KHƯƠNG TĂNG HỘI (?-280)

AN BAN

An Ban là đại thừa của các vị Bụt dùng để tế độ chúng sinh đang lênh đênh ch́m nổi. An Ban gồm có sáu loại, nhằm đối trị sáu t́nh. T́nh có trong và ngoài: sáu t́nh bên trong là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ư, sáu t́nh bên ngoài là sắc, thanh, hương, vị, xúc và tà niệm. Kinh có nói đến mười hai sự nguy hiểm của biển cả, đó là những tà hạnh xảy ra do sự tiếp xúc giữa sáu t́nh bên trong và sáu t́nh bên ngoài...

(Tựa Kinh An Ban Thủ Ư, Nguyễn Lang (HT Thích Nhất Hạnh) dịch)

oOo

TÂM CHÚNG SANH

Tâm chúng sanh bị tà niệm đi vào như biển cả tiếp nhận nước từ các ḍng sông, như một kẻ đói ăn hoài mà không no. Tâm chứa đầy mọi thứ, không một pháp vi tế nào mà tâm không tiếp nhận. Hiện tượng ra vào và qua lại của tâm lư xảy ra như chớp nhoáng, không lúc nào gián đoạn. Ta không thấy được tâm v́ nó không có h́nh tướng, ta không nghe được tâm v́ nó không có âm thanh; đi ngược lại để t́m th́ không gặp bởi v́ tâm không có khởi điểm, đi xuôi về để kiếm cũng không thấy bởi v́ tâm không có chung kết. Tâm ấy thâm sâu và vi diệu, không chút tóc tơ h́nh tướng cả đến Phạm Thiên, Đế Thích và các bậc tiên thánh cũng không thấy rơ được sự hóa sinh của các hạt giống ẩn tàng trong ấy, huống hồ là kẻ phàm tục. Cũng v́ thế, tâm được gọi là ấm (ngăn che). Cũng giống như một người gieo hạt trong lúc trời sẩm tối: một nắm tay đưa lên th́ hàng ngàn vạn hạt được gieo xuống. Người đứng bên không thấy được h́nh dáng những hạt giống ấy, và chính người gieo cũng không sao biết được số lượng của những hạt kia. Một nắm hạt gieo xuống, hàng vạn cây con sẽ mọc lên. Cũng như thế, trong thời gian một cái búng tay, tâm có thể trải qua tới 960 lần chuyển niệm. Trong thời gian một ngày một đêm, tâm có thể trải qua mười ba ức ư niệm mà ta không biết được, cũng giống hệt như người gieo hạt kia...

(Tựa Kinh An Ban Thủ Ư, Nguyễn Lang (HT Thích Nhất Hạnh) dịch)

oOo

SƠ THIỀN

V́ vậy cho nên ta phải thực tập lắng ḷng, buộc ư vào hơi thở và đếm từ một tới mười. Trong thời gian mười hơi thở ấy mà đếm không lộn, là ư bắt đầu có định. Định nhỏ th́ có thể kéo dài trong ba ngày, định lớn bảy ngày. Trong thời gian ấy không có một tư tưởng tạp loạn chen vào, hành giả ngồi yên như người chết, đó gọi là sơ thiền...

(Tựa Kinh An Ban Thủ Ư, Nguyễn Lang (HT Thích Nhất Hạnh) dịch.)

oOo

NHỊ THIỀN

Thiền có nghĩa là loại trừ. Loại trừ cái tâm có mười ba ức uế niệm để đạt tới tám pháp: sổ, định, chuyển, niệm, trước, tùy, xúc và trừ (đếm, tập trung, đổi, nhớ, gắn, vào, theo, chạm và loại trừ). Tám pháp này đại khái được chia làm hai phần. Tâm ư sở dĩ định được là nhờ theo dơi hơi thở (tùy). Mà muốn theo dơi được hơi thở dễ dàng th́ ta nên thực tập phép đếm hơi thở (sổ). Khi cấu uế đă được tiêu diệt th́ tâm ư dần dần trong sạch. Đó gọi là nhị thiền...

