MỘT GIỌT NƯỚC HIỂN BÀY ĐẠI DƯƠNG

MỘT GIỌT NƯỚC HIỂN BÀY ĐẠI DƯƠNG
Thiền Sư Geoffrey Shugen Arnold


DẪN
Cây tùng trước sân, lá cờ gió thổi - như một chiếc hoa báo mùa xuân không cùng, như giọt nước hiển bày đại dương. Những vị Phật xưa, sinh ra từng thời, xa ngoài ḍng đời thường, không rơi vào lời và ư. Làm sao có thể hiểu trên lời?

CỬ
Một vị tăng hỏi ngài Triệu Châu: "Ư của Tổ Sư từ Tây qua là ǵ?" Triệu Châu đáp: "Cây tùng trong sân."

TỤNG:
Bờ mi kẻ tuyết trắng
Mắt sông chứa mùa thu
Miệng biển đánh trống sóng
Lưỡi ghe lái trên ḍng
Tài ba dẹp loạn
Mưu tạo thái b́nh
Lăo Triệu Châu, Lăo Triệu Châu:
Khuấy động ṭng lâm chết chẳng thôi.
Không cần nhọc công, tạo xe vừa vết bánh
Vốn không tài khéo, bịt ng̣i lấp hố khe.

(岸眉橫雪
河目含秋
海口鼓浪
航舌駕 流  
撥亂之手
太平之 籌
老趙州老趙州
攪攪叢林卒未休
徒費工夫也造車合轍
本無伎倆 也塞壑填溝.

Ngạn mi hoành tuyết
Hà mục hàm thu
Hải khẩu cổ lăng
Hàng thiệt giá lưu
Phạt loạn chi thủ
Thái b́nh chi trù
Lăo Triệu Châu, Lăo Triệu Châu
Giảo giảo tùng lâm tuất vị hưu
Đồ phí công phu dă tạo xa hợp triệt
Bổn vô kỹ lưỡng dă tắc hác điền câu.)

Khi Triệu Châu nói "Cây tùng trong sân", ngài thấy ǵ để nói đó là ư của Tổ Sư (tự tánh, Thiền, hay thực tại)?

Công án nầy trích từ một cuộc đối thoại dài hơn:

Vị tăng hỏi: "Ư của Tổ sư qua đây là ǵ?" Triệu Châu đáp: "Cây tùng trong sân." Vị tăng nói: "Đừng lấy một vật để dạy người." Triệu Châu: "Ta không lấy một vật để dạy người." Vị tăng: "Vậy ư của Tổ sư từ Tây qua là gi?" Triệu Châu đáp: "Cây tùng trong sân."

Khi tin rằng chúng ta có một sự hiện hữu nội tại, độc lập, chúng ta sẽ nh́n thấy mọi thứ trong mối tương quan với chúng ta. Khi tôi bám niềm tin vào cái tôi, nh́n một băi cỏ rộng lớn, tôi không nh́n thấy nó như chính nó. Tôi sẽ chỉ nh́n thấy nó trong mối tương quan với "tôi": Điều ǵ tôi có thể làm cho nó hay với nó? Điều ǵ nó có thể làm cho tôi? Nó cho tôi vui sướng hay làm cho tôi đau khổ? Nó làm cho tôi khá hơn, lớn hơn, giàu hơn, hay nó loại bỏ tôi? Con người trở thành "món đồ" bắng cách đó.

Một đệ tử của ngài Triệu Châu đến tham bái ngài Pháp Nhăn. Ngài Pháp Nhăn hỏi: "Ta nghe nói Triệu Châu nói 'Cây tùng trong sân.' Phải vậy không?" Vị tăng phản đối: "Không." Pháp Nhăn nói tiếp: "Mọi người ở đó nói rằng một vị tăng hỏi ông ta ư của Tổ sư từ Tây qua, Triệu Châu nói 'Cây trùng trong sân.' Sao ông chối việc nầy?" Vị tăng nói: "Ngài Triệu Châu không nói vậy. Xin đừng đổ oan cho ngài."

Vị tăng đă nói ǵ? - Xin đừng đi vào đời sống bằng ngôn ngữ, xin đừng biến pháp thành món đồ.

Trong Kinh Núi Và Sông, ngài Dogen (Đạo Nguyên) nói: "Chúng ta nên t́m hiểu khi nước của mười phương được nh́n thấy trong mười phương. Học về việc nước nh́n thấy nước. Nước thực hành và ấn chứng cho nước. Từ đó chúng ta có thể có một sự thực hành về nước nói với nước." Đó là cái mà Triệu Châu nhắm đến. Ai là kẻ chỉ vào cây tùng trong sân? Không phải Triệu Châu. Vậy th́ ai? Cái ǵ để cho nước học hỏi nước, để cho nước nói với nước, để cho nước thực hành và ấn chứng cho nước?

Công án c̣n lại: "Cây tùng là ǵ?" Công án nầy được nêu lên trong Vô Môn Quan, rồi đến Thung Dung Lục. Một vị Thầy nói rằng cả Năm Bậc (Ngũ Vị Quân Thần) của ngài Động Sơn nằm hết trong công án nầy. Nói cách khác, mọi cách nh́n về sự tương quan giữa tính chất nền tảng của thực tại (chơn như), tánh không, và thế giới hiện tượng đều có trong công án nầy.

Nhưng để thấy, chúng ta phải nh́n trong mối tương quan sâu xa. Chúng ta phải nhận ra rằng nó không phải là cái cây, cũng không phải không là cái cây. Và trong việc nhận ra cây tùng, chúng ta nhận ra rừng tùng. Chúng ta nhận ra núi. Chúng ta nhận ra Đất. Đó là lư do ngài Dogen (Đạo Nguyên) coi núi và sông là bài học sâu xa. Đó là nh́n một giọt nước và thấy được đại dương. Đó là nh́n vào một tâm và hiều tâm của cả loài người. Đó là ṭa trí tuệ, là nguồn đại bi.

Bờ mi kẻ tuyết trắng
Mắt sông chứa mùa thu
Miệng biển đánh trống sóng
Lưỡi ghe lái trên ḍng
Tài ba dẹp loạn
Mưu tạo thái b́nh
Lăo Triệu Châu, Lăo Triệu Châu:
Khuấy động ṭng lâm chết chẳng thôi.
Không cần nhọc công, tạo xe vừa vết bánh
Vốn không tài khéo, bịt ng̣i lấp hố khe.

Ngài Hoằng Trí Chính Giác nói về ngài Triệu Châu, nhưng phải chăng ngài cũng không nói về trái đất lớn lao và bí ẩn nầy? Phải chăng ngài cũng không nói về một cái thân lớn là vũ trụ? Bờ mi, mắt sông, miệng biển, lưỡi thuyền; sinh ra làm Đất là nhận ra Đất như là thân và tâm của ta. Nhận ra điều nầy, chúng ta sẽ khám phá "tài ba dẹp loạn (phạt loạn chi thủ)". Và "đó là cây tùng" (ghi chú cho câu tụng).

"Mưu tạo thái b́nh - Lăo Triệu Châu, Lăo Triệu Châu: Khuấy động ṭng lâm chết chẳng thôi. Không cần nhọc công, tạo xe vừa vết bánh."

V́ sao không cần nhọc công? V́ Đất là toàn bộ; v́ chúng ta là toàn bộ; v́ từ nền tảng không có sự khủng hoảng nơi chúng ta. Trước khi chúng ta nhận vào ảo tưởng về sự phân ly, thế giới thanh b́nh. Do đó Triệu Châu gắng sức vô ích. "Không cần nhọc công, tạo xe vừa vết bánh. Vốn không tài khéo, bịt ng̣i lấp hố khe."Ngài dùng một chuyện đơn giản để dạy, trả lời câu hỏi làm cho vị tăng giác ngộ tánh Phật nơi ông.

Càng nhận ra sự tốt đẹp vô bờ nơi chúng ta, chúng ta càng thấy điều đó nơi người, ngay cả những người làm những điều rất tồi tệ. Đó là nhận ra sự toàn vẹn của Đất và sự toàn vẹn của chúng ta. Điều nầy đă xảy ra khi đức Phật nhận ra chính ngài. Khi nhận ra điều nầy, đức Phật thốt lên: "Tất cả mọi chúng sanh, mọi sự vật, và đại địa ngay lúc nầy đều giác ngộ và toàn hảo." Điều nầy không có nghĩa là trong lúc nầy đây không có người nào trên thế giới đói khổ. Nhưng trong ngay lúc đó, đức Phật thấy sự hoàn hảo và toàn vẹn nền tảng trong mọi thứ.

Khi chúng ta chứng nghiệm được điều nầy, nó sẽ thay đổi sâu xa cách nh́n và cách sống của chúng ta. Đó là lư do ngài Dogen (Đạo Nguyên) nói: "Mặc dầu chúng ta nói rằng núi thuộc về đất nước, sự thật chúng thuộc về những người yêu thương chúng. Khi núi yêu thương vị thầy của ḿnh, người trí tuệ và đạo hạnh chắc chắn sẽ đi vào trong núi. Và khi những bậc hiền triết và trí tuệ sống trong núi, v́ núi thuộc về họ, cây và đá sẽ sinh sôi phong túc, chim và thú sẽ nhận được sự ưu ái kỳ diệu. Lư do là những bậc hiền triết và trí tuệ bao phủ chúng với đức hạnh. Chúng ta cần nhận ra rằng núi thật sự nhận niềm phúc lạc trong những người trí tuệ và những bậc hiền triết."

"Núi thuộc về những người yêu thương chúng." Và t́nh yêu đó là thứ tự nhiên nhất hiện diện trong chúng ta. Bi kịch là nó quá dễ dàng và thường xuyên bị che khuất. Trí tuệ nầy có thể luôn luôn được phơi bày. Chim và thú nhận đươc sự ưu ái kỳ diệu v́ chúng được bao trùm với đức hạnh; chúng ta thấy được đức hạnh ở nơi đó. Nó ở trong anh, ở trong tôi. Sự thực hành của chúng ta là con đường để thấy điều đó. Ngài Dogen gọi đó sự rèn luyện của núi.

Thị Giới lược dịch.

oOo


TỪ BẤT NHỊ VÔ MINH ĐẾN BẤT NHỊ GIÁC NGỘ

TỪ BẤT NHỊ VÔ MINH ĐẾN BẤT NHỊ GIÁC NGỘ

Có thể nói sự phát triển tâm thức của một người đi theo tiến tŕnh như sau:

BẤT NHỊ VÔ MINH: Khi mới sinh ra chưa có tâm phân biệt.
NHỊ NGUYÊN: Tâm phân biệt phát triển khi dần dần trưởng thành.
NHỊ NGUYÊN TỈNH GIÁC: Nhận ra Chân Tánh nhưng c̣n phân chia chủ-khách.
BẤT NHỊ GIÁC NGỘ: Nhất thể, Vô niệm.


oOo


TỪ BẤT NHỊ VÔ MINH ĐẾN BẤT NHỊ GIÁC NGỘ
Rev. Haryo Young, M.0.B.C.

Thử tưởng tượng một vị vua khi ngủ không mộng. Dù không ư thức, không có ǵ thay đổi thực trạng rằng ông là vua; ông chỉ không ư thức về điều đó. T́nh trạng lúc nầy của vị vua có thể so sánh với trạng thái tâm thức BẤT NHỊ VÔ MINH.

Giả sử vị vua nằm mơ thấy rằng ông là một người tôi tớ. Cũng vậy, sự thực ông vẫn là vua không thay đổi. Nhưng trong giấc mơ, ông cảm nhận và nghĩ ông thật sự là người tôi tớ. Ở đây có thể so sánh với trạng thái tâm thức NHỊ NGUYÊN.

