B15-JsLo OK

 

ĐỂ SỐNG ĐỜI SỐNG CÓ Ư NGHĨA

 

Dalai Lama

 

Nguyên Hảo (Thị Giới) dịch

 

dalai lama

 

LỜI TỰA

 

Lần đầu tiên tôi được nghe đức Dalai Lama thuyết giảng vào năm 1972. Chỉ ba ngày sau khi tôi đến Daramsala ở miến Bắc Ấn Độ, ngài bắt đầu một khóa giảng mười sáu ngày, mỗi ngày bốn đến sáu tiếng đồng hồ, về các giai đọan trên con đường giác ngộ. Tôi đă bắt đầu học tiếng Tây Tạng và tu tập theo Phật Giáo Tây Tạng từ năm 1962, và các vị thầy của tôi, những người được ban cho năng khiếu đặc biệt để hiểu những vấn đề phức tạp trong các chú giải Tây Tạng, đă chuẩn bị cho tôi để học hỏi với những hành giả học giả Tây Tạng lưu vong ở Ấn Độ. Nhưng, nói cho ngay, tôi không nghĩ rằng một sự tái sanh được chọn lựa có liên hệ đến chính quyền - sinh ra ở vùng đông bắc Tây Tạng vào năm 1935 và được nh́n nhận qua những sự tiên tri, những sự việc nh́n thấy qua giấc mơ, những sự kiện lạ thường, và những cuộc thử nghiệm đối với đức Dalai Lama Thứ Mười Bốn ở tuổi lên hai – có thể là một thông báo thuần túy.

Tuy nhiên tôi đă vô cùng ngạc nhiên.

Ngài đă tŕnh bày một phạm vi rộng lớn những chủ đề về con đường đưa đến giác ngộ, thu hút tâm thức và tái tim của tôi với những khái niệm, lớn cũng như nhỏ, soi sáng cho tôi những vấn đề từ lâu không được giải quyết, và rộng ra đến những vấn đề khác, đưa tôi vào những lănh vực hiểu biết mới.

Đức Dalai Lama nói bằng tiếng Tây Tạng với một tiết điệu thích hợp và âm thanh rơ ràng đă làm cho tôi không thể nào bị phân tâm. Có một lần, ngài đặc biệt cảm hứng khi diễn tả những pháp quán để phát triển tâm từ bi. Giọng của ngài lên cao mà ngài nói đùa là “giọng dê”, khi đó tôi như nghe một thi sĩ đang ngập trong cảm hứng. Trong thời gian khóa giảng đó, ngài tŕnh bày ṭan bộ những phương pháp thực hành đưa đến giác ngộ, thường sắp những chủ đề mà những người khác tách riêng ở cạnh nhau – tất cả với chiều sâu của một triết gia. Cách diễn tả kết hợp giữa một thi sĩ và một triết gia cũng được nhận thấy trong cuốn sách nầy, đôi khi như chạm thẳng vào tim với sự diễn tả cảm động về thân phận của đời người và sự đẹp đẽ của ḷng vị tha, và những lúc khác th́ phân biệt cẩn thận về những sự tu tập như thiền quán tánh không, cung cấp thức dinh dưỡng cho nhiều năm chiêm nghiệm.

Vào tuổi lên năm, đức Dalai Lama được đưa về Lasha, thủ đô của Tây Tạng, ở đây ngài trải qua toàn bộ chương tŕnh giáo dục tu viện. Vào năm 1950, Trung Cộng xâm lăng miền đông Tây Tạng và ngài phải lập tức lănh trách nhiệm điều khiển chính phủ ở tuối mười sáu. Mặc dù cố gắng hợp tác với những người xâm lăng, ngài cũng đă đối diện với sự nguy hiểm sẽ xảy ra cho bản thân. Do đó vào năm 1959, ngài vượt thoát sang Ấn Độ. Trong cuộc sống lưu vong, ngải đă thành công trong việc thiết lập lại những trung tâm văn hóa Tây Tạng về nhiều lănh vực. Ngài đă đi đến hầu hết các nơi trên thế giới, mang đến một thông điệp – không chỉ cho người Phật tử và tín đồ các tôn giáo khác, nhưng cho tất cả mọi người – về sự quan trọng của ḷng lân mẫn đối với nền tảng của xă hội. Với những cố gắng không mệt mỏi của ngài v́ lợi ích cho người Tây Tạng và cho cả loài người, ngài được trao giải Nobel Ḥa B́nh vào năm 1989.

Ngài đă cho ra đời nhiều tác phẩm, một số cho những thính giả chung chung và một số khác cho những người đặc biệt muốn t́m hiều về Phật Giáo. Trong cuốn sách nầy, ngài trinh bày một truyền thống tu tập lâu đời của Tây Tạng và kinh nghiệm riêng của ngài, nêu ra những gợi ư về cách tu tập để đạt được sự trong sáng của tinh thần và chuyển hóa tâm thức. Trong cách nầy, ngài tŕnh bày làm thế nào để cho cuộc sống có ư nghĩa.

Trải qua ba mươi năm tôi được biết ngài và trong mười năm tôi phục vụ với tư cách người thông dịch chính trong những chuyến lưu giảng của ngài ở Hoa kỳ, Canada, Indonesia, Singapore, Malaysia, Australia, Great Britain và Switzerland, tôi đă chứng kiến sự biểu hiện về những tu tập nầy nơi bản thân ngài. Con người sáng suốt, từ bi, khôi hài và phi thường nầy đă đi lên từ nền văn hóa Tây Tạng. Nhận thấy điều nầy rất quan trọng đối với chúng ta. Chúng ta cần đánh giá nền văn hóa đó như là một trong những kỳ quan của thế giới.

Jeffrey Hopkins, Ph.D.

Professor of Tibetan Studies,

University of Virginia.

 

sen 5 OK2