trồng vậy.

Trong khoảnh khắc gảy móng tay nhập Tri Kiến Phật, đó là hy hữu, chẳng phải là Đốn th́ không thể đảm đương. Viên ấy, Đốn ấy chỉ việc ǵ thế ? Việc ấy không thể nghĩ bàn, tức gọi là Thần Chú của Tâm vậy. Mười phương Như Lai nhờ Chú Tâm này đắc thành Vô Thượng Chánh Biến Tri Giác, cho đến sau khi diệt độ cùng nhờ Chú Tâm này mà phú chúc việc Phật Pháp v.v... Th́ há chẳng phải là chỗ từ đó mà ra của mười phương Chư Phật ư ? Nên có thể gọi đó là Phật Mẫu Thần Chú đắc Đại Tổng Tŕ vậy. Hợp cả ba cái th́ Giáo Pháp của cả Đại Tạng Kinh đều gồm đủ.

Tổ Thanh Nguyên Hành Tư một hôm hỏi Ngài Thạch Đầu rằng : “Có người nói “Lănh Nam có tin tức”“.

Ngài Đầu nói : “Có người chẳng nói “Lănh Nam có tin tức”“.

Tổ Nguyên nói : “Nếu thế th́ Đại Tạng, Tiểu Tạng từ đâu mà đến ?”

Ngài Đầu nói : “Đều từ trong ấy hết !”

Tổ bằng ḷng.

Tổ Vân Môn mở lời rằng : “Nháy mắt ngang cả mười phương, trên lông mày suốt đến càn khôn, dưới suốt đến suối vàng. Núi Tu Di lấp nghẹt cuống họng của ông. Có ai hiểu không ? Ai mà hiểu được th́ đem dẫn xứ Chiêm Thành đánh nhau với xứ Tân La !”

Ngài Diệu Hỉ nói : “Là Đại Thần Chú, là Đại Minh Chú, là Vô Thượng Chú, là Vô Đẳng Đẳng Chú hay trừ tất cả khổ, chân thật không hư. Các ông có rơ Vân Môn không ? Há chẳng nghe nói “Tam đài (tam quán) cần phải chính ông thúc giục”.

Tổ Vân Môn, Diệu Hỉ quả là người trong hội, tuyên nói lại Chú Tâm, chỉ ra cảnh giới không thể nghĩ bàn. Ai mà diệu khế ư chỉ này, tự cai quản giữ lấy mà thành Phật không sai !

 

Kinh : “Cũng tên là “Quán Đảnh Chương Cú, Chư Bồ Tát Vạn Hạnh, Thủ Lăng Nghiêm”. Ông hăy phụng tŕ”.

Thông rằng : Muôn Hạnh của Chư Bồ Tát đều đầy đủ, cho đến tất cả Sự rốt ráo kiên cố th́ gọi là Quán Đảnh Bồ Tát. Vị Bồ Tát này sắp thành Diệu Giác th́ ở trên cơi trời Sắc Cứu Cánh hiện ra ṭa Đại Bửu Liên Hoa Vương rộng lớn trăm vạn a tăng kỳ Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới. Bồ Tát muốn lên ṭa này trước hết ở trong thân phóng hiện mười đạo quang trăm báu, chiếu soi loài hữu t́nh, sau cùng từ cửa đỉnh đầu phóng ánh sáng nhập vào chân Chư Phật. Khi ấy, Chư Phật từ nơi mặt phóng ra quang minh trăm báu chảy tuôn rót vào đảnh đầu của vị Bồ Tát ấy, thẳng đến nguồn tâm. Ở đây, chỉ lấy ánh sáng tuôn chảy tương giao ḥa nhập mà gọi là Quán Đảnh, thọ lănh chức vụ Phật.

Ở trước, có nói “Ranh giới của Giác thể nhập vào nhau” tức là cảnh tượng này. Nếu từ địa vị Diệu Giác th́ chẳng c̣n lời nói, duy từ Quán Đảnh trở xuống th́ cùng chương cú. Như ánh sáng giao nhập nhau, chương cú cũng không có. Ở trong chỗ không có chương cú mà có chương cú, nên mới gọi là chỗ này là “Diệu Trạm Tổng Tŕ, Thủ Lăng Nghiêm Vương, đầy đủ muôn hạnh, một đường Diệu Trang Nghiêm siêu xuất của mười phương Như Lai” vậy.

Cho nên, nói “Muôn hạnh đầy đủ” mà sau là “Rốt ráo kiên cố”, đó là Tiệm chứ không phải Đốn. Nói rằng “Tự Tánh kiên cố mà không nhờ muôn hạnh”, đó là Đốn chứ không phải Tiệm. Chẳng hay biết rằng con đường Diệu Trang Nghiêm này vốn tự đầy đủ muôn hạnh trang nghiêm, chẳng mượn đến sự trau làm, tất cả vốn kiên cố. Không phải chỉ có thân tâm trong ngoài đắc Đại Định Lực, mà trong Bản Tánh trùm khắp pháp giới, núi sông, đất đai, sáng tối, sắc không, tất cả mọi sự, tất cả mọi Pháp, hiện đây là tịch diệt, vốn trong Đại Định. Chính đây là Chân Tâm thường trụ, chính đây là Diệu Trạm Tổng Tŕ, vốn là Viên Đốn, sẵn sàng đầy đủ. Nên gọi đó là Thủ Lăng Nghiêm kinh.

Chưa đến địa vị Quán Đảnh Pháp Vương Tử th́ sao mà biết được chỗ nhiệm mầu, bởi thế nói rằng “Ông hăy phụng tŕ”.

Ḥa Thượng Phật Giám khai thị cho đại chúng.

Ngài kể chuyện : “Nhà sư hỏi Tổ Triệu Châu : “Thế nào là nghĩa chẳng biến đổi ?”

“Tổ Châu dùng hai tay làm cách thế nước chảy.

“Nhà sư có chỗ tỉnh ngộ”.

Ngài lại kể chuyện : “Nhà sư hỏi Tổ Pháp Nhăn : “Chẳng giữ lấy tướng, như như chẳng động. Thế nào là chẳng giữ lấy tướng mà thấy chỗ chẳng động đó ?”

“Tổ Pháp Nhăn nói : “Mặt trời mọc phương Đông, lặn phương Tây !”

“Nhà sư cũng có chỗ tỉnh ngộ”.

Ngài nói tiếp : “Ngay nơi đó mà thấy được, mới biết rằng “Khí núi trùm non, bổn lai thường lặng. Sông nước cuộn chảy, nguyên tự chẳng trôi”. Chưa được như vậy th́ không khỏi lại phải nhiều lời. Thiên xoay trái, Địa chuyển phải, xưa qua nay lại trải bao lần biến đổi. Mặt trời bay qua, mặt trăng chạy mất vừa mới ló trên biển lại ch́m sau núi xanh. Sóng sông nước mịt mù, Hoài, Tế() gợn xa xăm, thẳng vào biển cả ngày đêm trôi chảy”.

Rồi lớn tiếng rằng : “Này Chư Thiền Đức, có thấy như như bất động chăng ?”

Ḥa Thượng Vân Cái Trí khai thị cho đại chúng rằng : “Độc chỉ là cái Thân liền kín kiên cố kia trong tất cả trần bày hiện. Nay đây Vân Cái này nói : Ngàn núi sum xuê, cầm thú hót kêu, trăm hoa đua nở, muôn cây nảy cành, hết thảy đó là Chư Phật, mỗi mỗi Chân Như. Các ông dạo chơi non nuớc phải kịp để con ngươi ngay đó, chớ để bị nó lừa !”

Hai vị tôn túc ấy, ngay trong tất cả trần cảnh mà nắm ra cái như như chẳng động, cái Thân chân thật liền kín kiên cố. Ấy là chẳng ĺa muôn Hạnh mà đắc rốt ráo kiên cố, quả là thâm nhập ư chỉ Lăng Nghiêm vậy. Ở chỗ này mà cắn nát được mới được gọi là phụng tŕ. C̣n bám suông chương cú, chưa biết lối vào th́ dù có trang nghiêm muôn Hạnh, rốt cuộc cũng là chuyện sanh diệt. Trong Tự tánh kiên cố, Diệu Trạm Tổng Tŕ sao những cách xa như trời đất vậy ư?

 

CHƯƠNG V

PHÂN BIỆT CÁC NGHIỆP QUẢ TẠO THÀNH TAM GIỚI. CHỈ RƠ CÁC CẢNH GIỚI TU CHỨNG VÀ CÁC CHƯỚNG NGẠI

 

I. HỎI VỀ SỰ SANH KHỞI VÀ NHÂN QUẢ CỦA LỤC ĐẠO

Kinh : Phật nói lời ấy xong, liền khi đó, Ông Anan và cả đại chúng nhờ được Như Lai khai thị ư nghĩa mật ấn Bát Đát Ra, lại nghe được những tên gọi Liễu Nghĩa của kinh này, đốn ngộ được diệu lư tăng thượng để tu, tiến vào các Thánh Vị trong Thiền Na. Tâm tư rỗng lặng, đoạn trừ sáu phẩm phiền năo vi tế tư-hoặc về tam giới.

Ông liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, chắp tay cung kính, bạch Phật rằng : “Đại oai đức Thế Tôn, Từ Âm không che ngại, khéo khai ngộ những lỗi lầm sâu kín nhỏ nhiệm của chúng sanh, khiến chúng tôi ngày nay thân tâm khoan khoái rỗng nhiên, được lợi ích lớn.

“Thưa Thế Tôn, cái Chân Tâm diệu minh trong sạch nhiệm mầu này bổn lai toàn khắp viên măn, như thế cho đến đất đai, cỏ cây, các loài máy động vốn nguyên là Chân Như, đó là Chân Thể thành Phật của Như Lai. Nếu Phật Thể vốn chân thật như thế th́ cớ sao lại có các nẻo địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, tu la, người, Trời. Bạch Thế Tôn, những nẻo ấy là bổn lai tự có hay do tập khí hư vọng của chúng sanh khởi ra ?

“Bạch Thế Tôn, như Tỳ Kheo Ni Bảo Liên Hương giữ Bồ Tát Giới, lén làm việc dâm dục, rồi nói càn rằng hành dâm chẳng phải sát sanh, chẳng phải trộm cắp, không có nghiệp báo ! Phát lời ấy rồi, trước hết nơi nữ căn sanh ra ngọn lửa hừng lớn, sau nơi mỗi mỗi đốt xương lửa cháy phừng phừng, đọa địa ngục Vô Gián.

“Như Đại Vương Lưu Ly và Tỳ Kheo Thiện Tinh: Lưu Ly v́ giết hai họ hàng Cù Đàm; Thiện Tinh v́ thuyết bậy rằng tất cả pháp đều rỗng không mà thân đang sống đọa vào địa ngục A Tỳ.

“Các địa ngục này là có chỗ nhất định, hay là tự nhiên mà khi mỗi người kia phát nghiệp th́ mỗi mỗi riêng chịu ?

“Xin Phật rủ ḷng Đại Từ, khai thị cho kẻ non dại mê muội, khiến cho tất cả các chúng sanh tŕ giới nghe nghĩa quyết định, hoan hỉ đội đầu, cẩn thận giữ ǵn không phạm”.

Thông rằng : Ông Anan nghe Phật bảo rằng “Mật ấn liễu nghĩa chỉ là một con đường hướng thượng rơ ràng, hẳn không có sự Tu vậy”. Nhưng vô minh bao kiếp bời bời há có thể trừ hết ngay sao ? Do đó, nơi Diệu Lư tăng thượng tu lên các Thánh Vị được cái cửa ngộ vào th́ tuần tự mở tỏ thân tâm, tâm tư rỗng lặng, đă được đoạn trừ sáu phẩm phiền năo nhỏ nhiệm của Tư Hoặc thuộc về tam giới.

Tam Giới() phân ra chín Địa, mỗi Địa có chín Phẩm. Đoạn trừ chín Phẩm của Dục Giới : Trừ sáu Phẩm đầu chứng quả Thứ Nh́, trừ ba Phẩm sau chứng quả Thứ Ba, A Na Hàm. Đoạn trừ hết mười tám Phẩm của hai giới Sắc và Vô Sắc, chứng bậc Vô Học A La Hán.

Đoạn trừ sáu phẩm phiền năo vi tế này là chỉ Thân Kiến, Biên Kiến và Tà Kiến đoạn trừ ở địa vị Sơ Quả. Kiến Thủ, Giới Thủ và Tham đoạn trừ ở địa vị Nhị Quả. C̣n lại Sân, Mạn và Si đến địa vị Thứ Ba mới đoạn trừ. Ông Anan mới chứng Nhị Quả nên chỉ đoạn trừ được sáu Phẩm.

Chẳng đoạn Vô Minh th́ chẳng chứng Vô Sanh. Tuy chứng Vô Sanh mà phiền năo vô minh vi tế chưa hết th́ chưa đắc Chân Ngộ vậy. Nên ông xin Phật nói rơ sâu xa về bảy nẻo luân hồi để mở chỗ nghi lầm, khiến cho người tŕ giới cẩn thận giữ ǵn không phạm.

Chỗ nghi của Ngài Anan tuy tương tự với cái nghi “Bổn nhiên thanh tịnh sao bỗng sanh núi sông đại địa” ở trước. Nhưng ba thứ tương tục là do vọng kiến mà sanh ra, lại nữa, mười hai loại sanh đều là do điên đảo. Ông Anan há chẳng lănh hội sao mà lại có nghi vấn này ? Đó chính là v́ sợ có người diệu ngộ trở lại chấp cái Chân Tâm trong sạch nhiệm mầu này xưa nay toàn khắp viên măn, bèn nhận là đại địa, cỏ cây vốn một Chân Như, Chân Thể thành Phật, sao c̣n có các thứ địa ngục v.v... Đây là chấp cái Diệu Viên mà bác bỏ các nẻo, chỉ riêng rơ ràng việc hướng thượng mà chẳng đoạn dứt phiền năo th́ thường thường có cái bệnh này.