Khi vị vua thức dậy, ông nhớ lại rằng ông là vua. Ông không c̣n nghĩ ông là một thứ ǵ không phải thật sự là ông. Điều nầy có thể so sánh với trạng thái tâm thức NHỊ NGUYÊN TỈNH GIÁC khi chúng ta nhận ra Chân Tánh của chúng ta.

Khi vị vua ra ngoài làm những công việc của ông, không nghĩ ǵ về ông là một ông vua. Ông vẫn là vua với những công việc của một ông vua, không suy nghĩ rằng "Ta là vua". Ông thực hiện những ǵ ông biết, hiên thực hóa chúng bằng hành động. Ở đây có thể so sánh với trạng thái Giác Ngộ. Biết rằng ông là vua, nhưng ông không bám vào đó. Ông không phải tự nhắc nhở về những việc ông làm. Bằng việc buông bỏ ư tưởng về bản thân là ǵ, ông có thể hợp nhất với sự thật. Ở đây có thể so sánh với trạng thái BẤT NHỊ GIÁC NGÔ.


Có hai dạng Chân lư, CHÂN LƯ CỦA SỰ BIẾT và CHÂN LƯ CỦA SỰ SỐNG (CHÂN LƯ CỦA HỮU THỂ).

Chân Lư Của Sự Biết là sự biết của chúng ta về Chân Lư Của Sự Sống. Chân Lư Của Sự Biết được tỏ lộ trong những bày tỏ chân thật về ư nghĩa của Chân Lư Của Sự Sống. Những bày tỏ nầy có được bằng việc nh́n vào và diễn tả Chân Lư Của Sự Sống như là một đối tượng. Chúng được tạo ra trên tâm thức dựa vào khái niệm.

Thực hiện Chân Lư Của Sự Biết có nghĩa là đi vào Chân Lư Của Sự Sống. Không có Chân Lư Của Sự Biết khi vào trong Chân Lư Của Sự Sống.

Không có một t́nh tiết cá nhân hay một dạng tướng nào của tâm được nh́n thấy khi chúng ta là một với Chân Lư Của Sự Sống. Không có ǵ cần thiết. Khi vào trong Chân Lư Của Sự Sống, chúng ta hợp nhất với nó, và chúng ta và Chân Lư Của Sự Sông biến mất, không c̣n được thấy như là những đối tượng.

Sự thực hiện Chân lư như vậy không phải là điều chúng ta hiểu trong ư nghĩa quy ước, nhưng là đi vào và trở thành.

Sự hiểu biết của chúng ta về nó có thể là thật, nhưng để cái thực tại hoàn toàn không che dấu thể hiện, để nó trở thành Chân Lư Sống Động vô ngại, chúng ta phải vượt qua sự hiểu biết về nó, và như vị vua, thực hành nó trong đời sống hằng ngày.

Khi chúng ta từ bỏ sự hiểu biết, chúng ta không đánh mất nó. Buông bỏ là điều làm cho sự hiển lộ của nó khả thi.

Trong đời sống, nó có thể dâng lên hay hạ xuống trước mắt chúng ta, nhưng điều đó không quan trọng. Nếu muốn, chúng ta có thể thấy nó bất cứ lúc nào. Nhưng chúng ta làm điều đó với sự hiểu biết về việc chúng ta làm: hiểu biết rằng Chân lư, như cả thế giới biết, không phải là Ngôi Nhà Thật của chúng ta. Ngôi Nhà Thật của chúng ta, không h́nh tướng và ở mọi nơi, và chúng ta đă trở về đó, là Chân Lư Của Sự Sống.

Trích dịch từ "The Truth Of Being."


oOo


UTTARATANTRA

Bảo tàng nằm dưới nền nhà của kẻ nghèo khó
Nhưng v́ y không biết có bảo tàng
Nên không biết rằng ḿnh là người giàu có.
Cũng thế, trong tâm mỗi người đều có sẵn chân lư bất hoại
Nhưng v́ không thấy được nó,
Con người trôi theo ḍng đau khổ không ngừng.
Bảo tàng nằm dưới nền nhà của kẻ nghèo khó
Y không nói rằng ḿnh có một kho bảo tàng
V́ y không biết nó.
Cũng thế, kho tàng chân lư nằm trong căn nhà tâm,
Nhưng con người sống nghèo nàn v́ thiếu nó.
Người nh́n thấy, sinh ra và sống thanh tịnh trong thế gian
Để mở bày kho bảo tàng vốn sẵn đó.


oOo


DALAI LAMA

Nếu sự tu tập làm cho chúng ta trở thành người vô cảm, không quan tâm đến sự b́nh an và khổ đau của người khác, th́ đó không phải là sự tu tập đúng đắn. V́ vậy không chỉ trong lúc tham thiền, mà ngay trong thời gian không tham thiền, chúng ta cũng luôn giữ chánh niệm, lương thức và cảnh giác.

***

Tu tập trong lúc không tham thiền cũng quan trong không kém khi tham thiền. Từ tham thiền, chúng ta phát triển nhũng đức tính như từ bi, độ lượng, tôn kính phẩm hạnh của người khác..., nhưng sự thử nghiệm thật sự là khi chúng ta đối diện với thế giới bên ngoài.

***

Sự truyền cảm cũng có nghĩa là "lực chuyển hóa", rằng có nhiều tính chất của đối tượng làm chuyển hóa bản tánh của tâm. Khi t́m đến sự ban phúc, chúng ta cũng ta t́m sự chuyển hóa bên trong tâm của chúng ta.

***

Nếu chúng ta không có một số kinh nghiệm về khổ đau, tâm từ bi của chúng ta sẽ không phát khởi được nhiều. V́ vậy ư chí giải thoát khổ đau cho chính ḿnh phải đi trước tâm nguyện từ bi đối với người khác.

***

Trước khi khi đạt được sự giác ngộ vững vàng như mặt đất, có nhiều mối nguy bị thoái chuyển. Do đó từ bi cần được tăng cường bởi từ bi. Từ bi và trí tuệ cần được phối hợp trong tu tập.

***

Tánh Không không hiện hữu độc lập, do đó chúng ta nói về tánh Không của tánh Không. Tất cả mọi hiện tượng (pháp) đều không có sự hiện hữu nội tại. Sự hiện hữu nội tại, sự hiện hữu cứu cánh, sự hiện hữu tự do, sự hiện hữu chân thật ... cũng đều như vậy (không có sự hiện hữu nội tại), tất cả đều cần được xả bỏ.

***

Đức Phật dạy cho chúng ta về trí tuệ, sự chứng ngộ của ngài, rằng tánh Không, duyên khởi và trung đạo cùng một nghĩa.

***

Dù tiếp cận với hiện tượng (pháp) bên trong hay bên ngoài, điều quan trọng là hiểu cách nó hiện hữu và cách nó hoạt động. Đó được gọi là lư về chân như, có nghĩa là quán sát sự việc trên nền tảng như thị hay tánh chất bản nguyên của nó.


oOo


LĂO SƯ JOSHU SASAKI NÓI VỀ “ĐẾN NHƯ VẬY”

Sự chuyển động bao gồm hai tính chất: sai biệt và phân biệt. “Đi” hàm chứa “đến,” và “đến” hàm chứa “đi.” Đến và đi được hoàn thành trong sự b́nh đẳng.

Toàn thể vũ trụ là một: Sự b́nh đẳng chứa đựng sai biệt và phân biệt. Nó bao hàm cộng và trừ. Do đó nó là số không.

Chúng ta chỉ có thể kinh nghiệm về trạng thái b́nh đẳng; chúng ta không thể diễn tả nó. Nếu có người yêu cầu giải thích, điều duy nhất tôi có thể làm là ôm hôn người đó, hoặc cho người đó một cú đấm. Có hiểu điều đó không? Có lănh hội ǵ không?

Thường người ta nói “Chúng tôi yêu sự b́nh đẳng.” Thay v́ chỉ nói ở đầu môi, chúng ta cần phải hiểu nguyên lư nầy. Khi trạng thái b́nh đẳng được biểu lộ, nó là trạng thái zero. Đó là trạng thái khi chúng ta không c̣n khẳng định hay bám vào cái ngă. Nếu hiểu điểm then chốt nầy, thế là đủ. Không c̣n cần phải để tâm vào thứ ǵ nữa.

Khi một đứa trẻ gọi “cha ơi!,” nếu người cha không đáp, đứa trẻ sẽ có thể hích tay vào người cha và nhắc “nh́n con nầy.” Khi người cha nh́n, nó sẽ nói: ”con thương cha.” Người Ấn độ xưa gọi những sự liên hệ như vậy là karma (nghiệp.)

Chúng ta không biết người Ấn độ trước thời đức Phật có hiểu khái niệm karma theo cách của đức Phật hay không. Họ chỉ dùng chữ “karma” mà không định nghĩa hoạt động của karma. Trong khi đó, đức Phật nói rơ ràng rằng karma là hoạt động “đến như vậy” và “đi như vậy.” Ngài định nghĩa một cách rơ ràng và thấy rằng không một ai trong chúng ta có thể thoát ra khỏi phạm vi của karma.

Tiếng Trung hoa dịch hai từ “đến như vậy” và “đi như vậy” là như thị lai và như thị khứ. Như thị lai cũng bao hàm ư nghĩa pháp giới (dharmakaya.) Như thị là như vậy. Như thị là như thị. Sự vật là như chúng là, trong bản thể của chúng. Nhưng một khi chúng ta đề cập đến cái toàn thể nầy như là một đối tượng, sự hợp nhất bị phá vỡ và sự phân ly hiện ra. Trong trạng thái hợp nhất, sự tĩnh lặng hoàn toàn trú ngự, ở đó không c̣n sự hiện hữu của cái ngă. Chúng ta không cần phải nói điều ǵ.

Khi người con và người cha hoàn toàn riêng rẽ, giữa họ không có điều ǵ cần phải nói. Người con ở trong một trạng thái riêng rẽ rơ ràng với người cha, người con không cần phải gọi người cha. Người con đang thể hiện sự vô ngă của ḿnh, đơn độc, tự tại. Khi người con riêng rẽ một cách rơ ràng với người cha, nó không cần gọi người cha. Nó đang hiển lộ sự trọn vẹn của ḿnh nơi chính ḿnh. Người cha cũng có thể nhận biết người con không thật sự cần ǵ đến ḿnh, và ông có thể ở trong trạng thái “dừng nghỉ.”

Trong trạng thái không tùy thuộc nầy, mặc dầu họ là hai cái khác nhau, họ không đối lập nhau, họ hiện hữu trong cùng một không gian. Nhưng nh́n từ một điểm nh́n rộng hơn, chúng ta cũng có thể coi đó là sự đối lập. Mặc dù có vẻ đối lập, họ không thật sự đối lập. Đó là trạng thái trong đó không có người nào c̣n cần thiết t́m cách khẳng định cái ngă của ḿnh.

Ở đó, cha và con hiện hữu riêng rẽ trong một trạng thái, và họ không quấy rầy nhau. Mỗi người đều tự trọn vẹn nơi chính ḿnh. Trạng thái đó xuất hiện một cách chắc chắn, và khi xuất hiện, nó sẽ xuyên thủng và biểu lộ sự hợp nhất. Và rồi mọi thứ sẽ biến mất. Trạng thái mà trong đó chúng ta không c̣n dính mắc vào cái ngă chắc chắn sẽ xuất hiện. Phật giáo coi đó là cái ngă chân thật, t́nh yêu chân thật, là chân lư cứu cánh. Với Thiền, ngôn ngữ không thể hiển bày chân lư cứu cánh. Chân lư đó hoàn toàn là con số zero.