(Tựa Kinh An Ban Thủ Ư, Nguyễn Lang (HT Thích Nhất Hạnh) dịch.)

oOo

TAM THIỀN

Bỏ phép đếm đi, chú tâm vào chóp mũi gọi là chỉ. Thành công th́ các thứ cấu uế của ba chất độc, bốn sự rong ruổi, năm sự ngăn che và sáu đường ám muội đều được tiêu diệt. Lúc bấy giờ, tâm tư bừng sáng, c̣n sáng hơn cả hạt châu minh nguyệt. Những tâm niệm dâm tà và ô nhiễm như bùn nhơ bám vào tấm kính sáng đều được gột sạch. Tấm kính này giờ đây đặt trên mặt đất và ngửa mặt lên trời, th́ không có cơi nào mà không chiếu tới. Trời đất rộng lớn vô cùng nhưng một tấm kính vẫn có thể thu nhiếp tất cả. Tâm ta bị các thứ cấu uế bao phủ cũng như tấm kính lấm bùn kia, nếu được gặp minh sư trau chuốt dũa mài và lau sạch hết mọi đất bùn và bụi bặm th́ khi đem tâm ấy ra soi chiếu, không tơ hào nào là không hiện rơ trên mặt kính. Cáu bẩn không c̣n th́ ánh sáng hiện ra. Đó là chuyện tất nhiên. Ngược lại, nếu phiền năo tràn ngập làm tâm ư tán loạn th́ trong số một vạn niệm được khởi lên ta không nhận biết được một niệm. Cũng giống như ngồi ngoài chợ mà nghe lao xao một lần bao nhiêu tiếng ồn ào rồi trở về ngồi yên mà cố nhớ lại th́ không thể nhớ được một lời nào. Sở dĩ tâm phóng dật và ư tán loạn là v́ uế trược chưa được khai thông. Nếu t́m về chỗ thanh vắng để thực tập cho tâm lắng đọng và ư không c̣n bị những tà dục lôi kéo th́ lúc ấy lắng tai ta có thể nghe rơ được cả vạn lời, không có lời nào bị bỏ sót. Tâm tĩnh và ư trong th́ có thể làm được như vậy. Thực tập sự vắng lặng và làm ngưng chỉ tâm ư ở đầu chóp mũi, đó gọi là tam thiền...

(Tựa Kinh An Ban Thủ Ư, Nguyễn Lang (HT Thích Nhất Hạnh) dịch.)

oOo

TỨ THIỀN

Quay trở về để quán chiếu thân ḿnh, từ đầu tới chân, ta lặp lại sự quán sát những yếu tố ô nhiễm trong cơ thể và thấy được rơ ràng mọi lỗ chân lông dày đặc trong toàn thân và chất loăng rịn ra từ các lỗ chân lông ấy. Từ đấy ta có thể quán chiếu được cả trời, đất, người và vật, tất cả những thịnh suy của các hiện tượng ấy và ta sẽ thấy được tính cách không c̣n không mất của chúng. Lúc ấy niềm tin nơi tam bảo trở nên vững chăi. Bây giờ tất cả những ǵ u tối đều trở nên trong sáng, đó gọi là tứ thiền...

(Tựa Kinh An Ban Thủ Ư, Nguyễn Lang (HT Thích Nhất Hạnh) dịch.)

oOo

THÀNH TỰU AN BAN

Nhiếp tâm để trở về chánh niệm th́ mọi sự ngăn che đều tiêu diệt, đó gọi là hoàn (trở về). Khi những đam mê và cấu uế đă lắng xuống hoàn toàn th́ tâm không c̣n vọng tưởng, đó gọi là định. Hành giả đă thành tựu được pháp An Ban thấy tâm thức ḿnh sáng ra. Lấy cái sáng ấy mà quán chiếu th́ không có chỗ tối tăm nào mà không soi tới. Người ấy có thể thấy được những ǵ đă xảy ra từ vô số kiếp về trước và cũng có thể thấy được các cảnh giới trong hiện tại cùng với người và vật trong các cảnh giới ấy, trong đó có các vị Bụt đang giáo hóa và các giới đệ tử đang học hỏi và thực tập. Lúc bấy giờ không cảnh nào mà không thấy, không tiếng nào mà không nghe, người ấy đạt tới cái tự do lớn, không c̣n bị trói buộc bởi ư niệm c̣n, mất, thấy được cái vô cùng lớn như núi Tu Di trong cái vô cùng nhỏ như lỗ chân lông, chế ngự được trời đất, làm chủ được thọ mạng. Thần lực bây giờ trở nên dũng mănh, người ấy có thể đánh bại cả thiên binh, chuyển động được thế giới tam thiên, xê dịch được muôn ngàn cơi nước, thể nhập được vào cơi bất khả tư nghị, năng lực này đến cả Phạm Thiên cũng không lường được. Thần đức của người ấy trở nên không hạn lượng, chỉ v́ người ấy đă thực hành được sáu hạnh (ba la mật) vậy.

