MÔ PHẬT. XIN SÁM HỐI ĐẾN MỘT VỊ THẦY.

Nói về bịnh, Kinh Duy Ma Cật có đoạn:

- “Bệnh này của cư sĩ, do nhân nào mà phát khởi? Bệnh sinh ra lâu chưa? Nên dứt trừ bằng cách nào?”

Duy-ma-cật đáp: “Do si mê và ái luyến mà bệnh tôi sinh ra. Nhân v́ tất cả chúng sinh bệnh, cho nên tôi bệnh. Nếu tất cả chúng sinh được khỏi bệnh, bệnh tôi sẽ dứt. Tại sao vậy? Bồ Tát v́ chúng sinh, nên vào chốn sinh tử. Có sinh tử, ắt có bệnh. Nếu chúng sinh được ĺa khỏi bệnh, ắt Bồ Tát sẽ không c̣n bệnh. Thí như một người trưởng giả kia, chỉ có một đứa con trai mà thôi. Đứa con ấy mắc bệnh, cha mẹ cũng mang bệnh. Nếu đứa con lành bệnh, cha mẹ cũng lành bệnh. Bồ Tát cũng như vậy. Người yêu các chúng sinh như con một của ḿnh. Nếu chúng sinh bệnh, Bồ Tát cũng bệnh. Nếu chúng sinh lành bệnh, Bồ Tát cũng lành bệnh.”

Và một đoạn khác:

Lại hỏi: “Trong bốn đại: đất, nước, lửa, gió, cái nào là bệnh?”

Đáp rằng: “Bệnh này chẳng phải đất, cũng chẳng ĺa đất. Đối với các đại như: nước, lửa, gió, lại cũng như vậy. Nhưng bệnh của chúng sinh là nương theo bốn đại mà khởi. Bởi họ có bệnh, cho nên tôi bệnh.”

Do vậy, không phải như một vị Thầy đă giảng rằng: Giống như chúa Jesus chịu đóng đinh thay thế tội cho loài người, Bồ tát Duy Ma Cật bịnh thay thế cho chúng sanh.

Theo Kinh th́ Bồ tát bịnh có hai lư do:

1) Bổ tát yêu thương chúng sanh như con nên đồng cảm với chúng sanh.

2) Bồ tát nguyện sinh vào đời năm trược, mang thân tứ đại như chúng sanh để giúp đỡ chúng sanh. V́ mang thân tứ đại như chúng sanh nên cũng phải bị bịnh như chúng sanh.

oOo


UẨN VÀ KHÔNG

"Nầy Xá Lợi Tử! Sắc chính là không, không chính là sắc, sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, thọ, tưởng, hành, thức cũng đều như vậy." (Tâm Kinh Bát Nhă)

Cái ǵ là sắc, cái ấy là không, cái ǵ là không, cái ấy là sắc.

Khi nói đến sắc, th́ năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) và "không" đă có ở trong sắc. Thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy. Có nghĩa là mỗi thành tố (uẩn) đều chứa đủ năm thành tố và "không". Và cả "không" cũng không nằm riêng ngoài năm thành tố, không có năm thành tố th́ cũng không có cái gọi là "không".

Thế giới được tạo lập từ uẩn. Đời sống của chúng ta được xây dựng và bao vây bởi uẩn. Chỉ có tự do khi nào chúng ta nhận ra rằng uẩn là không, uẩn là giải thoát.

Chúng ta thấy rằng sự hiện hữu và đối lập giữa uẩn và "không" chỉ có trong ư niệm. Ở đó, uẩn giống như hiện hữu có bản thể. Khi nhận ra Tánh Biết hay Tánh Không - cứu cánh của Đạo Phật - chúng ta sẽ nhận ra sự không có bản thể của uẩn, và cái được gọi là "không" cũng không có bản thể. Tất cả đều hiện ra trong Tánh Không và trở về với Tánh Không. Khi đó chúng ta nhận ra tánh vô ngại và giải thoát của uẩn và "không". Tâm, do năm uẩn thành lập, không có bản thể, được nhận ra là rỗng không. Bây giờ chỉ c̣n lại Tánh Biết, rỗng rang, giải thoát và chiếu diệu. Năm uẩn sắc, thọ, tưởng, hành, thức, phản chiếu trong Tánh Biết, cũng rỗng rang, giải thoát và chiếu diệu.

Trong Kinh Lăng Nghiêm, ngài Tu Bồ Đề tŕnh Phật:

"Phật hỏi về Viên Thông, như chỗ chứng của tôi, các tướng nhập vào phi tướng, phi và sở đều hết, xoay các pháp về Không, đó là thứ nhất." (Kinh Lăng Nghiêm Tông Thông, trang 533)


Trong cuộc vấn đáp giữa ngài Triệu Châu và vị tăng (*), sau khi được nghe câu trả lời "Ta không lấy một vật để dạy ngưởi", cái thấy phân biệt của vị tăng bị thách thức và lung lay. Đến câu trả lời lần thứ hai, cũng "cây tùng trong sân!", có lẽ vị tăng được đưa vào một cái thấy hoàn toàn mới, cái thấy toàn thể.

V́ vậy, khi một đệ tử của ngài Triệu Châu đến tham bái ngài Pháp Nhăn, ngài Pháp Nhăn hỏi: "Ta nghe nói Triệu Châu nói 'Cây tùng trong sân.' Phải vậy không?" Vị tăng phản đối: "Không." Pháp Nhăn nói tiếp: "Mọi người ở đó nói rằng một vị tăng hỏi ông ta ư của Tổ sư từ Tây qua, Triệu Châu nói 'Cây trùng trong sân.' Sao ông chối việc nầy?" Vị tăng nói: "Ngài Triệu Châu không nói vậy. Xin đừng đổ oan cho ngài."

Trong cái thấy đó, tướng cây tùng nhập vào phi tướng. Sự hiện hữu của cây tùng không khác với không hiện hữu, sự không hiện hữu không khác với hiện hữu. Có hay không không làm thay đổi tính toàn thể và bất động của cái thấy, cũng như tính toàn bộ và bất động của pháp giới. Nói cách khác, cây tùng nhập vào trong trong tính toàn bộ và bất động của pháp giới. Bấy giờ chỉ có một sự hiện hữu không bản thể, rỗng không được gọi là cây tùng. Nó bất động, tự tại, giải thoát. Cái thấy về cây tùng cũng bất động, tự tại và giải thoát. Và cây tùng hiện ra rơ ràng hơn bao giờ hết, nói như ngài Hám Sơn khi ngài trực ngộ nghĩa "bất thiên" trong Triệu Luận:

Hôm nay mới biết
Lỗ mũi hướng hạ.
(Triệu Luận Lược Chú)

Trong cái thấy không lập dụng hay Tánh Biết, mọi sự vật hiện ra như là chúng ngay lúc đó, không trước không sau, không có nơi chốn, không dính liếu, không ràng buộc, bất động, giải thoát: Không.

Cũng như toàn bài Tâm Kinh, ở đây, chúng ta không thấy một lư luận triết lư nào. Chân lư được mở bày trực tiếp.

Với những tâm thức đă sẵn sàng như ngài Xá Lợi Phất, ngay khi thấy duyên sanh (ngũ uẩn sinh diệt) là thấy Tánh Không, Niết bàn nằm ngay trong sinh tử luân hồi.

Ngưỡng vọng về một con đường hướng thượng, tôi xin thành kính ghi lại ở đây kinh nghiệm của ngài Hám Sơn được tŕnh bày trong Triệu Luận Lược Chú.

Trong đó có đoạn ngài viết:

“V́ duyên sanh nên tánh không, nên mọi pháp ngay đó vốn không biến đổi, thấy được mọi pháp không biến đổi nên tức vật tức chân”.

Tính giải thoát (Không) của uẩn được ngài trực chứng như sau:

“Tôi lúc trẻ đọc luận này [Triệu Luận] đến bốn câu trên (**), đối với nghĩa 'bất thiên' (không biến dịch) khởi nghi t́nh trải qua nhiều năm, khi cùng Sư Diệu kiết Đông ở Phù Bản, khắc lại bản luận nầy, lúc đọc đến đoạn này,hoát nhiên tỉnh ngộ, ḷng mừng vô hạn, liền đứng lên lễ Phật th́ thấy thân ḿnh không có tướng lễ xuống hay đứng lên, mở cửa nh́n ra ngoài chợt thấy gió thổi, lá cây rơi lả tả mà lá nào cũng chẳng động ..., kế đó vào nhà cầu để đi tiểu mà chẳng thấy tướng lưu chuyển của nước tiểu ...., Ngày xưa sự nghi câu 'Thế gian tướng thường trụ' của Kinh Pháp Hoa liền nhờ đây mà tan ră...”

Ngài làm một bài kệ:

Sinh tử ngày đêm
Nước trôi hoa tạ.
Hôm nay mới biết
Lỗ mũi hướng hạ.
(Sinh tử trú dạ,
Thủy lưu hoa tạ.
Kim nhật phương tri,
Tỉ khổng hướng hạ.)

Tuy nhiên, khi Thiền Sư Pháp Quang đọc một số bài thơ của ngài, thở dài nói: “Đây là những bài thơ thật hay, biết t́m đâu ra những vần tuyệt diệu như vậy? Vâng, những bài thơ này hay, nhưng vẫn c̣n một lỗ hổng chưa được khai mở.”

Cho đến khi ngài Hám Sơn ngồi trên cầu cạnh thác nước để thiền quán, một thời gian sau, ngài không c̣n bị bất cứ một tiếng động nào có thể làm quấy rầy. Sau đó, Ngài cảm nhận một kinh nghiệm:

“Môt hôm, sau khi ăn cháo xong, đi kinh hành. Bỗng nhiên tôi đứng lặng, thấy ḿnh không c̣n thân tâm. Tôi chỉ thấy một toàn thể chiếu diệu - biến tại, viên măn, quang minh. Như đại viên kính mà sơn hà đại địa chỉ là ảnh tượng trong ấy. Sau khi bừng tỉnh khỏi kinh nghiệm ấy, tôi thấy thân tâm trạm nhiên như thể không có, bèn làm kệ:

Hốt nhiên tâm thôi vọng động;
Nội thân, ngoại cảnh - trạm nhiên,
Sau lần chuyển thân,
Thấu thoát cái Không lớn.
Ôi! vạn pháp thung dung lai khứ!”

Cái Không lớn kia cũng thấm nhập vào khắp thế gian để nh́n thấy cả thế gian chỉ là mộng huyễn:

“Khi nào hoàn toàn b́nh tịnh,
Ta đạt được Chân Giác.
V́ mặc chiếu dung nhiếp cả không gian
Ta nh́n lại được thế gian,
Chỉ toàn đầy mộng huyễn!
Ôi! hôm nay ta thật sự liễu ngộ
Giáo lư của chư Phật chân thực nhường nào!”
(Thiền Đao Tu Tập - C. C. Chang - Như Hạnh dịch.)