Trạng thái như thị lai – đến như vậy – là trạng thái mà một người thoát khỏi sự ràng buộc con người. Đó là sự biểu lộ hoàn toàn của “đến như vậy.” Chúng ta không c̣n là mẹ, cha hay con. Toàn thể vũ trụ trở thành một. Khi chúng ta kinh nghiệm trực tiếp được hoạt động “đến như vậy,” chúng ta sẽ được “dừng nghỉ” và tĩnh lặng. Dù nói bao nhiêu cũng không đem lại sự thỏa măn và hạnh phúc chân thật. Chỉ khi nào chúng ta có được trạng thái siêu thoát, trạng thái “đến như vậy,” chúng ta mới có thể thỏa măn và “dừng nghỉ.” Đó là t́nh yêu chân thật, là chân lư cứu cánh. Người cha được thỏa măn. Người mẹ được thỏa măn. Người con được thỏa măn. Họ không thỏa măn một cách riêng rẽ, nhưng toàn thể vũ trụ thỏa măn. Đó là trạng thái hoàn toàn tĩnh lặng, trạng thái zero.

Trong Thiền, sự biểu lộ trực tiếp, sự chỉ thẳng là điều quan trọng. Nếu không thể trả lời lập tức cho người thầy, một người không thể gọi là đang thực hành thiền. Khi nh́n lên bầu trời, loại chỉ thẳng nào sẽ hiện ra? Có sự biểu lộ trực tiếp nào khi nh́n thẳng lên bầu trời?
Joshu Sasaki Roshi

Thị Giới lược dịch (từ Shambala Sun)

(*) Lăo sư Joshu Sasaki sinh ra trong một gia đ́nh nông dân tại quận Miyagi, Nhật Bản vào năm 1907. Năm 14 tuổi, ngài xuất gia với Lăo sư Joten Soko Miura thuộc phái Thiền Lâm Tế.

Đến năm 40 tuổi (1947), ngài Joshu Sasaki được tấn phong Lăo sư, và về trụ tŕ một ngôi chùa trên núi Shju-an, một ngôi chùa cổ được xây dựng do ngài Shoju Ronin, thầy của Huikin, một vị Thiền sư lớn của thế kỷ thứ 18. Năm 1962, ngài Daiko Furukawa, người kế thừa của Lăo sư Joten, trụ tŕ chùa Myoshin-ji, thỉnh ngài sang dạy ở Hoa kỳ.

Lăo sư Joshu đến Hoa kỳ vào tháng Bảy năm 1962 và ở lại truyền dạy giáo pháp cho đến ngày nay. Rinzai-ji (Lâm Tế Tự), ngôi chùa chính của ngài trong thành phố, được xây dựng vào năm 1968 ở Los Angeles, và sau đó là hai trung tâm tu Thiền được thành lập: Mount Baldy Zen Center ở San Gabriel Mountains, Nam California, được thành lập vào năm 1972 và Bodhi Manda Zen Center ở New Mexico được thành lập vào năm 1973. Học tṛ của ngài cũng mở những trung tâm tu Thiền ở Hoa kỳ, Puerto Rico, Canada, Áo và Đức.

Ở tuổi trên 100, ngài vẫn giữ đều đặn chương tŕnh dạy dỗ. Có thể nói ngài là người đại diện cuối cùng của thế hệ những vị thầy tiên phong truyền bá giáo pháp vào phương Tây. Ngài tịch năm 2014.

oOo


ROSHI BERNIE GLASSMAN

Ngài Đạo Nguyện nói: "Dừng việc bất thiện là nơi an trú giới luật của tất cả chư Phật." Chỗ an trú nầy là trạng thái bất-nhị, không-biết, không-phân-ly. Đệ Lục Tổ nói về tọa thiền như là trạng thái không phân ly giữa chủ thể và đối tượng (chủ và khách) - không có khoảng cách giữa anh và tôi, lên và xuống, đúng và sai. Như vậy chúng ta có thể nói rằng giới nầy là giới "Trở Về Nhất Thể."

Đó là chỗ khó bước vào, nơi mà chúng ta không biết cái ǵ đúng, cái ǵ sai. Đó chỉ là nơi chốn được gọi là hữu thể, nơi chốn của chính đời sống. Có bao nhiêu người trong chúng ta có thể nói rằng chúng ta không có câu trả lới? Có bao nhiêu người trong chúng ta có thể nói rằng mỗi con đường được đưa ra là con đuờng đúng?

Thiền là thực hành thúc đẩy chúng ta nhận ra cái đó là ǵ. Với tôi, tọa thiền là một thứ làm chứng đời sống, làm chứng cho việc loại trừ sự từ chối tánh một của đời sống. Mỗi chúng ta đang từ chối một thứ ǵ đó. Có những thứ của đời sống chúng ta không muốn tiếp xúc, thường v́ chúng ta sợ. Đôi khi chính xă hội nằm trong sự từ chối. Tọa thiền cho phép chúng ta làm chứng cho toàn thể đời sống. Với tôi, đó là thực chất của giới thứ hai, làm điều lành. Ngài Đạo Nguyên nói: "Làm điều thiện, đó là pháp, sự giác ngộ tối thượng. Đó là con đường của tất cả chúng sanh."

Làm chứng cho sự vật bị chúng ta từ chối hay xă hội từ chối, làm chứng cho sự vật chúng ta không muốn tiếp xúc - đây là giới thứ hai. Khi chúng ta làm chứng, chúng ta mở ra cho thực tại và chúng ta học. Những sự vật chúng ta từ chối dạy cho chúng ta. Chúng ta không đến dạy cho chúng. Khi chúng ta có thể lắng nghe, chúng ta có thể làm chứng, chúng dạy cho chúng ta.

Với tôi, sự nở hoa của tọa thiền là giới thứ ba, làm điều tốt cho tha nhân. Ngài Đạo Nguyên nói: "Đây là vượt khỏi phàm thánh. Đây là tự độ và độ tha."

Điều ǵ tốt nếu chúng ta làm cho chúng ta thánh thiện hơn? Điều muốn nói ở đây là ǵ? Đó là phục vụ, là hiến dâng, là trờ thành sự hiến dâng. Ở đó quả được sinh ra. Do đó chúng ta không lo việc phải làm ǵ. Nếu chúng ta dừng lại điều bất thiện, nếu chúng ta trở thành trạng thái không-biết, nếu chúng trờ thành tọa-thiền, sự hiến dâng sẽ khởi. Quả sẽ sinh. Câu hỏi luôn được đặt ra là: làm thế nào chúng ta đem Thiền vào đới sống của chúng ta?

Nhưng Thiền là đới sống. Có ǵ để đem vào? Và đem vào cái ǵ? Vần đề chính là coi đới sống là môi trường tu tập. Mọi phương diện của đời sống chúng ta cần trờ thành sự tu tập. Tôi được huấn luyện trong môi trướng tu viện truyền thống, những mô thức ở đây là đưa vào trạng thái không-biết.

Câu hỏi của tôi là, những mô thức nào chúng ta có thể tạo ra trong xă hội hiện đại để dẫn vào cái thấy nhất thể của đời sống? Đâu là những mô thức làm dễ dàng hơn cho chúng ta thể nghiệm trạng thái không-hai? Hấu hết những ǵ chúng ta làm đều tạo ra ư niệm nhị nguyên. Làm thế nào hướng dẫn chúng ta, anh em chúng ta, chị em chúng ta đi vào trạng thái không-hai?


oOo


SAWAKI KÔDÔ RÔSHI

SAWAKI KÔDÔ RÔSHI
(1880 - 1965)

Kodo Sawaki (1880-1965) là một Thiền sư nổi bậc của phái Tào Động Nhật bản trong thế kỷ 20. Ngài được coi là một trong những vị Thiền sư Tào Động quan trọng nhất vào thời của ngài khi đem việc thực hành Thiền vào đời sống của giới cư sĩ và quảng bá truyền thống xưa trong việc may y cà sa. Peter Sloterdijk, triết gia và nhà văn hóa người Đức, giáo sư Đại học Karlsruhe, xem ngài là "một trong những vị Thiền Sư để dấu ấn sâu đậm nhất trong thời cận đại."

---

Cái không thuộc về bạn đầy cả vũ trụ. NƠI TƯ TƯỞNG CÁ NHÂN CHẤM DỨT LÀ NƠI PHÁP PHẬT BẮT ĐẦU.

Trong đời sống thế gian, luôn luôn có thắng và bại, cộng và trừ. Nhưng trong Tọa Thiền th́ là "KHÔNG". ĐIỀU TỐT CHÍNH LÀ "KHÔNG". Đó là lư do nó là cái lớn nhất và bao trùm nhất.

Ngài Đạo Nguyên nói:

Những đóa hoa trang sức cho bầu trời tâm của tôi,
Tôi dâng cúng chư Phật trong ba đời.

----

GIÁC NGỘ LÀ TẠO RA ĐỜI SỐNG CỦA CHÍNH M̀NH

Tọa Thiền là đưa vào thực hành điều không thể suy nghĩ.

Tọa Thiền là chuyển Pháp, nó chuyển toàn thể pháp giới.

Chỉ Quản có nghĩa là thực hiện ngay bây giờ, ngay lập tức. Có nghĩa là không phí phạm một khoảnh khắc nhỏ nào trong cuộc đời của bạn.

----

Toạ thiền tốt cho thứ ǵ? Tuyệt đối không tốt cho thứ ǵ cả! Cái "không tốt cho thứ ǵ cả" nầy thấm vào thịt và xương của bạn cho đến khi bạn thật sự thực hành điều không tốt cho thứ ǵ cả. Cho đến khi việc tọa thiền của bạn thật sự là không tốt cho thứ ǵ cả.

Bạn nói rằng bạn muốn trở thành một người khá hơn bằng việc tọa thiền. Tọa thiền không phải là học cách làm một con người.

Tọa thiền không làm thỏa măn - không làm thỏa măn cho con người b́nh thường. Con người không bao giờ thỏa măn.

----

Có phải lạ lùng khi một đứa hài nhi nói với mẹ "Xin mẹ thông cảm cho việc con luôn ị trong tả." Không hiểu, không ư thức, mọi sự như nó phải là. Đừng vấy bẩn việc tọa thiền của bạn khi nói rằng bạn có tiến bộ, cảm thấy khá hơn hoặc tự tin hơn nhờ tọa thiền.

Chúng ta chỉ nói "sự việc tiến triển tốt" khi sự việc đi theo con đường chúng ta vạch.

Chúng ta chỉ nên để bản tánh nguyên sơ của chúng ta như nó là.

-----

Rữa sạch vết nhơ có nghĩa là "mộc mạc hồn nhiên” hay "ngu đần"(chỉ quản - chỉ trống không).

Có những vị Bồ tát "không có thần thông". Đó là những vị bồ tát ngay cả quên hoàn toàn những từ như "tu tập" hay "giác ngô," những vị bồ tát không có khả năng tuyệt vời, những vị bồ tát không thể đo lường, những vị bồ tát không thích danh hiệu và tiếng tăm.

----

Trong mọi sự, con người chạy theo cảm giác vui, giận, buồn, thích... Nhưng cái đó khác với tâm b́nh thường. Tâm b́nh thường là tắt-lửa. Không thân, không thù, không thắng, không thua, không thiện, không ác, không vui, không khổ - đó là tâm b́nh thường.

----

"Người đứng trên chỗ không đến cũng không đi là loại người ǵ?" Ngài Cửu Phong trả lời: "Cừu đá và cọp đá đối đầu, sẽ mệt khi trố mắt nh́n nhau." Cừu đá không lo sợ. Cọp đá không thèm mồi nhảy tới vồ. Đó là tâm điểm - ứng xử với tâm không suy lường (vô niệm).