(Tựa Kinh An Ban Thủ Ư, Nguyễn Lang (HT Thích Nhất Hạnh) dịch.)

oOo

VÔ NGÔN THÔNG

TÂM TRỐNG KHÔNG

Tâm nếu trống không thanh tịnh, mặt trời trí huệ tự chiếu. (*)
(Tâm địa nhược không, huệ nhật tự chiếu
心地若空惠日自照)

(*)
Cơ duyên ngộ đạo của Thiền sư Vô Ngôn Thông:
Một hôm vào lúc Sư lễ Phật, có một Thiền khách đến hỏi: "Tọa chủ lễ cái ǵ đó?"
Sư đáp: "Lễ Phật"
Thiền khách chỉ tượng Phật hỏi: "Cái này là cái ǵ?" Sư không đáp được.
Đêm đó Sư y phục nghiêm chỉnh đến lạy thiền khách, thưa rằng: "Điều ngài hỏi khi năy tôi chưa biết ư chỉ như thế nào?"
Thiền khách hỏi: "Tọa chủ xuất gia đến nay trải được mấy hạ?"
Sư thưa: "Mười hạ".
Thiền khách hỏi: "Lại từng xuất gia chưa?"
Sư trở thành hoang mang.
Thiền khách bảo: "Nếu không hiểu điều đó, th́ dù có trăm hạ cũng chẳng ích ǵ !"
Rồi đem Sư cùng đến tham vấn Mă Tổ. Đi tới Giang tây, th́ Tổ đă tịch, bèn đến yết kiến Thiền sư Bách Trượng Hoài Hải.
Bấy giờ có vị tăng hỏi: "Thế nào là pháp môn đốn ngộ của Đại thừa?"
Bách Trượng đáp: "Đất ḷng nếu không,Trời tuệ tự chiếu."
Nghe xong Sư tỉnh ngộ.
(Thiền Uyển Tập Anh, Lê Mạnh Thác dịch)

***

H́nh: Chùa Kiến Sơ, xă Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội.

oOo

CƠI PHẬT NGAY ĐÂY

Tây Thiên là đây!
Đây là Tây Thiên!
Xưa nay cùng một
Nhật nguỵêt xuyên sơn
Vướng vào là mắc
Phật tổ mang oan
Sai một hào ly
Lạc tới trăm ngh́n
Nên quan sát lại
Chớ lừa hậu côn
Đừng hỏi ta nữa
Ta vốn “Vô Ngôn” (*)


(*)

Niên hiệu Nguyên Ḥa thứ 15 đường Đường (năm 820) Vô Ngôn Thông từ Quảng Châu qua Việt Nam, ở lại chùa Kiến Sơ, làng Phù Đổng, huyện Tiên Du (Bắc Ninh). Đây là một ngôi chùa mới được thành lập, ở đó có một vị tăng tên là Đức Lập trú tŕ.

Vô Ngôn Thông cư trú chùa Kiến Sơ, ngoài hai bữa cơm cháo th́ dành hết th́ giờ vào việc thiền tọa, xây mặt vào vách, không nói năng ǵ. Nhiều năm trôi qua như thế, ít ai để ư đến ông: duy chỉ có Lập Đức thấy phong thái đặc biệt của ông hết ḷng chăm sóc. Do sự gần gũi này mà Lập Đức tiếp nhận được tông chỉ màu nhiệm của Vô Ngôn Thông, đường ông đổi tên cho là Cảm thành vào truyền cho tâm pháp. Ông tịch vào năm 826; thời gian cư trú tại chùa Kiến Sơ chỉ có sáu năm.

