B15-JsLo OK

 

ĐỂ SỐNG ĐỜI SỐNG CÓ Ư NGHĨA

 

Dalai Lama

 

Nguyên Hảo (Thị Giới) dịch

 

dalai lama

5.

GIÚP ĐỠ

 

Với sự tu tập đức tánh không tổn hại để làm nền tảng, giờ đây bạn có thể rèn luyện ḷng quan tâm đến kẻ khác. Đầu tiên, qua việc thực hành giới hạnh để giải thoát cá nhân, chúng ta đă học về việc kiểm soát ḷng tức giận và những điều tương tự, và giờ đây chúng ta có thể bắt đầu học làm thế nào để thích nghi và phục vụ tha nhân. Những thực hành nêu ra trong Chương 2 đến Chương 4 - từ bơ mười điều bất thiện, nhận diện phạm vi và tiến tŕnh của khổ và con đường thoát khổ qua bốn chân lư cao thượng, và sự cởi bỏ của đời sống tu viện đối với những lạc thú giả tạm và đời sống tại gia - tất cả những thứ đó thiết lập một nền móng cần thiết cho giai đoạn thứ hai, điều mà chúng ta gọi là giới hạnh Đại Thừa. Giờ đây, không những bạn không làm tổn hại đến kẻ khác, mà bạn c̣n gánh thêm trách nhiệm giúp đỡ họ. Không gây tổn hại cho người khác là một sự thực hành tự vệ, trong khi tiến đến việc giúp đỡ kẻ khác có tính cách chủ động.

Đức Phật dạy chúng ta ba giai đoạn của giới hạnh: giới hạnh giải thoát cá nhân, giới hạnh quan tâm đến kẻ khác, và giới hạnh Mật Giáo. Giúp kẻ khác là giáo lư Đại Thừa, trọng tâm của giai đoạn thứ hai, hay Bồ Tát Hạnh. Nó cũng được tập trung trong chương nầy.

 

GiÁ TRỊ CỦA NHỮNG HOÀN CẢNH KHÓ KHĂN

Làm thế nào chúng ta có thể trau dồi thái độ quan tâm đến kẻ khác? Việc chính yếu để hướng dẫn bạn hướng đến việc quan tâm đối với kẻ khác là để ư đến sự quan trọng của bạn đối với người khác. Một sự thực hành được đưa từ Ấn Độ qua Tây Tạng gồm có sự t́m thấy đầu tiên nền tảng chung với người khác (b́nh đẳng) và từ đó thay thế tính quy ngă bằng sự hướng về người khác. Hành giả học giả Ấn Độ Shantideva giải thích việc thực hành về tính b́nh đẳng và chuyển đổi bản ngă và tha nhân một cách hoàn toàn trong tập luận Một hướng dẫn ve đời sống theo Bồ Tát Hạnh, và nhiều người Tây Tạng đă viêt chú giải về bản văn nầy.

Ḷng từ bi thật sự tỏa rộng đến mỗi mỗi chúng sanh, không chỉ cho bạn bè hoặc gia đ́nh hoặc những người ở trong những cảnh ngộ khốn cùng. Để phát triển sự tu tập về ḷng từ bi đến chỗ trọn vẹn, cần phải có sự nhẫn nhục. Shantideva nói với chúng ta rằng nếu sự thực hành ḷng nhẫn nhục thật sự làm lay chuyển tâm thức và đem đến một sự thay đồi, bạn sẽ khởi sự coi tất cả những ngườI thù nghịch của bạn như những người bạn thân nhất, ngay cả coi họ như những hướng đạo sư.

Những người thù nghịch cho chúng ta một số cơ hội tốt nhất để thực hành hạnh nhẫn nhục, bao dung, và từ bi. Shantideva cho chúng ta nhiều thí dụ tuyệt vời về vấn đền nầy trong h́nh thức những mẫu đối thoại giữa hai h́nh trạng tích cực và tiêu cực của cùng một tâm thức. Những nhận xét của ngài về từ bi và nhẫn nhục rất hữu ích trong việc tu tập của chính bản thân tôi. Đọc chúng và tâm hồn bạn sẽ được chuyển hóa. Sau đây là một thí dụ:

Đối với một hành giả trên con đường t́nh thương và từ bi, một kẻ thù nghịch là một trong những người thầy quan trọng nhất. Không có người thù nghịch bạn không thể thực hành ḷng bao dung, và không có ḷng bao dung bạn không thể thiết lập một nến tảng vững chăi cho ḷng từ bi. Như vậy, dể thực hành từ bi, bạn cần phải có người thù nghịch.