Khi chúng ta thật sự thấu hiểu sự vật như chúng là th́ thế nào? -Vô niệm. Vô niệm không cho phép nó được nghĩ đến. Dù có nghĩ đến hay không: Sự việc đơn giản là như chúng là.

"Mọi sự đều trống không" có nghĩa là không có ǵ chúng ta có thể bước vào, v́ không có ǵ thật sự xảy ra. Chúng ta chỉ nghĩ sự việc ǵ đó xảy ra v́ chúng ta bị thứ ǵ đó làm mê.

Không có ǵ từng xảy ra, dù cái ǵ đó dường như đang xảy ra - đó là t́nh trạng tự nhiên. Vô minh có nghĩa là đánh mất t́nh trạng tự nhiên. Thường chúng ta không nhận ra t́nh trạng tự nhiên nầy. Chúng ta che nó bằng một thứ ǵ khác, và nó không c̣n tự nhiên nữa.

Mỗi nơi chốn (không gian) được đong đầy với đất và trời, mỗi khoảnh khắc là vĩnh cữu.

Thực hành pháp Phật là sống trọn vẹn trong phút giây hiện tại - nó là toàn thể đời sống của chúng ta - ở đây và bây giờ.


oOo


NHỮNG LỜI CHIA SẺ

NHỮNG LỜI CHIA SẺ
Sawaki Kôdô Rôshi

VIẾT CHO NGƯỜI LUÔN LO VỀ VIỆC NGƯỜI KHÁC NH̀N M̀NH THẾ NÀO.

Mỗi người trong chúng ta phải sống cuộc sống của ḿnh. Đừng phí thời gian suy nghĩ về ai là người tài ba nhất.

Mắt không nói "Vâng, chúng tôi ở thấp hơn, nhưng chúng tôi thấy nhiều hơn."

Lông mày không nói "Vâng, chúng tôi không thấy ǵ hết, nhưng chúng tôi ở chỗ cao hơn."

Sống theo pháp Phật là làm tṛn chức năng không tác ư rằng ḿnh đang làm. Núi không tác ư nó cao. Biển không tác ư nó rộng và sâu. Mỗi một sự vật trong vũ trụ hoạt động không tác ư về việc nó đang hoạt động.

Chim hót, hoa cười tự nhiên, không liên quan ǵ đến người tọa thiền dưới chân núi.

Chim không hót để tôn vinh người ngồi thiền. Hoa không nở để phô trương cho khách yêu hoa. Cũng như vậy, không phải ngồi thiền để t́m đến giác ngộ. Mỗi hiện hữu chỉ đơn giản thực hiện chính ḿnh, qua ḿnh và cho ḿnh.

Tôn giáo là sống đời sống của chính ḿnh, hoàn toàn tươi mới, không bị người nào khác tác động.

Điều ǵ bạn đang nh́n vào? Bạn không thấy rằng đối tượng là chính bạn?

Hậu môn không cần phải hổ thẹn v́ là hậu môn. Bàn chân không có lư do ǵ đứng lên phản đối v́ chúng chỉ là bàn chân. Cái đầu không phải là quan trọng nhất, và cái rún không phải cho rằng nó là cha đẻ của mọi thứ.

Cũng lạ lùng là người ta nh́n vào vị thủ tướng như là như một con người đặc biệt quan trọng. Mũi không thể thay thế cho mắt, và miệng không thể thay thế cho tai.

Mỗi sự vật có căn cước riêng, không ǵ có thể vượt qua trong toàn thể vũ trụ.

Một bọn trẻ bắt một con chuột nhốt vào lồng. Bọn chúng háo hức nh́n cách nó đâm mũi vào thành lồng đến chảy máu, vùng vẫy đến rách đuôi, rồi thảy nó cho mèo ăn. Nếu ở trong hoàn cảnh con chuột, tôi sẽ nói với ḿnh: "Loài người chết tiệc đừng lấy tôi làm tṛ vui!" VÀ TÔI CHỈ ĐƠN GIẢN NGỒI THIỀN.


oOo


VIẾT CHO NGƯỜI NGHĨ VỀ MỘT THỨ G̀ ĐỂ THAM DỰ

Bạn luôn trói ḿnh vào người khác. Thấy người ăn khoai chiên, bạn cũng muốn khoai chiên. Thấy người ngậm một viên kẹo, bạn cũng muốn một viên kẹo. Thấy người thổi c̣i th́ bạn tru tréo: "Mẹ ơi, mua cho con cái c̣i!" Và đó không phải chỉ đối với trẻ con.

Khi mùa xuân đến, bạn để cho mùa xuân xoay chuyển cái đầu của bạn. Khi mùa thu đến, bạn để mùa thu xoay chuyển cái đầu của bạn. Mọi người đều đợi một thứ ǵ đó xoay chuyển cái đầu của ḿnh. Một số người c̣n tạo ra sản phẩm để xoay chuyển những cái đầu - sản xuất quảng cáo.

Con người ưa thích sự hổn độn cảm xúc. Chỉ nh́n vào tờ quảng cáo về cuốn phim bên ngoài rạp chiếu bóng: không ǵ ngoài sự háo hức hiện ra trên nét mặt. Theo pháp của Phật, không đặt ḿnh vào niềm vui với sự hổn độn cảm xúc. Sự ồn ào huyên náo lớn nhất là TẠO TÁC TRÊN CÁI RỖNG KHÔNG.

Con người tạo bộ mặt thông minh và bàn về việc làm chúa tể trái đất. Nhưng trong lúc đó nó không biết bắt đầu ở đâu với bản thân ḿnh.

Vây quanh bởi những "người hùng" và bươi moi sự can đảm để chơi tṛ người hùng. Không có thứ anh hùng như vậy. Một người ăn trộm nói với con của y: "Nếu con không dừng ngay sự trung thực đáng nguyền rủa của con, con sẽ không bao giờ trở thành một người ăn trộm được tôn trọng như cha. Con là một nỗi ô nhục của nghề nghiệp."

Chúng ta sống trong sự ngu muội đoàn nhóm và lẫn lộn sự điên rồ nầy với kinh nghiệm chân thật. Việc thiết yếu là rơ ràng với chính ḿnh và thức tỉnh khỏi cơn điên rồ. TỌA THIỀN LÀ TÁCH RỜI TÍNH ĐOÀN NHÓM VÀ BƯỚC ĐI TRÊN ĐÔI CHÂN CỦA CHÍNH M̀NH.


oOo


VIẾT CHO NGƯỜI ƯU TƯ VỀ ĐỜI SỐNG

Thật không xứng hợp khi sinh ra làm người mà suốt đời ch́m ngập trong lo nghĩ. Bạn cần t́m thấy hạnh phúc khi được sinh ra làm người.

Sinh, già, bịnh, chết - chúng ta đừng lăng phí thời gian bu quanh những vấn đề đó. Thực tại phải là mục tiêu của chúng ta. Đừng để dính mắc vào các phạm trù.

Thật lạ là ít ai đặt vấn đề nghiêm túc với cuộc đời của ḿnh. Chúng ta cứ quanh quẫn với những thứ không thật, và tự an ủi rằng người khác cũng làm như vậy. Đó là điều mà tôi gọi là sự ngu muội đoàn nhóm. GIÁC NGỘ LÀ TẠO RA ĐỜI SỐNG CỦA CHÍNH M̀NH.

Một nơi ở Măn Châu có loại xe được kéo bởi những con chó lớn. Người lái xe treo một miếng thịt trước mũi con chó, và con chó chạy như điên để cố chộp cho được miếng thịt. Nhưng dĩ nhiên nó không thể. Nó chỉ được thảy cho miếng thịt khi chiếc xe đă đến nơi. Và với một ngụm duy nhất, nó nuốt trửng miếng thịt.

Ít ai thấy được xa hơn đầu mũi của ḿnh. Mọi người tin rằng đời sống của họ có ư nghĩa nào đó, nhưng thật sự nó không khác ǵ loài chim nhạn: giống đực t́m mồi, giống cái ấp trứng.

Hầu hết con người không có sự tiếp cận rơ ràng cho đời sống. Họ sống với những phương cách tạm bợ, giống như thoa dầu vào chỗ mỏi trên vai.

Nếu không cẩn trọng, bạn sẽ phí cả cuộc đời chờ đợi những hy vọng.


oOo


VIẾT CHO NGƯỜI CHỈ NGHĨ ĐẾN TIỀN

Hạnh phúc của con người không chỉ tùy thuộc vào tiền. Nếu sổ tiết kiệm là thước đo hạnh phúc, th́ vấn đề sẽ quá đơn giản. Nhưng sự thật không phải vậy.

Không có tiền, bạn gặp khó khăn. Tuy nhiên, bạn cũng cần biết rằng có những thứ quan trọng hơn tiền.

Đừng cảm thấy bó tay khi bạn cần tiền để sống. Bạn có thể sống tốt mà không có tiền để dành.

Làm việc! Khi làm việc, bạn tự nuôi sống. Tội nghiệp khi phải dùng chức vụ để nuối sống bản thân.

Một số người nghĩ rằng họ quan trọng v́ họ có tiền. Những người khác nghĩ rằng họ quan trọng v́ họ "ngộ." Nhưng bất kể bạn dồn vào bị thịt (con người) của bạn thế nào, bạn cũng không tạo cho bạn thành thứ ǵ ngoại trừ là h́nh bóng của một con quỉ.

Cái không thuộc về bạn đầy cả vũ trụ. NƠI TƯ TƯỞNG CÁ NHÂN CHẤM DỨT LÀ NƠI PHÁP PHẬT BẮT ĐẦU.

Trong đời sống thế gian, luôn luôn có thắng và bại, cộng và trừ. Nhưng trong Tọa Thiền th́ là "KHÔNG". ĐIỀU TỐT CHÍNH LÀ "KHÔNG". Đó là lư do nó là cái lớn nhất và bao trùm nhất.

Ngài Đạo Nguyên nói:

Những đóa hoa trang sức cho bầu trời tâm của tôi,
Tôi dâng cúng chư Phật trong ba đời.


oOo


VIẾT CHO NGƯỜI NGHĨ RẰNG THỦ TƯỚNG LÀ MỘT CON NGƯỜI ĐẶC BIỆT

Người đi t́m một sứ mệnh chân thật không muốn theo đuổi một nghề nghiệp. Người muốn trở thành tổng thống không biết ḿnh đang đi đến đâu trong cuộc đời.

Cuộc bầu cử quá quan trọng đối với họ đến nỗi các vị Tổng thống, Thủ tướng và nghị viên tổ chức chiến dịch vận động để thâu phiếu.

Khi rớt cuộc bầu cử, họ khóc. Lần sau thắng, họ lại cười trước các ống kính. Những người làm chính trị như vậy khác ǵ trẻ con? Giống hệt như đứa trẻ con khóc: Cho nó cái kẹo, và một nụ cười sẽ nở ra trên mặt nó.

Trưởng thành hơn chút xíu th́ hay.

SỐNG BÁM VÀO CÁI LƯ LỊCH CỦA M̀NH LÀ MỘT THẤT BẠI. (*)

Có một người mắc chứng hoang tưởng ở nhà thương Sugamo tự cho ḿnh là “Ashiwara Shōgun”. Anh ta đeo một cái huy chương bằng giấy thùng trên cổ và ban những lời trang trọng cho những người anh gặp cùng đi trên đường. Khi chiến tranh chấm dứt, chúng ta thấy quân đội cũng làm không khác: Ban và nhận huy chương.