Trước khi thị tịch, ông gọi Cảm Thành vào và dặn: “Ngày xưa đức Thế Tôn v́ lư do lớn mà xuất hiện ở đời. Việc hóa độ hoàn tất, ngài thị hiện niết bàn. Cái diệu tâm gọi là Chính Pháp Nhăn Tạng là Thực Tướng Vô Tướng là Pháp Môn Tam Muội, ngài đem phú chú cho đệ tử là Ma Ha Ca Diếp - tổ thứ nhất. Thế rồi đời đời truyền nối, từ Đề Đạt Ma từ Ấn Độ sang, vượt bao nguy hiễm để truyền pháp này, qua Lục Tổ ở Tào Khê, người đă từng đạt được chính pháp mà Đật Ma truyền đến ngũ tổ Hoàng Nhẫn. Trong thời gian đó v́ người đời c̣n thiếu hiểu biết và đức tin cho nên phải truyền y bát để chứng tro sự đắc pháp. Nay th́ đức tin đă thuần thục nên không cần truyền y truyền bát nữa mà chỉ lấy tâm truyền tâm mà thôi. Lúc đó tổ Nam Nhạc Hoài Nhượng đắc thọ tâm truyền trước, liền truyền cho Mă Tổ Đạo Nhất, Mă Tổ Đạo Nhất truyền lại cho Bách Trượng Hoài Hải. Ta được tâm pháp của Bách Trượng đă từng ở lâu phương Bắc t́m người có căn cơ đại thừa nhưng chưa gặp, nên đă đi về phương nam để t́m bậc thiện tri thức. Nay gặp ông ở đây thật là có duyên đời trước, vậy hăy nghe bài kệ truyền pháp này:
Bốn phương lồng lộng
Mặc sức huyên thuyên
Rằng thủy tổ ra
Gốc ở Tây Thiên
Truyền kho pháp nhăn
Được gọi là “Thiền”
Bông hoa năm cánh
Hạt giống lâu bền
Ngàn lời mật ngữ
Vạn câu bản nguyên
Tự nhận làm tông
Tự cho là thiền
Tây Thiên là đây!
Đây là Tây Thiên!
Xưa nay cùng một
Nhật nguỵêt xuyên sơn
Vướng vào là mắc
Phật tổ mang oan
Sai một hào ly
Lạc tới trăm ngh́n
Nên quan sát lại
Chớ lừa hậu côn
Đừng hỏi ta nữa
Ta vốn “Vô Ngôn”

(Chư phương hạo hạo
vơng tự huyên truyền
Vị ngô thủy tổ
Thân tự Tây Thiên
Truyền pháp nhăn tạng
Viết vị chỉ “thiền”
Nhất hoa ngũ diệp
Chủng tử miên miên
Tiềm phù mật ngữ
Thiên phạn hữu duyên
Hàm vị tâm tông
Thanh tịnh bản nhiên
Tây Thiên thử độ
Thử độ Tây Thiên
Cổ kim nhật nguyệt
Cổ kim sơn xuyên
Xúc đồ thành trệ
Phật tổ thành oan
Sai chỉ hào ly
Thất chi bách thiên
Nhữ thiện quan sát
Mạc khiểm nhi tôn
Trực nhiêu vấn ngă
Ngă bản vô ngôn)

(Viêt Nam Phật Giáo Sử Luận, Nguyễn Lang (HT Thích Nhất Hạnh))

oOo

THIỀN SƯ CẢM THÀNH (? – 860)

CHẲNG TỪNG CHE DẤU

Một lần có vị Tăng đến hỏi: "Thế nào là Phật?"
Sư đáp: "Khắp hết mọi nơi."
Lại hỏi: "Thế nào là tâm Phật?"
Sư đáp: "Chẳng từng che dấu"
Lại thưa: "Người học không hiểu".
Sư bảo: "Đi quá xa rồi"
(Thiền Uyển Tập Anh, Le Mạnh Thác dịch)


oOo

TÂM TỨC PHẬT HIỆN DIỆN TOÀN KHẮP

Dạy Thiện Hội:

"Xưa có người hỏi Mă Tổ: "Tâm tức là Phật, cái nào là Phật?" Mă Tổ dạy: "Ông nghĩ cái nào không phải là Phật chỉ ra xem?". Người ấy không trả lời. Tổ dạy: "Hiểu được khắp nơi có, không hiểu măi xa sai"
(Thiền Uyển Tập Anh, Lê Mạnh Thác dịch)


oOo

THIỀN SƯ THIỆN HỘI (? - 900)

CHỖ KHÔNG SỐNG CHẾT Ở NGAY TRONG SỐNG CHẾT

Khai thị cho Vân Phong:

Thiền sư Thiện Hội có lần bảo sư Vân Phong: "Sống chết là việc lớn, cần phải giải quyết ngay".
Sư hỏi: "Khi sống chết đến, làm sao tránh khỏi?"
Thiện Hội đáp: "Hăy nắm lấy chỗ không sống chết mà tránh".
Sư hỏi: "Thế nào là chỗ không sống chết?"
Thiện Hội đáp: "Ngay trong sống chết nắm lấy nó mới được".
Sư hỏi: "Làm sao mà hiểu?"
Thiện Hội đáp: "Ngươi hăy đi, chiều nay sẽ đến".
Chiều Sư lại vào như đă hẹn, Thiện Hội bảo: "Đợi đến sáng mai đông đủ, sẽ chứng minh cho ngươi". Sư hốt nhiên tỉnh ngộ, liền sụp lạy.
(Thiền Uyển Tập Anh, Lê Mạnh Thác dịch)


oOo

THIỀN SƯ VÂN PHONG (? – 956)

KHÔNG BÁM VÀO THỜI GIAN (Ư NIỆM) TH̀ THẤY CHỖ KHÔNG SỐNG CHẾT (*)

Chiều Sư (Vân Phong) lại vào, như đă hẹn, Thiền sư Thiện Hội bảo: "Đợi đến sáng mai đông đủ, sẽ chứng minh cho ngươi".
Sư hoát nhiên tỉnh ngộ, liền sụp lạy.
Hội hỏi: "Ngươi thấy đạo lư ǵ?"
Sư thưa: "Con đă lĩnh hội".
Hội hỏi: "Ngươi hiểu như thế nào?".
Sư đưa nắm tay lên, thưa: "Bất tiếu là cái này đây".
Hội liền bảo thôi.
(Thiền Uyển Tập Anh, Lê Mạnh Thác dịch)

(*)
Có ư niệm (phân biệt) nên có thời gian. Có thời gian nên có sống chết. Buông hết ư niệm th́ thời gian không c̣n, vào ngay chỗ không c̣n sống chết, thấy được cái không sống chết ngay trong sống chết. Cả hai lần trả lời, ngài Thiện Hội đều nhấn vào thời gian.

oOo

ĐẠI SƯ KHUÔNG VIỆT - NGÔ CHÂN LƯU (933 - 1011)

CHÂN NHƯ LÀ NHỨT THỂ TRỐNG KHÔNG

"Thủy chung vô vật diệu hư không,
Hội đắc chân như thể tự đồng."
Dịch:
Xưa nay không một vật
Vốn chỉ diệu hư không
Thấy được chân như ấy
Tự nhiên một thể đồng.

Theo Thiền Uyển tập Anh, đệ từ là Chân Bảo hỏi ngài thế nào là chung thủy của việc học đạo. Ngài trả lời bằng hai câu trên.

oOo

BẢN THỂ NHẤT THỂ CỦA VẠN PHÁP, KHÔNG TÊN KHÔNG TƯỚNG (*), KHÔNG SINH KHÔNG DIỆT, TỪ ĐÓ KHỞI RA MỌI TÁC DỤNG.

Mộc trung nguyên hữu hỏa,
Nguyên hỏa phục hoàn sinh.
Nhược vị mộc vô hỏa,
Toàn toại hà do manh?