Nếu quả không có các nẻo địa ngục v.v... th́ Tỳ Kheo Thiện Tinh và Tỳ Kheo Ni Bửu Liên Hương đúng ra không có báo ứng rơ ràng. Nay cảm ứng rơ ràng, chẳng sai chạy th́ các nẻo địa ngục phải là có. Há chẳng do tu tập lầm loạn mà đưa đến ư ? Chỉ do nơi tu tập lầm loạn, nên không được chấp chặt nhất định là có, cũng không được chấp chặt nhất định là không. Tu tập chẳng lầm th́ có cũng thành không. Tu tập đă lầm th́ không cũng thành có. Chỗ này hoàn toàn do ở sự tu tập vậy. Tŕ Giới Luật, đoạn phiền năo há có thể chẳng chăm chỉ cẩn thận ư ?

Khi Tổ Bách Trượng thượng đường th́ thường có một ông già nghe pháp rồi theo đại chúng đi ra.

Một hôm ông chẳng về, Tổ hỏi : “Đứng đó là ai?”

Ông già nói : “Vào thời Phật Ca Diếp tôi đă từng ở núi này. Có người học Đạo hỏi rằng : “Người tu hành c̣n rơi vào (lạc) nhân quả không ?” Tôi đáp : “Chẳng rơi vào nhân quả”, bị đọa vào thân chồn năm trăm kiếp. Nay xin Ḥa Thượng thay thế cho một chuyển ngữ”“.

Tổ Bá Trượng nói : “Chẳng mê mờ nhân quả”.

Ông già nghe xong đại ngộ, cáo biệt rằng : “Tôi đă khỏi thân chồn rồi, ở phía sau núi, xin theo nghi thức tăng qua đời mà thiêu cho”.

Tổ khiến Ông Duy Na() đánh bản, báo với đại chúng sau khi thọ trai th́ mời hết, đi đưa vị tăng qua đời. Đại chúng không hiểu ǵ.

Tổ dẫn đại chúng đến cái hang ở sau núi, lấy trượng khều ra một xác chồn, rồi theo nghi thức hỏa táng.

Đến buổi tham học chiều, Tổ đang nêu lại câu chuyện th́ Ngài Hoàng Bá bèn hỏi : “Người xưa đáp sai một chuyển ngữ mà đọa vào thân chồn hoang. C̣n ngày nay chuyển chuyển đều chẳng lầm th́ thế nào ?”

Tổ nói : “Đến gần đây ta nói cho nghe !”

Hoàng Bá đến gần, đánh Tổ một cái.

Tổ vỗ tay cười rằng : “Sắp nói Hồ râu đỏ, lại có đỏ râu Hồ !”

Ngài Thiên Đồng tụng rằng :

“Một thước nước,

Một trượng sóng !

Năm trăm kiếp trước chẳng hề ǵ

Chẳng “lạc”, chẳng “mờ” thương lượng đi

Y xưa, rớt vào bộng cát đằng

Ha ha ha, hiểu vậy chăng ?

Nếu mà ông liên miên lỗi lạc

Nào ngại ta ha hả cười hoài

Thần ca Thánh múa thành ra khúc

Khoảng ấy vỗ tay hát lư la”.

Viên thiền sư ở trong hội của Tổ Nam Công nghe hai nhà sư nhắc lại câu chuyện trên. Một vị nói “Chỉ như “Chẳng mờ nhân quả” th́ cũng chưa thoát được thân cáo chồn !”

Vị kia lên tiếng : “Vậy th́ “Chẳng sa nhân quả” th́ cũng có bao giờ đọa vào thân cáo chồn ư ?”

Ngài Viên hoảng hồn, kinh dị với các lời trên, vội lên Tổ Hoàng Bá, khi qua cái khe đầu am Tích Thúy, bỗng nhiên đại ngộ. Gặp Tổ Nam Công, kể bày câu chuyện chưa xong mà nước mắt ướt má.

Tổ Nam Công bảo Ngài lại chỗ nằm của ông thị giả mà ngủ.

Bỗng Ngài ngồi dậy đọc bài kệ :

“Chẳng “lạc”, chẳng “mờ”

Tăng tục vốn không kiêng cữ

Trượng phu khí phách như Vương

Nào chịu túi, chăn che đậy

Một cành liễu táo mặc tung hoành

Chồn cáo nhảy vào đàn sư tử”.

Tổ Nam Công cười lớn.

Vậy th́ một cái anh chồn cáo này, trước kia sao là có, về sau sao là không ? Các nhà ở nơi cái nhân duyên này, che đậy biết bao kẻ, mở thoát biết bao người. Thế mới biết chỗ đáng quư là Chân Ngộ vậy. Nếu chấp Diệu Viên mà bác bỏ các nẻo nghiệp th́ quả là kiến giải của loài tinh chồn cáo vậy.

 

II. KHAI THỊ VỀ PHẬN TRONG, PHẬN NGOÀI CỦA CHÚNG SANH

Kinh : Phật bảo Ông Anan : “Hay thay lời hỏi đó, khiến cho chúng sanh chẳng rơi vào tà kiến. Nay ông hăy nghe kỹ, ta sẽ v́ ông mà nói.

“Anan, tất cả chúng sanh thật ra vốn Chân Tịnh, nhân tự có vọng kiến mà có các tập khí hư vọng sanh ra. Do đó mà có phân ra phận trong và phận ngoài.

“Anan, Phận Trong tức là trong phần của chúng sanh. Do các ái nhiễm phát khởi vọng t́nh, t́nh tích chứa măi không ngừng th́ hay sanh ái thủy. Bởi thế chúng sanh hễ tâm nhớ món ăn ngon th́ trong miệng nước chảy ra; hễ tâm nhớ người trước, hoặc thương hay ghét th́ trong mắt lệ tràn. Tham cầu của báu th́ tâm phát ái diên (nước dăi), cả ḿnh đều trơn nóng. Tâm dính vào chuyện hành dâm th́ hai căn nam, nữ tự nhiên chảy nước dịch.

“Anan, các ái tuy có khác nhau, nhưng kết quả chảy nước là đồng, thấm ướt không lên được, tự nhiên theo đó mà sa xuống, ấy gọi là phận trong.

“Anan, Phận Ngoài tức là ngoài phần của chúng sanh. Nhân các ḷng khao khát, trông mong, phát sanh ra các hư tưởng. Cái Tưởng chứa chất măi không thôi th́ hay sanh ra sự trội hơn về khí. Bởi thế chúng sanh tâm giữ Giới Cấm th́ cả thân ḿnh nhẹ nhàng trong suốt. Tâm giữ Chú Ấn th́ mắt nh́n hùng dũng, nghiêm nghị. Tâm muốn sanh cơi Trời th́ chiêm bao thấy bay lên. Tâm để nơi cơi Phật th́ Thánh cảnh thầm hiện. Phụng sự bậc thiện trí thức th́ tự coi nhẹ thân mệnh ḿnh.

“Anan, các Tưởng tuy khác nhau, nhưng sự nhẹ nhàng cất lên th́ đồng. Cất bay lên không ch́m xuống, tự nhiên vượt lên, ấy gọi là Phận Ngoài.

“Anan, hết thảy thế gian sống chết nối nhau : Sanh th́ theo tập khí quen thuộc; tử th́ theo sự đổi ḍng. Lúc mệnh chung, chưa hết hơi ấm th́ thiện ác một đời cùng lúc liền hiện ra. Sống thuận, chết nghịch, hai tập khí giao nhau.

“Thuần là Tưởng th́ bay lên, hẳn là sanh trên cơi Trời. Nếu trong tâm bay lên đó gồm cả Phước Đức và Trí Huệ cùng với tịnh nguyện th́ tự nhiên tâm mở tỏ, thấy tất cả Tịnh Độ của mười phương Chư Phật, rồi tùy nguyện mà văng sanh.

“T́nh ít, Tưởng nhiều th́ cất lên chẳng xa mà làm các loài Phi Tiên, Đại Lực Quỷ Vương, Phi Hành Dạ Xoa, Địa Hành La Sát dạo trong bốn cơi trời không bị ngăn ngại. Nếu có thiện nguyện, thiện tâm hộ tŕ Phật Pháp hoặc hộ tŕ Cấm Giới th́ theo người tŕ Giới, hoặc hộ tŕ Thần Chú th́ theo người tŕ Chú, hoặc hộ tŕ thiền định th́ giữ an pháp nhăn, hết thảy đều được gần gũi dưới pháp ṭa của Như Lai.

“T́nh và Tưởng ngang nhau th́ không bay lên, không đọa xuống, sanh nơi cơi người. Tưởng sáng th́ thông minh, T́nh tối th́ ngu độn.

“T́nh nhiều Tưởng ít th́ trôi dạt vào cầm thú : Nặng th́ làm giống mang lông, nhẹ th́ làm loài có cánh.

“Bảy phần T́nh, ba phần Tưởng th́ ch́m xuống Thủy Luân, sanh nơi mé Hỏa Luân, chịu ngọn lửa mạnh, thân làm ngạ quỉ, thường bị thiêu đốt. V́ nước có thể hại ḿnh nên trải trăm ngàn kiếp không ăn không uống.

“Chín phần T́nh, một phần Tưởng th́ xuống thấu Hỏa Luân, thân đi vào ranh giới giao nhau của Phong Luân và Hỏa Luân, nhẹ th́ sanh vào Hữu Gián, nặng th́ sanh vào Vô Gián, hai thứ địa ngục.

“Thuần là T́nh th́ ch́m sâu vào ngục A Tỳ. Nếu trong tâm ch́m đắm đó mà có sự hủy báng Đại Thừa, phá Cấm Giới của Phật, nói pháp láo dối, tham bậy của tín chủ, lạm nhận sự cung kính hoặc Ngũ Nghịch, Thập Trọng th́ lại sanh vào địa ngục A Tỳ mười phương.

“Theo sự tạo ác nghiệp, tuy tự chuốc lấy nhưng trong nghiệp đồng phận chung đó vẫn có chỗ sẵn.

Thông rằng : Đây là trả lời chung câu hỏi “Các nẻo là vốn tự có hay là do tập khí hư vọng của chúng sanh sanh khởi ra ?”

Căn cứ theo chỗ chiêu cảm của bảy nẻo tùy nghiệp thọ sanh, hoặc thiên đường, địa ngục... hoặc cơi người th́ khổ vui chẳng đồng, nhưng mỗi nẻo đều có đồng nghiệp tương thành, tức là trong đồng phận vốn có chỗ sẵn, không thể cho là không có, v́ nó vốn là do tập khí hư vọng sanh ra vậy. Tánh của chúng sanh vốn là Chân Tịnh, chẳng rơi vào Thánh, phàm. Bởi tự dấy khởi t́nh kiến, chẳng biết đó là hư vọng, hư vọng mà huân tập hoài th́ không bỏ được nữa.

Từ thân xác khởi vọng niệm th́ cái vọng kiến đó, tập khí hư vọng đó ở trong phần của thân xác. Từ ư tưởng khởi vọng niệm th́ cái kiến, cái tập khí hư vọng đó ở ngoài phần của thân xác. Trong phần của thân xác, do Ái mà mắc T́nh : miệng đối với vị, mắt đối với sắc, tâm đối với của cải hay sanh ra ái thủy. Tánh nước chảy xuống nên theo đó mà rớt xuống. Ngoài phần của thân xác, do Suy mà mắc vào Tưởng : hoặc để tâm nơi cơi Phật, hay muốn sanh lên cơi trời, hoặc giữ thiện pháp, nên hay sanh ra cái khí trội hơn. Khí th́ bay lên, nên theo đó mà đi lên.

Thuần là Tưởng th́ sanh từ cơi Đao Lợi trở lên, có tịnh nguyện th́ sanh cơi Tịnh Độ. Chín phần Tưởng th́ làm Phi Tiên; tám phần Tưởng th́ làm Đại Lực Quỷ Vương. Bảy phần Tưởng th́ làm Phi Hành Dạ Xoa. Sáu phần Tưởng làm Địa Hành La Sát. Bởi v́ Tưởng trội vượt nên chỗ đi không ngăn ngại vậy.

Nhưng T́nh có tà, chánh. Chánh th́ không rời pháp ṭa của Như Lai, bởi trước giờ giữ Giới, tŕ Chú, phụng sự thiện tri thức, nên rốt cuộc làm Thần Hộ Pháp. T́nh và Tưởng ngang nhau th́ sanh ở cơi người. Sáu phần T́nh th́ làm cầm thú. Bảy phần T́nh th́ làm ngạ quỷ. Tám phần T́nh th́ sanh vào địa ngục Hữu Gián. Chín phần T́nh th́ sanh vào địa ngục Vô Gián. Thuần là T́nh th́ ch́m vào địa ngục A Tỳ. Có thêm các tội chê Phật, báng Pháp th́ lại sanh vào địa ngục A Tỳ mười phương không có ngày ra. Ấy là vọng nghiệp tự chuốc lấy, sạch dơ có khác vậy.

Nếu chẳng vướng mắc nơi T́nh ắt địa ngục không. Chẳng vướng mắc nơi Tưởng ắt thiên đường không. T́nh, Tưởng đều không th́ tuy ở nhân gian mà tâm dạo nơi cơi Phật. Bảy nẻo nghiệp vẫn có sẵn th́ Tịnh Độ cũng có sẵn rơ ràng vậy. Trở lại cái bổn lai chúng sanh chân tịnh của ta mà chẳng sanh nơi Tịnh Độ th́ sanh về đâu ?

Có nhà sư hỏi Tổ Bách Trượng : “Đối với tất cả cảnh, như sao mà được tâm như gỗ đá nhỉ ?”

Tổ Trượng nói : “Tất cả các pháp vốn chẳng tự nói không, chẳng tự nói sắc, cũng chẳng tự nói trái phải, dơ sạch, cũng không có tâm trói buộc người. Chỉ tại con người tự hư vọng dấy nghĩ mà vướng mắc, tạo ra đủ thứ giải thoát t́m hiểu, khởi bao nhiêu thứ tri kiến, sanh bao nhiêu thứ thương ghét. Chỉ rơ các pháp vốn chẳng tự sanh, hết thảy đều từ một niệm vọng tưởng điên đảo bám giữ tướng của tự ḿnh mà có. Biết Tâm cùng cảnh vốn chẳng đến nhau, ngay đây là Giải Thoát. Mỗi mỗi các pháp, hiện đây tịch diệt, hiện đây là đạo tràng. Cái Tánh vốn hiện có, chẳng thể đặt tên, phân hạng. Xưa nay chẳng là phàm, chẳng là Thánh, chẳng là dơ sạch, cũng chẳng không hay có, cũng chẳng phải thiện, ác. Tương ưng với các pháp nhiễm ô th́ gọi là cảnh giới Trời, người, Nhị Thừa.