Đó là Quán Tự Tại, “ngài nh́n xuống, ngài chỉ thấy có năm thành tố, chúng thảy đều là rỗng không.”

(*) Vị tăng hỏi: "Ư của Tổ Sư từ Tây qua là ǵ?" Triệu Châu đáp: "Cây tùng trong sân." Vị tăng nói: "Đừng lấy một vật để dạy người." Triệu Châu: "Ta không lấy một vật để dạy người." Vị tăng: "Vậy ư của Tổ sư từ Tây qua là gi?" Triệu Châu đáp: "Cây tùng trong sân."

(**) Gió băo bay núi mà thường tịnh
Nước sông đổ gấp mà chẳng trôi
Bụi trần lăn xăn mà chẳng động
Trăng qua bầu trời mà chẳng đi.

oOo


NHÂN NGÀY GIỖ SƯ ÔNG,

NHÂN NGÀY GIỖ SƯ ÔNG,
GHI LẠI MỘT SỐ LỜI CỦA SƯ ÔNG TỪ NHẬT KƯ CỦA NGÀI.

“Đạo bổn phi hành diệc phi luyện”.
Đạo vốn không tu, cũng không luyện.

“Nhứt trần bất nhiễm hà tham hà thọ”.
Một hạt bụi cũng không nhiễm th́ có ǵ mà tham mà thọ.

“Đạo bổn phạm hạnh, vô sân, vô dục”.
Đạo vốn trong sach, không sân, không dục.

“Đạo bất vị tự cầu phước báo”.
Đạo không do tự cầu phước báo.

“Tâm bổn tịnh tịch, hà hữu hảo xú”
Tâm vốn trong lặng, làm ǵ có tốt xấu.

“Mạng bổn tứ-đại hư ngụy hà kẻ hảo xú”
Thân mạng vố là bốn đại dă dối, làm ǵ có tốt xấu.

“Đạo phi chơn, ngụy”.
Đạo không chân, không giả.

“Đạo bịnh chỉ tại vô thiền-duyệt thực”.
Đạo bịnh chỉ do không thiền duyệt thực.

“Tội bổn tánh không, hà hữu hà vô ?”
Tánh của tối vốn không, có ǵ là có là không?

“Đạo bổn bất tịnh bất cấu”.
Đạo vốn không sạch không dơ.

“Đạo bổn vô nhăn nhĩ tỉ thiệt thân ư, hà nhiễm hà dục”.
Đạo vốn không mắt tai mũi lưỡi thân ư, cái ǵ là dơ, cái ǵ là dục.

“Đạo bổn vô trí diệc vô vô-minh”.
Đạo vốn không trí cũng không mê muội.

“Đạo bổn vô h́nh, hà thanh tịnh, hà cầu uế, hà tập, hà luyện”.
Đạo vốn không h́nh, cái ǵ là sạch, cái ǵ là dơ, cái ǵ là tu, cái ǵ là luyện.

“Đạo bổn vô dâm dục hà sanh tử tôn”.
Đạo vốn không dâm dục, cái ǵ sanh con cháu.

“Đạo bổn vô nhứt thiết tánh, hà hữu khiêm tốn hà hữu táo bạo”.

“Đạo vô sắc trần hà đắc xúc”.

“Đạo phi thiện, ác, diệc phi thân”.

“Đạo bổn b́nh đẳng, vô thiện vô ác vô thượng vô hạ”

“Đạo bổn vô cẩu thả, vô Thiên địa”.

“Nhơn chi sơ tánh bổn thiện tị thiện bất đắc”.

“Bổn vô đấu-tránh-tánh hà dĩ kiêm hữu thủ tránh tụng tâm ?”

“Nhược liễu bổn nguyên, tắc tri tâm vô sở trụ nhi hành kỳ đạo”.

oOo


CẢM ƠN NHÂN DUYÊN PHẬT PHÁP.

CẢM ƠN NHÂN DUYÊN PHẬT PHÁP.
NHÂN SỰ VIÊN TỊCH CỦA HT THÍCH TRÍ QUANG, NGHĨ VỀ CÁC VỊ THẦY.

Gia đ́nh tôi nhiều đời là Phật tử nhờ vậy từ nhỏ tôi đă được gần gũi các vị Thầy.

Ḥa thượng Thích Thiện Minh là Sư phụ truyền Tam Quy Ngũ Giới cho tôi ở chùa Tỉnh hội Nha Trang. Trong cuộc đấu tranh cho b́nh đẳng tôn giáo năm 63, lúc nầy gia đ́nh tôi vừa dời từ Nha trang về Quang ngăi, Thầy có gởi thơ về để khích lệ. Về sau Thầy vào Sài G̣n, gia đ́nh tôi cũng vào Sải G̣n và thường về Quảng Hương Già Lam thăm Thầy. Thầy cũng là người hiện diện chúc phúc khi tôi lập gia đ́nh.

Ḥa thượng Thích Trí Thủ là Bổn sư truyền Tam Quy Ngũ Giới cho Má tôi tại Phật Học Viên Hải Đức Nha trang khi Ngài là Giám viện. Về sau ngài về Sài g̣n làm viện chủ Quảng Hương Già lam. Ngài có giao cho Thầy Má tôi làm một số Phật sự khó khăn.

Ḥa thượng Thích Thiện Siêu thường về ở Quảng Hương Già lam và tôi có đến đảnh lễ Ngài. Ngài có tâm để ư đến vấn đề học thuật, thường hỏi han về những tác phẩm dịch thuật Phật giáo thời 1970, quan tâm nhất là những bản dịch của Như Hạnh. Sau 75 Ngài viết thư cho phép tôi được in lại các sách của ngài tại hải ngoại (thơ Ngài tôi vẫn c̣n giữ).

Ḥa thượcng Thích Minh Châu là thầy dạy văn hóa, và tôi cũng được một tuần gần ngài khi ngài nghỉ tại nhà tôi ở Vancouver trong dịp ngài dự Hội nghị Phật giáo thế giới năm 1994 do Phật Quang Sơn tổ chức.

Ḥa thựợng Thích Măn Giác cũng là thầy dạy văn hóa và tôi được quen Thầy khi Thầy mới về từ Nhật ở Quảng Hương Già lam. Ngài có gởi tặng tôi quyển Băo Qua Công Chùa gồm những tài liệu về GHPGVNTN sau 1975, có đề tặng và chữ kư.

Ḥa thượng Thích Trí Quang th́ tôi không đươc gần gũi nhiều. Thỉnh thoảng khi vào Sài g̣n, ngài mới về Già lam từ Ấn Quang bằng xe xích lô để thăm các Thầy. Thầy Má tôi th́ có quen biết Thầy, và Thầy (cha) tôi có thời gian lưu trú ở Từ Đàm, Huế. Sau nầy có hai lần về Việt Nam từ Canada được Thầy cho gặp ở Già Lam là những đặc ân hy hữu.

Các vị Thầy kể trên là những vị lănh đạo Giáo hội, nên về mặt thế gian, các ngài rơ ràng phải trái, trằng đen để tỏ bày và hành động. Tuy nhiên đối với các ngài, những đánh giá trắng đen, phải trái cũng chỉ có tính cách tương đối, v́ đối với các ngài, chúng chỉ có giá trị trên nền tảng Từ Bi Hỉ Xả.

Tôi được tiếp cận với Phật Pháp đầu tiên từ những vị Thầy nói trên, bên cạnh đó là cái nh́n về sự đặc thù của lịch sử và xă hội Việt Nam trong thời cận đại.

Cũng trong lứa tuổi chập chững vào đời, từ những năm đầu đại hoc, tôi cũng được học Thiền với sư phụ Thích Tịch Chiếu ở chùa Tây Tạng, B́nh Dương. Nhờ học với Sư phụ Tịch Chiếu, tôi càng nhận ra hành trạng vi diêu của những vị Thầy kể trên, cái vi diệu của tâm lượng trống không mà đầy Từ Bi Hỉ Xả.

Tóm lại cuộc đời của Quí Thầy đúng như hai câu thơ của Thiền sư Từ Đạo Hạnh:

Có th́ có tự mảy may
Không thi cả thế gian nầy cũng không...

Một phần cái Có ở đây là nói như Ḥa thượng Thích Trí Thủ: "Chim cá c̣n mua để phóng sanh, lẽ nào đồng bào mà không hy sinh cứu cấp."

Một phần của cái Không ở đây là nói như Ḥa thượng Thích Trí Quang trong tự truyện của ngài: "'Không vẫn hoàn không' là Phật cho tôi, tôi mới được như vậy." Đó là ở trong tâm trống không mà hành hoạt.

Cả gan nói vậy, nhưng tôi cũng biết rằng các bậc Bồ tát hiện ra trong đời chỉ là một phần trong cái Toàn Thân của các ngài đáp ứng với nhu cầu của chúng sanh, và với con mắt phàm phu, chúng ta cũng không thể thấy trọn vẹn dù chỉ phần hiện thân đó.

Những nhân duyên trong đời sống th́ vô cùng, và Thầy tôi cũng thường nói: Sai một ly đi một dặm. Tôi xin cám ơn những nhân duyên đă cho tôi được gặp các vị Thầy ở trên. Cũng xin có đủ nhân duyên để lại được gặp các vị Thầy đó và nhiều bậc Thiện trí thức khác trong tương lai.

Tôi cũng cảm ơn nhân duyên đă gắn tôi với những người bạn cùng là đệ tử của Thầy Tịch Chiếu.

Một Trần Quảng Khuê kinh nghiệm về sự trói buộc của ư niệm, nhất là nơi giới trí thức, làm cho họ khó mở tâm để có thể bao dung và từ bi, nên quyết định nương vào câu niệm Phật. Niệm Phật là đi thẳng vào cảnh Phật, Tâm Phật. Khuê cũng nói: Tu mà không mở được tâm từ bi là không đúng hay chưa tới. Đặc biệt Khuê có nụ cười như đứa trẻ thơ đeo kính cận.

Một Hồ Bá Thanh cầu toàn, thích sống cô tịch và sống cô tịch, tâm thường định.

Một Trần Ḥa Thịnh (Đồng Nguyên) Từ Bi và Vô Úy, bất khuất, bao dung, hy sinh, có khả năng hóa giải và khuất phục một cách nhẹ nhàng những người và việc cản trở. Đệ tử xuất gia của Thầy Đồng Nguyên có thể là hằng trăm vị. Việc nhận đệ tử của Thầy Đồng Nguyên không nằm trong khuynh hướng của Thầy, mà do hoàn cảnh đất nước trong một thời buổi đặc biệt cộng với ḷng Từ Bi và hy sinh của Thầy.

Một Lê Văn Nhữ vô ngă và trẻ thơ, coi những được mất trong đời sống như tṛ đùa, khi c̣n trẻ mất người t́nh cũng tṛ đùa, lấy bằng tiến sĩ cũng tṛ đùa, rồi bây giờ làm tu sĩ cũng coi như tṛ đùa.