Khi bạn đối diện với người thù nghịch sắp làm tổn thương đến bạn, đó chính là lúc để bạn thực sự thực hành ḷng bao dung. V́ vậy, một người thù nghịch là nguyên nhân để thực hành ḷng bao dung; ḷng bao dung là kết quả của một người thù nghịch. Do đó chúng là nhân và quả. Như nói: “Một khi một sự việc ǵ đó có mối tương quan khởi lên từ sự việc đó, người ta không thể cho rằng sự việc từ đó nó khởi lên như một nguyên nhân làm tổn hại; thay v́ vậy nó giúp vào sự sản sinh ra kết quả.”

Suy tu về loại lư luận nầy có thể giúp phát triển sự nhẫn nhục lớn, và sự nhẫn nhục lớn nầy sẽ làm phát triển ḷng từ bi mạnh mẽ. Ḷng từ bi thật sự được đặt trên nền tảng lư lẽ. Ḷng từ bi thông thường hay t́nh thương giới hạn ở sự ham muốn hay ái trước.

Nếu cuộc sống của bạn dễ dăi và mọi sự đều suông sẽ, bạn có thể sẽ giữ măi những tham vọng. Tuy nhiên, khi bạn đối diện với những hoàn cảnh thật sự vô vọng, th́ bạn sẽ không c̣n th́ giờ để tham vọng; bạn phải đương đầu với thực tại. Những thời gian khó khắn tạo ra sự quyết định và sức mạnh nội tâm. Qua đó, chúng ta cũng có thể đi đến chỗ biết đánh giá sự vô ích của ḷng tức giận. Thay v́ tức giận, hăy nuôi dưỡng ḷng quan tâm và kính trọng sâu xa đối với những người tạo ra sự bất ổn bởi v́ khi tạo ra những hoàn cảnh khó khăn đó, họ ban cho chúng ta những cơ hội vô giá để thực hành ḷng khoan dung và nhẫn nhục.

Cuộc đời của tôi đă không có thời gian hạnh phúc; tôi đă phải trăi qua nhiều kinh nghiệm khó khăn, trong đó có việc phải bị mất nước v́ sự xâm lăng của Trung Cộng và phải xây dựng lại văn hóa của chúng tôi trên đất nước láng giềng. Tôi coi những giai đoạn khó khăn nầy là những thời điểm quan trọng nhất trong đời tôi. Từ chúng, tôi đă có được nhiều kinh nghiệm mới và học được nhiều tư tưởng mới – chúng làm cho tôi thực tiễn hơn. Khi tôi c̣n trẻ và sống ở trên cao bên trên thành phố Lasha trong điện Potala, tôi thường nh́n đời sống của thành phố qua một ống ḍm. Tôi cũng học được nhiều từ những chuyện tầm phào của những người phục vụ trong điện. Họ giống như tờ báo tin tức của tôi, liên quan đến việc ngài Nhiếp Chánh đang làm, và những sự đồi bại và những sự việc xúc phạm công chúng nào đang xảy ra. Tôi luôn luôn vui vẻ lắng nghe, và họ hănh diện được nói chuyện với Dalai Lama về những chuyện xảy ra ngoài phố. Những biến cố ác nghiệt xảy ra sau cuộc xâm lăng 1950 buộc tôi phải trực tiếp nhúng tay vào những công việc mà nếu không có biến cố đó tôi đă không bao giờ đụng đến. Kết quả đưa tôi vào đời sống hoạt động xă hội trong thế giới đau khổ nầy.

Thời gian khó khăn nhất cho tôi là sau khi Trung Cộng xâm lăng. Tôi đă cố gắng làm thỏa măn những người xâm lăng để cho t́nh thế không bị tồi tệ thêm. Khi một phái đoàn đại biểu nhỏ của Tây Tạng kư thỏa ước mười bảy điểm với người Trung Hoa không có sự đồng ư của tôi hay của chính phủ, chúng tôi bị đặt vào t́nh trạng không đường lựa chọn mà chỉ cố gắng để thi hành thỏa ước. Nhiều người Tây Tạng không bằng ḷng vời sự việc đó, nhưng khi họ bày tỏ sự phản đối, người Trung Hoa phản ứng khắc khe hơn. Tôi bị đặt vào giữa, cố gắng làm dịu t́nh thế. Hai vị bộ trưởng hành động phàn nàn những điều kiện với chính phủ Trung Cộng, họ yêu cầu tôi loại trừ những người nầy. Loại rắc rối như vậy tôi phải đối diện khi c̣n ở Tây Tạng. Chúng tôi không thể tập trung để cải tiển t́nh tạng của chúng tôi, nhưng tôi đă sắp xếp một hội đồng cải cách để làm nhẹ bớt những gánh nặng chồng chất về tiền lời trên nợ và vân vân.