Bằng như tâm dơ sạch hết tuyệt, chẳng trụ ràng buộc, chẳng trụ giải thoát, không có hết thảy tâm lượng hữu vi, vô vi, ràng buộc, giải thoát, th́ ở ngay trong sanh tử, mà tâm đó tự tại. Rốt ráo chẳng cùng các thứ trần lao hư huyễn, uẩn giới sanh tử giả dối. Các thứ nhập, ḥa hiệp rỗng nhiên không nhờ gởi. Hết thảy chẳng dính giữ, ở đi không ngăn ngại. Tới lui sanh tử giống như cửa thường mở hoác !”

Tổ Bách Trượng đại từ thuận lời phát huy, thầm hợp với ư chỉ đoạn kinh này. Nơi đây mà thừa thọ, đảm đương được ngay th́ T́nh, Tưởng liền vượt thoát, chẳng kẹt vào tà kiến. Rốt là Như Lai hẳn khen “Hay thay” vậy.

 

III. CHỈ RA MƯỜI TẬP NHÂN VÀ SÁU GIAO BÁO

Kinh : “Anan, những điều như thế đều do nghiệp báo của các chúng sanh tự chiêu cảm lấy : Tạo mười Tập Nhân th́ chịu sáu Giao Báo.

“Anan, thế nào là mười Tập Nhân ? Một là thói quen dâm dục giao tiếp, phát sanh nơi sự cọ xát lẫn nhau. Cọ xát không thôi, như vậy cho nên trong ấy có ngọn lửa lớn phát động ra, như người lấy hai tay xoa xát lẫn nhau th́ cảm giác nóng hiện ra. Hai cái tập khí thiêu đốt nhau, nên mới có các thứ giường sắt, cột đồng. Thế nên tất cả mười phương Như Lai xem việc Hành Dâm đồng gọi là lửa dục. Bồ Tát xem thấy Dâm Dục như tránh hầm lửa.

“Hai là, thói quen tham lam, so đo tính toán, phát sanh nơi sự thu hút lẫn nhau. Hấp thu ôm ấp chẳng ngừng, như vậy cho nên trong ấy có chứa hơi lạnh thành giá cứng đông đặc, như người hút hơi gió vào th́ cảm giác lạnh sanh ra. Hai cái tập khí lấn nhau, nên có những sự tra tra, ba ba, la la, sen sanh, đỏ, trắng, giá lạnh v.v... Bởi thế tất cả mười phương Như Lai xem việc Tham nhiều đồng gọi là nước tham. Bồ Tát xem thấy Tham như tránh biển độc.

“Ba là, thói quen kiêu mạn lấn lướt lẫn nhau phát sanh nơi chỗ ỷ thế với nhau, giong ruổi không thôi, như vậy cho nên có sự phóng túng, bôn ba, chứa sóng thành nước, như người miệng lưỡi tự chép làm cho nước bọt sanh ra. Hai cái tập khí chọi nhau nên có các việc sông máu, sông tro, cát nóng, biển độc, nước đồng bắt uống... Thế nên, tất cả mười phương Như Lai xem ḷng Ngă Mạn, đồng gọi là uống nước si mê. Bồ Tát xem thấy Kiêu Mạn như tránh vực thẳm lớn.

“Bốn là, thói quen nóng giận xung đột lẫn nhau, phát sanh nơi sự chống đối lẫn nhau. Chống đối hoài không thôi, tâm nổi nóng phát ra lửa, nấu cái khí thành kim loại, như vậy cho nên có núi dao, đ̣n sắt, cội cây gươm, bánh xe gươm, búa ŕu, thương, cưa, như người bị hàm oan th́ sát khí nổi lên. Hai tập khí đánh nhau, nên có các sự thiến, cắt, chém, chặt, dùi, đâm, đập, đánh. Thế nên tất cả mười phương Như Lai xem sự Nóng Giận đồng gọi là kiếm, dao bén. Bồ Tát xem thấy Nóng Giận như tránh chém, giết.

“Năm là, thói quen giả dối, dụ gạt lẫn nhau, phát sanh nơi sự lôi kéo lẫn nhau. Dẫn dụ chẳng ngừng, như vậy cho nên có dây, cây tḥng lọng, căng nọc, như nước thấm xuống ruộng th́ cỏ cây sanh trưởng. Hai tập khí kéo nhau nên có các sự gông, cùm, xiềng xích, roi, gậy, qua, bổng. Thế nên tất cả mười phương Như Lai xem sự Giả Dối đồng gọi là Sàm Tặc. Bồ Tát xem thấy Gian Dối như sợ sói, beo.

“Sáu là, thói quen lừa gạt, phỉnh dối lẫn nhau, phát sanh nơi sự phỉnh gạt lẫn nhau. Phỉnh gạt chẳng thôi, phát tâm gây điều gian dối, như vậy cho nên có bụi, đất, đại tiện, tiểu tiện, dơ nhớp chẳng sạch; như bụi theo gió không thấy lẫn nhau. Hai cái tập khí d́m nhau nên có các sự ch́m đắm, nhảy, ném, bay, rơi, trôi lăn. Thế nên tất cả mười phương Như Lai xem sự Lừa Gạt đồng gọi là cướp giết. Bồ Tát xem thấy việc Lường Gạt như dẫm rắn độc.

“Bảy là, thói quen thù oán, hiềm khích lẫn nhau, phát sanh nơi chỗ ôm ấp ḷng giận. Như vậy cho nên có quăng đá, ném gạch, cũi nhốt, xe tù, b́nh đựng, đảy bọc, như người hiểm độc ôm ấp điều dữ. Hai cái tập khí nuốt nhau, nên có các việc ném, quăng, nắm, bắt, đánh, bắn, vất, ôm. Thế nên tất cả mười phương Như Lai xem sự Thù Oán đồng gọi là quỉ Vi Hại. Bồ Tát xem thấy Thù Oán như uống rượu độc.

“Tám là, thói quen tà kiến, tranh căi với nhau. Như thân kiến, giới cấm thủ và các nghiệp hiểu biết sai lầm, phát sanh nơi chỗ chống trái lẫn nhau. Như vậy cho nên có quan lại chứng thực, nắm giữ giấy tờ, nhiều như người đi đường qua lại gặp nhau. Hai cái tập khí giao nhau nên có các sự khám hỏi, mưu chước, vặn hỏi, đ̣i hỏi, gạn xét, cứu tra cho rơ ràng và những đồng tử thiện ác tay cầm sổ sách, biện bạch, hạch sách. Thế nên tất cả mười phương Như Lai xem Ác Kiến đồng gọi là hố kiến chấp. Bồ Tát xem thấy các Thiên Chấp hư vọng như nh́n xuống hố độc.

“Chín là, thói quen vu vạ làm hại cho nhau, phát sanh nơi chỗ phao vu, bài báng. Như vậy cho nên có núi khép, đá khép, cối nghiền, cối xay, như kẻ sàm tặc, áp bức vu oan người lương thiện. Hai cái tập khí bài xích lẫn nhau, nên có các việc áp giải, đè đập, ép máu, tuốt ḿnh. Thế nên tất cả mười phương Như Lai xem sự Vu Vạ đồng gọi là cọp sàm báng. Bồ Tát xem thấy sự Vu Vạ như bị sấm sét.

“Mười là, thói quen thưa kiện, căi vă lẫn nhau, phát sanh ở chỗ che đậy. Như vậy cho nên có gương soi, đuốc chiếu, như giữa ban ngày chẳng thể giấu bóng. Hai cái tập khí phơi bày lẫn nhau, nên có các việc bạn ác, kiếng soi nghiệp, hỏa châu phơi bày nghiệp xưa mà đối nghiệm. Thế nên tất cả mươi phương Như Lai xem sự Che Đậy đồng gọi là giặc ngầm. Bồ Tát xem thấy sự Che Đậy như đội núi cao lội trong biển lớn.

Thông rằng : Đức Thế Tôn nói về mười Tập Nhân, mỗi mỗi phối hợp với sự việc trong địa ngục, không sai mảy tơ. Tập quán th́ hẳn có nguyên nhân. Cái nhân đó chỉ có thể sanh ra các tướng nước, lửa, nhưng chưa có cái Dụng, lại thêm vào các thói quen giao tiếp đối đăi nhau mà thành sắt nóng, giá lạnh... các thứ. Nhưng mười phương Như Lai ở ngay trong chỗ nhân sanh khởi mà thấy suốt sự tốt, xấu nên chẳng có sự ǵ để tu. Bồ Tát th́ biết rơ đó là cái họa hại nên thận trọng thanh khiết mà không phạm nên xa lánh chúng. Dù có địa ngục mà trước đă không có nhân, nên chỉ có Phật cùng Bồ Tát mới có thể nói là không có địa ngục vậy. C̣n chưa đến Tâm, Hạnh như thế làm sao mà cho rằng tất cả là Không.

Đức Di Lặc nói : “Trong Dục Giới có ba mươi sáu chốn. Đó là tám đại địa ngục. Sao là tám ? Một là Đẳng Hoạt, hai là Hắc Thằng, ba là Chúng Hợp, bốn là Hiệu Khiếu, năm là Đại Hiệu Khiếu, sáu là Thiêu Nhiệt, bảy là Cực Nhiệt, tám là Vô Gián. Các chốn địa ngục này rộng mười ngàn do tuần.

“Ngoài những chỗ này lại có tám chốn địa ngục lạnh. Sao là tám ? Một là Pháo, hai là Pháo Liệt, ba là Hác Phàm, bốn là Hác Hác Phàm, năm là Hổ Hổ Phàm, sáu là Thanh Liên, bảy là Hồng Liên, tám là Đại Hồng Liên. Từ chỗ này xuống ba mươi hai ngàn do tuần th́ đến Đẳng Hoạt. Từ chỗ này lại cách bốn ngàn do tuần th́ có địa ngục khác như chốn đại địa ngục Đẳng Hoạt. Chốn địa ngục lạnh ở trước cũng vậy. Từ chỗ này lại cách hai ngàn do tuần có các địa ngục khác nữa”.

Ngài lại dạy : “Ở trong đại địa ngục Đẳng Hoạt chịu nhiều cực h́nh khổ sở. Các hữu t́nh kia phần nhiều hướng về chỗ tạo nghiệp tăng thượng, sanh ra đủ thứ khổ, lần lượt khởi lên mà tàn hại lẫn nhau, chết giấc nằm lăn lóc trên đất. Khi ấy trên không có tiếng nói lớn, xướng lên rằng “Các hữu t́nh kia được sống trở lại hết thảy”. Liền đó, các hữu t́nh lại bỗng đứng dậy”.

Xem đây th́ rơ là địa ngục không phải là không có chỗ nhất định.

Kinh Tịnh Độ Tam Muội nói : “Xưa Quốc Vương Tỷ Sa và Thủy Vương Duy Đà đánh nhau. Vua Duy Đà thua, phát thệ nguyện làm vua dưới đất. Khi ấy, bề tôi vua có mười tám người dẫn một trăm vạn người nguyện trên đầu mọc sừng theo vua giúp trị theo pháp để xử trị người có tội. Nay gọi là vua Diêm La, Ngưu Đầu, A Bàng đó vậy”.

Xem đây th́ rơ ràng địa ngục cùng thân thể chẳng phải từ mười phương đến, mà chỉ do ác nghiệp trói buộc sanh ra thân địa ngục vậy.

Mười Tập Nhân : Dâm, Tham, Mạn, Sân, Trá, Cuống, Oán, Ác Kiến, Vu Vạ và Kiện Tụng tương tự như năm mươi mốt Tâm Sở : Phẫn, Hận, Năo, Phú, Cuống, Siểm, Kiêu, Hại... Nhưng v́ sao tóm lại thành mười ? Ở đây, chỉ kể các nghiệp bất thiện. Cho nên Tham, Sân, Mạn và Tà Kiến thuộc về Ư Nghiệp, mà Mạn được gọi là uống nước Si, th́ trong đă có Si vậy. Oán, Sân và Dâm thuộc về Thân Nghiệp mà tập khí Oán, Sân, Sát... th́ Sát, Đạo đă ở trong đó vậy.

Cuống, Trá, Vu Vạ, Kiện Tụng th́ ư nghĩa cũng tương tự. V́ sao phân ra bốn ? V́ đó là bốn cái thuộc về Khẩu Nghiệp. Cho nên Cuống là Vọng Ngữ, Trá là Ỷ Ngữ, Vu Vạ là Lời Ác, và Kiện Tụng là Lưỡng Thiệt. Dâm là chỗ tự đến của thân kiến, lại là gốc ban đầu tạo nghiệp nên đầu hết nêu ra Dâm. Dâm do cọ xát mà sanh lửa. Tham do thu vào mà sanh nước. Tương tự như người dương thịnh th́ nằm mộng thấy lửa, người âm thịnh th́ nằm mơ thấy nước. Giường sắt, cột đồng là cái thói quen chồng chất của Vọng Tưởng ôm giữ, nằm nghỉ lâu dài vậy.

Ba ba, tra tra, la la là âm thanh rên chịu lạnh. Đó là tên khác của hổ hổ, hác hác. Sen xanh, đỏ, trắng là màu của băng lạnh vậy. Nước Si ở Thiên Trúc có, hễ uống vào th́ si mê, cùng loại với nước suối tham, uống vào th́ á khẩu, to bụng. Sự kiêu dật cũng có mùi vị ấy nên người cùng siểm nịnh th́ như ngâm trong nước bẩn mà chẳng tự biết.

Thói quen dâm dục do nóng bức mà phát hỏa, tự hao tinh khí.

Thói quen nóng giận do nghịch khí phát hỏa, làm mạnh thêm khí nóng. Hỏa khắc Kim nên nung đốt cái Khí khiến cho Khí tuy cứng mà phải tự thương tổn.

Thói quen dối trá nương nơi gian dối mà khởi ác, ban đầu là cười vui, kế đến là lan man. Cái trí xảo như nước nên giả dối lấy trí mẹo làm đầu, như beo sói tuy rất nhỏ mà có thể ăn cọp.