Một Nguyễn Thế Đăng (Minh Diệu) thông minh, có chí hướng đi theo con đường của Sư phụ Tịch Chiếu là dạy học tṛ. Từ bi, kham nhẫn, giới luật, đơn giản, học vấn, chịu khó t́m phương tiện thích hợp cho học tṛ.

Những người học tṛ của Sư phụ Tịch Chiếu tùy căn cơ được học từ Sư phụ theo những cách khác nhau, như có lần thầy Thế Đăng nói vào đầu năm nầy (2019) khi hai chúng tôi đề cập việc một số huynh đệ b́nh phẩm rằng Thầy không dạy theo cách chỉ thẳng của Sư phụ Tịch Chiếu mà Thầy đă lănh hội. Tôi nghĩ là tùy căn cơ mà dùng phương tiện. Có lần Thầy Thế Đăng nói với tôi rằng một vị Thầy không có phương pháp rơ ràng th́ học tṛ rớt nhiều. Cách của Sư phụ Tịch Chiếu thường là thả học tṛ giữa ḍng mà không cho phao, để học tṛ làm quen với việc bơi trong cái không có ǵ. Thầy Chơn Hạnh hiện là trụ tŕ chùa Tây tạng B́nh Dương cũng có lối truyền đạt trực chỉ, tự nhiên, nếu để ư học cũng được nhiều lợi lạc.

Kính lễ và Sám hối trước Tam Bảo thường trụ trong mười phương.

oOo


NIỆM PHẬT LUẬN

NIỆM PHẬT LUẬN

Trần Thái Tông.

Niệm Phật có ba bậc:

BẬC TRÊN:

Tâm tức là Phật, không cần phải tu. Ư nghĩ là trần (1), vốn là trống không, thanh tịnh, nên gọi là như như bất động, tức là thân Phật (2). Thân Phật là thân ta, không có hai tướng. Tướng tướng không hai, lặng lẽ thường c̣n, thường c̣n mà không biết, đó là Phật sống (3).

GHI CHÚ:

(1) Pháp trần trong sáu trần, cũng là pháp, là đối tượng của ư thức. Các trần kia là sắc, thanh, hương, vị, xúc. Pháp trần sinh khởi từ sự tiép xúc với các trần kia.

(2) Pháp do tâm vẽ. Tâm thanh tịnh nên pháp cũng thanh tịnh. Sáu căn là toàn thể thân, sáu căn thanh tịnh th́ thân là thân Phật.

(3) Tất cả sáu căn đều nương trên tánh Giác. Tánh Giác là tánh Không nên lặng lẽ thường c̣n, ẩn nhiệm mà luôn hoạt động. Cái biết của tánh Không hay tánh Giác là cái biết âm thầm, ẩn nhiệm, không hiển lộ, không phân biệt, nên gọi là không biết. Thức, ngủ, nói, nín... đều hiện diện như nhau. Ví dụ khi ngủ, người ít tương ưng với tánh Giác, tánh Không, th́ khi có người đánh thức bất ngờ có thể liền nổi sân, c̣n người tương ưng nhiều với tánh Giác th́ thức dậy tỉnh táo, an ḥa. Đối diện với một vấn đế, tùy theo mức độ tương ưng với tánh Không mà người ta có cách cư xử khác nhau. Thành ra nói về tánh Giác, tánh Không th́ nói về sự tương ưng, sống với. (Hết ghi chú)


BẬC GIỮA:

Khi niệm Phật, chú ư tinh chuyên, niệm niệm không quên, tâm được thuần thiện. Niệm lành hiện th́ niệm ác tiêu. Niệm ác tiêu th́ chỉ c̣n niệm lành. Lấy niệm soi vào niệm th́ niệm tiêu diệt (4). Khi niệm dứt th́ vào được Chánh Đạo, đến khi mạng chung th́ được vui Niết bàn.

GHI CHÚ:

(4) Kinh Viên Giác nói: "Niệm khởi liền biết, biết liền tiêu diệt." (Hết ghi chú)

BẬC DƯỚI:

Miệng chuyên cần niệm lời Phật, tâm muốn thấy tướng Phật, thân nguyện sinh cơi Phật. Ngày đêm chuyên cần không lui sụt. Khi mạng chung theo niệm thiện lành mà sanh vào cơi Phật, sau đó được Phật giáo hóa chánh pháp, chứng đạo Bồ đề, thành tựu quả Phật. (5)

GHI CHÚ:

(5) Nói về cơi Phật, có người cho chỉ là cơi duy tâm. Tuy nhiên lấy ví dụ thời Lư th́ nuớc Việt có quốc độ của thời Lư với những tính cách của thời Lư, thời Trần có quốc độ của thời Trần với những tính cách của thời Trần... Các vị vua c̣n tạo được những quốc độ, th́ chư Phật, Bồ tát cũng tạo đuợc những quốc độ, với những tánh chất thời gian và không gian khác nhau, và những chúng sanh tương ưng với quốc độ nào sẽ sanh về quốc độ đó. (Hết ghi chú)

Ba bậc sâu cạn khác nhau, nhưng sở đắc chỉ là một.

Bậc trên nói th́ dễ mà làm khó.

Bậc giữa nếu chịu khó thực hành như đă tŕnh bày th́ ngay đó thành Phật. Nếu chưa hết vọng niệm mà qua đời th́ theo quả tái sinh nơi cơi lành. Khi quả lành hết, nếu không người nhắc nhở, có thể tái sinh vào đường xấu.

Bậc dưới lấy niệm làm thang, lấy tinh tấn làm bực, ư hướng vào duyên lành, nguyện sinh vào cơi Phật, cần cầu không lơ là, tâm tính thuần thục. Khi qua đời, theo sở nguyện, được sanh vào cơi Phật. Sinh vào cơi Phật rồi th́ thân không mất.

Thị Giới lược dịch và ghi chú.

oOo


(I)

Từ tỏ rơ trống không
Rời tánh thành ra có
Vẽ vời quên gốc nguồn
Ôm ấp yêu h́nh vẽ.

Giác Minh (cái sáng của Tánh Giác) rời Giác, rơi vào phân biệt, vọng chia phải trái, có không... tạo nên đời sống. Cái Không của Tánh Giác bèn rời Minh trở thành Mê. Mê và Vọng đối đăi mà cùng chung.

Ngài Vạn Tùng nói: "Văn Thù, thầy của bảy vị Phật, nói: 'Chứng thực Pháp của Pháp Vương, Pháp của Pháp Vương như vậy', cũng cần nhổ chiếc đinh ra khỏi mắt của ông ta, rút cái chốt sau năo của ông ta." (Thung Dung Am Lục - Tắc 1).
Một niệm khởi lên bèn rơi vào vọng. Ngay cả lời của ngài Văn Thù cũng chỉ là sự vẽ vời của Giác Minh, cần phải loại ra khỏi cái Thấy

(II)

Dừng ấp yêu h́nh vẽ
Về lại trong nhà Không
Thấy h́nh không bản thể
Vốn cùng một nguồn chơn.

Đời sống không ngoài năm uẩn do sáu căn, mười hai xứ, mười tám giới vốn không từ nhân duyên, không phải tự nhiên tạo lập. Không từ nhân duyên v́ thấy, nghe, hay, biết không từ căn, cũng không từ trần; không tự nhiên v́ thấy, nghe, hay, biết không cố định. V́ vậy đồng là Chân Như Diệu Huệ, không ở ngoài Tánh Giác. Mọi thứ trong đời sống đều như vậy.

Kinh Lăng Nghiêm Tông Thông viết: "Bên trong ánh sáng phát ra th́ th́ các trần tướng biến hóa của thế gian tiêu tan như băng gặp nước sôi, tức thời hóa thành Tri Giác Vô Thượng. Thế là nơi sự vật thế gian mà siêu vượt khỏi vậy."

Tắc 4 Thung Dung Lục viết: "Thế Tôn cùng chúng đi bộ, ngài chỉ xuống đất nói: 'Chỗ nầy dựng chùa tốt.' Đế Thích lấy một cọng cỏ cắm xuống, nói :'Dựng chùa xong rồi'. Thế Tôn mĩm cười."

Một cộng cỏ, một giọt sương... cũng không ngoài Chân Như Diệu Huệ.


(III)

Tánh Chơn như điện chớp
Chẳng thuộc có, thuộc không
Không tướng, trạng, chuyển, trụ
Mà linh hoạt, bao trùm.

Tánh Chơn hay Tánh Giác vốn không h́nh, tướng, nơi chốn, chuyển, trụ mà hiện ra như điện chớp, trùm khắp pháp giới. Đông lặn Tây mọc, trên mất dưới hiện, chim kêu liền nghe, điện chớp liền thấy, ngủ gọi liền dậy, đánh liền thấy đau...

Về sự thấy, có công án Thiền như sau:

Vị tăng hỏi: "Ư của Tổ sư qua đây là ǵ?" Triệu Châu đáp: "Cây tùng trong sân." Vị tăng nói: "Đừng lấy một vật để dạy người." Triệu Châu: "Ta không lấy một vật để dạy người." Vị tăng: "Vậy ư của Tổ sư từ Tây qua là gi?" Triệu Châu đáp: "Cây tùng trong sân."

Về sự nghe, có công án Thiền như sau:
Thiền sư Kính Thanh hỏi một vị tăng: "Tiếng ǵ ngoài cửa?" Vị tăng đáp: "Tiếng mưa rơi." Ngài Kính Thanh nói: "Chúng sanh điên đảo, quên ḿnh chạy theo vật."

Toàn là nói về cái diệu dụng của Tánh Giác, cùng là cái Diệu của Thấy, Nghe, Hay, Biết... Tất cả không ngoài Tánh Giác. Kinh Lăng Nghiêm Tông Thông viết: "Nay Thức diệt, Tánh hiện, bày lại cái Bản Lai Diện Mục của ta. Cái Bản Giác sáng suốt nầy tức là Thấy, Nghe, Hay, Biết mà chẳng phải là Thấy, Nghe, Hay, Biết."

oOo


GIỚI-ĐỊNH-TUỆ: NỀN TẢNG CỦA CON ĐƯỜNG ĐẠO PHẬT

Quan điểm về đạo đức của đạo Phật không khác với những hệ thống đạo đức khác, được tóm lược trong bốn câu kệ Kinh Pháp Cú:

Không làm các việc ác
Gắng làm các việc lành
Giữ tâm ư trong sạch
Là lời chư Phật dạy.

Tuy nhiên, cách tiếp cận với những vấn đề của đời sống, đạo Phật có con đường riêng: con đường Trí Tuệ.

Con đường Trí Tuệ nầy được đặt nền tảng trên nguyên lư "Tất cả chúng sanh đều có tánh Phật".

Trên con đường trở về tánh Phật, người Phật tử thực hành ba môn học được đức Phật chỉ dạy là Giới, Định và Tuệ. Người Phật tử giữ Giới, tu Định, để tâm sáng nhận ra tánh nguyên sơ của ḿnh là tánh Giác, tức tánh Phật.