Ngược lại với sự mong muốn của người Trung Hoa, lần đầu tiên tôi viếng Ấn Độ vào năm 1956 để dự lễ Phật Đăn 2500. Trong khi ở Ấn Độ, tôi đă phải làm một quyết định khó khăn là có nên trở về Tây Tạng hay không. Tôi có nhớ những tin tức về những cuộc nổi dậy ở miền đông Tây Tạng, và nhiều viên chức ở Tây Tạng khuyên tôi không nên trở về. Từ kinh nghiệm quá khứ tôi biết rằng khi Trung Hoa khai triển thêm về sức mạnh quân sự, thái độ của họ trở nên thô bạo. Chúng tôi có thể thấy rằng không có ǵ nhiều hy vọng, nhưng trong thời gian lúc bấy giờ, không có ǵ rơ ràng rằng chúng tôi có một sự bảo đảm hoàn toàn về sự giúp đỡ có hiệu quả từ chính phủ Ấn Độ hoặc từ chính phủ nào khác.

Cuối cùng, chúng tôi chọn giải pháp trở về Tây Tạng. Nhưng đến năm 1959 khi hàng loạt người vượt thoát sang Ấn Độ, t́nh thế dễ dàng hơn v́ đă đến điểm chung cực. Chúng tôi đă có thể dồn mọi năng lực và thời giờ vào việc xây dựng một cộng đồng lành mạnh với nền giáo dực hiện đại cho lớp trẻ và cùng lúc cố gắng duy tŕ truyền thống nghiên cứu và hành tŕ Phật Pháp. Ngày nay, chúng tôi đang làm việc trong một bầu không khí tự do không lo sợ.

Sự tu tập của tôi được thụ hưởng lợi ích của một đời sống với những hổn loạn và rắc rối lớn lao. Các bạn cũng có thể coi sự khó khăn mà ḿnh phải gánh chịu để đào sâu sự tu tập của ḿnh.

 

HỌC TÍNH THẦN B̀NG ĐẲNG VÀ CHUYỂN HƯỚNG TẬP TRUNG TỪ BẢN THÂN QUA NGƯỜi KHÁC

 

Như Shantideva giải thích về sự tu tập nầy, trước tiên các bạn nhận thấy rằng mỗi và mọi chúng sinh đều muốn hạnh phúc và không muốn đau khổ, giống như chính bạn; trên nền tảng nầy, bạn và họ b́nh đẳng nhau. Sau đó, khi bạn nhận rằng bạn chỉ là người một con người riêng lẻ so với số lượng vô cùng của những chúng sanh khác, bạn nhận ra rằng sẽ hoàn toàn lố bịch nếu xao lăng việc phúc lợi cho người khác hoặc sử dụng họ cho lạc thú riêng của bạn. Hy sinh bản thân để phụ vụ họ là việc hợp lư hơn nhiều.

Khi bạn nhận thấy sự việc theo cách nầy, nó sẽ trở nên rơ ràng. Bất kể bạn là người quan trọng thế nào, bạn cũng chỉ là một cá nhân duy nhất. Bạn có cùng quyền được hạnh phúc giống như tất cả mọi người khác, nhưng sự khác biệt là bạn là một c̣n những người khác la nhiều. Đánh mất hạnh phúc của một người là quan trọng, nhưng không quan trọng bằng đánh mất hạnh phúc của nhiều người khác. Từ cái nh́n nầy, bạn có thể trau giồi từ bi, t́nh thương, và ḷng tôn trọng đối với người khác.

Trong một ư nghĩa nào đó, tất cả nhân loại đều cùng chung một gia đ́nh. Chúng ta cần ôm choàng lấy sự duy nhất của nhân loại và tỏ sự quan tâm đến mọi người – không chỉ gia đ́nh tôi hay đất nước tôi hay đại lục tôi. Chúng ta phải tỏ ḷng quan tâm đến tất cả chúng sanh, không chỉ một thiểu số xung quanh chúng ta. Những sự khác biệt về tôn giáo, ư thức hệ, chủng tộc, hệ thống kinh tế, hệ thống xă hội, và chính phủ chỉ là thứ yếu.