Thói quen lừa gạt th́ giả vờ có đức hạnh khiến người khác mê mờ, ví như gió nổi bụi khiến người không thấy. Bởi thế sự cướp hại, lừa người không thấy cũng như rắn độc bất ngờ cắn người vậy.

Giận dữ lộ ra ngoài nên sát khí nổi lên, thuộc về Sát. Oán ghét chứa bên trong nên ôm giữ độc ác như lấy bao trùm người mà đánh, đó là việc ám muội, tức thuộc về trộm. Quỉ Vi Hại, rượu chim Cưu đều là âm độc.

Thói quen tà kiến có năm : Một là Thân Kiến, là chấp thân có thực nên toan tính đủ điều. Hai là Biên Kiến, đó là với tất cả các pháp chấp là Đoạn, là Thường. Ba là Tà Kiến, là hiểu sai ngộ lầm, bác bỏ không có Nhân Quả. Bốn là Kiến Thủ, đó là chẳng phải thật Quả mà cho là Quả, ví như lấy cơi trời Vô Tưởng mà cho là Niết Bàn. Năm là Giới Cấm Thủ, đó là chẳng phải Nhân mà cho là Nhân, ví như giữ giới chó, ḅ... mà cho là Nhân để sanh cơi Trời. Năm Tà Kiến này gọi chung là ác kiến, tương phản lẫn nhau, như người đi đường, kẻ đi người lại, chỗ thấy biết trái khác nhau, nên cần phải khám hỏi. Ép uổng người lương thiện, chẳng vặn vẹo mà làm ra vặn vẹo, nên bị ép cái xác, khô kiệt máu huyết, hoặc cân đo máu và xác cho đúng lượng, như loài súc vật vậy.

Thói quen kiện tụng th́ do đây kia, sanh ra chuyện kiện thưa, đâm ra nhọc nhằn, giống như đội núi mà đi dưới biển, Bồ Tát há chịu làm ư ?

Năm Kiến Chấp và Tham, Sân, Si, Mạn đoạn rồi th́ chứng quả Thứ Ba là Đoạn Trừ Hoặc của chín phẩm của địa dưới. C̣n các Hoặc() này chẳng có đoạn th́ tạo nghiệp không ngớt, có nhân thế nào th́ quả phải thế ấy.

Xưa, có Ông Lư Lưu Hậu, tự Đoan Nguyện hỏi thiền sư Đạt Quan rằng : “Người chết rồi đi về đâu ?”

Tổ Quan nói : “Chưa biết sống sao biết chết ?”

Ông Lư nói : “Sống th́ Đoan Nguyện này biết rồi”.

Tổ Quan nói : “Sống từ đâu đến ?”

Ông Lư trầm ngâm.

Tổ vỗ vào ngực, nói : “Chỉ tại trong ấy, suy nghĩ cái ǵ ?”

Ông Lư : “Dạ, hiểu. Chỉ biết đường ham, ngờ đâu lạc nẻo !”

Tổ khoát gạt ra, bảo : “Trăm năm một giấc chiêm bao”.

Ông Lư lại hỏi : “Địa ngục rốt cùng là có hay không ?”

Tổ đáp : “Chư Phật hướng về trong Không mà nói Có : mắt thấy Không-hoa. Ông lại ở trong Có t́m Không : tay ṃ trăng dưới nước. Nực cười thay trước mắt thấy nhà tù mà không tránh, ngoài tâm thấy thiên đường mà muốn sanh về ! Đâu biết thích sợ tại tâm th́ thiện ác thành tựu. Ông chỉ rơ biết Tự Tâm, tự nhiên không nghi hoặc !”

Ông Lư hỏi : “Tâm làm sao rơ ?”

Tổ đáp : “Thiện ác thảy chẳng suy lường !”

Ông lại hỏi : “Chẳng suy lường rồi, tâm về chốn nào ?”

Tổ nói : “Mời Thái Úy về sở làm”.

Tổ Động Sơn hỏi nhà sư : “Ở đời cái ǵ là khổ nhất ?”

Nhà sư đáp : “Địa ngục khổ nhất”.

Tổ Sơn nói : “Không phải đâu ! Ngoảnh về dưới sợi chỉ dệt áo này mà chẳng rơ chuyện đại sự, ấy mới khổ”.

Ngài Đơn Hà tụng rằng :

“Vạc sôi ḷ lửa bao nhiêu chuyện

Địa ngục, tam đồ khổ hết than !

Phải tin Tổ Động, lời thân thiết

Dưới lớp cà sa chớ mơ màng !”.

Rơ đại sự th́ không có nhân địa ngục, nên địa ngục chưa phải là khổ. C̣n chẳng rơ Tự Tâm th́ khổ hết chỗ than !

 

Kinh : “Thế nào là sáu Giao Báo ?

“Anan, hết thảy chúng sanh sáu Thức tạo nghiệp nên chiêu lấy ác báo từ sáu căn ra.

“Thế nào là Ác Báo từ sáu Căn ra ?

“Một là, Ác Báo về Thấy chiêu dẫn ác quả. Nghiệp Giao Báo về thấy này là khi lâm chung, trước hết thấy lửa hừng đầy cả mười phương, thần thức người chết bay đọa theo khói vào ngục Vô Gián, phát sanh hai tướng : Một là, thấy sáng th́ thấy khắp các thứ vật dữ, sanh sợ hăi ghê gớm. Hai là, thấy tối th́ lặng soi chẳng thấy ǵ sanh hoảng sợ vô cùng. Lửa-thấy như vậy đốt cái nghe th́ có thể làm thành vạc sôi, đồng chảy; đốt hơi thở th́ có thể làm thành lửa đỏ, khói đen; đốt cái nếm th́ có thể làm thành ḥn lửa, cơm sắt; đốt cảm xúc th́ có thể làm tro nóng, ḷ than; đốt tâm thức th́ có thể sanh sao lửa rưới khắp, làm rung động cơi hư không.

“Hai là, Ác Báo về Nghe chiêu dẫn ác quả. Nghiệp Giao Báo về Nghe này là khi lâm chung, trước hết thấy sóng cuộn ngập ch́m trời đất, thần thức người chết sa xuống theo ḍng nước vào ngục Vô Gián, phát sanh hai tướng : Một là, nghe rơ th́ nghe đủ thứ ồn ào, tinh thần bấn loạn. Hai là, điếc hẳn, lặng ngất không nghe thấy ǵ, thần phách ch́m đắm. Sóng nghe như vậy rót vào cái nghe th́ có thể làm thành trách móc, cật vấn; rót vào cái Thấy th́ có thể làm thành sấm, thành tiếng rống, làm hơi độc dữ; rót vào hơi thở th́ có thể làm thành mưa thành mù, rưới các sâu độc đầy khắp thân thể; rót vào cái nếm th́ có thể làm thành mủ, máu, các thứ dơ bẩn; rót vào cảm xúc th́ có thể làm súc vật, làm quỉ, làm phân, làm nước tiểu; rót vào tâm ư có thể làm thành chớp, mưa đá, đập nát tâm phách.

“Ba là, Ác Báo về Ngửi chiêu dẫn ác quả. Nghiệp Giao báo về ngửi này là khi lâm chung, trước hết thấy hơi độc đầy dẫy xa gần, thần thức người chết từ đất trỗi lên vào ngục Vô Gián, phát sanh hai tướng : Một là, ngửi thông th́ bị các hơi độc xông tột bực làm cho tâm rối loạn. Hai là, nghẹt mũi, hơi ngạt không thông, nằm chết giấc trên đất. Hơi ngửi như vậy xông vào hơi thở th́ có thể làm thông, làm ngạt; xông vào cái thấy th́ có thể làm thành lửa, thành đuốc; xông vào cái nghe th́ có thể làm ch́m ngập, làm chết đuối, làm nước lớn, làm nước sôi; xông vào cái nếm th́ có thể làm śnh, làm thối; xông vào cái cảm xúc th́ có thể làm xấu, làm nát, làm ra núi thịt lớn có trăm ngàn con mắt, hút ăn không cùng; xông vào ư nghĩ th́ có thể làm ra tro, ra khí độc, làm gạch đá bay lên đánh nát cơ thể.

“Bốn là, Ác Báo về Nếm chiêu dẫn ác quả. Nghiệp Giao Báo về nếm này là khi lâm chung, trước hết thấy lưới sắt nung đỏ che khắp thế giới, thần thức người chết từ dưới tung lên, mắc lưới treo ngược đầu xuống vào ngục Vô Gián, phát sanh hai tướng : Một là, nuốt vào th́ kết thành giá lạnh làm nứt nẻ thân thể. Hai là, mửa ra th́ bay lên thành lửa hừng, tiêu rụi xương tủy. Nếm biết như vậy, qua cái nếm th́ có thể làm ra nhận ra chịu; qua cái Thấy th́ có thể làm ra các thứ kim thạch đốt cháy; qua cái Nghe th́ có thể làm binh khí sắc bén; qua hơi thở th́ có thể làm lồng sắt rộng che hết cơi nước; qua cảm xúc th́ có thể làm thành cung, thành tên, làm nỏ, làm bắn; qua ư nghĩ th́ có thể làm sắt nóng bay, từ trên không rưới xuống.

“Năm là, Ác Báo về Xúc chiêu dẫn ác quả. Nghiệp Giao Báo về Xúc này là khi lâm chung, trước hết thấy núi lớn bốn mặt áp lại không c̣n lối ra, thần thức người chết thấy thành sắt lớn, rắn lửa, chó lửa, cọp sói, sư tử, lính ngục đầu trâu, la sát đầu ngựa tay cầm giáo chĩa lùa vào cửa thành hướng về ngục Vô Gián, phát sanh hai tướng : Một là, hợp xúc th́ núi ép kẹp ḿnh, xương thịt nát ra máu. Hai là, ĺa xúc th́ đao kiếm chạm đụng ḿnh, tim gan cắt xẻ. Xúc hợp như vậy qua cái xúc th́ có thể làm ra đường, ra quán, làm nha sảnh, làm ṭa án; qua cái thấy th́ có thể làm đốt, làm nung; qua cái nghe th́ có thể làm thành đập, đánh, đâm, bắn; qua hơi thở th́ có thể làm thành trùm, đẩy, tra, trói; qua cái nếm th́ có thể làm cày, làm kềm, chém, chặt; qua ư nghĩ th́ có thể làm rớt, làm bay, làm nấu, làm nướng.

“Sáu là, ác báo về Ư chiêu dẫn ác quả. Nghiệp Giao Báo về Ư này là khi lâm chung, trước hết thấy gió dữ thổi nát cơi nước, thần thức người chết bị thổi lên trên không, xoay rơi theo gió, sa vào ngục Vô Gián, phát sanh hai tướng : Một là, không biết, tột mê th́ hoang mang, rông chạy không ngừng. Hai là, chẳng mê, hay biết th́ khổ, bị nung đốt không cùng, đau buốt không chịu nổi. Ư lầm lạc như vậy kết vào ư nghĩ th́ có thể làm thành nơi, làm chốn; kết vào cái thấy th́ có thể làm gương soi, làm chứng cớ; kết vào cái nghe th́ có thể làm ra núi lớn xáp vào nhau, làm ra giá, ra sương, ra đất, ra mù; kết vào hơi thở th́ có thể làm ra xe lửa lớn, làm thuyền lửa, làm rọ lửa; kết vào cái nếm th́ có thể làm kêu la to, làm ăn năn, làm khóc lóc; kết vào cái xúc th́ có thể làm ra lớn, làm ra nhỏ, làm cho trong một ngày vạn lần sống, vạn lần chết, làm té sấp, té ngửa.

“Anan, đó là mười Tập Nhân và sáu Quả Báo của địa ngục. Nhân quả ấy đều do cái mê vọng của chúng sanh tạo ra. Nếu các chúng sanh tạo hết các nghiệp dữ th́ vào địa ngục A Tỳ, chịu vô lượng khổ, trải qua vô lượng kiếp. Các căn trong sáu căn tạo riêng và nghiệp tạo ra gồm cả căn lẫn cảnh th́ người ấy vào tám địa ngục Vô Gián. Ba thứ thân, khẩu, ư làm ra Sát, Đạo, Dâm th́ người đó vào Thập Bát Địa Ngục. Không đủ cả ba nghiệp, trong đó chỉ có một cái hoặc Sát hay Đạo th́ người ấy vào trong Tam Thập Lục Địa Ngục. Chỉ có một Căn riêng phạm một nghiệp, người ấy vào Nhất Bách Bát Địa Ngục.

“Đó là do chúng sanh riêng làm, riêng tạo, nên ở trong thế giới vào chỗ đồng phận, duyên từ Vọng Tưởng phát sanh, chẳng phải vốn là tự có.

Thông rằng : Chỗ hiện báo chuốc lấy của mười Tập Nhân là từ kiến phần sanh ra. Có Nhân ấy th́ có Báo ấy, mỗi tùy theo loại. Sáu cái Giao Báo ấy là do sáu thức căn trần gồm thành tướng phần. Hiện báo lúc lâm chung và quả báo sanh vào địa ngục tuy chẳng ĺa các căn nhưng khi tạo ác nghiệp của mười Tập Nhân th́ sáu căn đều sử dụng, nên một căn chịu ác báo th́ sáu căn cũng giao nhau cái ác báo đó vậy. Ví như một cái nghiệp tham mùi vị : Lưỡi nếm sanh mạng khiến các cái kia cũng chịu lây. Cho nên khi Lưỡi chịu quả báo v́ món ăn này mà dùng lửa nấu nướng, nên cái thấy là sắt đá nóng; v́ món ăn này, quay nướng thơm tho nên hơi thở là lồng sắt lớn. V́ món ăn này bắn giết thú, chim nên xúc là tên cung nỏ. V́ món ăn này, mong tưởng khát khao nên ư nghĩ là sắt nóng bay. Đó là sáu Giao Báo của Thiệt Căn, các căn khác có thể từ đó suy ra vậy.

