B15-JsLo OK

 

ĐỂ SỐNG ĐỜI SỐNG CÓ Ư NGHĨA

 

Dalai Lama

 

Nguyên Hảo (Thị Giới) dịch

 

dalai lama

8.

 

CÁCH THẾ HIỆN  HỮU

CỦA CÁC LOÀI HỮU T̀NH VÀ VÔ T̀NH

 

NH̀N QUA VỀ TRÍ TUỆ TRONG VIỆC THỰC HÀNH TÂM LINH

Để phát triển loại t́nh yêu và từ bi thúc đầy bạn t́m cầu Phật tánh, không phải cho bản thân mà v́ lợi ích cho kẻ khác, trước tiên bạn phải đối diện với sự khổ bằng cách nhận diện các loại của khổ. Đó là chân lư đầu tiên. Từ lúc chúng ta sinh ra cho đến khi chết, chúng ta phải chịu đau khổ về thể xác và tinh thần, sự khổ về bién dịch, và khổ v́ bị điều kiện hóa. Chân lư cao thượng thứ hai và thứ ba dẫn chúng ta đến sự hiểu biết về nguyên nhân của khổ và cho chúng ta biết những nhân nầy có thể được tiêu diệt hay không. Nguyên nhân nền tảng của khổ là vô minh – sự hiều hiểu lầm rằng chúng sanh và sự vất có sự hiện hữu cố hữu. Chương nầy sẽ tŕnh bày cho chúng ta thấy rằng chúng sanh và sự vật thất sự không hiện hữu theo cách mà chúng ta tưởng.

Tất cả chúng ta đều có một cảm thức có giá trị và thích đáng về ngă, hay “cái ta,” nhưng rồi chúng ta lại có thêm một một sự sự hiểu lầm rằng “cái ta” hiện hữu cố hữu. Dưới ảnh hưởng của ảo tưởng nầy, chúng ta thấy cái ta có sự hiện hữu dưới dưới sức mạnh của chính nó, được thiết lấp bằng bản chất riêng của nó, có khả năng gầy dựng nên chính nó. Cảm thức về sự hiện hữu vốn có nầy có thể mạnh đến nỗi cái ta cảm tưởng rằng nó hiện hữu độc lập ngoài tâm hồn và thể xác. Ví dụ, nếu bạn yêu đi v́ bịnh, bạn co 1thể cảm tưởng rằng bạn có thể thay đổi thân thể với một người mạnh  khỏi hơn. Tương tự, khi tâm bạn đần độn, bạn có thể có cảm tưởng rằng bạn có thể đổi tâm với tâm của một người khác sắc bén hơn.

Tuy nhiên, nếu có một cái Ta riêng rẽ như vậy – tự thiết lập và hiện hữu theo cách thể riêng của nó – nó phải càng ngày càng rơ ràng hơn dưới ánh sáng của sự phân tích xem nó hiện hữu như là tâm hay thân, hoặc sự tập hợp của tâm và thân, hoặc khác tâm và thân. Thật sự, càng nh́n gần hơn, nó càng không được t́m thấy. Điều nầy áp dụng cho tất cả mọi thứ, mọi hiện tượng. Sự việc là bạn không thể t́m thấy chúng có nghĩa là những hiện tượng đó không hiện hữu dượi sức mạnh riêng của nó, chúng không tự thiết lập.

Đôi khi, trong giai đoạn trên sáu mươi gần bảy mươi tuổi, khi tôi suy tư về một đoạn văn của Tsongkhapa, về khả năng không nhận thấy và sự việc rằng hiện tượng tùy thuộc vào sự khái niệm, nó giống như một luống sáng chảy qua ngực tôi. Đây là đoạn văn:

Một sợi dây có màu lốm đốm và cuộn lại giống như một con rắn, và khi khi sợi dây được nh́n trong ánh sáng lờ mờ, tư tưởng khởi lên là “Đây là một con rắn”. Về phần sợi dây, trong lúc đó, sự tập hợp và các bộ phận không có chút xíu nào là rắn. V́ vậy, con rắn đó chỉ được thiết lập do khái niệm. Cũng tương tự, khi ư niệm “Tôi” khởi lên, trong sự liên hệ với tâm và thân - không có sự tập hợp kết nối liên tục những khoảnh khắc trước và sau, không có tập hợp của những phần tử cùng một lúc, cũng không có những phần tử riêng rẽ, cũng không có sự tiếp nối liên tục của các phần tử riêng lẻ - có tí xíu ǵ là “Tôi.” Cũng không có chút xíu là một tồn tại khác tâm và thân được nhận là “Tôi.” Rốt cuộc là, cái “Tôi” chỉ được thiết lập do khái niệm dựa vào tâm và thân; nó không được thiết lập từ sự hiện hữu riêng biệt của nó.