 

Ích Kỷ Một Cách Thông Minh

 

Để ngươi khác lên hàng đầu; bạn ở sau. Việc nầy cũng xuất phát từ quan điểm ích kỷ. Tôi xin giải thích. Bạn muốn hạnh phúc và không muốn đau khổ, và nếu bạn bày tỏ ḷng tử tế, t́nh thương, tôn trọng đối với người khác, họ sẽ đáp ứng với sự tử tế. Nếu bạn tỏ ra giận dử và thù ghét đối với người khác, họ sẽ tỏ lại như vậy đối với bạn, và bạn sẽ mất sự hạnh phúc của ḿnh. Do đó tôi nói, nếu bạn ích kỹ, bạn nên là người ích kỹ thông minh. Thiông thường tính ích kỷ chỉ tập trung vào những nhu cầu của riêng bạn, nhưng nếu bạn ích kỷ một cách thông minh, bạn sẽ đối xử với người khác cũng tốt như bạn đối xử với những người gần gũi bạn. Cuối cùng, cách nầy sẽ làm phát sinh nhiều thỏa măn hơn, nhiều hạnh phúc hơn. Như vậy, ngay cả từ quan quan điểm ích kỷ, bạn cũng gặt hái được những kết quả tốt hơn băng sự tôn trọng người khác, phục vụ người khác, và giảm bớt sự quy hướng bản thân.

Khi bạn quan tâm đến người khác, sự hạnh phúc của chính bạn được đong đầy một cách tự động. Hăy để ư đến những hành động vô đạo đức về thân và miệng, là nguyên nhân tái sinh vào những hoàn cảnh xấu. Với một người có cách nh́n nhỏ hẹp thi từ bơ - chẳng hạn như việc giết hại - ra khỏi một động lực để không chồng chất thêm nghiệp xấu ấn trong tâm thức. Một người có cái nh́n lớn hơn một chút th́ từ bơ giết hại v́ nghĩ rằng việc đó sẽ cản trở sự tái sanh vào một đời sống tốt đẹp để tu tập hầu thoát khỏi sự tiếp nối của sinh tử luân hồi. Tuy nhiên, người có ḷng vị tha coi sự sống của kẻ khác là quan trọng cũng như sự sống của chính ḿnh và từ bơ sự sát hại để bảo vệ sự sống của người khác. Sự thương yêu người khác nầy tạo ra một sự khác biệt lớn trong sức mạnh của động lực để ḱm hăm sự giết hại. Những người mà động lực có tính cách quy ngă có thể nghĩ rằng ngay cả nếu họ phạm một nghiệp xấu như vậy, có thể sám hối và t́m cách để làm tốt nghiệp, trong khi người tôn trọng giá trị của sự sống của kẻ khác quan tâm đến sự đau khổ của kẻ khác và biết rằng sẽ không giúp ǵ cho người sám hối v́ tội giết hại. Cũng giống như vậy đối với sự trộm cắp, tà dâm, nói láo, nói chia rẽ, nói lời độc ác, và ngay cả, tôi nghĩ, nói chuyện vô ích.

Một cách khác mà sự quan tâm đến người khác có giá trị là đặt hoàn cảnh của chính bạn vào viễn cảnh. Ở một khía cạnh tôi ra dặc buốn cho t́nh trạng của Tây tạng, nhưng rồi tôi nhớ rằng tôi đă thọ nhận Bồ tát Nguyện và mỗi ngày suy ngẫm về lời cầu nguyện của Shantideva:

Bao lâu mà bầu trời c̣n hiện hữu

Và bao lầu mà chúng sanh vẫn c̣n,

Tôi nguyên ở lại đ6ẻ giúp đỡ

Giải phónmg họ thoát khỏi mọi khổ đau.

Mỗi khi tôi nhớ lời nguyện nầy,  topàn thể cảm giác nặng nề lập tức được đẩy xa, giống như áo quần nặng nề đưo85c lấy khỏi thân thể tôi.

Sự hứa hẹn về ḷng vị tha giải tỏa những nguyên nhân đặc biệt của sự chán nản bằng cach đặt chúng trong một viễn cảnh rộng hơn; những nguyên nhân sẽ không làm nản ḷng. Phần lớn những rắc rối, lo âu, và buồn rầu xảy ra cho một người trong cuộc đời nầy có nguyên nhân từ sự yêu mến bản thân ḿnh. Như tôi đề cập ở trước, ích kỷ một cách thông minh không phải là xầu, nhưng ích kỷ một cách cạn cợt, chỉ quan tâm đến sự thỏa măn tức thời, là phản động. Một viễn cảnh chật hẹp làm cho ngay cả một vấn đề nhỏ cũng không thể chịu được. Quan tâm đến tất cả chúng sanh mở rộng tầm nh́n của bạn, làm cho bạn trở nên hiện thực hơn. Trong đường hướng nầy, một thái độ vị tha giúp giảm bớt sự đau khổ của bạn ngay bây giờ.