Dịch:
Trong cây vốn có lửa
Lửa ấy mới lại sanh
Nếu cây không có lửa
Lấy đâu cọ xát thành?

(*) Được các vị Cổ Đức tạm đặt tên là Tánh.
--
Theo Thiền Uyển Tập Anh, ngài dạy đệ tử là Đa Bảo bài kệ nầy khi sắp thị tịch

oOo

THIỀN SƯ ĐA BẢO (? - ?)

TU: KHÔNG CÓ CHỖ HẠ THỦ.
NGỘ: TUYỆT Ư TUYỆT LỜI (*).

Một hôm Đa Bảo hỏi thầy là ngài Khuông Việt Ngô Chân Lưu: “Thế nào là chung thủy của việc học Đạo?” Ngài Khuông Việt trả lời:
"Thủy chung vô vật diệu hư không,
Hội đắc chân như thể tự đồng."
(Xưa nay không một vật
Vốn chỉ diệu hư không
Thấy được chân như ấy
Tự nhiên một thể đồng.
Đa Bảo hỏi: “Lấy ǵ bảo chứng?”
Khuông Việt trả lời: “Không có chỗ cho ngươi hạ thủ.”
Đa Bảo nói: “Ḥa thương nói rơ rồi.”
Khuông Việt hỏi: “Ngươi hiểu thế nào?”
Đa Bảo hét lên một tiếng.

(*) HÉT.

---

GHI THÊM:

Kinh Duy Ma Cật: "Theo gốc Vô trụ, lập hết thảy các pháp (Ṭng Vô trụ bản lập nhất thiết pháp)".

Ngài Cát Tạng trong Đại Phẩm Nghĩa Sớ: "Bát nhă lấy Vô trụ làm tông, cho nên phá trừ trụ trước là gốc; muốn phá trừ trụ trước điên đảo nên phát âm nói rơ Vô trụ." (Bát nhă dĩ Vô trụ vi tông, cố đảo dĩ trụ trước vi bản; linh dục phá điên đảo trụ trước, thị cố phát âm minh Vô trụ.)

Ngài Huệ Năng trong Pháp Bảo Đàn Kinh: "Pháp môn đây của ta từ xưa đến nay trước lập Vô niệm làm tông, Vô tướng làm thể, Vô trụ làm gốc (bổn). Vô tướng là nơi tướng mà ĺa tướng. Vô niệm là nơi niệm mà không niệm. Vô trụ là bản tánh của người ..., đối với các pháp mà niệm niệm chẳng trụ, tức không có ǵ trói buộc, ấy là nghĩa lấy Vô trụ làm gốc." (phẩm Định Huệ.)

oOo

TRƯỞNG LĂO ĐỊNH HƯƠNG (?- 1075)

TÂM KHÔNG BIẾT

Một hôm ngài hỏi Thiền sư Đa Bảo: "Làm sao để thấy được chân tâm?"
Ngài Đa Bảo đáp: "Chính ngươi tự phát hiện".
Ngài khoát nhiên ngộ, thưa: "Tất cả đều như thế, chứ chẳng riêng đệ tử".
Đa Bảo hỏi: "Ngươi đă hiểu chưa?"
Ngài đáp: "Đệ tử hiểu rồi, cũng giống như chưa hiểu".
Đa Bảo dạy: "Hăy giữ ǵn tâm đó".
Ngài ôm tai đứng quay lưng lại. Đa Bảo quát "Đi đi". Ngài sụp lạy.
Đa Bảo dạy: "Từ nay ngươi hăy như một kẻ đui điếc trong việc tiếp người".


oOo

NHƯ HUYỄN (NHƯ THỊ HUYỄN): GỐC CHÂN THẬT CỦA PHÁP (TÂM VÀ PHÁP) KHÔNG PHẢI CÓ CŨNG KHÔNG PHẢI KHÔNG.

“Bản lai vô xứ sở
Xứ sở thị chân tông
Chân tông như thị huyễn
Huyễn hữu tức không không.”
(Xưa nay không xứ sở
Xứ sở là nguồn chân
Nguồn chân như thực huyễn
Huyễn có nên không không.)