Sau chiến thắng trong cuộc chiến tranh Nga-Nhật, người Nhật nghĩ rằng có thể đánh chiếm các nước thuộc địa của những nước Tây phương. Nhưng điều ǵ thật sự đă xảy ra? - Sau khi thất bại trong trận Thế chiến thứ hai, người họ thấy ra rằng họ chỉ nhận sự căm thù của các nước châu Á.

Mọi người đều nói về ḷng trung thành với tổ quốc. Vấn đề là ḷng trung thành sẽ đưa chúng ta đi về đâu? Tôi cũng đă hoàn toàn bị thuyết phục khi tham gia cuốc chiến tranh với Nga. Nhưng sau khi thất bại trong Thế chiến thứ hai, tôi nhận ra rằng chúng tôi đă làm một việc không nên làm.

(*) Bám vào quá khứ.

oOo


VIẾT CHO NGƯỜI MUỐN BẮT ĐẦU TỌA THIỀN

Có 500 con khỉ phụng sự cho 500 vị Thánh. Một ngày nọ những con khỉ quyết định bắt chước mọi thứ mà 500 vị Thánh làm. Chúng bắt chước theo các vị thánh với mắt, mũi, miệng và thân của chúng. Chúng nói rằng 500 vị Thánh đă tọa thiền bằng cách đó và giác ngộ.

Tọa Thiền, phải là ở đây và bây giờ, và phải ở nơi chính bản thân bạn.

Tọa Thiền là đức Phật mà chúng ta tạo thành bằng máu thịt của chúng ra.

Tọa Thiền là đưa vào thực hành điều không thể suy nghĩ.

Tọa Thiền là chuyển Pháp, nó chuyển toàn thể pháp giới.

Chỉ Quản có nghĩa là thực hiện ngay bây giờ, ngay lập tức. Có nghĩa là không phí phạm một khoảnh khắc nhỏ nào trong cuộc đời của bạn.

Khi có người hỏi tôi tọa thiền tốt cho cái ǵ, tôi nói rằng tọa thiền không tốt cho cái ǵ cả. Và một số người nói rằng như vậy tốt hơn họ dừng tọa thiền. Nhưng chạy ṿng ṿng để thỏa măn ḷng ham muốn tốt cho cái ǵ? Cờ bạc tốt cho cái ǵ? Khiêu vũ? Chơi bóng rỗ để thắng hay thua tốt cho cái ǵ? Tất cả là tuyệt đối trống không! Đó là lư do trống không được cảm nhận khi ngồi im lặng trong tọa thiền. Trong đời sống, "không có ǵ tốt" chỉ có nghĩa là không thể kiếm tiền từ việc đó.

Người ta thường hỏi tôi bao nhiêu năm họ phải thực tập tọa thiền để có được kết quả. Tọa thiền không có kết quả. Sẽ không đạt được ǵ cả trong tọa thiền.


oOo


VIẾT CHO NGƯỜI MUỐN BIẾT TỌA THIỀN TỐT CHO THỨ G̀

Toạ thiền tốt cho thứ ǵ? Tuyệt đối không tốt cho thứ ǵ cả! Cái "không tốt cho thứ ǵ cả" nầy thấm vào thịt và xương của bạn cho đến khi bạn thật sự thực hành điều không tốt cho thứ ǵ cả. Cho đến khi việc tọa thiền của bạn thật sự là không tốt cho thứ ǵ cả.

Bạn nói rằng bạn muốn trở thành một người khá hơn bằng việc tọa thiền. Tọa thiền không phải là học cách làm một con người.

Tọa thiền không làm thỏa măn - không làm thỏa măn cho con người b́nh thường. Con người không bao giờ thỏa măn.

Điều đó hiển nhiên. Làm sao cái vĩnh cữu và vô cùng thỏa măn được những ham muốn của con người?

Không thỏa măn: tọa thiền.
Không thỏa măn: thực hành tọa thiền với thân thể nầy.
Không thỏa măn: thấm nhập tọa thiền vào thịt và máu.

Bị tọa thiền canh chừng, bị tọa thiền nguyền rủa, bị tọa thiền chận lối, bị tọa thiền kéo đi ṿng ṿng, mỗi ngày khóc ra máu - phải chăng đó là thứ hạnh phúc nhất của đời sống mà bạn có thể tưởng tượng?

Bạn nói "Khi tọa thiền, tôi bị những niệm tưởng quấy rầy!" - Chỉ trong tọa thiền bạn mới nhận biết những niệm tưởng quấy rầy. Khi nhảy múa với những niệm tưởng quấy rầy, bạn không nhận ra chúng. Khi một con muỗi chích trong lúc tọa thiền, bạn nhận biết ngay. Nhưng khi đang khiêu vũ, một con bọ chét cắn vào chỗ nhạy cảm, bạn không hay biết ǵ cả.

Đừng than van. Đừng nh́n cḥng chọc vào không trung. Hăy ngồi!


oOo


VIẾT CHO NGƯỜI NÓI RẰNG ĐĂ ĐẠT ĐƯỢC MỘT TRẠNG THÁI TÂM TỐT HƠN QUA VIỆC TỌA THIỀN

Khi bạn nói tọa thiền là một việc tốt, có cái ǵ đó không ổn. Tọa thiền hoàn toàn không có ǵ đặc biệt. Cũng không cần cảm ơn nó.

Có phải lạ lùng khi một đứa hài nhi nói với mẹ "Xin mẹ thông cảm cho việc con luôn ị trong tả." Không hiểu, không ư thức, mọi sự như nó phải là. Đừng vấy bẩn việc tọa thiền của bạn khi nói rằng bạn có tiến bộ, cảm thấy khá hơn hoặc tự tin hơn nhờ tọa thiền.

Chúng ta chỉ nói "sự việc tiến triển tốt" khi sự việc đi theo con đường chúng ta vạch.

Chúng ta chỉ nên để chất nước bản tánh nguyên sơ của chúng ta như nó là. Thay v́ vậy, chúng ta không ngớt làm bẩn nó khi dùng bàn tay thử xem nó mát hay ấm. Đó là lư do nó bị vẩn đục.

Không ǵ đáng buồn hơn làm vẩn đục tọa thiền. "Làm vẩn đục" có nghĩa là làm bộ mặt giống như người trưởng pḥng, chủ hăng hay chủ tịch. Rữa sạch vết nhơ có nghĩa là "mộc mạc hồn nhiên” hay "ngu đần"(chỉ quản - chỉ rỗng không).

Có những vị Bồ tát "không có thần thông". Đó là những vị bồ tát ngay cả quên hoàn toàn những từ như "tu tập" hay "giác ngô," những vị bồ tát không có khả năng tuyệt vời, những vị bồ tát không thể đo lường, những vị bồ tát không thích danh hiệu và tiếng tăm.

Tọa thiền không giống như cái nhiệt kế có nhiệt độ từ từ tăng lên: "Một tí nữa ... vâng... như vậy! Giờ th́ tôi giác ngộ!" Tọa thiền không bao giờ trở thành thứ ǵ đặc biệt, cho dù bao lâu thực hành. Nếu trở thành một thứ ǵ đặc biệt, bạn đă đánh mất một con vít ở đâu đó.

Nếu không nh́n ra, chúng ta sẽ tin rằng pháp Phật giống như leo lên lên bực thang. Nhưng nó không giống như vậy chút nào. Bước hiện tại nầy là một sự thực hành bao gồm mọi thực hành, và mọi thực hành chứa trong một thực hành.

Nếu làm điều tốt, bạn không thể quên bạn đă làm điều tốt. Nếu giác ngộ, bạn sẽ bị kẹt trong việc nhận biết có sự giác ngộ. V́ vậy tránh đụng đến việc tốt cũng như giác ngộ. Phải hoàn toàn mở toang ra và tự do. Đừng dừng nghỉ trên hào quang của ḿnh.

Dù tôi nói tất cả đều nầy về đạo Phật, người b́nh thường vẫn sẽ dùng pháp Phật để phát huy giá trị con người của họ.


oOo


VIẾT CHO NGƯỜI LÀM MỌI CÁCH ĐỂ ĐƯỢC GIÁC NGỘ

Chúng ta không tu tập để được giác ngộ. Chính sự giác ngộ [vốn có] kêu gọi chúng ta tu tập. Chúng ta tu tập, hoàn toàn được kêu gọi do sự giác ngộ. Chúng ta không t́m đạo, đạo t́m chúng ta.

Bạn học tập, chơi thể thao và bạn kết nối những thứ đó với giác ngộ và vô minh. Từ đó đối với bạn, tọa thiền cũng trở thành một cuộc đua marathon, mà vạch chung cuộc là giác ngộ. V́ cố gắng đế đạt cho được, bạn hoàn toàn đánh mất nó. Chỉ khi nào dừng lại việc can thiệp như vậy, bản tánh nguyên sơ, toàn khắp của bạn hiện ra.

Nói rằng bạn đang t́m kiếm con đường, nhưng nó có nghĩa là ǵ khi bạn t́m kiếm con đường chỉ để thỏa măn chính bạn.

Bạn muốn thành Phật? Không cần thiết phải thành Phật! Hiện tại đơn giản là hiện tại. Bạn đơn giản là bạn. Khi bạn muốn rời khỏi nơi bạn đang là, nơi nào chính xác là nơi bạn muốn đến?

Tọa thiền có nghĩa là chỉ ngồi không suy nghĩ ngay cả chuyện thành Phật.
Chúng ta không đạt giác ngộ qua sự tu tập: tu tập là giác ngộ. Mỗi và mọi bước đều là điểm đến.


oOo


VIẾT CHO NGƯỜI BÀY TỎ SỰ GIÁC NGỘ CỦA M̀NH

Tại sao bạn không xăm câu "Tôi giác ngộ" trên khắp thân thể của bạn? Khi bạn không ư thức về bao tử của bạn chứng tỏ rằng bao tử của bạn khỏe mạnh. Nếu bạn không thể quên sự giác ngộ của bạn, điều đó chứng tỏ rằng bạn không đạt được ǵ hết.

Bạn nghĩ rằng bạn là thứ ǵ đặc biệt v́ bạn đạt giác ngộ, nhưng đơn giản bạn chỉ trưng bày cái túi thịt của bạn.

Khi một người b́nh thường đạt giác ngộ, người đó được gọi là một con quỉ Thiền. Lư do là người đó nghĩ rằng ḿnh là thứ gi đặc biệt.

Khi người ta nói về giác ngộ, điều đó thường chỉ có nghĩa là một con quỉ đạt được những năng lực ma thuật.

Khi biết ḿnh đang làm điều ǵ xấu, th́ điều đó không có ǵ trầm trọng. Nhưng những người nói về sự giác ngộ của ḿnh không nhận ra rằng họ đang làm điều xấu. V́ vậy họ là những trường hợp không thể cứu giúp.

Không có vô minh nào khó chữa trị bằng sự giác ngộ.

Đừng kiêu hănh về việc tu tập của ḿnh. Bất cứ sự giác ngộ nào tạo ra sự kiêu hảnh đều là lừa dối.

Bạn đi thụt lùi nếu bạn nói về những tầng bậc của tu tập. Tu tập là giác ngộ.

Giác ngộ giống như một kẻ trộm lẻn vào một ngôi nhà trống không. Y vào nhưng không có thứ ǵ để trộm. Không có lư do để đào thoát. Không có ai săn đuổi. Do đó cũng không có ǵ có thể làm y thỏa măn.


oOo


VIẾT CHO NGƯỜI NÓI M̀NH KHÔNG TƯƠNG HỢP VỚI NGƯỜI KHÁC

Mọi người nói về quan điểm của ḿnh, nhưng ai thật sự quan tâm? Tốt hơn là làm thinh!

Một số người nói "Anh biết tôi là ai không?" - Một người b́nh thường, có ǵ khác? Một số người kiêu hănh về sự giàu có, người khác th́ tiếng tăm và địa vị, người khác th́ giác ngộ. Bằng cách đó, họ phô trương sự b́nh thường của ḿnh.