Giới là điều đầu tiên trên con đuờng đạo, bao gồm việc sửa đổi suy nghĩ, hành động và lời nói. Định là rèn luyện tâm tỉnh thức để có thể đi sâu vào cái biết. Tuệ là thấy rơ tính bất nhị, nhất thể giữa ḿnh và người, cũng như với tất cả chúng sanh và thế giới, từ đó khởi lên t́nh thương cao cả, toàn khắp.

Ba thực hành nầy không nhất thiết tuần tự trước sau mà bao hàm trong nhau và liên quan mật thiết. Trong Giới có Định, có Tuệ; trong Định có Giới, có Tuệ; và Trí Tuệ hay tánh Giác, tánh Không, th́ bao hàm Giới, Định, và có tiềm năng của bốn Tâm vô luợng, sáu Ba la mật và Phương tiện thiện xảo.

Về Giới, trong Chánh Pháp Nhăn tạng, ngài Đạo Nguyên dạy: "Các ngài (Phật và Tổ) phân biệt với ba cơi là do giữ Giới. Giới là điều tiên quyết trong việc tu Thiền."

Với Giới và Định, người Phật tử tiếp cận đời sống bằng những suy nghĩ, lời nói, hành động thiện lành, hữu ích trong một tâm thức luôn luôn tỉnh giác, an ḥa. Với Tuệ, người Phật tử thấy tất cả chúng sanh là một, tất cả đời sống là một toàn bộ, khởi ḷng thương yêu tất cả chúng sanh khác, và từ đó có thể xả thân để làm lợi ích cho mỗi và mọi chúng sanh.

Đạo Phật là con đường giải thoát khổ đau của đời sống nhưng không loại bỏ đời sống. Giới Định Tuệ của đạo Phật không tách rời mà thấm vào đời sống, làm cho đời sống thăng hoa.

Đời sống lư tường của người Phật tử là phát Tâm Bồ đề (nguyện giác ngộ để lợi ích quần sanh), giữ Giới và thực hành Thiền quán. Thiền là đi vào trạng thái định hay tỉnh giác để đạt đến Trí tuệ, là cái thấy nhất thể, toàn diện, trống không, tương dung, tương nhiếp.

Bên cạnh Tâm Bồ đề, sự tỉnh giác là cổ xe và con đường trong việc tu Phật. Tỉnh giác càng tinh thụần, tánh Giác hay tánh Phật càng hiển lộ, tánh Không (vô trụ, vô ngại) và t́nh thương càng rơ ràng và trùm khắp. Lúc nầy Định với Tuệ là một.

Cộng đồng chúng sanh giống như những bông sen moc lên từ đáy nước. Có những bông c̣n ch́m sâu, có những bông sắp sửa lên khỏi mặt nước, có những bông đă ra khỏi mặt nước. Đời sống tinh thần của con người cũng giống như vậy, và đạo Phật giải quyết sự vướng ngại của mọi căn cơ của chúng sanh bằng con đường Giới, Định, Tuệ nầy.

Và khi đến được với Trí tuệ chân thật, thấy tất cả chúng sanh là một, với tâm từ bi trùm khắp, sự tự do lớn lao và phương tiện thiện xảo, vị Bồ tát làm lợi ích cho chúng sanh không giới hạn.

(Đạo Phật Tiếp Cận Với Đời Sống)

oOo


TẠI ĐÂY BÂY GIỜ ?

Thời gian và không gian không có chỗ trong chân tâm. Vậy "tại đây bây giờ" ở chỗ nào?

Theo Thiền Đốn ngộ và Kim Cang thừa, "tại đây bây giờ" là ở ngay trong chỗ khởi đầu của niệm. Khi đó, chưa có phải-trái, thiện-ác xen vào, cái biết chưa bị kéo vào ḍng tâm thức, tức vào ḍng phân biệt nhị nguyên. Khi đó cái biết tương ưng với tánh Giác, là sự hé lộ một phần của tánh Giác. An trú trong chỗ khởi đầu của niệm, không cố gắng, không thêm bớt, gọi là tu. Ở trong đó, sự che chương giảm dần, tánh Giác hiển lộ thêm dần, cho đến khi hiển lộ hoàn toàn.

Lotsawa Tony Duff viết về khoảnh khắc đầu tiên của niệm (khởi đầu của niệm) trong Ground, Path, and Fruition:

"Khi nói về khoảnh khắc đầu tiên, chúng ta nói về thức thứ sáu, rằng nó cần dừng lại ngay trong khoảnh khắc đầu tiên. Một cách tổng quát, khi một trong năm thức, ví dụ như nhăn thức (sự biết của mắt), khởi lên, nó luôn luôn là khoảnh khắc đầu tiên của sự biết, tuy nhiên đó chỉ là sự biết của giác quan. Ngay sau khi giác quan nhận biết, nó hoàn tất công việc của nó. Tiếp theo đó, hoặc là một khoảnh khắc nhận biết khác của giác quan xảy ra, hoặc là thức thứ sáu tiếp nhận cái biết của giác quan. Nếu thức thứ sáu tiếp nhận, thức thứ sáu có thể hoặc là dừng lại với sự nhận biết về đối tượng của sự biết của giác quan, hoặc khởi sự đặt cho đối tượng một nhăn hiệu, gán cho nó những tính chất như tốt, xấu hay ǵ ǵ đó.

Chúng ta không quan tâm đến sự nhận biết của giác quan v́ chúng chấm dứt ngay sau khi làm xong công việc của chúng. Nhưng điều quan trọng (trong sự tu tập) là thức thứ sáu cần dừng lại, không đi vào tiến tŕnh khái niệm tốt, xấu. Nó cần dừng lại trong khoảnh khắc đầu tiên. Đúng hơn, nó cần dừng lại trong sự sáng tỏ liên tục của khoảnh khắc đầu tiên, nơi tâm chưa phân thành nhị nguyện."

Các Tổ Thiền tông thường chận "niệm kéo dài" của học tṛ bằng đánh, hét, cơ phong vấn đáp...

Tánh Giác có 3 đặc tánh: tánh Không, sáng tỏ, và từ bi. Từ bi là sự hợp nhất của tánh Không và sáng tỏ. Ba đặc tánh nầy tuy ba nhưng là một, thuộc về ba thân: Tánh Không thuộc Pháp thân, sáng tỏ thuộc Báo thân, Từ bi thuộc Hóa thân. Trong tánh Giác, ba thân là một: thân Phật.

Tu trong tánh Giác sẽ gồm đủ ba tánh chất: Tánh Không, sáng tỏ và từ bi.

Theo Kim Cang Thừa:

"Bạn là một hành giả chân chính nếu việc tu tập (thiền) của bạn đem lại kết quả giảm trừ tham, sân, si và tăng trưởng t́nh thương và tâm từ bi."... (Lotsawa Tony Duff , Ground, Path, and Fruition)

"An trú trong trạng thái tràn đầy lan tỏa: Đó là trạng thái không bám vào thứ ǵ; đó là tu trong tánh Không, không có một sự qui chiếu tâm lư nào. Tỉnh giác trong tánh Giác, trong đó là cốt tủy tánh Không, sự sáng tỏ, và từ bi lan tỏa" (Lotsawa Tony Duff , sđd)

"Nếu bạn có thể dừng nghỉ không tạo lập một thứ ǵ với trạng thái sáng tỏ, khi đó, t́nh thương, từ bi và sự hiến dâng tự động đến một cách mạnh mẽ." (Lotsawa Tony Duff , sđd)

Theo Thiền Tào Động của ngài Đạo Nguyên:

"Trong Đại Tâm, sự vô biên vô hạn của cái Ngă của chúng ta giao ḥa một cách nền tảng với mọi thứ. Đó là, chúng ta thấy toàn thể vũ trụ trong chúng ta. Chúng ta thấy sự vĩnh cữu trong một khoảnh khắc, và cảm nghiệm trời và đất trong mỗi hơi thở." (Three Mind - ancientforestzen)

"Trong Chánh Pháp Nhăn Tạng, ngài Đạo Nguyên nói: 'Thực hành của Phật xảy ra trong toàn bộ đại địa và tất cả chúng sanh. Sự thực hành không bao trùm tất cả không phải là sự thực hành của Phật.' Chúng ta cần kinh nghiệm điều ngài Đạo Nguyên nói về Tọa Thiền. Nếu chúng ta làm theo, chúng ta sẽ có thể sống đời sống của chúng ta ḥa điệu với toàn địa cầu và tất cả chúng sanh. Nguyện của chúng ta là lấy việc nầy làm kim chỉ nam cho đời sống của chúng ta." (Three Mind - ancientforestzen)

oOo


THỰC HÀNH TÂM BỒ ĐỀ THEO KIM CANG THỪA

Theo ngài Patrul Rimpoche, có năm con đường phát triển Tâm Bồ đề tóm lược như sau:

1) Con đường Tích tập

Người hành giả phát Tâm Bồ đề trong cả ư chí và thực hành. Đây là Tâm Bồ đề tương đối, ở đây, hành giả hướng về Tâm Bồ đề tuyệt đối, tức Trí Vô niệm ở con đường Nh́n thấy. Trong con đường nầy, người hành giả tinh cần trong vệc tạo công đức.

Việc tạo công đức trên con đường phát huy Tâm Bồ đề rất quan trong. Từ bi ở đây là hướng đến tha nhân. Hướng đến tha nhân là đi trên con đường dẹp trừ tính qui ngă, là tương ưng với Trí tuệ tánh Không. V́ vậy Kinh nói rằng chỉ một niệm phát khởi tâm giác ngộ v́ lợi ích cho tất cả chúng sanh có thể tiêu diệt nghiệp xấu tạo ra trong trăm ngàn kiếp sống.

2) Con đường Kết nối

Được gọi là kết nối v́ nó kết nối giữa con đường Tích tập và sự quán chiếu trực tiếp của Trí tuệ Vô niệm trong con đường Nh́n thấy. Ở đây, hành giả thực hiện đầy đủ những đức hạnh thế gian, và bắt đầu hiểu về tánh Không, sẵn sàng nhận tánh Không như là bản tánh của mọi pháp với tâm không sợ hăi.

3) Con đường Nh́n thấy

Hành giả quán chiếu thâm sâu về bản tánh của thực tại, nhận ra tánh Không của các pháp, nhận diện rơ ràng mọi khía cạnh của các hiện tượng qua Trí tuệ Vô niệm, thiêu rụi mọi tối tăm của cái thấy nhị nguyên.

4) Con đường Thiền định

Quán chiếu thâm sâu về cái thấy trong con đường Nh́n thấy, tăng trưởng Trí tuệ. Vị Bồ tát thực hành Bát Chánh Đạo trong con đường nầy từ Chính kíến đạt được trong con đường Nh́n thấy. Từ Chánh kiến, những khâu khác trong Tám Chánh đạo được hoàn thành.

