B15-JsLo OK

 

ĐỂ SỐNG ĐỜI SỐNG CÓ Ư NGHĨA

 

Dalai Lama

 

Nguyên Hảo (Thị Giới) dịch

 

dalai lama

3.

T̀M HIỂU SỰ KHỞI ĐẦU VÀ CHẤM DỨT CỦA KHỔ

 

CHÂN LƯ THỨ HAI:

NGUỒN GỐC CỦA KHỔ

 

Sau khi nhận diện phạm vi của khổ, chúng ta cần t́m ra những nguồn gốc của chúng, gồm có hai khía cạnh: những cảm thọ khổ (không vừa ư), và nghiệp nhiễm ô.

 

NHỮNG CẢM THỌ KHỔ

Bởi v́ cảm thọ khổ làm ô nhiễm nghiệp, hay hành động, tôi sẽ thảo luận vấn đề nầy trước. Có hai loại cảm thọ khổ - một lọai th́ nên được tỏ bày và một lọai không nên tỏ bày. Một thí dụ của loại đầu là sự sợ hăi khủng khiếp trong quá khứ đă trở nên cố định trong tâm thức. Trong trường hợp nầy, rất ích lợi khi để cho những cảm giác của bạn được tuông ra ngoài và thảo luận về sự việc.

Khi tôi ở vào khoảng tuổi mười bốn, vào mùa hè ở điện Norbulingka, vị Nhiếp Chánh (lúc bấy giờ là giáo thọ của tôi) rầy la tôi sau một bài giảng hằng năm. Với một thái độ cộc cằn, ông nói: “Dù cho sự chứng nghiệm của ông có ngang hàng với một thánh, cách cư xử của ông cũng c̣n phải hợp với cách cư xử của con người.” Tôi bị xúc phạm bởi v́ tôi cảm thấy rằng tôi đă xử sự như một người học tṛ b́nh thường lắng nghe ông nói mặc dù tôi là một Dalai Lama, vai vế trên ông. Tôi cảm thấy khó chịu và vẫn c̣n thấy không thoải mái đến mấy tháng sau. Sau đó Cộng sản Trung hoa xâm lấn miền Đông Tây Tạng vào năm 1950, và tôi phải trốn khỏi Lasha để đi đến Tromo ở vùng Tây Nam Tây Tạng gần biên giới Ấn Độ. Lúc bấy giờ các viên chức ở Lasha khuyên tôi là t́nh h́nh có vẻ khả quan và tôi nên quay trở về. Trên đường trở về, chúng tôi lưu lại ở chùa Talungdra của vị Nhiếp Chánh trong nhiều ngày. Một hôm ông hỏi tôi trong một cuộc trao đổi t́nh cờ rằng có phải v́ thái độ của ông làm cho tôi khó chịu không. Tôi đề cập đến những việc xảy ra, một cách mơ hồ, không có nhiều chi tiết. Và sự việc được giải tỏa. Chúng tôi có những ngày vui vẻ ở tu viện.

Tốt hơn là nói ra những sự việc chỉ xảy ra một lần nhưng vậy, trong khi những cảm thọ khổ thuộc loại kia - những cảm giác về tham muốn, thù ghét, ganh tỵ và hung hăng – không nên biểu lộ ra. Bày tỏ chúng ra sẽ làm cho chúng mạnh hơn và phổ biến hơn. Tốt hơn là nên suy nghĩ về những sự bất lợi khi rơi vào những cảm thọ đó và cố gắng thay thế chúng với những cảm giác thỏa măn và thương yêu. Chúng ta nên mạnh bạo vượt qua những cảm thọ tiêu cực khi chúng xuất hiện, nhưng tốt hơn hết là t́m những cách thức để ngăn ngừa chúng từ lúc chưa xảy ra.