Con người luôn có thứ ǵ đó mà họ không thể quên. Nếu giàu, họ không thể quên tiền của họ. Nếu thông minh, họ không thể quên bộ năo của họ. Nếu tài ba, họ luôn nghĩ về những phuơng diện hay giỏi của họ. Nhưng dù nó thế nào, nó luôn đi vào con đường.

Lư do duy nhất là chúng ta quá quan tâm về cái túi thịt nầy mà chúng ta nghĩ về chúng ta là giàu, đẹp, hay ǵ ǵ đó. Nhưng khi chúng ta chết, mọi sự là một. Không c̣n cái ǵ là của chúng ta nữa.

Chúng ta luôn t́m cách quảng bá cái ngă của chúng ta. Câu hỏi duy nhất là: Bao nhiêu năm chúng ta giữ được nó? Khi chết, cơ thể của chúng ta chỉ là một khối thịt.

Cùng một mặt trăng đôi khi như cười, đôi khi như khóc. Đôi khi chúng ta ngắm nó qua một ly rượu sake. Nhưng bất kỳ mặt trăng nào con người nh́n đến, họ chỉ thấy cái tương ứng với sự nhận biết theo nghiệp của ḿnh. Không có cái nào là thật.

Bạn la lên "Ḥa b́nh, ḥa b́nh!", nhưng nếu bạn giữ im lặng, c̣n ḥa b́nh hơn nhiều. Bạn nói "Theo ư kiến của tôi...", nhưng rơ ràng đó là lúc ư kiến và lư thuyết bước vào chỗ bắt đầu tranh căi.

"Cả anh và tôi đều chỉ là người b́nh thường." (Thái tử Shōtoku)

Do đó, trong bất kỳ trường hợp nào, chính những con người b́nh thường tiến hành cuộc chiến với người khác, mọi người đều sai, thân cũng như thù. Người thắng và kẻ thua trong mọi trường hợp đều chỉ là người b́nh thường.

Thật là buồn nh́n những xung đột trên thế giới. Có một sự thiếu vằng ư thức chung. Một cái đầu nóng vung lưỡi gươm lên, người khác nă một tràng đạn.


oOo


VIẾT CHO NGƯỜI MUỐN SỐNG HẠNH PHÚC HƠN

"Dừng lại một chút và mọi sự sẽ ổn."

Chúng ta đơn giản chỉ cần dừng lại một chút. Làm Phật có nghĩa là dừng lại từ vị trí một con người. Làm Phật không có nghĩa là vượt lên trên con người.

Điều làm cho ngài Lương Khoan Đại Ngu tươi mới là ngài không mơn trớn sự vật.

Trong mọi sự, con người chạy theo cảm giác vui, giận, buồn, thích... Nhưng cái đó khác với tâm b́nh thường. Tâm b́nh thường là tắt-lửa. Không thân, không thù, không thắng, không thua, không thiện, không ác, không vui, không khổ - đó là tâm b́nh thường.

"Người đứng trên chỗ không đến cũng không đi là loại người ǵ?"Ngài Cửu Phong trả lời: "Cừu đá và cọp đá đối đầu, sẽ mệt khi trố mắt nh́n nhau." Cừu đá không lo sợ. Cọp đá không thèm mồi nhảy tới vồ. Đó là tâm điểm - ứng xử với tâm không suy lường (vô niệm).

Khi chúng ta thật sự thấu hiểu sự vật như chúng là th́ thế nào? -Vô niệm. Vô niệm không cho phép nó được nghĩ đến. Dù có nghĩ đến hay không: Sự việc đơn giản là như chúng là.

"Mọi sự đều trống không" có nghĩa là không có ǵ chúng ta có thể bước vào, v́ không có ǵ thật sự xảy ra. Chúng ta chỉ nghĩ sự việc ǵ đó xảy ra v́ chúng ta bị thứ ǵ đó làm mê.

Không có ǵ từng xảy ra, dù cái ǵ đó dường như đang xảy ra - đó là t́nh trạng tự nhiên. Vô minh có nghĩa là đánh mất t́nh trạng tự nhiên. Thường chúng ta không nhận ra t́nh trạng tự nhiên nầy. Chúng ta che nó bằng một thứ ǵ khác, và nó không c̣n tự nhiên nữa.

Pháp của Phật là t́nh trạng tự nhiên. Trong thế giới bây giờ mọi thứ đều không tự nhiên. Áp chế, đầu hàng, tranh cải mọi thứ đến chết là không tự nhiên.

Mỗi nơi chốn (không gian) được đong đầy với đất và trời, mỗi khoảnh khắc là vĩnh cữu.

Thực hành pháp Phật là sống trọn vẹn trong phút giây hiện tại - nó là toàn thể đời sống của chúng ta - ở đây và bây giờ.

Đừng nhồi nhét đạo Phật vào bất kỳ cái khung nào.


oOo


VIẾT CHO NGƯỜI MUỐN HỌC PHẬT PHÁP ĐỂ CẢI THIỆN BẢN THÂN

"Lư thuyết suông" là điều chúng ta gọi khi người ngoại cuộc đi ḷng ṿng chung quanh bằng những thuật ngữ. Ḷng ṿng chung quanh không ích cho thứ ǵ cả. Hăy lặn hụp vào với cả thân và tâm!

Bạn phải hoàn toàn chết đi để có thể quán chiếu vào Pháp Phật. Chết nửa chừng không đủ.

Pháp Phật không có ǵ cho những người chỉ nh́n vào. Nó là về chính bạn.

Tôn giáo không có nghĩa là thay đổi thế giới chung quanh. Nó là việc thay đổi mắt của tôi, tai của tôi, cách nh́n của tôi và cái đầu của tôi.

Pháp Phật không phải là môn học để học. Vấn đề thật sự là: "Tôi đang làm ǵ với thân thể của tôi?" Thân thể con người được cấu thành rất thực tiễn. Nhưng chúng ta sử dụng thân thể thực tiễn nầy cho cái ǵ?" - Thông thường, chúng ta sử dụng nó như một kẻ nô lệ cho sự vô minh của chúng ta. Pháp Phật có nghĩa là sử dụng thân thể theo cách nó không làm nô lệ cho sự vô minh của chúng ta. Có nghĩa là để thân và tâm vào đúng vị trí.

Pháp Phật không phải là một ư nghĩ. Nó là về vấn đề "Tôi ứng xử với chính tôi như thế nào?"

(NHỮNG LỜI CHIA SẺ)


oOo


MILAREPA: TÂM

Tâm trong sáng và trống không
như hư không
Nhưng tâm trống không mà tỉnh giác
Hư không trống không mà không tỉnh giác
Chúng giống nhau về sự trống không
Nhưng chúng khác nhau xa.

Tâm trong sáng và trống không
như mặt trời, mặt trăng
Nhưng tâm sáng mà không có thể chất
Mặt trời, mặt trăng sáng mà rắn đặc
Chúng giống nhau về tính sáng
Nhưng chúng khác nhau xa.

Tâm trong sáng và trống không
như ngọn núi trên kia
Nhưng tâm không do những yếu tố hợp thành
Núi do nhiều vật hợp thành (hiệp tướng)
Chúng giống nhau ở tính bất động
Nhưng chúng khác nhau xa.

Tâm trong sáng và trống không
như ḍng sông dưới kia
Nhưng tâm không do những yếu tố hợp thành
Sông do nhiều nguồn hợp lại
Chúng giống nhau ở sự trôi chảy không ngừng
Nhưng chúng khác nhau xa.

Tâm trong sáng và trống không
Giống nhau nơi bạn và nơi tôi
Nhưng bạn dấng thân vào những việc thế gian
Trọn ngày thất tâm trong công việc
Đêm đến mê mờ trong giấc ngũ
Sáng tối nô lệ cho ham muốn.
Tôi là một hành giả khổ hạnh
Trọn ngày thực hành cho lợi ích của tất cả chúng sanh
Trọn đêm an trú trong tịnh quang
Thời thời cúng dường torma
Chúng ta giống nhau trong thân thể con người
Nhưng khác xa trong sự thành tựu của đời sống.

(Sáu Bài Ca Kim Cương)


oOo


Thân và vạn pháp đều là biểu hiện của một tâm. Trong con mắt phàm phu, chúng hiện ra sai khác, và bị chia đội thành chủ thể và đối tượng. Nhưng thật sự không có sự sai khác giữa chủ thế và đối tượng, không có ǵ hiện hữu riêng rẽ ngoài tâm.
---
Nhận biết tức thời rằng chủ thể và đối tượng là một, sẽ đưa đến cái biết sâu xa.
---
Trên cành khô
con quạ đậu
trong chiều mùa thu.
(Matsuo Basho)
---
Thiền không rời khỏi thể giới cụ thể nầy,
luôn đi giữa ḷng thực tại.
không đứng ngoài
cũng không tránh xa
thế giới danh và tướng.
---
Với gió nhẹ buổi chiều
nước liếm vào
chân những con diệc.
(Yosa Buson)
---
Đối với mọi sự, chỉ cần không bám víu. Không bám víu có nghĩa là không khởi những cảm thọ ghét và thương.
---
Tiếng lau chùi
xoong chảo ḥa với
tiếng ếch kêu.
---
Tâm, giống như tấm gương
chiếu sáng và biết
không chướng ngại,
nó thấm nhập vào vũ trụ bao la
không hở sót;
Vô số h́nh tướng là nội dung của nó
phản chiếu trong tâm,
Tâm tỏa sáng như một viên ngọc hoàn hảo
không có mặt ngoài, cũng không có bên trong.
---
Bịnh nằm trên chiếc giường ọp ẹp
bên cửa sổ thấp
nghĩ về trật tự của vũ trụ.
Một con chim trắng bay qua
tâm lên theo
mười ngàn trượng.
---
Người quán chiếu
bên trong
nhận ra sự thật về tự tánh
rằng tự tánh là vô tánh
vượt ngoài mọi hí luận.
Người nầy mở cánh cửa một
của nhân và quả,
đi trên con đường
không-hai, không-ba.
---
Cây trơ trụi
không c̣n sắc và hương
mà mùa xuân
đă sẵn trên cành.
---
Vật là vật
do tâm;
Tâm là tâm
do vật.
Nếu muốn biết hai thứ nầy,
chúng khởi đầu là một cái không.
Trong cái không nầy, cả hai
là một,
vạn pháp
chứa trong hai.
---
Gió ngừng thổi
Hoa vẫn rơi;
Chim kêu, sự im lặng của núi
sâu thêm.
(Zenrin)
---
Cửa sổ phía Bắc gió lạnh như băng
Rít qua những khe hở
Trong hồ phía Nam, những con ngỗng hoang
rúc vào nhau trong những bụi lau tuyết phủ,
Trên cao, mặt trăng đỉnh núi
mỏng đi trong giá lạnh,
Những cụm mây lạnh cóng dọa lao xuống
từ bầu trời.
Các đức Phật có thể đă xuống
thế gian mười ngàn vị
các ngài cũng không thể thêm hay bớt một thứ ǵ.
---
Mùa Xuân trăm hoa
Mùa Hè gió mát
Mùa Thu trăng trong
Mùa Đông tuyết phủ.

(Thị Giới trích dịch từ: Sayings and Tales of Zen Buddhism của William Wray)


oOo


THIỀN SƯ SHOUN VÀ MẸ

Shoun là một Thiền sư. Thân phụ ngài mất sớm nên ngài phải chăm sóc mẹ.

V́ có mẹ luôn đi theo nên ngài không thể ở với chúng, ngài dựng một am nhỏ để ở và chăm sóc mẹ. Ngài chép kinh, văn để nhận ít tiền mua thực phẩm.