Bộ Hiệp Luận dẫn kinh Dịch để chứng minh : Ly là mắt, Khảm là tai, Cấn là mũi, Đoài là miệng, Khôn là thân, suy nghĩ lại là Ly - Hỏa của địa vị tâm. Đốt cái nghe th́ Ly Hỏa biến nơi Khảm Thủy nên làm ra vạc sôi, đồng chảy. Đốt hơi thở th́ Ly Hỏa biến nơi Cấn Thổ nên làm ra khói đen, lửa đỏ. Đốt cái nếm th́ Ly Hỏa biến nơi Đoài Kim nên làm ra ḥn lửa, cơm sắt. Đốt cái xúc th́ Ly Hỏa biến nơi Khôn Thổ nên làm ra tro nóng, ḷ than. Đốt tâm thức th́ Ly Hỏa biến nơi Ly Hỏa của địa vị Tâm nên làm ra lửa sao rưới khắp. Đối với sự đốt cái thấy th́ nghĩa đồng nhau, nên không lập lại, chứ không phải sót. Mỗi mỗi suy ra khá phù hợp, có vẻ mới lạ.

Sáu Căn cùng tạo tác đủ cả mười nghiệp th́ quả là đọa vào địa ngục A Tỳ Vô Gián. Nghiệp đă không gián đoạn th́ khổ cũng vô gián. Nếu một căn mà gồm đủ ba, bốn căn; trong mười nghiệp mà thiếu hai, ba nghiệp; và ba thứ Thân, Khẩu, Ư chẳng hết cả sáu căn, tạo nghiệp Sát, Đạo, Dâm không đủ cả mười Tập Nhân, hoặc đủ hai khuyết một, hoặc phạm một thiếu hai th́ nghiệp nhẹ hơn nên khổ ít hơn. Nghiệp tuy mỗi người tạo riêng nhưng khổ th́ cùng chịu, nặng nhẹ chẳng bằng nhau, mỗi mỗi đều có chỗ sẵn, hết thảy do sáu căn làm môi giới vậy.

Ở đoạn trước, mười phương vi trần Như Lai khác miệng đồng lời, nói với Ông Anan rằng : “Lành thay ! Anan, ông muốn biết về cái câu sanh Vô Minh. Cái khiến ông luân chuyển, kết căn của sanh tử chỉ là sáu căn của ông chứ chẳng phải ǵ khác. Ông lại muốn biết Vô Thượng Bồ Đề, khiến ông chóng chứng an lạc giải thoát tịch tỉnh diệu thường, cũng là sáu Căn của ông chứ chẳng phải ǵ khác !” Ôi, một Căn tạo nghiệp th́ sáu Căn chịu ác báo là như vậy. Một Căn thanh tịnh th́ các Căn được thanh tịnh cũng là như vậy. Cơ mê ngộ chỉ trong khoảng sấp ngửa bàn tay ! Bởi thế, thấy biết mà xoay lại th́ lửa chẳng thể đốt. Thấy, Nghe xoay về th́ nước chẳng thể ch́m. Chỉ khiến một Căn về nguồn, sáu Căn liền giải thoát. Đă không có nghiệp nhân th́ cái ǵ là nghiệp quả ? Vọng Tưởng chẳng sanh, khắp khắp là chân tịnh. Lại c̣n có địa ngục nào ư ?

Tổ Dược Sơn chỉ dạy đại chúng rằng : “Tổ Sư chỉ dạy các ông bảo hộ. Tham, Sân nổi lên, một mực đề pḥng, ngăn cấm. Chẳng có dạy thôi cảm xúc. Ấy là tự ông muốn như cây khô, tảng đá ! Lại cần gánh vác, thật không có lá cành chi khá được. Tuy nhiên như thế, lại nên tự xem, chẳng được tuyệt bỏ lời lẽ nói năng. Ta nay v́ các ông nói ra cái lời lẽ ấy, hiển bày cái không lời. Cái ấy xưa nay vốn không có các thứ tai, mắt !”

Khi ấy, có nhà sư hỏi : “Sao có sáu đường chúng sanh ?”

Tổ Sơn nói : “Ta nơi yếu luân đây, tuy ở trong đó, vốn là chẳng nhiễm !”

Hỏi : “Chẳng rơ phiền năo trong thân th́ như thế nào ?”

Tổ Sơn nói : “Phiền năo là cái tướng trạng ǵ ? Ta lại muốn ông xét xem coi, lại có một thứ ǵ chăng? Chỉ xem trên lưng giấy ba thứ ngữ ngôn ghi chép th́ đa phần bị Kinh, Luận làm cho lầm lạc. Tôi chẳng từng xem sách vở, Kinh, Luận ǵ ráo ! Ông chỉ v́ mê nơi Sự mà bỏ chạy. Tự ḿnh chẳng định nên bèn có sanh tử tâm ! Chưa từng học được một lời hay nửa câu, một Kinh một Luận nào th́ nói cái ǵ Bồ Đề với Niết Bàn, thế với xuất thế ? C̣n cứ Bồ Đề, Niết Bàn, thế với xuất thế, đó là sanh tử. Như chẳng bị sự được, mất ràng buộc tức là không có việc sanh tử. Ông có thấy luật sư nói các đề mục trong Giới Luật thế ấy chính là cội gốc sanh tử. Tuy nhiên như thế, nghiên cứu rốt ráo sanh tử bèn chẳng thể đắc.

“Trên đến Chư Phật, dưới đến sâu kiến, trọn cả đều có Cái Ấy, dù cho dài ngắn tốt xấu chẳng đồng. Cái Ấy chẳng từ ngoài đến th́ chỗ nào có người rỗi rảnh đào địa ngục chờ ông ? Ông muốn biết nẻo địa ngục th́ nay đây chỉ cái kẻ nấu vạc nước sôi là đó. Muốn biết nẻo ngạ quỉ th́ nay đây chỉ cái kẻ nhiều dối, ít thật, khiến người không tin là đó. Muốn biết nẻo súc sanh th́ hiện đây kẻ không biết nhân nghĩa, không rơ thân sơ là đó. Há đợi ǵ mang lông đội sừng, chặt cắt, treo ngược ư ? Muốn biết trời, người th́ chỉ nay đây người oai nghi trong sạch, ôm bát tŕ b́nh là đó. Thiết thân bảo nhậm th́ khỏi đọa các nẻo. Thứ nhất là chẳng được vất bỏ Cái Ấy. Cái Ấy chẳng phải là dễ được. Cần hướng về đỉnh núi chót vót mà đứng, đáy biển mịt mù mà đi ! Chỗ ấy không dễ dàng đi đứng mới có chút phần tương ứng.

“Như nay bày ló ra đều là người lắm chuyện, th́ làm sao mà t́m cái người si độn kia cho được ! Đừng chỉ ghi nhớ lời lẽ trong sách mà làm cái thấy biết của ḿnh, thấy người không hiểu th́ sanh ra khinh mạn. Cái đám đó đều là ngoại đạo, xiển đề có ăn nhằm ǵ cái Tâm Ấy đâu ! Cần miên mật mà xét cho thấu suốt ! Có nói như vậy cũng vẫn c̣n là chuyện bờ mé của tam giới !

“Ở dưới lớp áo thầy tu chớ có bỏ luống qua. Đến trong ấy lại càng tế vi nhặt nhiệm ! Chớ có rỗi nhàn, cần nên trân trọng !”

Lại như Tổ Mục Châu cùng vị giảng sư đang uống trà.

Tổ Mục Châu nói : “Tôi cứu ông chẳng được đâu !”

Nhà sư đáp : “Dạ, tôi hiểu, xin thầy chỉ bày”.

Tổ Châu chỉ cái bánh chiên, hỏi : “Đó là cái ǵ vậy ?”

Nhà sư đáp : “Sắc pháp !”

Tổ Châu nói : “Cái gă chun vào vạc dầu sôi này ! Chẳng kể tại gia hay xuất gia, chỉ là tự gây nghiệp, gồm căn, gồm cảnh mà chẳng được giải thoát !”

Kỳ dị thay lời lẽ của hai Ngài Dược Sơn, Mục Châu !

 

Kinh : “Lại nữa, Anan, nếu các chúng sanh đó chẳng phá Luật Nghi, phạm Bồ Tát Giới, hủy báng Niết Bàn của Phật mà chỉ phạm những tạp nghiệp khác th́ sau nhiều kiếp bị thiêu đốt, đền hết tội rồi th́ chịu những h́nh quỉ.

“Nếu nơi bản nhân do tham vật mà gây nên tội th́ khi đền tội xong, gặp vật thành h́nh gọi là Quái Quỉ. Do tham sắc mà gây nên tội th́ khi đền tội xong, gặp gió thành h́nh gọi là Bạt Quỉ. Do tham dối trá mà gây nên tội th́ khi đền tội xong, gặp súc vật thành h́nh gọi là Mỵ Quỉ. Do tham hận mà gây nên tội th́ khi đền tội xong, gặp sân thành h́nh, gọi là Cổ Độc Quỉ. Do tham ghi nhớ mà gây nên tội th́ khi đền tội xong, gặp sự suy tàn thành h́nh, gọi là Lệ Quỉ. Do tham ngạo mạn mà gây nên tội th́ khi đền tội xong, gặp khí thành h́nh, gọi là Ngạ Quỉ. Do tham lừa gạt mà gây nên tội th́ khi đền tội xong, gặp u uẩn thành h́nh gọi là Áp Quỉ. Do tham vạch bày mà làm nên tội th́ khi đền tội xong, gặp tinh hoa thành h́nh, gọi là Vọng Lượng Quỉ. Do tham thành tựu mà gây nên tội th́ khi đền tội xong, gặp bóng sáng thành h́nh, gọi là Dịch Sử Quỉ. Do tham bè đảng mà gây nên tội th́ khi đền tội xong, gặp con người thành h́nh, gọi là Truyền Tống Quỉ.

“Anan, những người ấy đều do thuần T́nh mà đọa lạc, khi lửa nghiệp đốt khô rồi th́ lên làm Quỉ. Các thứ ấy đều do cái nghiệp tự vọng tưởng chiêu dẫn tới; nếu ngộ được Bồ Đề th́ trong tánh Diệu Viên Minh, vốn nào đâu có.

Thông rằng : Thuần T́nh, Nghiệp nặng ắt là đọa lạc. Lửa nghiệp thiêu khô, thần thức chẳng mê muội nên lại đới nghiệp mà lạc vào nẻo Quỉ. Ái nhiễm th́ sanh T́nh, T́nh bắt đầu ở Tham nên mười Tập Nhân đều lấy tham mà nói vậy.

Tham vật th́ làm Quái Quỉ, v́ lấy chẳng đúng lư. Đời Tấn, có Thạch Ngôn, Vật Bằng là đó vậy.

Tham sắc th́ là Bạt Quỉ, gió dâm càn quét làm tiêu tan mây, mưa. Đất Trung Châu gặp hạn hán th́ cầu khắp Bạt Quỉ ở mồ mả, đầu lớn hơn cái đấu.

Tham dối trá th́ làm Mỵ Quỉ, thói quen gian trá chưa quên nên biến hiện dáng dấp đẹp đẽ để lừa người.

Tham hận th́ làm Cổ Độc Quỉ, kết oán hờn nơi ư nên chịu làm loài rắn độc để phun nọc độc. Ở Vân Nam, Quư Chân có nhiều, chỉ có điều là theo ư người.

Tham ghi nhớ th́ làm Lệ Quỉ, giận hờn chẳng bỏ, khắc sâu vào cốt tủy, luôn luôn chờ người suy vi mà báo thù.

Tham ngạo mạn th́ làm Ngạ Quỉ, trong không có Đức, bụng rỗng mà ḷng cống cao, ấy là trước tự khinh dối lấy ḿnh vậy.

Tham lừa gạt th́ làm Áp Quỉ, thói quen dối trá lừa người, giống như dối gạt người ngủ say.

Tham vạch tội chỉ trích th́ làm Vọng Lượng Quỉ, mỗi chấp lấy tà kiến của ḿnh, làm yêu tinh ở núi, đầm, giống như Ngũ Hành hóa thành yêu quái.

Tham thành tựu th́ làm Dịch Sử Quỉ, thói quen lao tâm uổng phí, để thành lỗi cho người, cứ măi miết không thôi.

Tham bè đảng th́ làm Truyền Tống Quỉ, thói quen kiện tụng úp mở, đưa lời chuyển lẽ, quả báo ở loài Quỉ mà c̣n nương nơi người để báo đền họa phước.

Mọi thứ này đều là nghiệp báo tự ḿnh chuốc lấy. Như ngộ được Bồ Đề th́ giống như mộng bỗng tỉnh, đâu có lời nói mớ, nên nói là “Vốn không có ǵ”.

Có nhà sư hỏi thiền sư Linh Ẩn Phật Hải : “Xưa, có một ông Tú Tài làm xong bài luận Không có Quỉ th́ có một con Quỉ quát rằng : “C̣n ta th́ sao ?” Ư ra làm sao ?”

Ngài lấy tay găi trán, nói : “Đâu giống !”

Nhà sư hỏi : “C̣n như Ngũ Tổ lấy tay làm mỏ chim Bột Cưu mà kêu : “Cúc cu cu !” lại là thế nào ?”

Ngài nói : “Tự đốc xuất đấy. Tuy vậy chẳng đặng cứ một bề”.

Xưa, thị giả Hữu Ngộ thấy chỗ củi cháy tàn, có sự tỉnh ngộ, bèn đến phương trượng báo chỗ tỏ ngộ với Lặc Đàm Thâm thiền sư.

Tổ hét đuổi ra.

Hữu Ngộ v́ thế thất chí, tự đến nhà cầu của Tổ Diên Thọ Đường, sau đó không ra nữa.

Đại chúng lấy làm lạ.

Thiền sư Trạm Đường Chuẩn nghe được, một ḿnh đến nhà cầu, vừa mới cởi áo th́ Hữu Ngộ liền đưa nước sạch đến.

Tổ Chuẩn nói : “Chờ ta cởi áo đă !”

Cởi áo xong, Hữu Ngộ lại đến, chốc lát lại dâng cây chùi đít.

Tổ Chuẩn rửa sạch xong, kêu đem thùng nước đi. Hữu Ngộ vừa cầm lấy, Tổ Chuẩn nắm lấy tay, nói : “Ông là Ngộ thị giả đấy ư ?”

Đáp rằng : “Dạ, phải”.