Ảnh hưởng kéo dài trong một khoảng thời gian, và trong vài tuần lễ sau đó khi tôi thấy người ta, họ giống như những sự ảo hoá của một nhà huyền hóa trong đó họ giống như hiện hữu thực sự nhưng tiôi biết rằng họ không hiện hữu thật sự. Kinh nghiệm đó, giống như một tia sáng lóe trong tim tôi, gần giống như ở mức độ có gí trị hoàn toàn và là một thể nghiệm hiển nhiên. Đó là lúc mà sự hiểu biết của tôi về sự chấm dứt khổ thật sự có thể thực hiện. Ngày nay, tôi luôn luôn tham thiền về tánh không vào buổi sáng và đem kinh nghiệm đó vào những hoạt động trong ngày. Chỉ suy nghĩ hay nói “Tôi” như trong câu “Tôi sẽ sẽ làm việc đó việc đó” sẽ thường gây ra cảm giác. Nhưng tôi vẫn không thể cho rằng ḿnh hoàn toàn hiểu về tánh không.

Một ư thức nhận thức sự hiện hữu bản hữu không có một nền tảng có giá trị. Mọi ư thức thông mininh, thiết lập trên thực tại, hiểu rằng chúng sanh và những hiện tượng khác – tâm, thân, nhà cửa, và những thứ khác – không hiện hữu cố hữu. Đó là trí tuệ về tánh tánh không. Hiểu biết về thực tại hoàn toàn đối nghịch lại với việc hiểu lầm về một sự hiện hữu bản hữu, trí tuệ dần dần vượt khỏi vô minh.

Loại trừ sự vô minh nhận thức sai lầm về hiện tượng hiện hữu cố hữu và để ngăn cản sự phát sinh của những phiền năo như tham lam và giận ghét. Như vậy, sự đau khổ cũng có thể được trừ khử. Thêm vào đó, trí tuệ về tánh không phải đi với động cơ quan tâm sâu xa đến người khác (và với những việc làm từ bi nó hướng đến) trước khi nó có thể giải tỏa những chướng ngại trên con đường đạt đến sự toàn tri, là những khuynh hướng thiên về sự xuất hiện sai lầm của hiện tượng – ngay cả ư thức – coi chúng như hiện hữu một cách cố hữu. V́ vậy, sự thu tập toàn bộ tâm linh đưa đến việc rèn luyện trí tuệ gắn liền với đại bi và ư hướng đạt đến sự giác ngộ ở đó những người khác có giá trị hơn chính bản thân ḿnh. Chỉ khi đó ư thức chúng ta mới chuyển hóa để trở nên toàn tri của một Đức Phật.

 

VÔ NGĂ

Cả người Phật tử và không Phật tử đều thực hành tham thiền để đạt được niềm vui và giải trừ đau khổ, và cả trong hệ thống Phật giáo và không Phật giáo, cái ngă là trọng tâm trong việc t́m hiểu. Có một số hệ thống không Phật Giáo tin vào việc tái sinh chấp nhận có trạng thái chuyển tiếp của tâm và thân. Nhưng họ tin vào cái ngă hằng hữu, không thay đổi, và nhất thể. Mặc dù các trường phái Phật Giáo chấp nhận tái sinh, họ quan niệm rằng không có cái ngă cứng chắc như vậy. Đối với người Phật tử, chủ điểm chính trong việc tu tập trí tuệ là tánh không, có nghĩa là sự không hiện diện của một cái ngă vĩnh hằng, nhất thể, và độc lập, hay nói môt cách vi tế hơn, sự vắng bóng của một sự hiện hữu cố hữu cả nơi các loài hữu t́nh cũng như các hiện tượng.