Tham lam và thù ghét làm phát sinh những cảm thọ khổ khác và từ đó tạo nên đầy dẫy những sự rắc rối trên thế gian. Chúng ta không thể vui vẻ sống với những hậu quả của tham lam và thù ghét. Trong hai điều đó, thù ghét tệ hơn trên căn bản cấp thời bởi v́ nó gây tổn hại đến kẻ khác một cách nhanh chóng, nhưng tham lam chịu trách nhiệm trong việc đưa đến tiến tŕnh của luân hồi – ṿng tṛn lặp đi lặp lại của sinh, già, bịnh và chết - từ kiếp sống nầy qua kiếp sống khác.

Nguồn gốc của tham lam và thù ghét là không biết bản chất thật sự của tất cả mọi chúng sanh cũng như không biết bản chất của những sự vật vô tri. Sự ngu dốt nầy không phải chỉ là việc không có sự hiều biết nhưng là một ư thức tưởng tượng ra điều trái ngược hoàn toàn với sự thật; nó không hiều được điều thật sự là. Có nhiều mức độ lầm lẫn, như không hiểu được điều cần đem ra thực hành và điều cần được loại bơ trong đời sống hằng ngày, nhưng ở đây chúng ta đang nói về sự ngu dốt nơi nguồn cội của tất cả sự khổ. Nên biết rằng tất cả chúng sanh và những hiện tượng hiện hữu gắn liền nhau, bên trong và bao gồm tự chúng. Tôi sẽ thảo luận vế chủ đề khó khăn nầy ở Chương Tám, Chín và Mười.

 

NGHIỆP NHIỄM Ô

Tất cả niềm vui và đau khổ tùy thuộc vào nghiệp, hoặc những hành động trong quá khứ đă tạo ra những thiên hướng trong tâm thức. Nghiệp có thể được chia ra làm hai là thiện nghiệp và ác nghiệp tùy theo chúng tạo ra niềm vui hay khổ đau về lâu về dài. Ví dụ, nếu hậu quả của một hành động để tái sinh trong loài người th́ hành động đó là thiện v́ kết quả dài lâu của nó là một sự đầu thai tốt. Ngược lại, nếu hậu quả của một hành động là nguyên nhân làm tái sinh trong loài quỉ đói, th́ hành động đó là bất thiện v́ kết quả lâu dài của hành động đó đưa đến việc đầu thai xấu.

Nghiệp có thể cũng được chia ra ra thành những thứ tạo ra những nét tổng quát cho một đời sống mới bằng cách quyết định loại tái sinh cũng như tuổi thọ, và những thứ tạo ra những chi tiết của mộ đời sống, như sự giàu có, sức khỏe, và những thứ khác. Loại trước được gọi là “nghiệp đạo” (con đường của nghiệp) v́ nghiệp nầy (thiện hay bất thiện) có tác dụng như một con đường, hay một phương tiện, để hoàn thành một đời sống dù tái sanh vào cảnh giới tốt hay tái sanh vào cảnh giới xấu. Để là một “nghiệp đạo”, một nghiệp phải có đủ bốn tính chất: có ư hướng thúc đẩy; nhận diện đúng về nhân vật hay sự vật; được chuẩn bị đầy đủ; và đă được hoàn thành. Đôi khi, tất cả những tác nhân nầy đều xảy ra, như trong trường hợp bạn có ư định bố thí một người hành khất và thực hiện điều đó; đôi khi chỉ có động năng hiện hữu, bạn có ư định bố thí nhưng không thực hiện; hoặc bạn vô t́nh thực hiện, như khi bạn làm rơi tiền trên đường và người hành khất lượm lấy. Những hành động không đầy đủ bốn tính chất có thể liệt vào loại thứ hai, tạo nên những chi tiết trong cuộc sống.

Cuối cùng, nghiệp có thể được chia thành những thứ được tạo thành bởi các nhóm, như những việc từ thiện được tổ chức đàng hoàng, và những những việc thực hiện do cá nhân. Những kết quả của nghiệp có thể được thể nhận trong hiện đời, trong đời sống tiếp theo, hoặc trong đời sống sau nữa. Những nghiệp thiện và bất thiện mạnh có động lực mạnh mẽ về sự giúp đỡ hay làm tổn hại mạnh có thể tạo ra kết quả trong hiện đời.