5) Con đường Vô học (không c̣n tu học)

Trong năm con đường được tŕnh bày, Trí tuệ tánh Không tức Vô niệm được nhận rơ trong con đường Nh́n Thấy. Tuy nhiên, ngay lúc phát khởi Tâm Bồ đề, với tâm nguyện "chúng sanh vô biên thệ nguyện độ", người hành giả đă tương ưng với nhất thể và Đại bi.

oOo


ĐÁO BỈ NGẠN

Đáo bỉ ngạn – qua đến bờ bên kia – chỉ có nghĩa là khép lại ḍng sông, khép lại sự ngăn cách. Trí Tuệ đáo bỉ ngạn là sự khép lại ḍng sông ngăn cách, khép lại sự ngăn cách giữa ta và người, sự ngăn cách giữa ta và thế giới. Đó cũng là khép lại sự ngăn cách giữa Phật và chúng sanh, giữa nước và sóng. Do đó, đáo bỉ ngạn không thể thiếu Từ Bi.

oOo


NHÀ SƯ VÀ NHỮNG KẺ TRỘM

Ḥa Thượng Thích Chí Tín (1922-2013) sinh thời là trụ tŕ chùa Long Sơn, Nha Trang. Ngài là vị tăng đầy ḷng từ bi. Mỗi khi Phật tử cúng tiền, ngài liền mua quà, sữa đi thăm các bịnh viên, giúp đỡ người thiếu thốn. Chỗ ngài nằm có kiến, có gián, ngài vẫn để yên cho chúng. Sau 1975, đời sống khó khăn, một hôm có người lẻn vào chùa leo lên trần tính tháo trộm mấy bóng đèn điện. Ngài bắt gặp, thay v́ hô hoán, ngài ôn tồn nói với người đó: Ngồi yên kẻo té, để thầy lấy thang cho leo xuống.

***

Thiền sư Ryokan (1758–1831) ra ngoài trở về, ngài bắt gặp kẻ trộm trong am. Trước sự hoảng hốt của kẻ trộm, thiền sư nói: “Có lẽ anh đă đi một quăng đường xa để đến đây, anh không nên về không như thế. Hăy nhận chiếc áo của tôi”. Ngài cởi áo đưa cho. Kẻ trộm bàng hoàng, nhận áo rồi lẩn đi. Thiền sư Ryokan ngồi trần ngắm trăng, nghĩ thầm: “Ước ǵ ta có thể cho anh ấy mặt trăng đẹp này.”

***

Geshe Ben là một vị đại sư sống vào thế kỳ 12. Ngài được biết đến là môt vị tăng độ lượng và liêm chính.

Một hôm trên đường khất thực, một gia đ́nh thiện tín thỉnh ngài tho trai. Ngài đói quá trong khi gia chủ đang chuẩn bị đồ ăn. Kinh ngạc khi thấy tay ḿnh đưa ra lấy đồ ăn trong một chiếc lọ, ngài buộc miệng la lớn: "Ăn trôm! ăn trộm! Ta vừa bắt quả tang nhà ngươi."

Chủ nhà chạy vào pḥng thấy ngài tự la mắng và đ̣i chặt bàn tay để không tái phạm.

****

Niệm khởi lên trong tâm giống như kẻ trộm lẻn vào không hẹn trước. Nếu tâm trống không (vốn trống không), niệm khởi giống như kẻ trộm đi vào căn nhà trống, ngay lúc đó cũng được giải thoát (vốn đă giải thoát).

oOo


HAI CÁCH TIẾP CẬN VỚI SÓNG ĐỜI SỐNG

Việc tiếp cận với những con sóng đời sống của Thiền và Kim Cang Thừa có hai cách chính, tạm gọi là cách của biển và cách của nước.

Cách của biển là ở trong tánh trống không toàn khắp của tánh Giác, trong đó, sự việc, ư nghĩ giống như những con sóng khởi lên trong biển rồi ḥa vào trở thành một với biển. Pháp ḥa vào pháp tánh. Ở đây, ư niệm không c̣n thuộc về vọng hay chân, mà thuộc về tính chất zero, rỗng không, ḥa tan, có thể trở thành phương tiện làm lợi ích cho chúng sanh khác mà không phương hại đến tính chất giải thoát. Trong Kim Cang Thừa, có chỗ gọi là Tánh Biết Tự Khởi, ở đó, bản tánh chân thật của tâm hiện diện một cách rơ ràng không gián đoạn, hành giả an trụ trong một sự sáng tỏ trống không không chướng ngại, với năm giác quan mở rộng, không bám không bỏ đối với những ǵ xuất hiện.

Cách của nước là trong đó, hành giả biết rằng mỗi con sóng hiện ra tùy thuộc vào vô số nhân duyên biến dịch không ngừng, nên không có tự tánh, chỉ là một sự hiển bày hời hợt, hư ảo. V́ vậy khi nó hiện ra qua năm giác quan và thức, hành giả không bám víu, không lưu giữ, không gắn nhăn. V́ không bám víu, lưu giữ, gắn nhăn, đối tượng dừng lại ngay chỗ thấy, biết, không tiến xa hơn vào ḍng tâm thức, không bị đóng khuôn hay vẽ vời thêm. Ở đây, niệm khởi lên của hành giả gọi là niệm ban đầu, dừng lại ngay khi vừa chuyển vào thức thức sáu, là niệm giác, trong đó, đối tượng và cái biết ở trong nhau, cả hai đều tṛn vẹn, mà không xâm hại nhau. Trong Kim Cang Thừa, phương pháp tu tập tương tự là "Pháp Tánh Biểu Hiện", ở đây sự biểu hiện của các pháp được gọi là "những chuổi kim cang".

Cả hai cách trên đều làm mạnh cái thấy về tánh Không, có thể thực hành theo cách nào thích hợp, hoặc thực hành cả hai trong tu tập. Và khi đă nhuần nhuyễn, hai cách nầy gặp nhau, ở đó, tánh Không và sự biểu hiện (của pháp) hiện rơ trong tánh Giác. Sự hội tụ của tánh Không và sự biểu hiện phát khởi tâm từ bi và phương tiện thiện xảo, có nghĩa là tánh Không, sáng tỏ và từ bi đồng thời hiện diện. Và mỗi biểu hiện đều hiển lộ tánh toàn thể và từ bi. Tánh Không (bất khả đắc) hiển lộ qua tánh vô trụ và vô biên.

Nói chung, tánh Giác, vốn tṛn đủ tánh không, tánh sáng và từ bi, giải quyết mọi vấn đề trong tiến tŕnh tu tập cũng như trong đời sống. Và chúng ta cũng biết rằng sự tu tập và thực hành Pháp của chúng ta không có điểm cuối, và đời sống chính là đạo tràng. Nói cách khác, đạo Phật không tách rời đời sống. Khi chúng ta nhận ra đời sống, cũng là lúc chúng ta nhận ra đạo Phật và thực hành đạo Phật. Điều quan trọng là nhận ra.

oOo


NỀN TẢNG, CON ĐƯỜNG, QUẢ

NỀN TẢNG, CON ĐƯỜNG, QUẢ
VÀ ĐƯA VÀO CÁI "THẤY" QUA
BÀI CA NGÀI MILAREPA DẠY PALDARBUM
----
"NỀN TẢNG, CON ĐƯỜNG, QUẢ" là biện chứng tu chứng trong Kim Cang Thừa.

NỀN TẢNG: là cái thấy tổng thể về Tâm (tánh Giác): tánh Không, sáng tỏ và từ bi. Ở bước đầu, cái thấy nầy chỉ là niềm tin v́ tánh Giác c̣n đang bị vô minh che khuất, giống như chúng ta biết rằng bầu trời vốn bao la và trong sáng, nhưng đang có mây nên bị che khuất.
Toàn thể quá tŕnh tu chứng không tách rời Nền tảng. Trong toàn thể, Nền tảng và Quả là một.

CON ĐƯỜNG là sự tu tập, gồm ba phần là THẤY, THIỀN, và SỰ KHÉO LÉO.

THẤY rất quan trọng v́ đó là mở ra cái thấy đầu tiên (một phần) của tánh Giác, để từ đó có thể Thiền, và khéo léo điều chỉnh khi bị thất niệm. Thiền là an trụ trong cái thấy nầy.

Thường có hai cách các vị Thầy dạy cho đệ tử bước vào cái Thấy:
ĐỊNH CÓ CHỖ TỰA và ĐỊNH KHÔNG CÓ CHỖ TỰA.
Cả hai loại định nầy đều đưa đến kết quả mở ra cái thấy một phần về tánh Giác.

1) ĐỊNH CÓ CHỖ TỰA là định có đối tượng để giữ tâm. Ví dụ Thiền Chánh Niệm: đi, đứng, nằm, ngồi, thở... lấy thân làm chỗ tựa.

2) ĐỊNH KHÔNG CÓ CHỖ TỰA là định đi thẳng vào tính không hai. Ví dụ vị Thầy bảo học tṛ nghe tiếng vỗ của một bàn tay... Tiếng vỗ của một bàn tay vốn không hiện hữu nên không tạo ra đối tượng, chỗ tựa.

Bài ca dưới đây của ngài Milarepa dạy cho nữ hành giả Paldarbum rất hay để đưa học tṛ vào một phần tánh Giác từ định có chỗ tựa đến định không có chỗ tưa. Ban đầu có chỗ tựa như bầu trời, mặt trời, mặt trăng, núi, biển v.v... Đến chỗ không có chỗ tựa, ngài dạy "Hăy để chúng (niệm) như trạng thái của tâm".

oOo


BÀI CA NGÀI MILAREPA DẠY PALDARBUM

Milarepa nói với Paltarbum: "Nếu con thật ḷng muốn thực hành Pháp, trong truyền thống của ta, con không cần đổi tên. Bởi v́ một người có thể giác ngộ trong tư cách là một tu sĩ hay cư sĩ, con không cần phải cạo đầu hay thay đổi cách ăn mặc." Rồi ngài hát bài ca sau đây:

Hăy nghe nữ cư sĩ Paldarbum,
Hăy lắng nghe, người nữ phẩm giá và hết ḷng.

Lấy bầu trời làm khuôn mẫu
Tập trạng thái thiền không có có trung tâm cũng không có biên bờ.

Lấy mặt trời mặt trăng làm khuôn mẫu
Tập trạng thái thiền không tăng không giảm

Lấy ngọn núi nầy làm khuôn mẫu
Tập trạng thái thiền không dời, không đổi.

Lấy đại dương làm khuôn mẫu
Tập trạng thái thiền không bề mặt cũng không có đáy

Lấy tâm là phương tiện
Tập trạng thái thiền không lo lắng, hoài nghi.

Người nữ cư sĩ đạt được một nền tảng hiểu biết và kinh nghiệm. Để quét sạch những nghi ngờ và chướng ngại, cô hát lên những lời sau đây:

Xin hăy nghe, ngài Jetsun tôn quí
Xin nghe con, đấng hóa thân cao cả

Dễ thiền định như bầu trời
Nhưng khó khăn khi thực hành với mây.
Xin dạy con thực hành với mây.

Dễ thiền định như mặt trời, mặt trăng
Nhưng không dễ thực hành với những hành tinh và ngôi sao.
Xin dạy con thực hành với những hành tinh và ngôi sao.