Sự mong muốn thiết tha của tôi là bạn thực hành t́nh thương và ḷng lân mẫn cho dù bạn có tin tưởng vào tôn giáo hay không. Qua sự thực hành nầy, bạn sẽ nhận ra giá trị của ḷng từ bi và lân mẫn cho sự b́nh an tâm hồn của bạn. Sau hết, cho dù bạn có thể không quan tâm đến người khác, bạn rất quan tâm đến chính bạn - điều nầy không phải nói nhiều – do đó bạn phải muốn có được một tâm thức b́nh an và một đời sống hàng ngày hạnh phúc hơn. Nếu bạn thực tập nhiều hơn về ḷng lân mẫn và tính vị tha, bạn sẽ t́m thấy b́nh an nhiều hơn. Không cần phải thay đổi đồ đạc trong nhà hoặc đổi sang một ngôi nhà khác. Hàng xóm của bạn có thể rất ồn ào hay rất khó khăn, nhưng bao lâu mà tâm hồn bạn có sự ḥa dịu và an b́nh, những người hàng xóm của bạn sẽ không quấy rầy bạn nhiều. Tuy nhiên, nếu bạn dễ sinh cáu, ngay cả bạn thân của bạn viếng thăm, bạn cũng không thể thật sự vui vẻ. Nếu bạn an tĩnh, ngay cả kẻ thù cũng không thể quấy rầy bạn.

Đó là lư do tôi nói rằng nếu bạn thật sự ích kỷ, bạn nên là người ích kỷ thông minh.Với cách nầy, bạn có thể làm đầy động cơ ích ích kỷ để trở nên hạnh phúc. Điều đó tốt hơn nhiều so với sự quy hướng vào bản thân hoặc ích kỷ một cách điên rồ, không đưa đến kết quả nào.

 

Quán Tưởng

 

Kỹ thuật quán tưởng sau đây rất có ích cho việc tu tập hằng ngày:

  1. Giữ tâm hồn b́nh tỉnh và phân biện
  2. Trước mặt về phía trái, quán tưởng một con người khác của bạn là một khối cứng quy hướng vào tự thân đầy tính bản ngă, một loại người làm bất cứ việc ǵ để thỏa măn sự mong muốn.
  3. Trước mắt về phía phải, quán tưởng một nhóm người nghèo nàn không quan hệ ǵ đến bạn, bao gồm những người thiếu thốn, đói khát, đau khổ.
  4. Giữ b́nh tĩnh, không thiên vị khi quan sát hai h́nh ảnh nầy. Bây giờ, hăy suy nghĩ, “Cả hai đều muốn hạnh phúc. Cả hai đều muốn từ bơ đau khổ. Cả hai đều có quyền thưc hiện những mục đích nầy.”
  5. Nhận thức điều nầy: Chúng ta thường làm việc kiên tŕ và chịu khó để được lương bỗng cao hơn, hoặc chúng ta tiêu xài nhiều tiền trong niềm hy vọng thâu đưọc nhiều hơn; chúng ta muốn làm một sự hy sinh tạm thời để có được sự gặt hái lâu dài. Cùng một lư luận, hoàn toàn có ư nghĩa để một cá nhân duy nhất hy sinh để giúp đỡ cho sự tốt đẹp rộng răi hơn. Một cách tự nhiên, tâm thức của bạn sẽ nghiêng về phía có nhiều người đau khổ hơn.

Là một người quan sát không thiên vị, hăy nh́n cái tánh ích ích kỷ ở đó, bên phải bạn, từ chối sự ích lợi của số động, bất kể họ đau khổ như thế nào. Đơn giản là không có ǵ tốt khi làm như vậy. Mặc dù cả hai phía mà bạn quán tưởng đều có  quyền được hạnh phúc như nhau, không thể nào từ bơ sự cần thiết cao hơn của số đông. Vấn đề là chính bạn phải phục vụ và giúp đỡ những chúng sinh khác.