 

Tiến tŕnh chết

 

Để hiểu các loại nghiệp và những nét đặc trưng của những mức độ cao nhất trong sự tu tập, chúng ta cần hiểu những động lực của ba giai đoạn: tiến tŕnh chết; trạng thái trung gian giữa kiếp nầy và kiếp sau; và tiến tŕnh tái sinh sau trạng thái trung gian. Sự chuyển nghiệp từ một đời sống sang đời sống kế tiếp xảy ra lúc chết qua tâm thức rất vi tế của trạng thái ánh sáng tinh ṛng. Mặc dù mức độ sâu nhất nầy của tâm thức hiện hữu suốt cuộc đời, nó chỉ hiện ra trong lúc chết, và v́ vậy thường được nói đến trong bối cảnh nầy.

Bạn có thể học nhiều hơn về điều nầy trong nhiều văn bản về Mật Tông Tối Thượng, do đức Phật dạy, như Guhyasamaja Tantra. Những văn bản nầy diễn tả nhiều loại tâm thức khác nhau, xếp hạng từ thô đến vi tế. Những trạng thái vi tế hơn của tâm thức có sức mạnh và hiệu năng hơn khi được áp dụng vào việc rèn luyện tâm linh. Mức độ thô nhất của tâm thức được nhận qua mắt, tai, mũi, lưỡi, và thân. Mức độ vi tế hơn là tâm thức, được xếp từ những mức độ thô, những ư nghĩ trong đời sống hằng ngày, đến giấc ngủ say và trạng thái chết ngất xỉu khi hơi thở ngừng, cho đến trạng thái tâm thức tế nhị sâu thẳm nhất là trạng thái ánh sáng tinh ṛng. Ngoại trừ trong những trạng thái thiền định phi thường, tâm thức ở trạng tái vi tế nhất, sâu thẳm nhất chỉ xuất hiện trong lúc chết. (Sự xảy ra ngắn ngủi của các trạng thái tâm thức vi tế cũng hiện diện khi đi ngủ, chấm dứt một cơn mơ, hắt hơi, ngáp, và lúc cực điểm khoái lạc. Tôi sẽ tŕnh bày về điểm cuối cùng nầy ở Chương Mười Một).

Tiến tŕnh chết bao gồm một sự chấm dứt hay tan biến theo chuổi của bốn yếu tố bên trong: đất (chất cứng của cơ thể); nước (chất lỏng); lửa (nhiệt); và gió (năng lượng, chuyển động). Trong đời sống hằng ngày, những yếu tố nầy phục vụ như là những căn bản của thức, nhưng lúc đang chết, khả năng giúp đỡ cho thức của chúng yếu đi, trước tiên với yếu tố đất. Mỗi khâu trong tiến tŕnh tan ră nầy làm tăng khả năng giúp đỡ thức cho yếu tố kế tiếp. Tiến tŕnh từng yếu tố xảy ra như sau:

1.   Khi yếu tố đất, hay chất cứng trong cơ thể bạn, tan biến vào trong yếu tố nước, dấu hiệu bên ngoài là cơ thể nhỏ lại; bên trong bạn thấy xuất hiện cảnh tượng như những ảo tượng trong sa mạc.

2.   Khi yếu tố nước của cơ thể tan biến vào yếu tố lửa, những dấu hiệu bên ngoài là cơ thể của bạn trở nên khô - môi khô, mũi nhăn lại, vân vân ; bên trong bạn thấy như một làn khói trên ống khói hay làn khói b́nh bồng khắp nơi trong một căn pḥng.