Dễ thiền định như ngọn núi
Nhưng không dễ thực hành với bụi và cây.
Xin dạy con thực hành với bụi và cây.

Dễ thiền định như đại dương
Nhưng không dễ thực hành với sóng.
Xin dạy con thực hành với sóng.

Dễ thiền định với tâm
Nhưng không dễ thực hành với niệm.
Xin dạy con thực hành với niệm.

Ngài Jetsün (Milarepa) vui khi biết cô gái đă có được kinh nghiệm về thiền. Theo thỉnh cầu của cô, ngài hát lên bài ca sau đây:

Hăy nghe nữ cư sĩ Paldarbum,
Hăy lắng nghe, người nữ phẩm giá và hết ḷng.

V́ dễ dàng thiền định như bầu trời
Mây là sự phô bày ảo hóa của bầu trời,
Hăy để chúng như trạng thái của bầu trời.

V́ dễ dáng thiền định như mặt trời và mặt trăng
Hành tinh và sao là sự phô bày ảo hóa cùa mặt trời và mặt trăng,
Hăy để chúng như trạng thái của mặt trời và mặt trăng.

V́ dễ dàng thiền định như núi.
Bụi và cây là sự phô bày ảo hóa của núi,
Hăy để chúng như trạng thái của núi.

V́ dễ dàng thiền định như đại dương,
Sóng là sự phô bày ảo hóa của đại dương,
Hăy để chúng như trạng thái của đại dương.

V́ dễ dàng thiền định với tâm
Niệm là sự phô bày ảo hóa của tâm
Hăy để chúng như trạng thái của tâm.

Cô gái thực hành theo và đạt được sự vững chăi trong bản tánh tự tại, tánh nền tảng của tâm.

Thị Giới dịch

oOo


Ghi thêm về biện chứng "NỀN TẢNG, CON ĐƯỜNG, QUẢ"

Nếu chúng ta phân tích phương pháp của Thiền hay nhiều môn học khác, chúng ta cũng có thể nh́n thấy bóng dáng của loại biện chứng nầy.
Ví dụ Tứ Diệu Đế:
Nền tảng: Thấy rằng luân hồi là khổ, đạt được Niết bàn là hết khổ.
Con đường: Thực hành Tám Chánh đạo (Đạo) để chấm dứt những nguyên nhân tạo ra khổ (Tập).
Quả: Thoát khổ được vui. Ở đây, Quả và Nền tảng gặp nhau.

Biện chứng nầy cũng có thể áp dụng trong những vấn đề của đời sống.
Ví dụ về giáo dục, chúng ta nh́n ra nền tảng của giáo dục là ǵ, tiếp theo t́m phương pháp thực hiện để đạt được kết quả là nền tảng đă thấy.
Khi có nền tảng th́ sẽ có cái nh́n nhất quán và tập trung để t́m ra phương pháp tức con đường vốn không thiếu trong thế giới, trong các nền văn minh của loài người, chỉ lựa chọn và sáng tạo thêm cho phù hợp với nền tảng.

oOo


PHÉP MẦU

Có nhiều Phật tử hân hoan truyền nhau những "điềm lạ". Một vị sư đến thuyết pháp ở một ngôi chùa, một tôn tượng được đặt viên đá khởi công hay khánh thành, một vị Thầy vửa viên tịch, v.v... th́ là mây ngũ sắc hiện ra, ánh hào quang chiếu xuống, cầu vồng xuất hiện v.v... Những hiện tượng như vậy, có thể ngẫu nhiên hay v́ những tác động tâm linh, nhưng người Phật tử cũng không nên đắm say vào những thứ đó.

Trong Kinh Kim Cang, đức Phật dạy: "Lấy sắc tướng cầu ta, lấy âm thanh cầu ta, người ấy hành đạo tà, không thấy được Như Lai."

Đối với người Phật tử, mỗi một vật thể, mỗi một con người đều là một nhiệm mầu, đều có đức Phật ở đó, đều là một phần lưỡi của đức Phật đang thuyết pháp v́ lưỡi của Phật trùm khắp ba ngàn đại thiên thế giới, không nơi nào mà không hiện diện.

Mọi thứ đều mầu nhiệm, đều tỏa ra ánh sáng, đều giác ngộ và là cửa ngơ của giác ngộ... Mọi sự đều tự cứu rỗi, tự giải thoát. Cả vũ trụ là một thể của tâm Từ, nơi tất cả chúng ta và mọi sự vật kết nối. Đó là phép mầu, của vũ trụ cũng như của mội cá thể.

Ngài Đạo Nguyên:

"Học Phật là học về cái ngă; học về cái ngă là quên cái ngă. Quên cái ngă là được đánh thức trong mọi sự. Khi được đánh thức trong mọi sự th́ thân và tâm của bạn cũng như thân và tâm của người khác không c̣n. Không c̣n một dấu vết ǵ của giác ngộ, và trạng thái không dấu vết đó không có lúc chấm dứt".

Phép mầu hiện diện khắp nơi và ngay trong thân và tâm của mỗi người. V́ là phép mầu nên không phải là vật. "Bản lai vô nhất vật" là vậy. Khi chúng ta chạy theo vật th́ phép mầu trở thành "vật". Khi chúng ta không c̣n chạy theo vật, th́ "vật" trở thành phép mầu. Khi chúng ta chấp ngă, th́ thân tâm trở thành "vật". Khi không c̣n chấp ngă th́ thân tâm trở thành phép mầu.

Trong Tâm kinh, có đọan "Sắc bất dị không... " Khi nh́n thấy năm uẩn là phép mầu (tánh Không) th́ tự do, giải thoát. Khi Khi nh́n thấy phép mầu ở ngoài th́ bị ràng buộc, khổ đau. Nói cách khác, khi chúng ta chấp ngă th́ phép mầu (tánh Không) trở thành vật (sắc thọ tưởng...). Khi không c̣n chấp ngă th́ mọi thứ là phép mầu.

"Mỗi người - mỗi người là người đầu tiên và người sau cùng. Mỗi người là thầy của chúng ta. Mỗi người là một thế giới, một vũ trụ, là lưỡi của Phật, là một món quà, một bài ca, một sự tỉnh giác. Trở về trong khoảnh khắc. Trở về với con người. Mở tâm. Và lắng nghe!" (Chính Ngạn Quả Tuấn, Lưỡi của Phật)

oOo


KHẤT THỰC

Mục tiêu của đạo Phật là diệt trừ tâm châp ngă. Thiền th́ đi đến chỗ vô trụ, được tâm không thể được. Tịnh độ th́ phát triển cái tâm vô lượng, cái tâm không nơi chốn. Và cái chung cuối cùng là Pháp Không.

Khất thực là đi trên thế gian mà không dính mắc vào nơi chốn, vào một sự bám giữ nào. Khất thực là cảm ơn khắp thế gian và lấy tâm trống không rỗng lặng để trả ơn thế gian. Khất thực cũng là ban phước cho tất cả thế gian mà không ghi nhận sự ban phước.

Khất thực là thực hành tâm Từ. Tâm Từ là tâm b́nh đẳng, là tâm không có ta-người...

Chúng ta là những người đang khất thực mà nhiều khi chúng ta không biết. Nếu chúng ta biết rằng chúng ta đang "khất thực", th́ chúng ta sẽ có thể tạo ra rất nhiều lợi lạc cho chúng ta mà trong đó quan trọng nhất là ḷng biết ơn và tâm khiêm cung. Cả hai thứ "ḷng" nầy đều là những chất liệu cho chúng ta đến gần với Pháp là diệt trừ ḷng chấp ngă.

oOo


THIỀN VÀ TỪ BI

* Trí tuệ tánh Không không thể hưng khởi trọn vẹn nếu không phát khởi Tâm Bồ đề.

* Phật giáo Đại thừa không tách rời Đại Bi. Khi thọ Giới Cụ túc, các vị Tăng, Ni Đại thừa thọ luôn Giới Bồ tát.

* Thiền đ̣i hỏi kiến tánh, v́ vậy các Thiền sư hướng đến Từ bi tuyệt đối, từ bi phát khởi trong tánh Giác, nơi tánh Không và sự biểu hiện (hiện tướng) là một.

Tuy ít khi đề cập đến Từ bi, nhưng hành trạng của các vị Thiền sư đều là hành trạng từ bi, đều v́ sự giải thoát khổ đau do vô minh của chúng sanh, tháo gỡ sự vô minh của chúng sanh.

Những giai thoại về Thiền cho chúng ta thấy sự gần gũi của các Thiền sư với đời sống, tính chất từ bi hỉ xả trong tiếp cận của các ngài với đời sống.

Khi vua Lư Thái Tông hỏi Thiền sư Thiền Lăo: “Hàng ngày Ḥa Thuợng làm việc ǵ?” Sư đáp: "Trúc biếc hoa vàng đâu ngoại cảnh. Trăng trong mây bạc lộ toàn chân."

Với ngài Thanh Đàm Minh Chánh thế kỷ thứ 19:

Đắc nó ở tâm
Ứng nó ở tay
Trời đất lâu dài,
Cứ hễ canh năm gà gáy sáng
Xuân về hoa núi nở ngàn nơi.
(Pháp Hoa Đề Cương.)

Một vị tăng thưa với ngài Triệu Châu: "Con mới đến chùa nầy, xin Ḥa thượng chỉ dạy." Ngài Triệu Châu hỏi: "Ăn cháo chưa?" Vị tăng trả lời: "Thưa rồi." Ngài Triệu Châu nói: "Vậy rửa chén đi!"

Và đây là sự tiếp cận của cư sĩ Bàng Uẩn, một vị cư sĩ đắc đạo:

Việc ngày không ǵ khác
Tự nhiên ḥa hợp cùng
Không có ǵ lấy, bỏ
Chốn chốn mặc thong dong
Chẳng kêu ca tím đỏ
G̣ núi mảy bụi không
Bửa củi và gánh nước
Diệu dụng với thần thông.

Thiền sư Ryokan (1758–1831) ra ngoài trở về, ngài bắt gặp kẻ trộm trong am. Trước sự hoảng hốt của kẻ trộm, thiền sư nói: “Có lẽ anh đă đi một quăng đường xa để đến đây, anh không nên về không như thế. Hăy nhận chiếc áo của tôi”. Ngài cởi áo đưa cho. Kẻ trộm bàng hoàng, nhận áo rồi lẩn đi. Thiền sư Ryokan ngồi trần ngắm trăng, nghĩ thầm: “Ước ǵ ta có thể cho anh ấy mặt trăng đẹp này.”

Đạo không tách ĺa với đời sống. Và nói như Alan Watts: "Ư nghĩa của đời sống chỉ là sống."(*) Và đó là Thiền. Đó cũng là từ bi.

Với ngài Đạo Nguyên, sự tu tập của vị Bồ tát bao gồm trong Ba Tâm là Đại Tâm, Lăo Tâm và Hỉ Tâm. Đại tâm là tâm rộng lớn cũng là tâm trống không, Lăo tâm là tâm từ mẫn, và Hỉ tâm là tâm an vui. Ba Tâm không tách rời nhau.