Trạng thái tâm thức nầy không chối cải là khó khăn, nhưng nếu bạn thực hành với ḷng quyết tâm lớn, năm nầy qua năm khác, tâm thức của bạn sẽ thay đổi, sẽ tiến bộ. Vào giữa thập niên sáu mươi, giảng một bài pháp về Những giai đoạn trên Con đường đưa đến Giác ngộ của Tsongkhapa, lúc đó tôi có đề cập rằng nếu tôi đạt được cấp độ đầu tiên của sự chấm dứt chân thật các phiền năo, tôi sẽ nghỉ ngơi dài hạn. Ngay cả khi chiêm nghiệm về đức vị tha, tôi nghĩ rằng điều đó rất khó mà phát triển. Sau đó vào khoảng 1967, tôi nhận sự giáo huấn của vị Lama phái Kayu tên là Kunu Tenzin Gyelsen về cuốn luận Một Hướng Dẫn Bồ Tát Đạo của Shantideva và bắt đầu suy nghĩ nhiều hơn về ư nghĩa của nó, cùng với luận Bảo Tràng của ngài Long Thọ. Cuốui cùng, tôi thâu thập được một số tự tin mà khi có đủ thời giờ tôi có thể phát triển mức độ cao đó của ḷng từ bi. Hiện tại, bắy đều từ khoảng năm 1970, mỗi buổi sáng khi tôi quán tưởng về ḷng vị tha, tôi khóc. Điều nầy cho thấy sự chuyển đă xảy ra như thế nào. Tôi không đ̣i hỏi phải thực hiện việc phát triển tâm vị tha ở mức độ cao cấp nầy, nhưng tôi tin tưởng rằngtôi có th63 thực hiện.

Ngay cả khi kinh nghiệm của bạn về động năng vị tha chỉ khiêm nhường thôi, nó tuyệt đối cho bạn sự an b́nh nội tâm. Phát triển ḷng quan tâm đến người khác có một sức mạnh lớn lao để chuyển hóa tâm thức bạn. Nếu bạn thực hành ḷng từ bi trong việc lo85t ích tất cả chúng sanh – bao gồm cả thú vật – công đức cũng lớn lao như vậy đến với bạn.

 

NHẬN THỨC TRÁCH NHiỆM CỦA CHÚNG TA

Nếu trong tạm thời bạn không thể phát triển mức độ thương yêu người khác hơn bản thân ḿnh, ít nhất bạn có thể bắt đầu thấy rằng không có quyền bỏ mặc người khác. Chúng ta có thân thể của một con người và sức mạnh của khả năng suy xét của con người, nhưng nếu chúng ta chỉ sử dụng chúng cho những mục đích quy hướng bản thân, và không v́ sự lợi ích của kẻ khác, chúng ta chẳng có ǵ hơn loài súc vật. Trong thực tế, những con kiến, chẳng hạn, làm việc một các không ích kỷ cho cộng đồng; chúng ta là con người đôi khi thật không bằng. Chúng ta được coi như là những chúng sanh cao cấp hơn, do đó chúng ta phải hành động thích hợp với cá ngă cao hơn của chúng ta.

Nếu chúng ta nh́n vào lịch sử thế giới, phần lớn những thảm kịch lớn lao nhất tạo ra sự chết chóc khủng khiếp đều được tạo ra do loài người. Con người tạo ra t́nh trạng hổn độn. Ngày nay, hàng triệu người sống trong sự sợ hăi do những mâu thuẩn về ḍng giống, chủng tộc, kinh tế. Ai là người chịu trách nhiệm cho sự sợ hăi nầy? Không phải là loài vật. Những  hậu quả của chiến tranh có cả sự chết chóc của thú vật, nhưng điều nầy chẳng làm bận tâm chúng ta; chúng ta chỉ quan tâm đến chúng ta. Người ta đă nói nhiều đến việc chấm dứt chiến tranh, nhưng chúng ta phải vượt xa hơn ước vọng. Cái ǵ là giá trị con người khi chúng ta sống mà không chứng tỏ ḷng từ bi, không chứng tỏ sự quan tâm, chỉ giết và ăn thú vật, và đánh nhau, giết hại hàng ngàn người? Làm sạch sự hổn độn nầy la trách nhiệm của chúng ta.

Ngày nay, một trong những cách liên lạc tốt nhất là máy truyền h́nh. Người ta truyền bá trên truyền h́nh và muốn thực hành tư tưởng cao thượng về việc chăm sóc người khác có thể có được hiệu quả lớn lao. Mặc dù những câu truyện về trộm cướp, giết người để cho chúng ta sự giải trí, chúng có những ảnh hưởng xấu sâu xa trong tâm thức. Chúng ta không cấn loại giải trí nầy trong mọi lúc - mặc dù việc nầy không phải là việc của tôi.

Chúng ta có thể dạy trẻ con của chúng ta việc thực hành ḷng từ bi. Thầy giáo và phụ huynh có thể truyền cho trẻ con những giá trị chân thật, đầy sự ấm áp của con người để có được những lợi ích lớn lao.