3.   Khi yếu tố lửa của cơ thề tan biến vào yếu tố gió, hiện tượng bên ngoài là nhiệt của cơ thể giảm xuống; bên trong, bạn thấy như những con đom đóm trong đêm hay những tia lửa rải rắc. Nhiệt rút khỏi cơ thể bằng nhiều cách khác nhau - từ chân đi lên đến tim hay từ đỉnh đầu đi xuống. Cách trước tốt hơn v́ nó chứng tỏ rằng thần thức sẽ ra khỏi cơ thể bằng cách đi lên hoặc ra thẳng, không đi xuống, và như vậy phần lớn là sẽ dẫn đến một sự tái sinh trong cảnh giới tốt đẹp vào kiếp sau. Việc nầy có được nhở đă tạo nghiệp lành.

4.   Kế tiếp, yếu tố gió, hay sự chuyển động của năng lực trong cơ thể, tan biến vào thức, và hơi thở bên ngoài ngừng; vào lúc nầy, bạn thấy hiện tượng giống như ánh sáng bên trên một ngọn lửa lung linh của một chiếc đèn khi sắp cạn dầu. (Một số bác sĩ cho rằng người ở trạng thái nầy là đă chết, nhưng theo quan điểm Phật Giáo, chỉ việc ngừng lại của hơi thở không có nghĩa là thần thức đă rời khỏi cơ thể.) Tiếp theo trạng thái ánh sánh lung linh là một ngọn lửa ổn định.

Bốn giai đọạn sau cùng của tiến tŕnh chết gồm những sự tiêu tán những mức độ thô hơn của tâm thức vào những mức độ tế vi hơn. Việc nầy xảy ra khi yếu tố gió, hoặc nguồn khí lực bên trong, được sử dụng như những chỗ tựa cho thức tiêu tán vào. Tưởng tượng thức nương tựa vào nguồn khí lực giống như người kỵ sĩ nương trên ḿnh ngựa. Để chuẩn bị cho giai đoạn kế tiếp, nguồn khí lực phục vụ như những chỗ tựa cho nhiều loại tâm thức ư niệm tán biến, đưa nền tảng của thức từ trạng thái thô đến những mức độ vi tế hơn của khí lực. Những việc nầy xảy ra theo bốn giai đoạn:

5.   Tâm thức bạn trở thành một khoảng bao la màu trắng tỏa khắp, rộng lớn và sống động. Trạng thái đó được diễn tả như một bầu trời trong đầy ắp ánh trăng – không phải là mặt trăng chiếu sáng trong không gian nhưng là một không gian đầy ánh sáng màu trắng. Những tư tưởng khái niệm biến mất, và không c̣n ǵ xuất hiên ngoài màu trắng sống động nầy, đó là thức của bạn. Tuy nhiên, một ư nghĩa vi tế của chủ thể và khách thể vẫn c̣n tồn tại, do đó c̣n có một trạng thái nhị nguyên rất nhỏ.

6.   Tâm tức bạn biến thành một không gian rộng lớn màu đỏ hoặc màu cam, sống động hơn giai đoạn trước; không có ǵ khác xuất hiện. Nó giống như một bầu trời trong đầy ánh sáng mặt trời – không phải là mặt trời chiếu sáng trong bầu trời nhưng chính không gian đầy ắp với ánh sáng đỏ hay vàng. Trong trạng thái nầy, tâm thức ít tính chất nhị nguyên hơn.

7.   Tâm thức chuyển sang một trạng thái màu đen sống động, vi tế hơn; không có ǵ khác xuất hiện. Trạng thái nầy được gọi là “cận đắc” bởi v́ bạn gần đến chỗ thể hiện tâm thức ánh sáng tinh ṛng. Tâm thức ở trạng thái không gian rộng lớn màu đen giống như bầu trời tối không trăng, không sao sau buổi hoàng hôn. Lúc bắt đầu của giai đoạn nầy bạn c̣n có tri giác, nhưng rồi bạn mất hết tri giác khi ch́m sâu vào bóng tối dày đặc hơn.