Khi ngài mua cá cho mẹ bị thiên hạ đàm tiếu, ngài không để tâm, nhưng mẹ ngài cản thấy tổn thương, bà nói với Shoun rằng bà muốn trở thành một vị ni, bà có thể ăn chay. Và bà được cắt tóc xuất gia.

Shoun thích âm nhạc, là một bậc thầy về đàn harp, mà mẹ ngài cũng chơi. Vào đêm trăng tṛn hai mẹ con thường chơi nhạc với nhau. Một hôm, có một người phụ nữ đi ngang qua nhà nghe được tiếng đàn. Rung động sâu xa với tiếng đàn, bà mời Shoun đên nhà vào đêm sau để chơi đàn. Vị thiền sư nhận lời, đến, và cũng bị đàm tiếu.

Khi vị thiền sư đi hoàng hóa ở xa, mấy tháng sau trở về th́ thấy mẹ ngài đă từ trần và tang lễ đang được tiến hành. Không ai biết ngài hoằng hóa ở đâu đề báo tin.

Shoun bước tới, đưa gậy thiền chạm vào quan tài, nói: "Mẹ, con trai của mẹ đă về." Rồi ngài trả lời thay cho mẹ: "Con trai, mẹ vui khi con đă trờ về." "Vâng, con cũng vui." Shoun đáp lại, rồi tuyên bố: "Tang lễ đă xong. Quí vị có thể hỏa táng."

Khi Shoun sắp viên tịch, ngài tập họp đệ tử vào buổi sáng, nói rằng ngài sẽ nhập diệt vào buối chiều. Đốt hương trầm trước di ảnh mẹ và sư phụ, ngài viết một bài thơ:

Trong sáu mươi năm, con đă sống tốt nhất có thể được
Đi hết con đường của con trên thế gian nầy.
Giờ đây mưa đă tạnh, mây đă tan,
Bầu trời xanh hiện một mặt trăng đầy.

Rồi ngài ra đi trong tiếng kinh của đại chúng.


oOo


Có ai hỏi
tâm của nhà sư nầy
nói rằng nó chẳng khác
một thoảng qua của gió
trong bầu trời bao la.
(Ryōkan Taigu)


oOo


BÊN SAU SỰ GIÁC NGỘ CỦA THIỀN SƯ IKKYU

Ikkyu sinh vào năm 1394 trong gia đính hậu duệ của bộ tộc quí tộc Fyjiwara. Ngài là con của hoàng đế Go-Komatsu. Tuy nhiên mẹ ngài là một người phụ nữ giai cấp thấp, nên hai mẹ con ngài bị tống xuất khỏi ḥang cung. Đến 5 tuổi, ngài được gời vào một Thiền viện ở địa phương. Mẹ của ngài cũng thực hành Thiền một cách nghiêm chỉnh.

Trước khi từ giả cơi đời, bà viết lột lá thư gởi cho Ikkyu với những lời lẽ sau đây:

Gởi Ikkyu:
Mẹ đă xong việc của mẹ trên thế gian nầy và giờ đây trở về với Vĩnh cữu. Mẹ muốn con trở thành một người học tṛ tốt và nhận a Phật-tánh của ḿnh. Con sẽ biết mẹ có ở trong địa ngục hay luôn luôn ở bên con hay không.

Nếu con trở thành một người nhận ra rằng đức Phật và Bồ Đề Đạt Ma là những kẻ phục vụ cho con, con có thể ngưng học và phục vục cho nhân loại. Đức Phật thuyết pháp trong 49 năm, và thấy rằng chẳng cần nói một lời. Con cần phải biết v́ sao. Nhưng nếu con không và chưa muốn, đừng suy nghĩ vô ích.

Mẹ của con,
Không sinh, không chết
Ngày mồng một thánh 9.

Tái bút: Giáo pháp của đức Phật chỏ có một mục đ1icg duy nhất là giác ngộ người khác. Nếu con nương bám vào một trong những phương pháp, con chẳng được ǵ mà chỉ là một côn trùng ngu dốt. Có 80,000 kinh luận Phật giáo, nếu con đọc hết mà không thấy tánh, con sẽ không hiều ǵ ngay cả bức thư nầy. Đây là ước nguyện và chúc thư của mẹ.


oOo


THỰC HÀNH BỐN TÂM VÔ LƯỢNG TỪ BI HỈ XẢ

Bốn Tâm Vô Lượng là giáo lư quan trọng của Đại Thừa, được Đại Thừa nhấn mạnh. Hầu hết các kinh điển Đại Thừa đều xoay quanh giáo lư Từ Bi với lư tưởng Bồ tát. Tuy nhiên đối với Nam Tông (hay Tiều Thừa), giáo lư nầy không được xem trọng.

Sau đây, tôi xin dich một số ư kiến của các bậc Thầy để giải bớt một số nghi ngờ nơi người học Phật, nhất là những Phật tử theo Đại Thừa mà đông đảo Phật tử Việt Nam thực hành.

1. THẦY BHIKKHU BODHI:

Sự liên hệ chính xác giữa bốn tâm vô lượng với định và tuệ không được nêu rơ trong các kinh Nikàya, nhưng từ cách chúng được cư xử, chúng ta có thể suy ra rằng, nếu được sử dụng như là một pháp tu hoàn toàn độc lập, chúng bị đưa xuống vị trí thấp, coi như là đề mục nhỏ trong việc tiến tới định, do đó chúng được dùng để chỉ hơn là quán. Và khi đó, Bốn Tâm Vô Lượng được cho là đưa đến cảnh giới Phạm thiên. Chương Bốn Tâm Vô Lượng trong Vibhanga (Phân Biệt Luận trong A Tỳ Đàm) xếp chúng như là "con đường tái sinh vào thế giới h́nh tướng." Chúng không được coi như một khám phá của đức Phật mà là những sự thực hành có trước, đă lưu hành trong khung cảnh tâm linh Ấn độ, và đức Phật đưa vào hệ thống của ngài. V́ lư do nầy, một số kinh đánh giá thấp bốn tâm vô lượng. NHƯNG CHÚNG TA NÊN HIỂU RẰNG SỰ ĐÁNH GIÁ THẤP NẦY ĐƯỢC ÁP DỤNG KHI COI CHÚNG CHỈ NHƯ MỘT BỘ PHẬN ĐỘC LẬP TRONG TU TẬP.

TUY NHIÊN, CÓ NHỮNG KINH KHÁC CHỨNG TỎ RẰNG BỐN TÂM VÔ LƯỢNG CÓ THỂ DÙNG NHƯ CƠ SƠ CHO SỰ GIÁC NGỘ. Khi được dùng như cơ sở cho giác ngộ, chúng có thể đưa đến quả vị Niết bàn, như được nói rơ ở MN 7 (Trung Bộ Kinh - Kinh Ví Dụ Tấm Vải - HT Thích Minh Châu) (i) và MN 52 (TBK - Kinh Bát Thành - HT TMC) (ii). Trong trường hợp nầy, hành giả đi vào mỗi hay toàn bộ Bốn Tâm Vô Lượng và rồi quán những tác nhân của chúng là vô thường, bất toàn, và vô ngă. Qua sự quán nầy, hành giả đạt đươc sự chứng ngộ và dẹp tan những bất tịnh.

Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga), khảo sát vai tṛ của Bốn Tâm Vô Lượng một cách chi tiết hơn. Ở đó giải thích những sự khác biệt giũa bốn phẩm tính "thiêng liêng" và đưa ra những chỉ dẫn đầy đủ hơn trong thực hành mà người ta thấy trong các kinh. Đặc biệt chương 9 (Định - Các Phạm Trú / Ni Sư Trí Hải dịch) nói đầy đủ về Bốn Tâm Vô Lượng. Cuối chương nầy c̣n nêu ra rằng các vị Bồ tát để ư đến tâm Từ, được dùng như tác nhân cho việc thực hành các Ba la mật. Phần nầy có thể được h́nh thành dưới ảnh hưởng của Đại Thừa.

Việc Bốn Tâm Vô Lượng bị đánh giá thấp trở thành vai tṛ thứ yếu có thể giải thích một phần sự trổi dậy của Đại Thừa như là một phản ứng do các tăng sĩ đặt giá trị của Bốn Tâm Vô Lượng cao hơn. Có thể những tăng sĩ Đại thừa đầu tiên nầy cảm thấy rằng những phẩm tánh như Từ và Bi là trọng tâm của con đường Phật giáo và cần phải được gán cho vai tṛ nổi bật hơn cách mà những kinh văn tiền kỳ và các bộ phái sắp hạng chúng.

Các nhà Đại thừa t́m thấy sự cảm hứng từ những câu chuyện tiền thân của đức Phật như là một vị Bồ tát. Những câu chuyện nầy liên hệ đến kinh Jakata (Bổn Sinh) và trong các h́nh ảnh trau chuốt về cuộc đời đức Phật được lưu truyền. Những bản văn nầy theo dấu hành trạng của đức Phật về tận sự gặp gở của ngài với những đức Phật trong quá khứ. Từ đó, động cơ Bồ tát được nhấn mạnh, là nguyện từ bỏ việc chứng quả A la hán nhanh chóng để nhận lănh công việc dài lâu của một vị Bồ tát bằng việc thực hành Ba la mật. Động cơ là tâm Từ và Bi đối với chúng sanh, ư chí muốn giải thoát không chỉ cho riêng ḿnh và một ít người khác nhưng là giải thoát cho cả thế giới. V́ vậy, bằng việc lấy đức Phật làm tấm gương, những Phật tử Đại thừa đưa những phẩm tính của Bốn Tâm Vô Lượng nầy vào trọng tâm của con đường đạo và khuynh hướng nầy được thể hiện qua các kinh Đại Thừa. Những kinh Đại thừa tiền kỳ được ra đời trên ư niệm về một vị Bồ tát, làm cho Từ và Bi trở thành căn bản cho việc phát khởi Tâm Bồ đề, ư chí đạt đến giác ngộ tối thượng v́ lợi ích của thế giới, là then chốt trong việc thực hành đạo Bồ tát.

V́ vậy, trong khi với Phật giáo tiền kỳ và Phật Giáo Bộ Phái, sự phát triển tích cực những phẩm tánh như Từ và Bi bị bỏ lơ -- như một lựa chọn trong toàn bộ của những tu tập để đạt đến định và tuệ -- đối với Đại thừa chúng không thể thiếu, là chiếc ch́a khóa để chuyển hóa một người b́nh thường thành Bồ tát. Chúng được gán cho chức năng nổi trội trong suốt cuộc hành tŕnh. Chúng giữ vững cho vị Bồ tát trong việc thực hành Ba la mật và đi đến chỗ hoàn toàn giác ngộ với việc chứng được Phật tánh.

Trong khi Phật giáo tiền kỳ không nhấn mạnh vào sự tích cực của Từ và Bi sau khi giác ngộ -- dĩ nhiên ngoại trừ trong một ư nghĩa rơ ràng rằng một người giác ngộ phải cư xử với tha nhân với Từ và Bi, từ bỏ việc hại người để lợi cho ḿnh -- Đại Thừa coi những phẩm tính nầy là không thể thiếu nơi một bậc giác ngộ. Chúng giải thích quyết định của đức Phật về việc giáo hóa sau khi ngài giác ngộ, và trong ư nghĩa đầy đủ nhất chúng được coi là toàn bộ cho sự thể hiện của trạng thái giác ngộ.

(Thị Giới trích dịch từ "Bhikkhu Bodhi on Kindness and Compassion in Early Buddhism.")