Tổ Chuẩn nói : “Có phải là khi ở liêu tri khách, ông thấy khươi củi đỏ mà có chỗ ngộ đấy không ? Chuyện tham thiền học Đạo chỉ cốt yếu là biết chỗ an trụ của bổn mệnh nguyên thần. Ông gượng ép làm vậy th́ khó thành tựu. Khi ông ở tàng điện, dời giày của vị Thủ Tọa, há chẳng phải là sự ngộ đắc ngay lúc ấy ư ? Mỗi đêm ông ở đây xách nước, đưa cây, há chẳng phải là sự ngộ đắc ngay lúc ấy ư ? Do đâu mà không biết chỗ an trụ ấy ? Lại ở trong cái ấy mà làm phiền rối đại chúng !”

Tổ Chuẩn xô mạnh, tan tác như vách đổ. Từ đó không c̣n thấy nữa. Chỗ tay Ngài nắm nổi lằn, hơn nửa tháng mới hết.

Đây là chưa vào địa ngục mà làm Quỉ, vốn không có cái nhân địa ngục nên địa ngục chẳng nhận ! Được thứ đại cam lồ đây mà uống th́ liền văng sanh tùy ư nguyện. Như Tổ Trạm Đường Chuẩn th́ không chỉ biết t́nh trạng của Quỉ Thần mà lại c̣n có thể v́ chúng Quỉ mà thuyết pháp cho nữa.

 

Kinh : “Lại nữa, Anan, nghiệp Quỉ đă hết th́ hai thứ T́nh và Tưởng đều không, mới ở thế gian cùng người nợ cũ oán đối gặp nhau, thân làm súc sanh, để trả nợ xưa.

“Loài Quái Quỉ th́ khi vật tiêu tan, quả báo hết, sanh nơi thế gian, phần nhiều làm chim Cưu. Loài Bạt Quỉ th́ khi gió tiêu tan, quả báo hết, sanh nơi thế gian, phần nhiều làm loài báo điềm kỳ dị. Loài Mỵ Quỉ th́ khi súc chết, quả báo hết, sanh nơi thế gian, phần nhiều làm loài chồn, cáo. Loài Cổ Quỉ th́ khi sâu bọ diệt, quả báo hết, sanh nơi thế gian, phần nhiều làm loài có độc. Loài Lệ Quỉ th́ khi sự suy dứt, quả báo hết, sanh nơi thế gian, phần nhiều làm loài giun. Loài Ngạ Quỉ th́ khi khí tiêu, quả báo hết, sanh nơi thế gian, phần nhiều làm loài bị ăn thịt. Loài Áp Quỉ th́ khi u uẩn tiêu, quả báo hết, sanh nơi thế gian, phần nhiều làm loài cung cấp đồ mặc. Loài Vọng Lượng Quỉ th́ khi tinh hoa tiêu, quả báo hết, sanh nơi thế gian, phần nhiều làm chim mùa. Loài Dịch Sử Quỉ th́ khi bóng sáng diệt, quả báo hết, sanh nơi thế gian, phần nhiều làm loài báo điềm lành. Loài Truyền Tống Quỉ th́ khi người chết, quả báo hết, sanh nơi thế gian, phần nhiều làm loài thuần hóa.

“Anan, các loài ấy đều do lửa nghiệp đốt xong, sanh làm súc vật để trả nợ cũ. Hết thảy cũng đều tự hư vọng chiêu dẫn lấy nghiệp mà ra. Nhưng ngộ Bồ Đề th́ các vọng duyên ấy vốn không chỗ có !

Thông rằng : T́nh, Tưởng đă không, đáng ra không c̣n chỗ vướng mắc, vượt ngoài sự vật, nhưng chẳng khỏi làm súc vật v́ trả nợ cũ vậy. Đây là chỗ nói “Rơ, liền nghiệp chướng bổn lai không; chưa rơ, bèn đền xong nợ cũ”.

Bởi do lửa Nghiệp thiêu khô nên T́nh, Tưởng tạm thời chẳng sanh. Giống như người vác nặng đi xa, khí lực kiệt quệ nên muôn mối lo nghĩ đều không, cái ấy chưa thật là Không vậy.

Chim Cưu nương cục đất cho là con, chẳng ĺa nơi Quái, đều do tham vật mà ra. Loài báo điềm xấu như chim Thương Dương báo về thủy tai, con Hạt Vũ báo về hạn hán. Bạt Quỉ quạt gió dâm cũng là thứ không lành, nên làm loài báo điềm xấu. Mỵ Quỉ thường nương chồn, cáo nên làm chồn, chồn nhiều xảo trá v́ thói quen c̣n sót vậy. Cổ Quỉ nhóm tụ nhiều trùng độc mà ra, nên làm loài có độc, sự oán độc sâu xa nên nhiều lần biến đổi mà chẳng quên. Lệ Quỉ dựa tai, nương họa, vào trong thân người chuyển làm loài giun sán nương tựa trong thân, là sự sót lại của sân hận vậy. Ngạ Quỉ th́ chịu đói, chuyển làm loài bị ăn thịt đó là do thói quen ngạo vật kiêu mạn, nên làm cái cho người nhai. Áp Quỉ nương tựa người, nên sanh làm trâu, ngựa hay tằm kén để người may mặc, rốt cuộc biểu lộ sự lừa dối tai mắt vậy. Vọng Lượng Quỉ là do thói vạch lỗi ḥa với khí ở núi, đầm th́ sanh làm loài chim mùa, như chim Xả Yến, Hàm Hồng, ứng với thời tiết bốn mùa, mỗi thứ cũng có cái Sở Kiến riêng vậy. Dịch Sử Quỉ cớ sao làm loài báo điềm lành ? Ấy là do ban đầu Điên Đảo thị phi, cái tâm thị phi chẳng phải là không sáng soi, nên khi t́nh chấp, hư dối hết th́ tâm chân thật sanh. Nay làm loài báo điềm lành bởi v́ chấm dứt sự nhọc nhằm bị sai sử vậy. Truyền Tống Quỉ v́ sao phần nhiều làm loài thuần hóa ? V́ trước nương người nên thường thuận theo người, nay quả báo có trí khôn, có thể nuôi dạy, ấy cũng là cái tâm tranh cạnh mà cam chịu nghe lời vậy.

Các thứ vọng duyên này do Vọng Kiến sanh. Như ngộ Bồ Đề, như mắt không nhặm th́ đâu có bóng ḷa, nên nói rằng “Vốn không chỗ có”.

Tổ Huyền Sa thượng đường : “Ông đă có cái chỗ xuất thân rỡ ràng hiện giờ kỳ đặc như thế, sao chẳng phát minh lấy ? V́ đâu lại theo phía khác để hướng trong miếng thân ngũ uẩn, trong chốn nẻo Quỉ làm kế sanh nhai ? Ngay đây mà tự lừa dối rồi đó ! Bỗng nhiên Quỉ Vô Thường giết hại đến đây th́ với cái mắt mũi lừa dối, thân kiến, mạng kiến làm sao đảm đương cho nổi. Khác nào đang sống mà đ̣i thoát khỏi mu rùa, khổ thay !

“Này các nhân giả ! Chớ có nắm giữ cái kiến giải ngủ gật đó, ông có biết không ? Ba cơi không yên, giống như nhà lửa, vả chăng ông chưa phải là người đă an lạc, chỉ rặt ṛng gây nhóm, tạo bầy, liên can đến đời người khác, bay đi mé này, mé kia, khác nào nai hoang chỉ t́m ăn mặc. Nếu như vậy là tranh giành vương đạo của người khác, biết chăng ?

“Quốc Vương, đại thần chẳng bó buộc ông; cha mẹ để cho ông xuất gia; mười phương thí chủ cúng dường các ông cơm áo; Thổ Địa, Long Thần la mắng, giữ ǵn ông. Vậy cần đủ hổ thẹn, biết ơn mới được. Chớ cô phụ ḷng tốt của người, cứ măi xếp hàng trên sàng, bám níu, rục ră mà cho là an lạc. Chưa ở trong đó th́ đều là hạng được nuôi cơm cháo để tương tự như trái bầu lông chín héo.

“Thay đổi đi ! Chôn xuống đất đi thôi ! Nghiệp thức mang mang, không gốc gác để nương nhờ. Sa Môn mà do sao đến nỗi thế này ? Chỉ giống như sâu bọ loi nhoi trên đất, tôi gọi là đời ở địa ngục !

“Như nay mà chẳng rơ, mai kia mốt nọ vào trong thai lừa, bụng ngựa, xỏ mũi kéo cày, mang yên đóng hàm, cối đâm chày giă, nước lửa nấu thiêu, không dễ ǵ chịu nổi, phải biết khủng khiếp. Ấy là tự ông làm lụy, biết chăng ?

“Như rơ được ấy, th́ liền đây vĩnh viễn chẳng nói với mấy ông có các chuyện ấy. C̣n không rơ cái ấy th́ nhân duyên phiền năo, ác nghiệp chẳng phải một hai kiếp là hết đâu, mà c̣n sống thọ như thể kim cương của chính các ông, biết chăng ?”

Tổ Huyền Sa đại từ bi, chẳng tiếc khô miệng, đủ để làm vị lương dược cứu trị đời mạt pháp, đáng để cho người ta chép mà để bên phải chỗ ngồi vậy.

Ngài Mật Sư Bá đang cùng đi với Tổ Động Sơn, thấy con thỏ trắng chạy qua trước mặt.

Ngài Mật nói : “Giỏi thay !”

Tổ Sơn rằng : “Là sao ?”

Ngài Mật : “Giống như thường dân mà được bái tướng()”.

Tổ Sơn : “Bậc già cả mà nói lời lẽ ấy !”

Ngài Mật : “Thế ông th́ sao ?”

Tổ Sơn : “Lâu đời quư phái, tạm thời bơ vơ”.

Ngài Thiên Đồng tụng rằng :

“Sức bằng sương tuyết

Nhẹ bước núi mây

Hạ Huệ bỏ nước

Tương Như qua cầu

Túc(), Tào(), mưu lược nên nhà Hán

Sào(), Hứa() thân tâm muốn tránh Nghiêu

Vinh nhục bỏ rồi, thêm tự tín

Chân t́nh theo dấu lăo ngư, tiều”.

Đại để, chỗ thấy của Ngài Mật là cần phải mượn sự tích lũy tu hành. Chỗ thấy của Tổ Động Sơn là riêng bày tỏ chỗ bổn lai tôn quư. Người xưa ngay nơi vật mà minh tâm, thường thường như thế.

Lại như Tổ Tuyết Phong đang cùng đi với Ngài Tam Thánh, thấy một bầy khỉ.

Tổ Phong nói : “Bầy khỉ này, mỗi con đều là bề trái của một mặt gương xưa !”

Ngài Thánh nói : “Bao kiếp vô minh, sao cho đó rơ ràng là gương xưa ?”

Tổ Phong nói : “Tỳ vết sanh ra rồi vậy”.

Ngài Thánh : “Thiện tri thức của một ngàn năm trăm người mà cái thoại đầu cũng không biết”.

Tổ Phong : “Việc trụ tŕ của lăo tăng này phức tạp lắm !”

Ngài Thiên Đồng nêu ra rằng : “Ngay khi ấy mà thấy Tuyết Phong nói : “Tỳ vết sanh ra rồi” th́ hăy đến gần trước mặt mà nói : “Dạ, dạ”. Hăy nói cớ sao như thế ? Tranh th́ chẳng đủ, nhường th́ có dư !”

Xem đây th́ biết cơ dụng của nhà Thiền, há lấy chuyện mạnh yếu mà luận sự hơn thua ư ?

 

Kinh : “Như lời ông nói, nhóm Bảo Liên Hương, Lưu Ly Vương và Tỳ Kheo Thiện Tinh đều vốn tự ḿnh bày đặt ra nghiệp dữ. Nghiệp ấy chẳng từ trời rơi xuống, cũng chẳng từ đất chui lên, mà cũng chẳng phải do ai trao tặng. Chính là tự hư vọng rước lấy rồi tự lănh nhận. Trong Tâm Bồ Đề chúng đều là hư huyễn vọng tưởng ngưng kết.

“Lại nữa, Anan, các súc sanh ấy đều trả nợ trước mà nếu trong lúc trả nợ, trả quá nợ cũ th́ những chúng sanh ấy trở lại làm người đ̣i lại chỗ dư. Nếu bên kia có sức lại có cả phúc đức th́ ở trong loài người không rời bỏ thân người mà hoàn lại chỗ thừa đó, c̣n nếu không có phúc đức th́ phải làm súc sanh để đền lại chỗ thừa.

“Anan, ông nên biết, nếu dùng tiền của hoặc sức người ta th́ đền đủ là xong, c̣n như trong ấy có giết thân mạng, hoặc ăn thịt, như vậy trải qua nhiều kiếp ăn nhau, giết nhau, giống như bánh xe quay hoài, chỗ cao thấp thay đổi nhau liên hồi không nghỉ. Trừ pháp Xa Ma Tha hoặc gặp Phật ra đời chứ chẳng thể nào thôi nghỉ được.

Thông rằng : Lưu Ly Vương phạm tội giết hại, Đức Thế Tôn bảo rằng sau bảy ngày sẽ chịu lửa đốt mà vào ngục Vô Gián, ông bèn trốn trên nước, lửa từ trong nước bốc lên mà cháy tiêu. Đây là quả báo của lửa Sân.

Tỳ kheo ni Bửu Liên Hương phạm dâm, nơi nữ căn bèn sanh ngọn lửa lớn, sau đó mỗi khúc đốt đều bị thiêu cháy. Đây là quả báo của lửa Dục.