8.   Khi trạng thái màu đen của tâm thức chấm dứt, tâm thức bạn chuyển sang trạng thái hoàn toàn thức tỉnh của ánh sáng tinh ṛng. Được gọi là tâm thức ánh sáng tinh ṛng nội tại nền tảng, đây là một mức độ tinh tế, sâu xa và mạnh mẽ nhất của thức. Nó giống như trạng thái tự nhiên của bầu trời lúc b́nh minh (không phải lúc mặt trời mọc) – không có ánh trăng, ánh sáng mặt trời, hay bóng tối.

Thời giai trải qua trạng thái tâm thức ánh sáng tinh ṛng có thể nhanh hay chậm. Một số người trải qua trạng thái cuối cùng nầy nầy của tiến tŕnh chết chỉ trong ṿng nhiều phút; những người khác có thể ở trong trạng thái nầy lâu một hay hai tuần. Bởi v́ tâm thức ánh sáng tinh ṛng rất mạnh, nó có giá trị để thực hành, do đó nhiều hành giả Tây Tạng thực tập những giai đoạn trong tiến tŕnh chết mỗi ngày. Tôi cũng thực tập mỗi ngày sáu lần bằng cách quán tưởng tám mức độ của tâm thức từng mức độ một (dĩ nhiên là không có chuyện thay đổi vật chất nào trong bốn giai đoạn đầu). Tám mức độ của tâm thức là:

1.   ảo tượng

2.   làn khói

3.   đom đóm

4.   ánh sáng ngọn đèn

5.   tâm thức bầu trời màu trắng sống động

6.   tâm thức bầu trời màu đỏ hoặc cam sống động

7.   tâm thức bầu trời màu đen sống động

8.   ánh sáng tinh ṛng

Trong tiến tŕnh chết, chúng ta biết rằng người đó c̣n ở trong trạng thái ánh sáng tinh ṛng bao lâu mà cơ thể chưa hôi hoặc thối rửa. Có những người Tây Tạng bị hành hạ, khi trở về pḥng tù, ngồi xếp bằng trong tiến tŕnh chết, giữ vững tâm thức ánh sáng  tinh ṛng. Theo các báo cáo, những người giữ tù Trung Cộng thấy lạ lùng với sự việc nầy. Theo quan điểm giáo điều của họ, họ coi Phật Giáo là một tín ngưỡng mù quán, do đó khi họ đối diện với thực tế đó, họ cố giữ kín. Ở Ấn Độ cũng vậy, có những hành giả giữ trạng thái nầy mấy ngày và có một trường hợp kéo dài mười bảy ngày. Khi một người an trú trong trạng thái ánh sáng tinh ṛng, khi năng lượng nâng đỡ cho mức độ sâu thẳm nầy của tâm thức bắt đầu dao động, trong lúc đó, thần thức rời khỏi thân xác, và cơ thể hoặc đầu chuyển động nhẹ.

Có nhiều cơ hội để khảo sát xa thêm về những giai đoạn trong tiến tŕnh chết. Khoa học hiện đại đă làm nhiều nghiên cứu về những làn sóng năng lượng, bộ năo của con người, và những chức năng của nó. Các nhà khoa học và tín đồ Phật giáo chia xẻ một sự hứng thú chung trong lănh vực nầy, và tôi tin rằng chúng ta cần làm việc chung với nhau để thăm ḍ sự tương quan giữa tâm thức và các nguồn năng lượng bên trong, và giữa bộ năo với thức. Những giải thích của Đạo Phật có thể đóng góp cho những nghiên cứu khoa học, và ngược lại. Việc hợp tác nầy đă được tiến hành, và sẽ có ích lợi nếu tiếp tục.

 

Trạng Thái Trung Gian

 

Tất cả chúng sanh sinh ra trong loài người đều trải qua trạng thái trung gian giữa đời nầy và đời sau. Trong giai đoạn trung gian nầy, cơ thể của bạn nhận một h́nh dạng giống như cơ thể của bạn trong đời sống kế tiếp vào tuổi năm hoặc sáu (mặc dù có một số người bảo rằng điều nầy không nhất thiết phải như vậy). Khi đời sống trung gian chấm dứt, chiếc cầu bắt qua đời sống kế tiếp đă được vượt qua. Tiến tŕnh nầy được thực hiện với một mức độ tâm thức tế vi nhất.