HAI CHÂN LƯ

Để hiểu được vô ngă, bạn cần hiểu tất cả các sự vật hiện hữu bao gồm trong hai nhóm gọi là hai chân lư (nhị đế): giả lập và cứu cánh. Những hiện tượng mà chúng ta thấy và quan sát chung quanh chúng ta có thể đi từ tốt sang xấu, hoặc từ xấu sang tốt, tùy thuộc vào nhiều nguyên nhân và trợ duyên. Nhiều hiện tượng không thể nói được là tốt hay xấu một cách cố hữu; chúng khá hơn hoặc tệ hơn, cao hay thấp, đẹp hay xấu chỉ qua sự so sánh, không phải do bản chất của chúng. Giá trị của chúng là tương đối. Từ đó bạn có thể thấy rằng có một sự khác nhau giữa cách thế các sự vật hiện ra và sự thật về chúng. Ví dụ, một sự vật có thể - theo cách thế xuất hiện của nó – có vẻ tốt, nhưng, v́ bản chất nội tại khác nhau, nó có thể trở thành xấu khi bị ảnh hưởng bởi những điều kiện. Thực phẩm nh́n thấy rất tốt trong một tiệm ăn có thể không tốt mấy trong dạ dày. Đó là một dấu hiệu rơ ràng về sự khác nhau giữa sự thể hiện và thực tại.

Những hiện tượng nầy được gọi là chân lư giả lập (tục đế); chúng được hiểu với ư thức không đi xa hơn những thể hiện ra bề ngoài. Nhưng cùng những sự vật đó có một cách thế hiện hữu ở bên trong, được gọi là chân lư cứu cánh (chân đế), nó gồm cả những thay đổi do các điều kiện tạo ra. Một ư thức thông minh, không thỏa măn với chỉ những hiện tượng, phân tích để t́m xem sự vật có hiện hũu một cách cố hữu như là chúng có vẻ như vậy nhưng khám phá ra sự vắng bóng của một sự hiện hữu cố hữu; t́m thấy một sự rỗng không về sự hiện hữu nội tại bên sau những sự thể hiện.

Rỗng không cái ǵ?

Tánh không, hay vô ngă, chỉ có thể được hiểu nếu trước hết chúng ta nhận ra được hiện tượng rỗng không cái ǵ. Không hiểu cái ǵ được phủ định, bạn không thể hiểu sự hiện diện của nó, tánh không. Bạn có thể nghĩ rằng tánh không là không có ǵ hết, nhưng không phải như vậy. Chỉ đọc thôi khó nhận ra và hiểu được đối tượng phủ định, điều mà các kinh luận Phật Giáo nói đến như nền tảng chân thật hoặc sự hiện hũu cố hữu. Nhưng qua một thời gian, khi các bạn khảo sát thêm những ǵ các bạn đọc, sự sai lầm trong cách

Đức Phật đă nhiều lần nói rằng v́ tất cả mọi hiện tượng đều khởi lên trong sự tương quan, chúng có tính cách tương đối - sự hiện hữu của chúng tùy thuộc vào những nguyên nhân và điều kiện khác và tùy thuộc vào những phần tử của chính chúng. Một chiếc bàn gỗ chẳng hạn không hiện hữu một cách độc lập; thay v́ vậy, nó tùy thuộc vào rất nhiều nguyên nhân như cây, người thợ tạo ra nó, và nhiều thứ khác; nó cũng tùy thuộc vào những thành phần của nó. Nếu một chiếc bàn gỗ hoặc một hiện tượng nào đó thật sự không tùy thuộc - nếu nó được tạo nên bằng quyền của riêng nó – th́ khi các bạn phân tích nó, sự hiện hữu của nó trong quyền của riêng nó sẽ trở thành rơ ràng hơn, nhưng không phải như vậy. Lư luận nầy của Phật Giáo được soi rọi bằng khoa học. Các nhà vật lư hiện đại tiếp tục khám phá ra những phần tử nhỏ hơn và nhỏ hơn của vật chất, nhưng họ vẫn chưa thể hiểu bản chất tối hậu của nó là ǵ. Hiểu về tánh không lại càng sâu xa hơn.

Bạn càng nh́n sâu vào cách thế tâm thức vô minh tưởng tượng ra sự hiện hữu của hiện tượng, th́ bạn càng nhận ra rằng hiện tượng không hiện hữu theo cách thế đó. Tuy nhiên, bạn càng nh́n sâu vào điều mà một tâm thức thông minh nhận hiểu, bạn càng tin chắc vào sự không có một sự hiện hữu cô hữu. Tham và sân bị chi phối bởi vô minh, và v́ vậy không thể được triển khai một cách vô giới hạn.