Tỳ kheo Thiện Tinh phạm đại vọng ngữ, tuy có thể nói mười hai bộ kinh, được bốn thiền quả nhưng bác bỏ nhân quả, nói rằng Lưu Ly Vương giết hại gịng Cù Đàm mà chắc không có quả báo. Ấy là quá sức bất nhân nên ngay thân đang sống mà đọa vào địa ngục A Tỳ. Đó là chẳng từ trời rơi xuống, cũng chẳng từ đất chui lên, hay người đem cho, mà do tự hư vọng rước lấy vậy. Trong tâm Bồ Đề, xưa nay vô sự. Chỉ v́ vọng tưởng ngưng kết, ngưng kết mà chẳng chuyển hóa, đó là cái nhân chịu nghiệp. Mười phần ngưng kết th́ chịu mười phần quả báo, càng giảm th́ càng nhẹ đi. Xuống đến làm súc vật để trả đền nợ trước, trả quá số nợ lại đ̣i chỗ dư. Nếu ăn nhau chưa xong th́ rốt cuộc không có kỳ ra khỏi, trừ phi tự có định lực Xa Ma Tha, thoáng thấy mặt mũi Bồ Đề, th́ sự ngưng kết đó mới hóa tiêu. Lại được gặp Phật ra đời, phát minh đại sự, ắt nghiệp chứa trữ phải tự tiêu tan. Chẳng như thế th́ xoay vần măi nơi ba cơi không hề ngưng nghỉ.

Kinh Kim Cương nói “Nếu bị người khinh khi th́ với các nghiệp đời trước, người đó đáng lẽ đọa vào đường ác mà nay bị người khinh khi nên các tội nghiệp đời trước ắt bị tiêu diệt”.

Ngài Tuyết Đậu tụng rằng :

“Minh châu nơi tay

Có công th́ thưởng !

Hán, Hồ chẳng đến

Trọn không tài nghề !

Tài khéo đă không

Ba Tuần hết lối

Cù Đàm, Cù Đàm !

Biết ta không nhỉ ?”.

Ngài lại nói : “Khám phá rồi vậy”.

Ngài Thiên Đồng tụng rằng :

“Mắc míu công tội

Dính liền nhân quả

Ngoài gương, điên chạy Diễn Nhă Đa

Đầu trượng đánh tan ông bếp rớt()

Bếp rớt tan, đến chúc nhau

Lại nói trước đây cô phụ tớ !”.

Bài tụng trước là “Bị người khinh tiện, ít kẻ biết ta”.

Bài tụng sau là “Tội nghiệp tiêu trừ, cốt là Đốn Ngộ”. Công phu tu tập cũng chẳng quí vậy.

Hăy theo bài kệ của Ngài Phó Đại Sĩ mà điểm hóa ra.

Tụng rằng :

“Thân trước có báo chướng

Ngày nay thọ tŕ kinh

Tạm bị người khinh rẻ

Chuyển nặng thành ra nhẹ

Rơ được Y Tha Khởi

Liền trừ Biến Kế Chấp

Thường y Bát Nhă quán

Chỗ nào chẳng Viên Thành ?”

Có nhà sư hỏi Tổ Vân Cư : “Kinh giáo có nói : Với tội nghiệp đời trước lẽ ra người ấy phải đọa vào đường ác, nay đời này bị người khinh khi nên tội nghiệp đời trước được tiêu diệt. Ư này là sao ?”

Tổ Vân Cư nói : “Động th́ phải đọa đường ác, tịnh th́ bị người khinh khi”.

Tổ Sùng Thọ Tŕ nói : “Ngoài tâm có pháp, phải đọa đường ác. Trụ giữ tự kỷ, bị người khinh khi”.

Các vị tôn túc đều khéo chuyển kinh thay ! Ư chỉ cùng đoạn này đồng, nên trích ra cho đủ.

 

Kinh : “Nay ông nên biết, loài chim Cưu kia, trả nợ đủ th́ trở lại h́nh người, sanh trong nhân đạo, tham hợp hạng ngoan cố. Giống Cửu Trưng kia, trả nợ đủ th́ trở lại h́nh người, sanh trong nhân đạo, tham hợp hạng quái dị. Loài chồn kia trả nợ đủ th́ trở lại h́nh người, sanh trong nhân đạo, tham hợp hạng ngu dại. Những loài có độc kia, trả nợ đủ th́ trở lại h́nh người, sanh trong nhân đạo, tham hợp hạng nham hiểm. Những loài giun kia, trả nợ đủ, trở lại h́nh người, sanh trong nhân đạo, tham hợp hạng hèn nhát. Những loại bị ăn thịt kia, trả nợ đủ, trở lại h́nh người, sanh trong nhân đạo, tham hợp hạng nhu nhược. Những loài cung cấp đồ mặc kia, trả nợ đủ, trở lại h́nh người, sanh trong nhân đạo, tham hợp hạng lao nhọc. Những loài chim mùa kia, trả nợ đủ, trở lại h́nh người, sanh trong nhân đạo, tham hợp hạng văn hoa. Những loài đem điềm lành kia, trả nợ đủ, trở lại h́nh người, sanh trong nhân đạo, tham hợp hạng thông minh. Những loài thuần hóa phải trả nợ đủ, trở lại h́nh người, sanh trong nhân đạo, tham hợp hạng thông đạt.

“Anan, các chúng sanh đó đều do trả hết nợ cũ, trở lại h́nh của cơi người đều do từ vô thủy đến nay Điên Đảo mà gây nghiệp, sanh sát lẫn nhau, chẳng gặp Như Lai, chẳng nghe Chánh Pháp, ở trong trần lao cứ vậy mà xoay vần. Chúng ấy gọi là đáng thương xót vậy.

Thông rằng : Chúng sanh không nghe Chánh Pháp th́ đều gọi là ăn giết lẫn nhau, số phận hẳn nhiên là thế. Không chỉ nghĩ đến chuyện Tào Tháo gạt người cô quả, xem như thiït dọn trên bàn ; về sau bị Tư Mă Ư trả báo, như cầm giấy nợ xét đ̣i, tơ hào chẳng sai lọt. Mượn người một con trâu th́ trả lại người một con ngựa, trong chỗ u vi há cho kẻ ác chung thân đắc chí mà khỏi đền nợ sao ? Bởi thế, oán đối gặp nhau th́ ắt phải trả đền. Trả hết th́ trở lại h́nh người mà thói quen c̣n sót chưa chuyển hóa nên hạng mê muội, ngu si th́ nhiều mà hạng thông minh sáng suốt th́ ít, tham hợp tùy hạng loại.

Loài chim Cưu hẳn làm hạng ngoan cố, v́ tham vật, nương ḥn đất mà ăn nhau, suốt đời ngu ngoan bất nghĩa. Loài báo điềm dữ hẳn làm hạng quái dị, v́ thói quen dâm bôn, phóng đảng, tập quán c̣n sót nên làm hạng yêu dị vậy. Loài cáo, chồn hẳn làm hạng ngu hèn, tráo trở, không có trí, chưa có kiến thức cao siêu. Loài có độc hẳn làm hạng nham hiểm, oán hận có dư, nên truyền độc chẳng cùng. Loài giun sân hận cớ sao làm hạng hèn nhát, v́ khí giận tiêu tan mất hết vậy. Loài bị ăn thịt kiêu mạn cớ sao làm hạng nhu nhược, bởi v́ đă làm cao th́ bị hạ thấp vậy. Loài cung cấp đồ mặc cớ sao làm hạng lao nhọc, bởi v́ uổng phí tâm thần nhọc mệt không ngớt vậy. Loài chim mùa kiến chấp cớ sao làm hạng văn hoa, v́ theo khí hậu mùa màng mà có vẻ đẹp đẽ vậy. Loài báo điềm lành mà hợp vào hạng thông minh, bởi v́ cong vạy hết th́ trở lại ngay thẳng, nên tánh linh chẳng u ám. Loài thuần hóa mà hợp vào hạng thông đạt v́ kiện tụng phân biệt họa phước nên thông đạt không vướng mắc.

Nói rằng tham hợp là tham hợp với cội nguồn, theo nẻo người mà sanh vậy. Các loài ấy theo nẻo người sanh ra : T́nh, Tưởng tuy ngang nhau mà chẳng phải không có thông minh và ngu muội. Nay từ trong ba nẻo Địa Ngục, Ngạ Quỉ, Súc Sanh mà ra, th́ hợp với cái T́nh u mê có đến tám phần mười, tham dự với cái Tưởng là hai phần mười.

Vị tăng Thiên Trúc là Ngài Kỳ Vực, đời Tấn Huệ Vương vào đất Lạc Dương, các vị Tỳ Kheo làm lễ, Ngài ngồi ngay thẳng mà nhận, rồi chỉ nhà sư tên Pháp Uyên, nói rằng : “Xứ này cả vạn vị tăng, nhưng vị Bồ Tát này từ loài dê đến”.

Ngài lại chỉ nhà sư người Thiên Trúc tên Pháp Hưng mà nói : “Vị Bồ Tát này từ cơi Trời đến”.

Ngài nh́n ra xa, thấy lâu đài, nói rằng : “Cũng giống như trời Đao Lợi, nhưng chốn kia do đạo lực mà đến, c̣n cơi này là do sức tịnh nghiệp của chúng sanh thành tựu”.

Ngài bảo với vị Sa Môn tên là Kỳ Xà Mật : “Người làm cung điện này từ cơi trời Đao Lợi xuống, thành việc rồi th́ về trời. Dưới mái ngói, trên rường nhà, hẳn có đồ nghề !”.

T́m ở đó quả thật có một ngàn năm trăm món đồ.

Ngài Kỳ Vực biết người thợ cả là từ cơi trời đến th́ bảo Pháp Hưng là từ trời xuống, Pháp Uyên từ loài dê đến ắt hẳn không lầm.

Nhà sư Đàm Dực, hông có lông chim Trĩ, nên tên là Dực(), nhân nghe kinh Pháp Hoa mà được độ thoát.

Lại có cô họ Vương tên Trĩ nghe kinh Pháp Hoa gần nửa bộ mà được độ thoát. Đều là từ loài chim Trĩ mà đến. Trĩ là loài văn minh, sanh trong nhơn đạo, bèn có thể chứng quả.

 

IV. KHÔNG TU THEO CHÁNH GIÁC : THÀNH CÁC THỨ TIÊN

Kinh : “Anan, lại có chúng sanh từ loài người, không nương theo Chánh Giác tu pháp Tam Ma Đề, mà riêng tu vọng niệm tồn giữ tư tưởng, củng cố h́nh hài, đi vào rừng núi, người chẳng đến được, thành mười loại Tiên.

“Anan, các chúng sanh kia bền gắng dùng đồ bổ không ngừng nghỉ, khi đạo ăn được thành tựu, gọi là Địa Hành Tiên.

“Bền gắng dùng cỏ cây không ngừng nghỉ, khi đạo thuốc được thành tựu, gọi là Phi Hành Tiên.

“Bền gắng dùng kim thạch không ngừng nghỉ, khi đạo hóa chất được thành tựu, gọi là Du Hành Tiên.

“Bền gắng làm những động tác không ngừng nghỉ, khi đạo khí tinh được thành tựu, gọi là Không Hành Tiên.

“Bền gắng luyện nuớc bọt không ngừng nghỉ, khi nhuận đức đă thành tựu, gọi là Thiên Hành Tiên.

“Bền gắng hấp thụ tinh hoa không ngừng nghỉ, khi hấp thụ tinh túy thành tựu, gọi là Thông Hành Tiên.

“Bền gắng làm chú thuật không ngừng nghỉ, khi thuật pháp được thành tựu, gọi là Đạo Hành Tiên.

“Bền gắng chuyên chú tâm niệm không ngừng nghỉ, khi chuyên niệm được thành tựu, gọi là Chiếu Hành Tiên.

“Bền gắng về thủy hỏa giao cấu không ngừng nghỉ, khi cảm ứng được thành tựu, gọi là Tinh Hành Tiên.

“Bền gắng tập luyện biến hóa không ngừng nghỉ, khi tỉnh giác được thành tựu, gọi là Tuyệt Hành Tiên.

“Anan, những người này đều ở trong loài người mà luyện tâm, chẳng tu theo Chánh Giác, chỉ riêng được sanh lư, thọ ngàn vạn năm, nhàn nghỉ trong núi sâu hay trên hoang đảo giữa đại dương, dứt tuyệt với cảnh người. Đó cũng là ở trong vọng tưởng trôi lăn của sự luân hồi. Chẳng tu pháp Tam Muội nên khi quả báo hết th́ trở lại tản vào trong sáu nẻo.

Thông rằng : Từ Địa Ngục, Ngạ Quỉ, Súc Sanh mà đến th́ dư nghiệp chưa hết, chỉ tu theo Nhân Đạo là đủ rồi. Lại có hạng từ Nhân Đạo đến th́ sáng suốt, không c̣n dám tập nhiễm ác nghiệp, họ cũng biết chỗ nên tu luyện là cái Tâm Tánh xưa nay, nhưng chẳng nương theo Chánh Giác Như Lai mà vào Tam Ma Địa, lại chỉ tu riêng theo vọng niệm, tồn giữ tư tưởng, củng cố h́nh hài thành ra ngoại đạo. Do đó mà có mười thứ Tiên.

Tiên nghĩa là thay đổi, có thể khiến h́nh hài thay đổi mà không chết, cho là có Thần Ngă. Thần Ngă là Thần Thức, đó là chủng tử sanh diệt từ vô thủy đến nay; cho nên dầu có thọ ngàn vạn năm mà khi quả báo hết th́ lại tản vào trong sáu nẻo. Chánh Giác Như Lai y vào cái bất sanh bất diệt làm Nhân Địa Căn Bản, năm Ấm đều Không, đốn siêu ba cơi, dù cơi trời Phi Phi Tưởng cũng chẳng trụ huống ǵ là Tiên ư ?

Mười loại Tiên là : Một là, ăn thuốc bổ như thu thạch, hồng nguyên... chỉ có thể sống lâu mà không thể bay nên làm Địa Hành Tiên.

Hai là, ăn tùng bá, phục linh, hoàng tinh, thương truật... lâu ngày thân thể nhẹ nhàng nên có thể phi hành.

Ba là, luyện kim thạch, diên hống, chuyển hóa chín lần thành Đan, có thể điểm hóa, đẩy nhà bay đi nên làm Du Hành Tiên.

Bốn là, nương theo động tĩnh của Âm Dương, Hùng Kinh, Điểu Thân() để điều Khí, cố Tinh. Lâu ngày Tinh hóa thành Khí, Khí hóa Thần, Thần hoàn hư, dời thân trên không trung, nên gọi là Không Hành Tiên.