(Bài kệ thị tịch.)

oOo

THIỀN SƯ THIỀN LĂO

CHÂN LƯ (THỰC TẠI) CHỈ HIỆN HỮU NGAY ĐÂY BÂY GIỜ (HIỆN TIỀN)

Đản tri kim nhật nguyệt
Thùy thức cựu Xuân Thu?
Dịch:
Chỉ biết ngày hôm nay
Ai hay Xuân Thu cũ?


oOo

CAC PHÁP ĐỀU KHÔNG NGOÀI TÂM VÀ HIỂN LỘ CHÂN TÂM

Thúy trúc, hoàng hoa phi ngoại cảnh
Bach vân, minh nguyệt lộ toàn chân.
Dịch:
Trúc biếc, hoa vàng không ngoại cảnh
Mây trắng, trăng trong lộ toàn chân.
(*)

(*)
Vào khoảng Thông Thụy (1034 – 1038), Lư Thái Tôn có lần đến (11a1) chùa và hỏi Sư rằng: "Hoà thượng ở núi này đến nay được bao lâu?".
Sư thưa: "Chỉ biết tháng ngày này
Ai hay xuân thu trước" (4)
Vua hỏi: "Hàng ngày làm việc ǵ?"
Sư đáp: " Trúc biết hoa vàng đâu cảnh ngoại (5)
Trăng trong mây bạc hiện toàn chân"
Vua hỏi: "Có ư chỉ ǵ?"
Sư đáp: "Lắm lời không ích về sau"
Vua hoát nhiên như có sở đắc.
(Thiền Uyển Tập Anh, Lê Mạnh Thác dịch)

oOo

THIỀN SƯ VIÊN CHIẾU (999 – 1090)

TÙY DUYÊN VÔ NGẠI

Lại hỏi: "Không theo b́nh thường, không theo tự nhiên, không theo tác dụng, th́ làm thế nào?"
Sư đáp: "Cỏ bồng én đậu thấp
Biển rộng ẩn cá lân."
(Bồng thảo thê đê yến
Thương minh ẩn cự lân.)


oOo

CÔNG PHU

Lại hỏi: "Bốn đại mang về từ nhiều kiếp
Xin thầy phương tiện thoát luân hồi."
Sư đáp: "Trên đời Tê là loài thú quư
Ăn th́ gai góc, nghỉ trong bùn."
(Cử thế súc đồ Tê thị bảo
Xan ư kinh cức, ngoại ư nê.)


oOo

VỐN VÔ SANH

Lại hỏi:"Giữ hay bỏ đều trong ṿng luân hồi, không giữ không bỏ th́ thế nào?"
Sư đáp: "Xưa nay hồng sắc thường như vậy
Có lá sum sê không có hoa."
(Ṭng lai hồng hiện thủ thường sắc
Hữu diệp sâm si bất hữu hoa.)


oOo

ÂM THANH, H̀NH TƯỚNG ĐỀU LÀ DUYÊN KHỞI TÁNH KHÔNG

Lại hỏi: "Dứt hết nói năng là thế nào?"
Sư đáp: "Tiếng sừng theo gió xuyên qua trúc
Núi đá mang trăng chiếu qua tường."
(Giốc hưởng tùy phong xuyên trúc đáo
Sơn nham đái nguyệt quá tường lai.)


oOo

VÔ THƯỜNG TỨC CHÂN THƯỜNG

Lại hỏi: "Chư Phật thuyết pháp là để giáo hóa mọi loài, nếu hiểu được bản ư th́ gọi là xuất thế, bản ư là ǵ?"
Sư đáp: "Xuân dệt hoa như gấm
Thu sang lá tự vàng."
(Xuân chức hoa như gấm
Thu lai diệp tự hoàng.)


oOo

PHÁP PHẬT KHÔNG RỜI THẾ GIAN

Lại hỏi: "Thế nào là một đường thẳng đến nguồn đạo lớn?"
Sư đáp: "Đông tây xe ngựa chạy
Bụi trần bay sớm hôm."
(Đông tây xa mă tẩu
Trần thổ hiểu hôn phi.)