 

Tiến Tŕnh Tái Sanh

 

Về vấn đề tái sinh, thần thức nhập vào bào thai khi hai yếu tố nam và nữ ḥa vào nhau - với điều kiện là không có ǵ bất ổn ở tử cung hay tinh dịch và miễn là tất cả những tác nhân cần thiết - như sự nối kết với nghiệp chẳng hạn - hiện diện. Tuy nhiên, thần thức không nhất thiết phải nhập vào khi người đàn ông và đàn bà giao hợp, bởi v́ trong những bản văn của chúng tôi, có những trường hợp tinh dịch của người cha được đưa vào trong âm đạo ngoài lúc giao hợp. Dường như dù cho những yếu tố nầy đến với nhau bên trong hoặc đôi khi như ngày nay, ở bên ngoài tử cung trong ống nghiệm, thần thức nhập vào khi những yếu tố nầy trộn vào nhau. Nhưng vẫn c̣n khó đi đến một giải thích dứt khoát từ những văn bản Phật Giáo v́ có một số sách nói rằng sự thụ thai xảy ra khi người đàn ông và đàn bà đạt đến điểm mong muốn mạnh.

Vấn đề phức tạp nầy trở nên phức tạp hơn trong thời buổi tối tân ngày nay. Hăy xem trường hợp khi một cái phôi được đông lạnh. Không có sự kết nối được thiết lập từ đời trước với đời sống hiện tại qua sự thụ thai, chúng sanh đó mà thân thể ở trạng thái phôi bị ướp lạnh có phải trải qua sự đau khổ v́ lạnh hay không? Giai đoạn đầu tiên của cơ thể đă được thành h́nh, và như vậy, theo sự giải thích, cơ quan cảm giác của cơ thể đă được cấu tạo (mặc dù những cơ quan về thị giác vân vân chưa có). Có chăng cảm giác vật lư ngay từ khoảnh khắc sau khi thụ thai? Tôi không có kết luận về điểm nầy; chúng là những chủ đề cần nhiều thảo luận.

Nếu chúng ta cho rằng chúng sanh ở trong phôi thai khổ v́ lạnh, vấn đề được đặt ra là như vậy liệu người đặt phôi thai vào tủ lạnh phải chịu nghiệp xấu từ hành động nầy? Điều nầy tùy thuộc vào động năng của người đó. Chúng ta không thể nói rằng chỉ v́ một kẻ khác chịu khổ do một sự việc nào đó bằng cách nào đó liên quan đến bạn, bạn phải chịu nghiệp xấu. Ví dụ, ngay cả trong những hoàn cảnh b́nh thường, một bào thai trong tử cung người mẹ chịu sự đau đớn v́ ở trong bào thai, nhưng người mẹ không tạo nghiệp xấu. Tương tự, khi đức trẻ được sinh ra, nó lại chịu sự đau đớn, nhưng người mẹ không tạo nghiệp xấu nào. (Nếu có tạo nghiệp xấu, một người mẹ sinh nhiều người con tất phải tạo nhiều nghiệp xấu, việc nầy vô lư!) V́ vậy, động năng của một người là ch́a khóa để quyết định loại nghiệp người đó tạo ra.