Năm là, nhai nuốt nước miếng, Thủy thăng lên, Hỏa giáng xuống, da dẻ như băng tuyết, mềm mại như trẻ thơ, chẳng có giao ḥa với thế dục, không khác ǵ người trời, nên gọi là Thiên Hành Tiên.

Sáu là, hút nuốt tinh hoa, ăn ráng uống mây, thâu thái tinh hoa Nhật Nguyệt, âm thầm thông với cái Khí tinh túy nên có thể đi suốt qua, xuyên núi, qua đá không bị ngăn ngại. Loài giả mô() hút cái tinh hoa của mặt trăng, ở chân mày có cục hột cóc nên ẩn lánh giỏi. Được cái Khí ấy c̣n có thể thông giỏi như thế huống là cái khí tinh hoa của trời đất ? Gọi là Thông Hành Tiên.

Bảy là, kiên tŕ Chú Thuật, ngưng Thần chẳng loạn, Chú ấy hẳn linh hiển, cũng có thể bay cao. Tây Vực() hay truyền Chú này, ở trong giếng tŕ tụng ba năm th́ tự có thể bay ra khỏi. Về nơi tự nhiên không thể nghĩ bàn, nên gọi là Đạo Hành.

Tám là, bền gắng chuyên niệm, âm thầm chầu về Thượng Đế, hoặc để tâm tưởng vào đỉnh môn, buộc tâm nơi rún, chỉ mà hay chiếu, chỉ dùng cái tâm soi chiếu mà chứng quả nên gọi là Chiếu Hành Tiên.

Chín là, phối hiệp Khảm Ly (Thủy Hỏa), Âm Dương giao cấu, trong ấy có Tinh mà chẳng phải là phàm Tinh. Kia cho rằng thu thái khí Âm để trợ cho Dương, mà tự mất của báu nhà ḿnh là sai lầm. Ở đây cảm ứng một cách tự nhiên, trong khoảng khảy móng tay liền có thể sanh ra thuốc để thành Đan, ấy là khó gặp mà dễ thành vậy, nên gọi là Tinh Hành Tiên.

Mười là, tồn giữ cái Tưởng về thế gian th́ đều thành ra biến hóa, chỉ chuyên tịch lặng chẳng biến đổi, bèn là một vị thanh tịnh, tâm tĩnh thân khô, hành vi dứt tuyệt thế gian, hơi tương tự như Duyên Giác, Nhị thừa nên nói là Tĩnh Giác. Tây Vực phần nhiều tu tập theo lối này, sanh lên cơi trời Phi Phi Tưởng.

Tóm cả lại, đều chẳng ngộ Chánh Giác, đều quy về Vọng Tưởng mà thôi.

Lữ Nham, tự là Động Tân, người Kinh Xuyên, sống vào cuối nhà Đường, ba lần đi thi không đỗ, ngẫu nhiên ở Trường An gặp Chung Ly Quyền trong quán rượu, được trao cho thuật trường sanh, thường dạo chơi chùa Quy Tông ở Lư Sơn, viết lên vách lầu chuông rằng :

“Một ngày thanh nhàn tự tại thân

Lục Thần ḥa hiệp, ấy b́nh an

Đan điền có báu, thôi t́m Đạo

Đối cảnh vô tâm, chớ hỏi thiền”.

Sau đó không lâu, dạo qua núi Hoàng Long thấy khí màu tía tỏa thành lọng, nghi có dị nhân, bèn vào ra mắt, gặp lúc Tổ Hoàng Long cho đánh trống lên ṭa thuyết pháp.

Tổ Long thấy, biết là Lữ Động Tân, bèn lớn tiếng rằng : “Cạnh pháp ṭa có kẻ trộm pháp”.

Lữ nghiêm nghị bước ra, hỏi rằng : “Trong một hột dẻ chứa thế giới, nồi thịt nửa thăng nấu núi sông”. Hăy nói ư này như thế nào ?”

Tổ chỉ ra rằng : “Ấy là quỷ giữ thây ma”.

Ông Lữ nói : “Nào ngại, trong túi có thuốc trường sanh bất tử !”

Tổ Long nói : “Dầu trải tám vạn kiếp, rốt cuộc cũng lạc không vong”.

Ông Lữ coi thường, phóng gươm vào hông, mà kiếm không đụng được, bèn làm lễ xin chỉ dạy.

Tổ Long hỏi vặn : “Nồi thịt nửa thăng nấu núi sông, th́ chẳng hỏi, như sao là Trong một hạt dẻ chứa thế giới ?”

Ông Lữ ngay lời nói liền khế hợp, làm bài kệ :

“Vất quách túi bầu, đập đàn cầm

Như nay hết khoái Hống Trung Kim()

Từ lần gặp được Hoàng Long đó

Mới rơ trước giờ lạc dụng tâm !”.

Tổ dặn ḍ gắng giữ ǵn nghiêm mật.

Sau, ông ra mắt thiền sư Trí Độ Giác ở Đàm Châu, có nói rằng : “Tôi ngao du Sâm Huyện ở Thiền Châu, hướng Đông xuống đến sông Tương, nay gặp Tổ Giác, thấy Ngài thiền học tinh minh, nguồn tánh thuần khiết, xếp gối tĩnh tọa, thu quang nội chiếu, ngoài một cái áo thô không c̣n áo nào khác, ngoài một b́nh bát không c̣n thức ǵ khác, đến bờ bên kia sanh tử, đập nát vơ phiền năo.

“Nay đây y() Phật lặng bặt, hề, không truyền. Thiền lư diệu huyền, hề, đâu tuyệt. Giữ ǵn hưng vượng, ở thầy tôi chăng ?”

Bèn làm một bài kư rằng :

“Người đạt, đổi tâm mới cứu đời

Thánh hiền truyền pháp chẳng rời Chân

Thỉnh thầy khai nói Tây lai ư

Đến nay thất tổ vẫn không người”.

Như Ông Lữ đă nhờ Tổ Hoàng Long chỉ bày, bèn y Chánh Giác tu Tam Ma Địa, không đến nổi làm vị khách của mười hai loại Tiên vậy.

 

V. CÁC CƠI TRỜI

Kinh : “Anan, các người thế gian chẳng cầu cái thường trụ, chưa thể ĺa bỏ được thê thiếp, ân ái, nhưng tâm không buông lung trong tà dâm. Do lắng trong sanh ra sáng suốt, sau khi mạng chung, gần với mặt trời, mặt trăng. Hạng như vậy gọi là Tứ Thiên Vương Thiên.

“Đối với vợ nhà, dâm ái ít ỏi, trong khi tịnh cư chưa được toàn vẹn mùi vị. Sau khi mạng chung, vượt sức sáng của mặt trời, mặt trăng, ở trên đỉnh của nhân gian. Một hạng như vậy, gọi là Đao Lợi Thiên (Tam Thập Tam Thiên).

“Gặp cảnh dục tạm theo, qua rồi không nghĩ nhớ, ở trong cơi nhân gian động ít tĩnh nhiều. Sau khi mạng chung, an trụ sáng rỡ ở trong hư không. Ánh sáng mặt trời, mặt trăng soi chiếu chẳng bằng. Các người ấy tự có ánh sáng. Một hạng như vậy, gọi là Tu Diệm Ma Thiên (Thời Phân).

“Luôn luôn yên tĩnh, nhưng khi có cảm xúc đến, chưa thể nghịch hẳn. Sau khi mạng chung, bay lên cơi tinh vi, không giao tiếp với các cảnh nhân-thiên cơi dưới cho đến thời kiếp hoại, tam tai cũng không đến được. Một hạng như vậy gọi là Đâu Suất Đà Thiên (Tri Túc).

“Chính ḿnh không có ḷng dâm, đáp ứng với người mà hành sự, trong lúc phô diễn vô vị như sáp. Sau khi mạng chung, sanh vượt vào cơi biến hóa. Một hạng như vậy, gọi là Lạc Biến Hóa Thiên.

“Không có tâm thế gian, chỉ đồng theo thế gian mà hành sự, trong khi làm việc ấy, suốt thông siêu việt. Sau khi mạng chung, vượt trên tất cả cảnh biến hóa và không biến hóa. Một hạng như vậy, gọi là Tha Hóa Tự Tại Thiên.

“Anan, sáu cơi trời như vậy th́ h́nh thức tuy ra khỏi Động, nhưng tâm tính c̣n dính mắc. Từ các cơi ấy trở xuống gọi là Dục Giới.

Thông rằng : Cơi trời Tứ Thiên Vương ở nửa chừng núi Tu Di, nhô lên khỏi biển bốn vạn do tuần. Mặt trời, mặt trăng mọc ở trước cung, xoay quanh chiếu bốn cơi thiên hạ, trên tới cơi trời Đao Lợi. Lên bốn vạn do tuần là đỉnh núi Tu Di, bốn góc, mỗi góc về tám cơi trời, gồm ba mươi hai cơi trời, do Đế Thích làm chủ tể. Hai cơi trời này gọi là Địa Cư Thiên. Bốn cơi trên gọi là Không Cư Thiên, chẳng cần mặt trời, mặt trăng mà vẫn thường sáng, do hoa sen nở khép mà phân ngày đêm, nên gọi là Thời Phân. Do phước đức cảm ứng mà sanh lên cơi Đâu Suất, gọi là Tri Túc hay là Hỉ Túc, hoặc là Diệu Túc. Sanh lên cơi trời này, th́ sau bảy ngày, Đức Di Lặc phóng quang mưa hoa, dẫn vào điện Tiểu Ma Ni của Ngoại Viện, thuyết pháp cho để phát khởi sức tinh tấn. Sau đó dẫn cho vào Nội Viện. Ngoài hai Viện, c̣n có trời Tổng Báo do nghiệp quả hữu lậu mà thành. Người tu thập thiện nghiệp đă sanh lên đó, đây là chỗ Tam Tai có thể hoại diệt được. C̣n ở đây nói “Tam Tai không đến được” là chỉ chỗ Đức Di Lặc ở, là cung điện do Hậu Đắc Trí của thánh giả biến hóa ra. Từ Tổng Báo Thiên mà mong đến Ngoại Viện th́ c̣n cách xa như Tiên và tục, huống ǵ đến Nội Viện ư ? Ngoài chỗ này đều thuộc cảnh giới quả báo, trên đến cơi trời Lạc Biến Hoá, hễ có cần ǵ th́ tùy theo niệm mà đến, vượt hẳn cơi trời ở dưới, nên gọi là Việt Hóa. Lên đến Tha Hóa Tự Tại Thiên th́ các cảnh dục lạc khỏi phải nhọc sức tự biến hóa, mà đều do chỗ khác biến hóa ra (tha hóa) mà tự tại dùng.

Sáu cơi này tuy vượt khỏi nhân thế, nhưng chưa thể ĺa Dục. Luận Câu Xá tụng rằng : “Sáu cơi hưởng dục, ôm nhau, nắm tay, cười, nh́n là dâm”.

Ḷng Dục càng nhẹ th́ quả báo càng lên cao, bởi v́ Dục Ái dễ đọa lạc vậy. Hễ có Dính Bám tức là Dục. Bởi thế, ngay khi ứng xúc hành sự, suốt thông siêu việt, không một mảy may tưởng vướng mới được tự tại. Đâu chỉ có riêng Dâm mà thôi.

Theo Tông Thiên Thai th́ nghiệp báo của sáu cơi trước đều lấy Thập Thiện làm gốc. Nếu kiêm thêm tâm hộ pháp là nghiệp Tứ Thiên Vương Thiên. Nếu kiêm thêm ḷng Từ hóa độ người, là nghiệp Đao Lợi Thiên. Nếu kiêm thêm ḷng chẳng năo hại chúng sanh, thiện xảo thuần thục, là nghiệp Diệm Ma Thiên. Nếu kiêm thêm thiền định, thô trụ và tế trụ, là nghiệp Đâu Suất Thiên. Dục Giới Định là nghiệp Biến Hóa Thiên. Vị Đáo Định là nghiệp Tha Hóa Thiên.

Đây đều là chẳng cầu Chân Tâm thường trụ, chưa rời nhân quả hữu vi, phước báo tuy khác nhau, nhưng chẳng thể nói là Đại Giải Thoát vậy.

Tổ Thứ Hai Mươi Ba là Tôn Giả Hạc Lặc, đi giáo hóa đến miền Trung Ấn Độ, Vua nước ấy là Vô Úy Hải sùng tín đạo Phật. Tổ đang thuyết pháp cho vua nghe, bỗng có hai người mặc áo lụa đào, lụa trắng lễ lạy Tổ.

Vua hỏi : “Ấy là ai vậy ?”

Tổ nói : “Đó là Thiên Tử Nhật, Nguyệt, xưa tôi đă từng thuyết pháp cho nên đến lễ bái”.

Giây lát không thấy nữa, chỉ c̣n nghe thấy mùi hương dị thường.

Nhà vua hỏi : “Cơi nước Nhật, Nguyệt được bao lớn ?”

Tổ đáp : “Là thế giới của ngàn Đức Phật Thích Ca hóa độ, mỗi cơi có trăm ức Tu Di mặt trời, mặt trăng. Tôi nói rộng ra th́ không thể hết”.

Bồ Tát Thiên Thân từ Nội Viện của Đức Di Lặc xuống.

Bồ Tát Vô Trước hỏi rằng : “Bốn trăm năm tại nhân gian th́ cơi kia chỉ là một ngày đêm. Đức Di Lặc ở trong một thời thành tựu cho năm trăm ức vị Thiên Tử chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn, chưa rơ là thuyết pháp ǵ thế ?”

Bồ Tát Thiên Thân nói : “Chỉ là cái Pháp Ấy, chỉ là Phạm Âm thanh nhă khiến người vui nghe !”

Như mà tin được “Chỉ là cái Pháp Ấy”, ở trên trời, khắp dưới đất vốn không dơ sạch th́ thường trụ Chân Tâm, có chỗ nào mà chẳng Giải Thoát ư ?

 

GIỚI THIỆU - MỤC LỤC - QUYỂN 1 - QUYỂN 2 - QUYỂN 3 - QUYỂN 4

QUYỂN 5 - QUYỂN 6 - QUYỂN 7 - QUYỂN 8 - QUYỂN 9 - QUYỂN 10 - CHỈ MỤC

 

Copyright ©2005 FITEC & SearchVN. All rights reserved.