B15-JsLo OK

 

ĐỂ SỐNG ĐỜI SỐNG CÓ Ư NGHĨA

 

Dalai Lama

 

Nguyên Hảo (Thị Giới) dịch

 

dalai lama

 

1.

NHỮNG ĐIỀU CƠ BẢN:

BA SỰ TU TẬP

 

Lấy Sự Giác Ngộ Của Đức Phật Làm Khuôn Mẫu

Theo một số trường phái Phật Giáo, Đức Thích Ca Mâu Ni thành Phật lần đầu tiên tại Ấn Độ vào thế kỷ thứ sáu trước Tây lịch bằng sự tu Đạo. Tuy nhiên, có những trường phái khác tin tưởng rằng Ngài đă giác ngộ từ lâu xa và hoá thân của đức Phật vào thế kỷ thứ sáu trước Tây lịch chỉ là để chỉ bày con đường giác ngộ.  Ở Tây Tạng, chúng tôi tin tưởng ở quan điểm sau và các tín đồ lấy điển h́nh của Ngài để tu tập hầu giác ngộ cho ḿnh.

Trong cả hai trường hợp, chúng ta cần ghi nhớ rằng:

-          Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đă hạ sinh vào một đời sống đầy những thú vui của một hoàng tử trong một gia đ́nh hoàng tộc của Ấn Độ. Đến tuối hai mươi chín, chứng kiến những khổ đau của thế gian, Ngài từ bỏ vương vị, cắt tóc, rời gia đ́nh, để đi theo đời sống giới hạnh của một tu sĩ, chấp nhận một hệ thống giới hạnh.

-          Sáu năm tiếp theo ngài dấng thân vào một cuộc trầm tư khổ hạnh để đạt được định tâm trong thiền định.

-          Rồi sau đó, dưới giốc cây Bồ Đề ở Bồ Đề Đạo Tràng, ngài tu tập theo những phương pháp đặc biệt để phát triển trí tuệ, và đạt được giác ngộ. Sau đó Ngài giáo hóa trong bốn mươi lăm năm, rồi nhập diệt.

 

Tong câu chuyện về cuộc đời Đức Phật, chúng ta thấy có ba giai đoạn tu tập: đầu tiên là giới, rồi đến định, và sau cùng là huệ. Và chúng ta thấy rằng con đường tu tập cần phải có thời gian.

 

Thay Đổi Từ Từ

Việc phát triển tâm thức tùy thuộc vào nhiều nguyên nhân và điều kiện bên trong, giống như một trạm không gian muốn thành h́nh phải nhờ vào công việc của nhiều thế hệ khoa học gia phân tích và thử nghiệm bắt đầu từ những thành phần nhỏ nhất. Không có một trạm không gian hay tâm thức giác ngộ nào được thực hiện trong một ngày. Tương tự, những tính chất của tinh thần cần phải được xây dựng qua nhiều cách thức khác nhau. Tuy niên, không giống như trạm hàng không, được xây dựng do nhiều người cùng chung làm việc, tâm thức được phát triển chỉ do chính bản thân các bạn mà thôi. Không có cách nào để cho người khác làm việc mà bạn hưởng được kết quả. Đọc sự về sự tiến triển tâm thức của ngườk khác do họ diễn tả sẽ không truyền được cho bạn sự chứng nghiệm. Phải tự các bạn phát triển chúng nơi bản thân ḿnh.

Rèn luyện một tâm từ bi và phát trển trí tuệ là những tiến tŕnh chậm chạp. Khi các bạn từ từ hướng vào bên trong những phương pháp để phát triển giới, định và tuệ, những trạng thái không được thuấn thục của tâm thức trở nên càng ngày càng ít xảy ra. Bạn sẽ cần phải thực tập những phương pháp nầy hằng ngày và năm nầy qua năm khác. Khi bạn chuyển hóa tâm thức ḿnh , bạn sẽ làm chuyển hóa xung quanh. Người khác sẽ thấy được những lợi ích về việc thực hành ḷng khoan dung và t́nh thương của bạn, và sẽ t́m cách thực hành những phương nầy trong đời sống của họ.

 

Ba Sự Tu Tập

Những lời dạy của Đức Phật được chia ra làm ba nhóm:

-          Những giới luật cho đời sống đức hạnh

-          Những thuyết giảng về thiền định

-          Giải thích sự tu tập về trí tuệ.

Trong những nhóm kinh sách nầy, sự thực hành chính yếu được diễn tả là một trạng thái siêu vượt đạt được từ sự hợp nhất của định và huệ. Nhưng để đạt được sự hợp nhất đó, trước tiên chúng ta xây dựng nền tảng cho nó: đời sống đạo đức (Giới).

 

Thứ Tự Tu Tập

Giới, Định và Tuệ - đó là thứ tự căn bản trong sự tu tập. Lư do như sau:

-          Để cho trí tuệ quán chiếu loại bỏ những chướng ngại cản trở sự hiểu biết đúng đắn, và loại trừ tận gốc những trạng thái tâm thức sai lầm, chúng ta cần sự tập trung thiền định, một trạng thái hoàn toàn nhất tâm trong đó mọi sự lo ra nội tại đều không c̣n. Nếu không th́ tâm thức sẽ phải trải qua nhiều sự đứt đoạn. Không có được một sự thiền định nhứt tâm như vậy, trí tuệ sẽ không có sức mạnh, giống như một ngọn đèn cầy ở trong gió không đủ sức phát ra ánh sáng. V́ vậy, thiền định đi trước trí tuệ.

-          Thiền định nhất tâm để loại trừ những tạp niệm vi tế chẳng hạn như tâm thức quá căng thẳng hoặc quá phóng túng. Để thực hiện việc nầy, trước tiên chúng ta phải dừng lại những lo ra bên ngoài bằng việc thực hành giới luật để giữ chánh niệm và tỉnh giác trong hành vi và lời nói – luôn luôn tỉnh giác về hành vi bạn đang làm và lời bạn đang nói. Nếu không vượt qua được những xao lăng dễ thấy nầy, bạn không thể nào vượt qua những xao lăng vi tế hơn. Nhờ giữ chánh niệm, bạn đạt được trạng thái an tịnh của tâm thức, do đó việc thực hành giới luật phải đi trước việc tu tập thiền định.

Theo kinh nghiệm bản thân, phát tâm giữ những nguyên của một người tu sĩ đă làm cho tôi bớt đi những công việc, những dấng thân cho bên ngoài, có nghĩa là tôi tập trung nhiều hơn vào việc học hỏi tâm linh. Những nguyện kiềm chế những hành động, những lời nói vô ích làm cho tâm thức tôi có được chánh niệm về cách cư xử của tôi và đưa tôi đến việc quan sát những ǵ đang xảy ra trong tâm thức. Điều nầy có nghĩa là ngay cả khi tôi không cố ư thực hành thiền định, tôi cũng phải kiểm soát tâm thức tôi không bị tán loạn và như vậy liên tục hướng về việc định tâm vào một điểm ở bên trong. Giới luật như vậy tác động như là một nền móng.

Nh́n vào ba sự tu tập - giới luật, thiền định và trí tuệ - chúng ta thấy rằng mỗi thứ có tác dụng như là căn bản có cái kế tiếp. (Thứ tự tu tập nầy được chứng minh rơ ràng trong cuộc đời của Đức Phật). V́ vậy, toàn bộ tiến tŕnh tâm linh tùy thuộc vào một nền tảng giới luật.

 

sen 5 OK2