 

QUYẾT ĐỊNH GIÁC NGỘ

Một khi bạn đă có sự mong muốn sâu xa làm bất cứ việc ǵ có thể được để thoát khỏi đau khổ và nhổ tận gốc những nguyên nhân của chúng, và giúp tất cả chúng sanh đạt được hạnh phúc và những nguyên nhân của chúng, hăy suy tư về cách thức làm thế nào để có thể thực hiện việc nầy. Nó chỉ có thể xảy ra nếu người khác cũng hiểu được làm thế nào để việc nầy có thể có được, và thực hành những phương pháp tu tập. V́ vậy, sự hứa hẹn của bạn thực hiện sự lợi ích lớn nhất cho kẻ khác có thể được được giúp đỡ tốt nhất bằng cách dạy họ làm sao thực hành và thái độ nào nên tử bỏ, để cho chính họ có thể có được sức mạnh đạt được hạnh phúc và từ bơ đau khổ. Không có cách nào khác. Để việc nầy có thể xảy ra, chính bạn phải biết khuynh hướng và sở thích của họ cũng như dạy họ cái ǵ.

Như vậy, để giúp đỡ kẻ khác, bạn cần phải được chuẩn bị đầy đủ. Những chuẩn bị đó là ǵ? Bạn phải xóa sạch tất cả những chướng ngại trong tâm thức bạn để biết tất cả những ǵ có thể được biết. Điều mà những hành giả từ bi - được gọi là Bồ Tát - thật sự muốn không phải chỉ là vượt qua những cản trở trên con đường giải thoát cho cá nhân họ; họ muốn dọn sạch con đường đưa đến toàn tri từ đó họ có thể hiểu được những khuynh hướng và nhận ra rơ phương pháp nào có thể giúp họ. Nếu phải chọn lựa, Bồ Tát sẽ chọn con đường dọn sạch những chướng ngại dẫn đến toàn tri trước nhất. Tuy nhiên, những động năng phiền năo (làm cho chúng ta bị nhốt trong sinh tử luân hồi) thiết lâp những chướng ngại trên con đường toàn tri, là những thiên hướng trong tâm thức làm cho các hiện tượng hiện ra như chúng là những hiện hữu vốn có. Đầu tiên, không vượt qua động năng phiền năo chủ chốt - sự vô minh tin tưởng vào sự hiện hữu vốn có - bạn không thể vượt qua những thiên hướng được đặt vào tâm thức do sự vô minh. Qua sự tịnh hóa những cản trở gây đau khổ cũng như những thiên hướng do chúng thiết lập, bạn có thể chuyển hóa tâm thức bạn thành một tâm thức toàn tri của Đức Phật, gíac ngộ hoàn toàn.

Tóm lại, để đem đến sự hạnh phúc hoàn toàn cho kẻ khác, bạn cần phải giác ngộ. Khi bạn hiểu điều nầy và cố gắng t́m cầu giác ngộ với mục đích làm ích lợi, việc nầy được gọi là tâm bồ đề, tâm hướng đến sự gác ngộ v́ kẻ khác. Bằng cách thực hành phương pháp tu tập của Santideva, thấy ḿnh và người khác b́nh đẳng trong sự cố gắng t́m cầu hạnh phúc, và rồi chuyển sự chú tâm vào những mục đích cá nhân sang người khác mà số lượng là không cùng, bạn có thể làm phát triển sức mạnh của tâm bồ đề trong bạn.

Có ba loại thái độ vị tha được thấy trong ba loai người. Loại nhứ nhất giống như một vị vua, muốn đạt đến Phật Tánh trước, như là một cách thức có hiệu quả nhất trong việc giúp đỡ kẻ khác. Thứ hai giống như một người lái thuyền, muốn đi đến bờ giác ngộ cùng với những người khác. Thứ ba giống như người chăn cừu, muốn tất cả những người khác đạt được Phất Tánh trước, trước khi họ được giác ngộ.

Hai loại sau chỉ chứng tỏ một thái độ từ bi của một số hành giả; trong thực tế không có trường hợp giống như thuyền nhân, tất cả mọi người giác ngộ cùng lúc, cũng không giống như người chăn cừu, mọi người giác ngộ trước. Hơn nữa, giác ngộ luôn luôn đến trong cách thức đầu tiên, giống như một vị hoàng đế, bởi v́ các vị Bồ Tát quyết định giác ngộ càng nhanh càng tốt để các ngài có thể giúp chúng sanh có hiệu quả hơn trong phạm vi rộng lớn. Như vị Thánh Tây Tạng Sakya Pandita dạy trong cuốn Phân Biệt Giữa Ba Nguyện, các vị Bồ tát có hai loại nguyện, những nguyện có thể được thành tựu và những nguyện không thể. Trong cuốn Hướng Dẫn Về Bồ Tát Hạnh của ngài Shantideva có rất nhiều dẫn chứng về những nguyện trong thực tế không thể đạt được nhưng dùng để phát triển một ư chí và quyết định mạnh mẽ. Ví dụ, thực hành việc xả bơ hạnh phúc riêng và nhận lănh những những khổ đau của người khác là việc không thể có, ngoại trừ những h́nh thức thứ yếu của khổ. Sự thực hành nầy, mặc dù không thực tế, có mục đích làm tăng trưởng ḷng can đảm của từ bi, những sự so sánh với người lái thuyền và người chăn cừu dùng để nói lên sức mạnh trong ư muốn giúp người khác của các vị Bồ tát.