Đại tâm của ngài Đạo Nguyên được diễn tả như sau:

"Trong Đại Tâm, sự vô biên vô hạn của cái Ngă của chúng ta giao ḥa một cách nền tảng với mọi thứ. Đó là, chúng ta thấy toàn thể vũ trụ trong chúng ta. Chúng ta thấy sự vĩnh cữu trong một khoảnh khắc, và cảm nghiệm trời và đất trong mỗi hơi thở." (Three Mind - ancientforestzen)

"Trong Chánh Pháp Nhăn Tạng, ngài Đạo Nguyên nói: 'Thực hành của Phật xảy ra trong toàn bộ đại địa và tất cả chúng sanh. Sự thực hành không bao trùm tất cả không phải là sự thực hành của Phật.' Chúng ta cần kinh nghiệm điều ngài Đạo Nguyên nói về Tọa Thiền. Nếu chúng ta làm theo, chúng ta sẽ có thể sống đời sống của chúng ta ḥa điệu với toàn địa cầu và tất cả chúng sanh. Nguyện của chúng ta là lấy việc nầy làm kim chỉ nam cho đời sống của chúng ta." (Three Mind - ancientforestzen)

Sự thực hành bao trùm tất cả nầy là hoạt động của Tâm Bồ đề.

Tóm lại, đạo Phật chính là đời sống. Từ bi nằm ngay giữa đời sống. Nhận ra đời sống là nhận ra đạo Phật, là thực hành đạo Phật.


* The Culture Of Counter-Culture.

oOo


MẸ HỔ -MẸ HỔ - MẸ HIỀN - MẸ PHẬT MẸ HIỀN - MẸ PHẬT

(Trích từ Hám Sơn Đại Sư Tự Truyện do Thích Hằng Đạt dịch.
Đầu đề và tiểu đề do người sưu tầm thêm)

1) MẸ HỔ

B́nh thường, bà Thái Hồng Thị, vốn là bậc từ mẫu, rất thương mến nuông ch́u ngài (Hám Sơn). Song, lần này v́ ngài không muốn sang sông đi học, nên bà Thái Hồng Thị rất nghiêm nghị. Bà xách roi đánh đuổi ngài ra tận bờ sông. Đến bờ sông, ngài cũng không muốn lên thuyền. B́nh thường, bà Thái Hồng Thị ít có nóng giận, nhưng ngày đó v́ ngài không nghe lời nên bà phát nộ dữ dội. Bà nắm đầu tóc ngài, liệng xuống sông. May mắn, nơi bờ sông có rất nhiều người qua lại. Một người nọ chạy về nhà báo tin cho bà ngoại ngài. Bà ngoại ngài liền nhờ người chạy đến kéo ngài lên bờ và dẫn về nhà. Ngài liền theo bà ngoại về nhà. Vừa thấy ngài, bà mẹ liền mắng: "Không chịu qua sông đi học, trở về nhà làm chi. Thằng con cứng đầu, cứu nó làm ǵ?"

Nói xong bà liền lấy chổi đánh ngài thêm vài roi. Ngài vừa khóc rống, vừa chạy né tránh roi của bà mẹ. Mẹ ngài vừa đánh vừa mắng: "Mi là con trai, sao động chút xíu lại khóc?" Kể từ đó, nhờ sự giáo huấn nghiêm khắc của bà mẹ, ngài không c̣n dám bỏ học, trở về nhà nữa. Thế nên, việc học ngày một tiến bộ.

Sau khi ngài qua sông đi học, bà Thái Hồng Thị mới hiển lộ bản tánh của bà mẹ đối với đứa con trai tám tuổi. Bà đến bờ sông, khóc sướt mước. Bà ngoại ngài thấy thế, bảo: "Tại sao mi c̣n khổ tâm? Lúc thằng con của mi trở về nhà chơi, mi lại vừa đánh vừa chửi mắng, muốn nó phải ra đi. Nay nó đă đi rồi, y như ư thích của mi. Vậy c̣n khóc lóc ǵ nữa?"

Bà Thái Hồng Thị thưa: "Thưa Mẹ! V́ con muốn nó cắt đứt t́nh cảm luyến ái gia đ́nh, chỉ lo chăm chú học hành. Sanh ra nó, lẽ nào lại không thương mến? Nó là con trai, phải học hành đàng hoàng, để trở thành người hữu dụng sau này".

oOo


MẸ HỔ - MẸ HIỀN - MẸ PHẬT

2) MẸ HIỀN

Lần nọ, về thăm nhà ngài đi theo mẹ đến chùa lễ bái Bồ Tát Quán Thế Âm. Lễ bái xong, ngài thưa với mẹ: "Thưa mẹ! Có một quyển kinh nói về hạnh nguyện của Bồ Tát Quán Thế Âm. Mẹ có biết không?"

Bà Thái Hồng Thị ngạc nhiên, bảo: "Mẹ chưa từng nghe đến."

Ngài thưa tiếp: "Ngày thường, khi lễ bái Bồ Tát Quán Thế Âm, mẹ niệm như thế nào?"

Bà Thái Hồng Thị đáp: "Suốt đời, mẹ luôn niệm bảy chữ chơn ngôn 'Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát', nên được cảm ứng vô cùng."

Ngài thưa: "Thưa mẹ! Bảy chữ chơn ngôn này tuy hàm ư bao la vạn tượng, nhưng thiết thật vẫn chưa bằng phẩm Phổ Môn. Nay con sẽ tụng lại cho mẹ nghe".

Nói xong ngài liền xướng tụng: "...Chúng sanh bị khổ ách, vô lượng khổ bức thân, Quán Âm diệu trí lực, năng cứu khổ thế gian, đầy đủ sức thần thông, rộng tu trí phương tiện, mười phương các cơi nước, không chỗ chẳng hiện thân, bao loại chư ác thú, địa ngục quỷ súc sanh, sanh già bịnh chết khổ, từ từ đuợc tiêu diệt. Chân quán thanh tịnh quán, quảng đại trí huệ quán, bi quán cùng từ quán, thường nguyện thường chiêm ngưỡng, vô cấu thanh tịnh quang, huệ nhật phá chư ám, năng phục nạn gió lửa, sáng khắp chiếu thế gian, bi thể giới sấm chớp, từ ư diệu mây to, ban mưa pháp cam lồ, diệt trừ lửa phiền năo. Kiện tụng nơi cửa quan, sợ hăi trong quân trận, niệm nhớ Quán Âm lực, các oán đều thối tán. Diệu Âm, Quán Thế Âm, Phạm Âm, Hải Triều Âm, vượt hơn thế gian âm. V́ thế phải thường niệm, niệm niệm chớ sanh nghi, Quán Âm bậc tịnh thánh, nơi khổ năo tử ách, làm nơi chỗ nương tựa, đủ tất cả công đức, mắt từ nh́n chúng sanh, biển phước tụ vô lượng, phải nên thường đảnh lễ..."

Tụng xong, ngài giải thích nghĩa của từng câu, y như lời dạy của vị ḥa thượng trụ tŕ thuở trước. Bà Thái Hồng Thị lặng thinh lắng nghe, nhưng nước mắt chảy ṛng. Đợi ngài giải thích xong, bà ôm chầm lấy đứa con trai, bảo: "Con học được từ nơi nào vậy?"

Ngài thưa: "Con thường đến chùa viện, nghe chư tăng tụng niệm ngày đêm, nên mượn quyển kinh này về học thuộc ḷng."

Bà mẹ nói: "Lạ thật! Giọng của con thật giống như âm thanh tụng kinh của các ḥa thượng lớn tuổi."

Khi đó, trí huệ của ngài thiết thật vượt hẳn chúng bạn, nhưng ít khi biểu hiện ra ngoài. Tuy biết con ḿnh thông minh, ngày ngày bà Thái Hồng Thị vẫn nhắc nhở thúc giục ngài học hành. Mới mười tuổi, ngài không tránh được tánh thích chơi đùa. V́ ngày ngày luôn bị bà mẹ đốc thúc học hành, ngài tự nhiên nảy sanh tư tưởng chán học. Tuy vậy, ngài không c̣n dùng cách thức phản kháng tiêu cực b́nh thường của các đứa trẻ đồng dạng như trốn học mà lại bắt đầu cùng bà mẹ đối đáp lư lẽ.

Ngày nọ, bà Thái Hồng Thị vẫn bảo ngài lấy sách vở ra học. V́ nhẫn không nổi, ngài liền thưa hỏi mẹ: "Thưa mẹ! Con có việc muốn hỏi. Khi hỏi, xin mẹ chớ trách mắng."

Bà Thái Hồng Thị tuy biết thằng con của ḿnh sẽ dùng những lư lẽ quái lạ để bào chữa cho việc làm biếng học hành, nhưng lại không muốn dùng những phương pháp bức bách như xưa. Bà cũng nghĩ rằng đây là cơ hội để răn nhắc giáo dục nó thêm, nên bảo: "Con cứ nói. Mẹ không phiền trách đâu."

Nghe thế, ngài an tâm mạnh dạn hỏi: "Thưa mẹ! Cả ngày từ sáng đến tối, mẹ bắt con học hành, vậy có lợi ích ǵ?"

Bà Thái Hồng Thị bảo: "Người xưa bảo rằng trong sách vở tự có nhà bằng vàng ngọc. Hôm nay nếu con lo lắng học hành giỏi dang th́ mai sau sẽ đỗ đạt trạng nguyên, ra làm quan lớn."

Xă hội của nước Tàu rất trọng học vấn, như câu: "Mọi việc đều là thấp kém, chỉ có học vấn là cao." Con cái dân thường chỉ nhờ học vấn mà tiến thân trên đường quan lộ, tức có danh phận trong xă hội.

Với tư tưởng đó, bà Thái Hồng Thị nói tiếp: "Từ chức quan nhỏ, trong tương lai nếu có khả năng, sẽ dần dần tiến lên chức Tể Tướng. Khi đó, làm đại quan chỉ dưới nhà vua, nhưng lại hơn muôn người."

Bà mẹ tưởng rằng nói đến chức vị Tể Tướng sẽ hấp dẫn con ḿnh, nào ngờ ngài lại hỏi thêm: "Thưa mẹ! Được chức Tể Tướng rồi, lại c̣n có chức nào cao hơn nữa không?"

Bà Thái Hồng Thị ngập ngừng đáp chẳng được: "Làm Tể Tướng rồi..."

Đối với quyền thế oai phong của chức Tể Tướng, bà Thái Hồng Thị khó mà giải thích cặn kẽ cho thằng con mười tuổi hiểu được. Vả lại, cả đời bà thường ở trong huyện thành nhỏ, ít khi đi xa th́ làm sao biết rơ việc của quan trường. Đối với việc này, bà chỉ nghe qua nhờ những lời giảng giải của ông chồng. V́ vậy bà đáp: "Làm Tể Tướng rồi, nếu muốn th́ có thể từ quan về hưu."