oOo

CHÂN TÂM (TÁNH GIÁC / TÁNH KHÔNG) VƯỢT NGOÀI MỌI VƯỚN NGẠI

Lại hỏi: "Có pháp, có tâm, sinh vọng thức
Làm sao tâm, pháp thảy đều vong?"
(Hữu pháp, hữu tâm khai vọng thức
Như hà tâm pháp đẳng câu tiêu)
Sư đáp: "Nếu đạt ngọn tùng cao chất ngất
Ngại ǵ sương tuyết cứ rơi rơi."
(Khả đoạt tùng cao trường uất uất
Khởi ưu sương tuyết lạc phân phân)


oOo

THIỀN, GIÁO TƯƠNG QUAN

Lại hỏi: "Ư Tổ và ư Kinh thế nào?"
Sư đáp: "Khi hứng lên mây cầm gậy chống
Mệt th́ rèm thả ngủ giường tre."
(Hứng lai huề trượng du vân kính
Khốn tức thùy liêm ngọa trúc sào.)


oOo

B̀NH THƯỜNG TÂM (*)

Lại hỏi: "Chư Tổ truyền nhau là truyền cái ǵ?"
Sư đáp: "Khi đói kiếm thức ăn
Khi lạnh xin áo mặc."
(Cơ lai tu tầm thực
Hàn tức hướng cầu y.)

(*) B́nh thường tâm là giác ngộ cái b́nh thường, rơ ràng cái thực tại. Thực tại là cá thể hiện trong toàn thể, toàn thể hiện trong cá thể.

Một Đạo Sĩ hỏi Đại Châu Huệ Hải:
- Có pháp nào cao hơn tự nhiên không ?
- Có
- Pháp nào?
- Biết tự nhiên.
(Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn)

oOo

CHƯA TỪNG THIẾU

Lại hỏi: "Người đời đều thuê nhà
Khi dột người ở đâu?"
Sư đáp: "Quạ vàng cùng thỏ ngọc
Tṛn khuyết mệt ḷng phân."
(Kim ô kiêm ngọc thố
Doanh trắc mạn lao phân.)


oOo

CHỐN TỔ KHÔNG DẤU VẾT, KHÔNG NƠI CHỐN, T̀M KIẾM BÈN SAI

Lại hỏi: "Thế nào là con đường duy nhất đến Tào khê?"
Sư đáp: "Thương thay kẻ vạch thuyền.
T́m đến ư hoang mang."
(Khả liên khắc chu khách
Đáo xứ ư thông thông.)


oOo

TRỐNG KHÔNG KHÔNG NGẠI CHẾT VỀ ĐÂU

Thân như tường vách đến hồi xiêu,
Thiên hạ bân khuân lo chẳng nguôi,
Nếu rơ tâm không, không sắc tướng,
Sắc không ẩn hiện mặc suy dời. (*)
(Thân như tường bích dĩ đồi th́
Cử thế thông thông thục bất bi
Nhược đạt tâm không vô sắc tướng
Sắc không ẩn hiện nhậm suy di.)

(*)
Vào một ngày tháng chín năm Canh ngọ Quảng Hựu thứ sáu (1090), Sư không bệnh, gọi chúng đến dạy rằng: "Trong thân ta đây, thịt xương gân cốt, tứ đại giả hợp, đều là vô thường, ví như ngôi nhà kia khi sụp đổ, cột kèo đều đổ. Cùng các con giă từ, hăy nghe bài kệ ta đây:
Thân như tường vách đổ xiêu rồi,
Thiên hạ bồn chồn xót dạ thôi,
Nêu rơ tâm không, không tướng sắc,
Sắc không ẩn hiện mặc xoay dời.
Nói kệ xong, Sư ngồi ngay thẳng viên tịch, thọ 92 tuổi đời, và 56 tuổi hạ. Có để lại tập Tán viên giác kinh, Thập nhị bồ tát hành tu chứng đạo trường vàTham đồ hiển quyết một quyển ngày nay c̣n truyền ở đời.
(Thiền Uyển Tập Anh, Lê Mạnh Thác dịch)

oOo

Powered by: searchvn.net