Tôi xin cử ra một ví dụ về sự hiến dâng đó đă dẫn đến mức độ chứng nghiệm sâu xa. Có một hành giả học giả ở chùa Drashikyil trong một tỉnh thuộc vùng Tây Bắc Tây Tạng tên là Amdo. Vào năm 1950 khi những người Cộng sản Trung hoa xâm lăng và bắt giữ từ một ngàn trong số ba ngàn vị sư ở chùa, một trăm vị đó được lưu ư là sẽ bị giết. Ngài là một trong một trăm người nầy. Khi bị đem ra băi bắn, và ngay trước khi bị bắn, ngài cầu nguyện:

Cầu nguyện cho tất cả những hành vi ác, những nghiệp chướng và những đau khổ của chúng sanh

Đếu chuyển qua tôi, không ngoại trừ ai, trong giờ phút nầy,

Và niềm hạnh phúc và công đức của tôi được gởi đến cho những người khác.

Nguyện tất cả chúng sanh tràn ngập trong hạnh phúc!

Ngay giờ phút trước khi bị giết, ngài đă giữ được tinh thần để nhớ đến việc nhận lănh sự khổ đau của người khác và cho đi hạnh phúc riêng tư của ḿnh! Trong những lúc không có ǵ xảy ra th́ nói đến việc tu tập nầy không ǵ khó khăn, nhưng ngài đă thực hành nó trong những thời điểm khó khăn nhất. Đó là một chứng minh rơ ràng về việc đạt một mức độ tâm linh nào đó từ sự thực hành lâu dài việc nầy.

*    *    *

 Như Santideva dạy trong cuốn Hướng Dẫn Thực Hành Bồ Tát Hạnh, nếu một người mù t́m thấy một viên ngọc trong một đống rác, bà sẽ vô cùng trân trọng nó. Nếu giữa đám rác của tham, sân, si - những t́nh cảm gieo khổ đau cho tâm thức của chúng ta và thế giới – chúng ta phát triển một đức tính từ bi, chúng ta sẽ yêu quí nó như một viên ngọc. Sự khám phá quí giá nầy có thể cho chúng ta sự hạnh phúc và an b́nh thật sự. Những sự lựa chọn như đi nghỉ hè hay sử dụng ma túy chỉ đem đến một sự xoa dịu tạm thời. Một thái độ kỹ luật về ḷng quan tâm đến người khác, ở đó bạn yêu mến người khác hơn chính ḿnh, sẽ có ích lợi cho cả bản thân bạn và người khác. Nó không tác hại đến ai, dù tạm thời hay dài lâu. Từ bi là một viên ngọc vô giá.

Quan tâm đến người khác trong mọi lúc. Nếu bạn không thể giúp đỡ người khác, hăy đừng làm tổn hại đến họ. Đây là ư nghĩa nền tảng của việc giữ giới.

 

TÓM TẮT VỀ VIỆC TU TẬP HẰNG NGÀY

 

Hằng ngày, quán tưởng năm bước đă được tŕnh bày ở trước:

  1. Giữ tâm thức định tĩnh và sáng suốt
  2. Trước mặt bạn về phía phải, quán tưởng một h́nh ảnh của chính bạn, vị kỷ và hướng ngă.
  3. Trước mặt bạn về phía trái, quán tưởng một nhóm người nghèo khó, những chúng sinh đau khổ không liên quan ǵ đến bạn, không bạn cũng không thù.
  4. Quan sát hai phía nầy từ một sự định tĩnh. Bây giờ hăy suy nghĩ, “Cả hai đều muốn được hạnh phúc. Cả hai đều muốn diệt trừ khổ đau. Cả hai đều có quyền thực hiện những mục tiêu nầy.”

            

  1. Hăy nhận định rằng: Thường thường chúng ta muốn hy sinh những lợi ích tạm bợ cho những lợi ích dài hạn lớn hơn, do đó để làm lợi ích cho cho những chúng sanh đang đau khô có số lượng nhiều hơn ở bên trái quan trọng hơn rất nhiều so với một người duy nhất ích kỷ ở bên phải. Để ư, tâm thức bạn sẽ hướng về phía đa số một cách tự nhiên.

 

 

sen 5 OK2