 

CHÂN LƯ THỨ BA:
SỰ CHẤM DỨT CỦA KHỔ

 

Bởi v́ những sự ô nhiễm của tâm như tham, ghét, ganh tị, hung hăng đặt nền tảng trên sự nhận thức sai lạc về bản chất của con người và sự vật, tiến tŕnh để vượt qua chúng đ̣i hỏi một sự giải quyết cho sự vô minh đó. Vấn đề được đặt là làm thế nào để nhổ tận gốc rễ sự vô minh là nguyên nhân của khổ đau. Nó không thể nhổ ra giống như một chiếc gai hoặc lấy ra từ sự giải phẩu. Để vượt qua nhận thức sai lầm về bản chất của con người và sự vật nầy, bạn phải hiều bản chất thật sự của chúng. Rồi bằng sự thiền quán liên tục, bạn trở nên quen thuộc với sự thật và làm tăng trưởng sức mạnh của trí tuệ để làm hao ṃn những cảm thọ có gốc rễ từ vô minh.

Ở điểm nầy, một giải thích về tánh không có thể có ích lợi v́ đó là điều mà trí tuệ nhận ra về bản chất của con người và sự vật (xem Chương Tám-Mười). Nhưng, nói một cách ngắn gọn, sự việc mà những sự ô nhiễm như những cảm thọ đau khổ không thể bị dập tắt hoàn toàn do v́ tâm thức không thanh tịnh từ bản chất. Thực chất của nó là trong sạch. Những sự nhiểm ô được làm cho trong sạch bằng sự thiền quán về thực tính của cả tâm thức và mọi sự vật. Dập tắt những nhiễm ô nầy là chân lư thứ ba về sự chấm dứt khổ - một trạng thái vượt ngoài những khổ đau và những nguyên nhân tạo ra khổ đau.

 

CHÂN LƯ THỨ TƯ:
CON ĐƯỜNG CHÂN THẬT

 

Những đạo lư chân thật liên quan đến ba đường lối tu tập là những chủ đề chính của cuốn sách - giới, định và huệ. Việc tu tập theo những đường lối nầy dẫn đến sự chấm dứt thật sự, chứng nhập niết bàn và cuối cùng ngộ nhập Phật Tánh.

Từ nguyên thủy chúng ta đă có sự nhận biết có giá trị, hay ư thức, về “Ngă”, một cách tự nhiện và bẩm sinh muốn được hạnh phúc và không muốn đau khổ,và niềm ước muốn nầy có giá trị - nó là sự thật và hợp lư. Từ đó, tất cả chúng ta đếu có quyền đạt được hạnh phúc và xua đuổi khổ đau. Sự việc rằng hạnh phúc và khổ đau thay đổi từng khoảnh khắc chứng tỏ rằng những kinh nghiệm tùy thuộc vào những nguyên nhân và điều kiện. Để loại trừ khổ đau, chúng ta cần phải loại bỏ những nguyên nhân và điều kiện của khổ đau, và để đạt được hạnh phúc chúng ta cần có được những nguyên nhân và điều kiện cho hạnh phúc.

Hai chân lư đầu áp dụng cho hiện tượng không trong sạch mà chúng ta muốn loại bỏ - khổ, kết quả, và những nguồn gốc của khổ, nguyên nhân. Hai chân lư sau cùng là trạng thái trong sạch mà chúng ta muốn đạt đến - chấm dứt khổ, kết quả, và con đường đạo, nguyên nhân. Cách Đức Phật giảng về bốn chân lư cao thượng chúng bao gồm hai kết quả - một là khổ mà chúng ta muốn tử bỏ, và một là hạnh phúc mà chúng t́m cách để có được.

 

TÓM TẮT VỀ VIỆC TU TẬP HẰNG NGÀY

 

Nhận ra phạm vi của khổ, t́m hiều những nguyên nhân, hay nguồn gốc, của nó, và nhận rằng nguồn gốc của khổ là vô minh không biết được bản tính chân thật của con ngựi và sự vật, đem đến kết quả là tham, ghét và nhiều thứ khác. Nhận ra rằng đau khổ có thể được trừ bỏ, nó có thể được dập tắt vào trong phạm vi của thực tại. Quán chiếu rằng sự chấm dứt chân thật nầy được đạt đến qua sự thực hành giới, định, và huệ - con đường chân thật.

 

sen 5 OK2