***

2. THẦY THÍCH NHẤT HẠNH:

Một số nhà chú giải kinh nói rằng Bốn Tâm Vô Lượng không phải là giáo lư cao nhất của đức Phật, rằng nó không thể đem đến sự chấm dứt khổ năo. Điều nầy không đúng.

Có lần đức Phật nói nói với ngài A nan, "Hăy dạy Bốn Tâm Vô Lượng nầy cho những vị ty kheo trẻ, và họ sẽ cảm thấy an toàn, mạnh mẽ, và niềm vui, không phiền năo nơi thân và tâm. Trong suốt cuộc đời họ, họ sẽ được trang bị tốt để tu tập con đường thanh tịnh của một vị tỳ kheo."

Trong một dịp khác, một nhóm đệ tử của Phật viếng một ngôi chùa của giáo phái khác, các vị được hỏi: "Chúng tôi nghe nói thầy Gautama của các vị dạy Bốn Tâm Vô Lượng, từ, bi, hỉ và xả. Thầy chúng tôi cũng dạy vậy, không biết khác nhau ở chỗ nào?" Các vị đệ tử của Phật không biết trả lời sao. Khi họ trở về, đức Phật dạy, "Những người nào thực hành Bốn Tâm Vô Lượng cùng với Bảy Chi Giác Ngộ (Thất Giác Chi), Bốn Chân Lư Cao Thượng (Tứ Diệu Đế), và Tám Thánh Đạo (Bát Thánh Đạo) sẽ đạt đến chỗ sâu xa trong giác ngộ."

Từ, Bi, Hỷ, Xả là điều rất tự nhiên của người giác ngộ. Chúng là bốn h́nh thái của t́nh thương chân thật trong mỗi người và mọi sự.

(Thị Giới trích dịch từ "Dharma Talk: The Four Immeasurable Minds")

***

3. PHẬT GIÁO TÂY TẠNG:

Cổ Mật Tây Tạng (Nyingma) lấy Xả làm nền tảng cho ba phẩm tính Từ, Bi, và Hỉ.

Anne C. Klein viết:
Các ngài Longchenpa (Nyingma - 1308-1363) và Jime Lingpa (Nyingma - 1729-1798) cho rằng XẢ như là cánh cửa lớn đưa vào hai trong năm Trí của Phật. Là thuốc đối trị tánh ngă mạn, Xả mở ra cho chúng ta Trí tuệ thứ nhất của Phật: B̀NH ĐẲNG TÁNH TRÍ: thấy rằng tất cả có cùng một bản tánh chân thật - trống không, vô nhiễm, và không thay đổi.

...

XẢ c̣n tiêu trừ sự bám chấp. Khi không cón bám chấp, vô minh tự không tác động. Bấy giờ, việc thực hành Xả mở ra cánh cửa bước vào Trí tuệ thứ hai của Phật, trí bíết thực tại biến măn như hư không chân thật vô nhiễm, nền tảng -- PHÁP GIỚI THỂ TÁNH TRÍ -- ngôi nhà chân thật của tất cả mà ngài Longchenpa so sánh với Phật tánh.

...

Với Xả làm nền, ba phẩm tính c̣n lại làm cho sâu sắc sự kết nối với người khác. Phẩm tính TỪ, không bám chấp, mong muốn mọi chúng sanh ở mọi nơi được hạnh phúc và tạo nhân hạnh phúc. Nó dẹp sạch sự giận ghét. T́nh thương không méo mó, chuyển hóa thành Trí thứ ba của Phật -- ĐẠI VIÊN KÍNH TRÍ -- nh́n thấy mọi thứ rơ ràng như chúng là.

...

Ngài Tsongkhapa dạy rằng TỪ BI chuyển thành Trí tuệ khi nó nhận ra tánh Không của những chúng sanh đang đau khổ. Hiểu rơ nhân quả, theo ngài Jidme Linpa, làm phát khởi trí tuệ biết rơ mọi sự không cần cố gắng - DIỆU QUAN SÁT TRÍ. Ngài Kangyur Rinpoche khi chú giải tác phẩm Kho Tàng Những Phẩm Tánh Quí Báu của ngài Jigme Linpa, viết: "Từ Bi không là ǵ nếu không được soi sáng bằng tánh Không."

...

Phẩm tính HỈ dẹp tan tâm đố kỵ và làm vững chắc khả năng dấng thân. Nó là cánh cửa mở vào Trí tuệ c̣n lại của đức Phật, THÀNH SỞ TÁC TRÍ - trí tuệ viên măn chuyển hóa ư chí thành hành động."

(Thị Giới trích dịch từ "The Four Immeasurables - How to deepen equanimity, love, compassion, and joy.")


oOo


SỰ BẤT PHÂN LY GIŨA TỪ BI VÀ TÁNH KHÔNG

Từ bi có thể được phân làm ba loại. Thứ nhất là Từ bi nhắm vào các loài chúng sanh, thứ hai là Từ bi nhắm vào sự vô minh, và thứ ba là Từ bi không đối tượng.

Loại Từ bi thứ nhất dễ hiểu. Khi chúng ta nh́n vào những hoàn cảnh đau khổ mà chúng sanh phải chịu, chúng ta cảm thấy thương xót và muốn làm thay đổi hoàn cảnh khốn khổ của họ.

Loại thứ hai ở mức độ sâu hơn. Đó là Từ bi đối với sự vô minh của chúng sanh về tánh thật của pháp.

Thân thể, tài sản, cảm thọ không ngừng đổi thay. V́ vô minh, chúng sanh cố ôm giữ, coi như chúng sẽ tồn tại măi măi, rồi đau khổ khi sự việc thay đổi. Ở đây, vô minh đươc thấy như là gốc rễ của mọi khổ đau.

Loại Từ bi thứ ba là TỪ BI KHÔNG ĐỐI TƯỢNG.

Đây là mức độ sâu nhất của Từ bi, là nhận ra tánh B́nh đẳng.

Với Từ bi nầy, không có sự khác biệt giữa hữu t́nh và vô t́nh. Tất cả đều b́nh đẳng. Tâm từ bi nầy là trạng thái như nhiên, tuyệt đối, vô niệm.

Từ bi nầy có được với sự chứng ngộ tánh Không. Không dục, không nhị nguyên.

Thực hành Từ bi cho chúng ta nhận ra tánh Không.

Dù ở mức độ tương đối, khi thực hành Từ bi, tánh chất sâu xa của tánh Không sẽ tự động hiện diện trong tâm của chúng ta.

Cũng vậy, với sự tu tập tánh Không, Từ và Bi sẽ tự động khởi hiện trong tâm.

Tuyệt đối và tương đối không nghịch nhau. Chúng có cùng bản tánh. Chúng không phân ly, như lửa và nóng, như mặt trời và ánh sáng. Tánh Không và Từ bi không phải là hai yếu tố hợp lại; chúng luôn luôn cùng hiện hữu.

Venerable Khenpo Rinpoches


oOo


THIỀN ĐI BỘ

THIỀN ĐI BỘ
(Walking Meditation của Ajahn Brahm)

Thiền đi bộ rất là tuyệt diệu, nhất là vào lúc sáng sớm. Thường thường khi chúng ta thức dậy vào buổi sáng, nhất là những người không có thói quen dậy sớm, cơ thể mệt mỏi và tâm thức lu mờ. Một trong những ưu điểm của Thiền Đi Bộ là chúng ta không bị ngủ gục khi đi bộ. Nếu mệt mỏi, đi bộ cũng làm kích thích một số năng lượng và tạo một trạng thái an b́nh.

Thiền Đi Bộ được đức Phật tán thán và thực hành. Đọc kinh điển, chúng ta thấy đức Phật thường đi bộ vào sáng sớm. Ngài không ngồi; ngài đi.

Nhiều vị tu sĩ, tăng và ni, đă giác ngộ trong lúc đi bộ. Đó là một cách rất có hiệu quả cho việc phát triển tâm an tịnh và nội chiếu. Tôi có biết một số vị tăng ở Thái Lan, phương pháp tu tập chính của các vi đó là đi bộ tham thiền. Các ngài rất ít ngồi, nhưng đi bộ rất nhiều, và nhiều vị đă đạt được sự quán chiếu sâu xa trong lúc đi bộ.

Một ích lợi khác của thiền đi bộ là rất thích hợp với những người gặp khó khăn trong việc ngồi lâu. Nếu thấy khó ngồi v́ cơ thể bị đau khi ngồi lâu th́ phương pháp rất thích hợp là đi bộ tham thiền.

Đừng cho rằng thiền đi bộ là lọai “thiền hạng hai.” Nếu bạn muốn dùng nhiều th́ giờ vào việc đi bộ tham thiền th́ đừng ngại. Nhưng hăy thực hành một cách cần mẫn và cẩn trọng. Quan sát xem bạn có đạt được niềm hạnh phúc từ sự yên b́nh khi buớc đi hay không.


oOo


NGỦ VỚI TÂM BỒ ĐỀ

NGỦ VỚI TÂM BỒ ĐỀ
(Lama Zopa Rinpoche, Making Life Meaninful)

Có nhiều phương pháp thiền có thể thực hành trước khi ngủ. Có những phương pháp thiền định sâu xa trong mật giáo, nhưng một cách tổng quát, bạn có thể phát triển tâm bồ đề bằng suy nghĩ: “Mục tiêu cuộc đời tôi là giải thoát tất cả chúng sanh khỏi đau khổ và hướng dẫn họ đến hạnh phúc, nhất là sự hạnh phúc vô thượng của giác ngộ. Tôi có bổn phận nầy cho toàn thể pháp giới. Để thành tựu việc nầy, trước tiên tôi phải tự thân giác ngộ, do đó tôi phải tu tập thiền định trong giác ngủ.” Với động lực phát trỉển tâm bồ đề, bạn đi vào giác ngủ.

Một phương pháp thuờng được áp dụng khác là quán tưởng vị thầy của ḿnh trên gối ngủ, và khi nằm xuống, tưởng tượng như nằm trên đùi của thầy. Sau đó, với ḷng sùng kính, quán tưởng thầy là một với đức Phật, phát ra ḷng từ bị bao la đến khắp cả chúng sanh, và ngủ. Nếu thực hành phương pháp nầy, suốt giấc ngủ của bạn là một giậc ngủ đong đầy đạo đức, nguyên nhân cho đời sống hạnh phúc. Như vậy, bạn ngủ với ḷng sùng kính đối với vị thầy, đối với đức Phật, và với ḷng từ bị đối với hết thảy chúng sanh bằng việc nghĩ tưởng đến sự đau khổ của họ.

Bạn cũng có thể nghĩ khi ngủ bạn đang ở trong cơi tịnh độ của đức Phật, Bồ tát mà bạn đang tu tập. Thực hành nầy sẽ tạo ảnh hưởng sâu sắc trong tâm thức và tạo thiện nghiệp để được sanh vào cơi tịnh độ đó.

Bạn cũng có thể đi ngủ với ư tưởng từ bỏ, quán chiếu tính chất đau khổ của luân hồi, vô thường, chết v.v… hoặc thiền quán về tánh không hay tính duyên khởi, nh́n mọi sự như một giấc mơ hay một ảo ảnh, chỉ là những nhăn hiệu do tâm thức gán cho. Nếu bạn đi ngủ với tâm quán niệm rằng mọi sự vật hiện ra trước mắt do tâm thức dán nhăn hiệu cho chỉ là một giấc mơ, một ảo giác, sẽ giúp bạn nhận ra giấc mơ là giấc mơ và thực hành việc tu tập trong cả giấc mơ.

Thực hành bất cứ phương pháp nào ở trên, giấc ngủ của bạn sẽ là giấc ngủ trong chánh pháp và đức hạnh.


oOo


Powered by: searchvn.net