 

Các sự vật có hiện hữu hay không?

Như dă nói, v́ một hiện tượng không thể được t́m thấy khi nh́n qua sự phân tích, bạn có thể tự hỏi các hiện tượng nầy có sự hiện hữu nào hay không. Tuy nhiên, từ kinh nhiệm trực tiếp, chúng ta biết rằng con người và sự vật tạo ra sự sung sướng và đau khổ, và chúng có thể có ích hay gây tác hại.  Do đó, hiện tượng chắc chắc có hiện hữu; câu hỏi là hiện hữu như thế nào. Chúng không hiện hữu tự chính chúng, nhưng chỉ hiện hữu tùy thuộc vào nhiều tác nhân, trong đó có một ư thức để có khái niệm về chúng.

Một khi chúng hiện hữu nhưng không hiện hữu một cách tự tại, chúng phải hiện hữu tùy thưộc vào khái niệm. Tuy nhiên, khi hiện tượng hiện ra trước chúng ta, chúng không có một chút nào tỏ ra là đang hiện hữu theo cách đó. Thay v́ vậy, chúng dường như được thiết lập một cách tự tại, từ mặt đối tượng, không tùy thuộc vào ư thức khái niệm.

Khi thực tập để phát triển trí tuệ, bạn cố gắng phân tích để t́m thấy sự hiện hữu nội tại của bất cứ đối tượng bạn lưu tâm đến - bản thân các bạn, người khác, cơ thể các bạn, tâm ư các bạn, hay sự vật ǵ khác. Các bạn phân tích không chỉ ở bề ngoài nhưng ở bản chất nội tại của sự vật. Việc phân tích đó không dẫn bạn đến kết luận rằng sự vật không hiện hữu; nhưng bạn sẽ thấy rằng sự hiện hữu tự hữu của sự vật đó không có cơ sở. Sự phân tích không đưa đến việc chối bơ sự hiện hữu của sự vật. Hiện tượng thật sự có hiện hữu nhưng không hiện hữu theo cách chúng ta nghĩ.

Điều c̣n lại sau khi phân tích là hiện tượng hiện hữu một cách tùy thuộc. Ví dụ, khi bạn quan sát thân thể của bạn, sự hiện hữu tự hữu của nó bị phủ nhận, nhưng cái c̣n lại là một thân thể tùy thuộc vào tay chân, ḿnh và đầu.

 

Nếu hiên tượng là rỗng không, chúng có thể hoạt động hay không?

Khi suy nghĩ về các sự vật, chúng ta có tin tưởng một cách sai lầm rằng chúng hiện hữu một cách tự tại không? Không. Chúng ta có thể tiếp nhận hiện tượng theo ba cách thế.  Chúng ta hăy xem một cái cây.

  1. Chúng ta có thể nghĩ rằng cái cây hiện hữu một cách bản hữu, tự tại.
  2. Chúng ta có thể nghĩ rằng cái cây không có sự hiện hữu bản hữu.
  3. Chúng ta có thể nhận ra cái cây không cần nghĩ rằng nó có hiện hữu một cách tự hữu hay không.

Cách nhận thức đầu tiên là sai lầm. Hai cách nhận thức sau đều đúng, cho dù cách thể hiện là sai lầm trong cách nh́n thứ hai và thứ ba, ở đó cái cây hiện ra như là hiện hữu một cách bản hữu.

Nếu các sự vật không hiện hữu một cách tự tại, có phải có nghĩa là chúng không thể hoạt động? Nếu kết luận rằng v́ bản tánh thật sự của các sự vật là không, do đó chúng không thể thực hiện các chức năng như tạo ra sự vui sướng, đau khổ, hoặc có ích hay gây hại, là một sự hiều lầm lớn lao, đó là chấp vào quan điểm hư vô. Như ngài Long Thọ nói trong cuốn Tràng Hoa Quí, một người chấp không chắc chắn sẽ có một sự tái sinh xấu, trong khi một người tin có sự hiện hữu tự hữu, mắc dù cũng sai lầm, sẽ có sự tái sinh tốt đẹp.