Nghe thế, ngài hỏi thêm: "Cả một đời khổ cực học hành. Vậy mà đến chức Tể Tướng, rồi lại về hưu. Như thế làm quan có ích lợi ǵ?"

Bà Thái Hồng Thị hỏi: "Sao con không muốn tiến thân làm quan?"

Thật ra, bà Thái Hồng Thị chẳng phải nói thế để vạch rơ con đường tiến thân làm quan cho ngài, mà chỉ v́ muốn khuyến khích con ḿnh học hành. V́ vậy bà hỏi lại: "Vậy th́ tương lai con muốn làm ǵ?”

Không suy nghĩ, ngài đáp: "Thưa mẹ! Tương lai, con nhất định làm việc măi, chẳng muốn từ chức về hưu."

Bà Thái Hồng Thị bảo: "Chỉ có làm tăng sĩ du phương mới không từ chức về hưu."

Ngài thường được vị ḥa thượng trụ tŕ nhắc đến những lời này tại ngôi chùa viện năm xưa. Thế nên, ngài lại hỏi: "Thưa mẹ! Làm tăng sĩ có hay lắm không?"

Bà đáp: "Tăng sĩ là đệ tử xuất gia của Phật Đà, thường luôn du phương hành cước khắp thiên hạ, tự do tự tại, không đắm chấp vào ăn mặc chỗ ở, đi đến nơi nào, đều được người người cúng dường y phục thức ăn. Tương lai sẽ thành Phật, gia đ́nh được tiếng thơm."

Nghe vậy, ngài vui mừng đáp: "Như vậy, con sẽ làm tăng sĩ."

Nhận biết tâm tư con ḿnh muốn xuất gia làm tăng sĩ, bà liền bảo: “Thằng ngu! Xuất gia đâu phải là chuyện dễ làm. Phải xem coi con có duyên phần và đủ phước đức không nữa!"

Ngài hỏi: “Xuất gia làm tăng sĩ, sao lại cần có phước đức?"

Bà đáp: “Đương nhiên là phải cần có phước đức. Đường quan lộ tuy thường gặp hiểm nạn, nhưng xuất gia để tu thành Phật lại càng khó gấp trăm ngàn lần. Trên thế gian, rất nhiều người làm Trạng Nguyên, nhưng lại rất ít người làm Phật Tổ. Mẹ thấy con chỉ nói lời xàm bậy. Hăy bỏ ư định đó đi."

Ngài thưa: “Thưa mẹ! Con tự biết ḿnh có phần phước đức. Tuy nhiên, chỉ sợ rằng mẹ không đành ḷng cho con đi xuất gia thôi."

Nghe vậy, bà đột nhiên toát mồ hôi, như linh cảm có điều chi sẽ xảy ra. Bà nghĩ: “Trời ơi! Thằng con của tôi lại muốn đi tu thật sao?"

Tuy nhiên, v́ suốt đời bà luôn chân thành khẩn thiết lễ bái cúng dường chư Phật cùng Bồ Tát Quán Thế Âm, nên không dám nói lời lừa lọc con ḿnh: “Này con! Ngày nào đó, v́ duyên phận đă định, nếu con có phần phước làm quan hay làm ḥa thượng, sao mẹ lại không cho phép! Tuy nhiên, hăy giữ kín chuyện này giữa mẹ và con thôi nhá!"

Tưởng đối đáp cho qua loa, ai ngờ rằng chính bà Thái Hồng Thị đă giúp ngài vạch rơ con đường xuất gia làm tăng sĩ. Sau này, ngài được vào chùa xuất gia mau chóng, phần lớn là do ảnh hưởng của mẹ ḿnh.

oOo


MẸ HỔ - MẸ HIỀN - MẸ PHẬT

3) MẸ PHẬT

Năm mười hai tuổi, ngài rời nhà vào chùa. Năm bốn mươi bốn tuổi, ngài trở về nhà thăm cha mẹ ngoài tám mươi. Khi trở về, cha mẹ ngài rất vui mừng. Ngài rất ngạc nhiên khi nghe lại câu chuyện trong buổi đàm luận của mẹ ngài với một vị trưởng lăo trong tộc.

Vị trưởng lăo hỏi: "Thầy trở về bằng đường thủy hay bằng đường bộ?"

Bà mẹ đáp: "Tại sao lại hỏi thầy trở về bằng đường thủy hay bằng đường bộ?"

Trưởng giả hỏi: "Vậy thầy từ đâu trở về?"

Bà mẹ đáp: "Thầy từ hư không trở về!"

Qua câu chuyện này, ngài bảo: "Thật chẳng ngạc nhiên ǵ việc lúc trước mẹ có thể xả bỏ, cho ḿnh đi xuất gia."

***

Tôi (Thiền Sư Hám Sơn) gặp bà mẹ bên bờ sông Trường Giang khi được giải ngang qua làng quê. Lúc đó, chúng tôi vui mừng và cười hớn hở. Không có nổi đau buồn thống thiết.

Tôi hỏi bà mẹ: "Khi nghe thầy trở về, tránh được cái chết trong lằn tơ kẽ tóc, mẹ có buồn không?"

Bà đáp: "Việc chết sống là định nghiệp, sao mẹ lại buồn rầu cho thầy? Ngay chính ḿnh c̣n không lo lắng, sao mẹ phải lo lắng cho thầy chứ? Song, nghe tin đồn mà mẹ không thể nghĩ rằng thầy bị đày như thế này. Nay thấy thầy khoẻ mạnh là mẹ mừng lắm rồi."

Đến chiều tối, tôi từ biệt mẹ ḿnh lần cuối. Mẹ tôi bảo: "V́ Phật pháp, hăy bảo trọng. Phải biết tự trọng, chớ làm trái với lương tâm."

Ngài đáp: “Xin vâng lời mẹ! Chỉ v́ mẹ tuổi tác già nua, thầy sống xa xôi nơi miền biên giới, không thể xả bỏ được tâm lo lắng cho mẹ."

Bà mẹ đáp: “Chớ lo lắng cho mẹ. Mẹ đă chuẩn bị hành trang rồi. Xưa kia mong muốn gặp mặt thầy lần cuối. Nay gặp lại đây, mẹ đă măn nguyện lắm rồi. Hiện tại mẹ phải đi. Hôm nay là ngày mà mẹ con phải vĩnh biệt. Thầy hăy tự bảo trọng". Vui vẻ, mẹ tôi bỏ đi thẳng không quay ngó lại.

Sau này, ngài viết bài thơ Mẫu Tử:

MẸ CON
T́nh mẹ con, nam châm hút sắt
Diệu thiên nhiên, gốc tự vuông tṛn
Thấy lại mẹ, lửa từ gỗ phát
Gỗ cháy rồi, lửa lại hoàn không.
Tử sinh, sinh tử chẳng sờn
Ra từ gái đá cội nguồn thân ta.
(Thị Giới dịch)

(Mẫu tử chi t́nh, từ thạch dẫn thiết.
Thiên nhiên diệu tính, bản tự viên thành.
Ngă kiến ngă mẫu, như mộc xuất hoả.
Mộc dĩ bị phần, hoả nguyên vô ngă.
Sinh nhi bất luyến, tử nhược bất tri.
Thuỷ kiến ngă thân, thị thạch nữ nhi.)

LỜI BÀN:

T́nh cảm là một thứ tự nhiên của đời sống, là "diệu thiên nhiên". Người mẹ Phật là người mẹ khởi t́nh thương con trong tánh Biết. Với t́nh thương đó, bà đă đón người con mà bà biết rơ là "từ hư không", từ huyễn trở về. Tất cả đến từ huyễn và trở về huyễn. Bà biết rơ như vậy. Nên khi chia tay th́ "vui vẻ, mẹ tôi bỏ đi thẳng không quay ngó lại". Đó là "gỗ cháy rồi, lửa lại thành không." Đó là vô sanh, là gái đá sinh con, là "đă chuẩn bị hành trang" như trong lời nói sau cùng của bà với ngài Hám Sơn. (Thị Giới)

oOo


B̀NH BÁT CƠM NGÀN NHÀ

B́nh bát cơm ngàn nhà
Thân chơi muôn dặm xa
Mắt xanh ít người biết
Mây trắng hỏi đường qua.

B́nh bát cơm ngàn nhà: Là một với ngàn nhà. Thiền sư với ngàn nhà hay thiền sư với cây tùng, hay thiền sư với ḍng sông, thiền sư với núi... không khác ǵ nhau. Đó là kết nối với thế giới, là Từ. B́nh bát cơm ngàn nhà cũng là tâm vô lượng.

Cây ổi sau vườn
hạt sương buổi sáng
tổ chim trên cành...
Có phải quên ḿnh là mở ra
và thức dậy với mười ngàn sự vật
Để cho tâm từ bi của Phật
hiển lộ trong mười phương
Để cho nhành củi khô nói chuyện với trường giang
Để cho tiếng niệm Phật ḥa trong vô lượng...

Thân chơi muôn dặm xa: Thiền sư cũng là con đường, con đường cùng bước đi với thiền sư. Khi qua cầu, thiền sư cùng bước đi với cầu đồng thời cùng chảy với ḍng sông: cầu trôi nước không trôi. Đó là ở nơi không có thời gian. Nơi không có thời gian th́....

Mây trắng hỏi đường qua: Có thể hỏi về chỗ không có nơi chốn chăng? Có thể hỏi về nơi chốn hay thời gian khi đó là ngay đây và bây giờ?....

oOo


NGƯỜI ĐI ĐƯỜNG

Thầy có lần nói với một đệ tử: "Cái không của ông chỉ bằng cái chén, c̣n cái không chân thật th́ bao gồm núi, sông, trời, đất. Hay là ông sợ cái không ấy mà không dám giải thoát?"

Và Thầy có lần nói: "Thầy như người đi đường, không nhớ tới ai, ai hỏi thăm th́ trả lời, xong rồi th́ thôi."

Trước khi viên tịch, Thiền sư Vạn Hạnh dặn đệ tử: "Các vị nên nương tựa và đâu? Tôi th́ tôi không nương tựa vào nơi có thể nương tựa, cũng không nương tựa vào nơi không thể nương tựa."

Theo Bát Nhă, Không là Duyên khởi. Tu Bát nhă là thấy huyễn trong gương tâm. Chứng Bát nhă là Vô trụ. Vô trụ là không có chỗ chứng.

Chỉ vô trụ như vậy mới đầy cả không gian và thời gian. Đầy cả không gian và thời gian cũng là hiện diện trong mỗi sự vật. Hiện diện trong mỗi sự vật th́ thấy được nghĩa Bất thiên (không dời đổi). Thấy con chim bay nơi con chim đang bay th́ con chim không dời đổi. Thấy con cá lội nơi con cá đang lội th́ con cá không dời đổi. Ở nơi toàn thế giới th́ thế giới bất động... Đó là tràn đầy viên măn, là ở trong Vô lượng thọ, là bất thiên, là hành tŕ, là Người Đi Đường.

Người Đi Đường, con xin đảnh lễ.

oOo


Powered by: searchvn.net