Tôi xin được giải thích. Các bạn cần có niềm tin vào những kết quả của những hành động để chọn lựa đức hạnh trong đời sống và từ bỏ những điều không có đạo đức. Tạm thời, quan điểm tinh tế về việc không có sự hiện hữu bản hữu có thể quá khó hiểu đối với các bạn, nếu không bị rơi vào các bẫy chấp không, các bạn có thể hiểu là những hiện tượng khởi lên phụ thuộc vào những nguyên nhân và điều kiện (duyên khởi). Để giúp có sư tiến bộ về tâm linh của các bạn, tốt hơn nên để việc cố gắng t́m hiểu sâu về tánh không qua một bên. Ngay cả khi bạn hiểu một cách sai lạc rằng các hiện tượng hiện hữu một cách cố hữu, bạn vẫn có thể khai triển sự một hiểu biết về duyên khởi và áp dụng sự hiểu đó vào việc tu tập. Đó là lư do ngay cả Đức Phật, trong một số trường hợp, cũng dạy rằng chúng sanh và các hiện tượng hiện hữu một cách cố hữu. Những lời dạy nầy là tư tưởng trong các kinh điển của Đức Phật, nhưng chúng không phải là những tư tưởng sau cùng của  ngài. Với những mục đích đặc biệt, đôi khi ngài dạy theo những phương pháp không phải là cứu cánh tối hậu.

 

Ư Thức Sai Lầm Theo Cách Nào?

Bởi v́ mọi hiện tuợng dường như hiện hữu một cách tự tại, tất cả sự nhận thức hằng ngày của chúng ta đều sai lầm. Chỉ khi nào tánh không được nhận thấy một cách trực tiếp trong khi thiền định hoàn toàn tập trung th́ không có sự hiển lộ sai lầm. Lúc đó, tính nhị nguyên của chủ thể và đối tượng biến mất; chỉ tánh không hiển lộ. Sau khi các bạn ra khỏi thiền định, chúng sanh và sự vật lại hiện ra một cách sai lạc trong cách hiện hữu ở bên trong và từ chính chúng, nhưng qua sức mạnh của việc đă thể nghiệm về tánh không, bạn sẽ nhận thấy khác biệt giữa sự hiển lộ và thực tại. Qua thiền quán, bạn đă nhận diện cả hai cách hiển lộ sai lầm và cách hiểu sai lầm.

 

* * *

 

Chúng ta hăy quay trở lại điểm trung tâm: Tất cả chúng ta có một cảm nận về “Cái Ta” nhưng chúng ta cần nhận thấy rằng nó chỉ được ấn định trong sự phụ thuộc vào tâm và thân. Cái vô ngă mà Phật Giáo nói đến chỉ vào sự vắng mặt của một cái ngă thường c̣n, toàn bộ, và độc lập, hoặc, một cách tế nhị hơn, nó có thể chỉ vào sự vắng bóng của một sự hiện hữu bản hữu của bất cứ hiện tượng nào. Tuy nhiên, người Phật tử chấp nhận sự hiện hữu của một cái ngă thay đổi từng khoảnh khắc, được ấn định trong sự phụ thuộc vào chuổi liên tục của tâm và thân. Tất cả chúng ta đều có cảm nhận có giá trị về “cái ngă” nầy. Khi người Phật tử nói về giáo lư vô ngă, chúng ta không nói đến sự không hiện hữu của cái ngă nầy. Với “cái ngă” nầy, tất cả chúng ta muốn một cách hợp lư được hạnh phúc và không bị khổ đau. Chính khi chúng ta phóng đại cảm nhận của chúng ta về chúng ta và những hiện tượng, coi chúng như những thứ hiện hữu một cách cố hữu, mà quá nhiều vấn đề xảy ra cho chúng ta.

 

TÓM TẮT VIỆC THỰC HÀNH HẰNG NGÀY

Là một pháp môn tu tập để nhận thấy sự hiển lộ sai lầm của các sự vật và chúng sanh, thực hành như sau:

  1. Quán sát một món đồ chắng hạn như một chiếc đồng hồ trong một tiệm buôn khi bạn thấy nó lần đầu tiên, rồi quán sát sự thay đổi và trở nên cụ thể hơn trong sự hiển lộ của nó khi bạn dần dần thích thú nó hơn, và sau cùng quán sát cách hiển lộ của nó sau khi bạn đă mua nó và coi nó là của bạn.
  2. Tư duy về cách thế hiển lộ của các bạn trước tâm thức của các bạn như là hiện hữu một cách cố hữu. Sau đó tư duy về cách người khác và thân thể của họ hiển lộ trước tâm thức của bạn.

 

 

sen 5 OK2