B15-JsLo OK

 

ĐỂ SỐNG ĐỜI SỐNG CÓ Ư NGHĨA

 

Dalai Lama

 

Nguyên Hảo (Thị Giới) dịch

 

dalai lama

9.

 

TRUNG ĐẠO

 

SỰ CẦN THIẾT CÓ CẢ ĐỊNH VÀ HUỆ

Các kinh luận Phật Giáo cho chúng ta biết rằng với sự thể hội tánh không, ảo tưởng về sự hiện hữu bản hữu yếu đi, nhưng việc nầy không phải sau một sự thể nghiệm đơn lẻ, ngắn ngủi. Nếu bạn không đạt đến sự tập trung nhất tâm (sự an trú của tâm), bạn không thể sử dụng chỉ sự hiểu biết về tánh không để có thể nhổ tận gốc ảo tưởng về sự hiện hữu bản hữu. Bạn cần phải dấng thân vào việc phân tích và phân tích: qua thiền định, tâm thức bạn sẽ trở nên mạnh mẽ, sâu xa, an định, và có khả năng tập trung nhất tâm vào tánh không – nó dần dần tác động để làm giảm bớt những mức độ thô thiển trong việc nhận thức thực tại.

Đây là lư do mà Kinh điển của Đức Phật cũng như ba môn Mật Giáo cấp thấp đều nói rằng sự trụ tâm (Định) là điều kiện cần có trước khi tu tập quán chiếu (Huệ). Sự tập trung để ổn định tâm thức sử dụng trong việc trụ tâm và sự tập trung phân tích sử dụng trong việc quán chiếu không có sự khác nhau về đối tượng tập trung; cả hai đều có thể lấy tánh không hoặc các đối tượng giả lập khác để làm đối tượng. Sự khác nhau là quán sát tánh không từ sự trụ tâm đ̣i hỏi sự mềm dẻo của thể xác và tinh thần qua sự tập trung an trụ trên tánh không, trong khi quán sát tánh không từ sự quán chiếu đ̣i hỏi sự mềm dẻo của thể xác và tinh thần qua sự tập trung phân tích về tánh không. Mức độ mềm dẻo đó chỉ có thể có được sau khi đạt đến mức độ thoải mái hơn của sự mềm dẻo có được từ sự trụ tâm. Do đó, bạn cần đạt được sự trụ tâm trước khi thực hành quán chiếu.

Mặt dù sự trụ tâm có thể đạt được bằng cách lấy tánh không làm đối tượng, việc nầy chỉ dùng cho những hành giả đă hiểu về tánh không. Thông thường, các hành giả đạt đến trạng thái nhất tâm trước và sau đó đạt đến cái thấy về tánh không qua suy luận phân tích.

 

SỰ CẦN THIẾT CỦA LƯ LUẬN

Tất cả các tông phái Phật giáo đều đồng ư rằng tiến tŕnh phân tích lư luận dẫn đến một sự suy diễn (một nhận thức có tính khái niệm) bắt nguồn từ nhận thức căn bản, chung, trực tiếp. Tôi xin nêu ra một ví dụ về sự lư luận sau đây

Một cái cây không có sự hiện hữu bản hữu v́ nó do nhân dưyên tạo nên.

Bạn bắt đầu suy nghĩ rằng cái cây là do duyên khởi bởi v́ sự tạo ra nó phụ thuộc vào các nguyên nhân và điều kiện (như hạt giống, đất, ánh sáng mặt trời, và nước), nhưng rốt cuộc tiến tŕnh lư luận phải được giúp đỡ bằng nhận thức trực tiếp, hoặc nó không thể đứng vững. Chúng ta có thể thấy bằng mắt rằng những cái cây thay đổi; chúng lớn lên, già, và cuối cùng khô héo. Trong ư nghĩa nầy, sự suy diễn là đui mù, v́ cuối cùng nó phải dựa vào nhận thức trực tiếp. Sự suy diễn phụ thuộc vào lư luận, đến lươt nó, lại dựa trên kinh nghiệm căn bản, chung, không thể lư luận xuyên qua sự nhận thức trực tiếp.

Những đối tượng có thể nhận thức được chia ra làm ba lọai: rơ ràng, hơi khó nhận thấy và rất khó nhận thấy. Để hiểu một vấn đề rất khó nhận thấy, cần phải dựa vào kinh điển, nhưng ngay cả đối với loại nhận thức nầy, chỉ đọc một bộ kinh cũng không đủ để được công nhận đối với bộ kinh khác. Bạn phải phân tích để biết có phải:

-          có mâu thuẩn nào bên trong các kinh điển về vần đề đó

-          có mâu thuẩn nào giữa điều kinh nói về vấn đề đó và điều thấy rơ bằng nhận thức trực tiếp

-          có mâu thuẩn nào giữa điều kinh nói về vấn đề đó và điều có thể hiểu được bằng nhận thức căn bản từ lư luận.

Như vậy, ngay cả trong trường hợp rất khó nhận thấy trên nền tảng kinh điển nầy, sự phân tích cũng là việc cần thiết.

Đức Phật đặt ra bốn điều để thiết lập sự xác tín:

  1. Không dựa vào một người nhưng dựa vào giáo pháp
  2. Về giáo pháp, không dựa vào ngôn từ nhưng vào ư nghĩa
  3. Về ư nghĩa, không dựa vào ư nghĩa đ̣i hỏi giải thích nhưng dựa vào ư nghĩa tối hậu
  4. Về ư nghĩa tối hậu, không dựa vào sự hiểu biết nhị nguyên nhưng dựa vào trí tuệ nhận thức trực tiếp chân lư.

Đức Phật cũng nói:

Giống như vàng ṛng, có thể được đốt, cắt, và đúc

Những lời của ta phải được các thầy tỳ kheo và học giả chấp nhận

Bằng sự phân tích khéo léo

Mà không đánh mất sự tôn kính

Trong tiến tŕnh suy luận, rất có ích lợi khi nhận ra những kết quả vô lư của những quan điểm sai lầm để vượt qua tác động của tư tưởng sai lầm đó, và sau đó đưa ra một chứng cứ. Lúc c̣n trẻ, khi tôi học về luận lư, có lần một vị học giả nói với tôi rằng, cả trong tranh luận (với những người Phật tử cho rằng có sự hiện hữu bản hữu) và trong thiền quán phân tích, có thể sử dụng tam đoạn luận như “Cơ thể của tôi không có sự hiện hữu bản hữu v́ nó là duyên khởi.” Tuy nhiên, nếu sử dụng kết quả vô lư th́ sẽ có tác dụng lớn hơn, như “Theo đó cơ thể tôi không thể là do nhân duyên tựu thành v́ nó hiện hữu một cách bản hữu,” bởi v́ nền tảng của Phật Giáo là tất cả mọi hiện tượng đều do duyên khởi.

 

SỰ TƯƠNG HỢP GIỮA DUYÊN KHỞI VÀ KHÔNG

Đức Phật khi nói ra kinh điển, và ngài Nagarjuna (Long Thọ) và các đệ tử của ngài – Aryadeva (Thánh Thiên), Buddhapalita (Phật Hộ) va Chandrakirti (Nguyệt Xứng) – khi chú giải ư nghĩa của các kinh điển nầy đă sử dụng chân lư các hiện tượng do duyên khởi làm tiền đề tối hậu để thiết lập tánh không. Việc nầy chứng tỏ rằng các hiện tượng một cách tổng quát không phải không hiện hữu và các hiện tượng vô thường có thể thực hiện các chức năng.

Khi Đức Phật dạy bốn chân lư vi diệu, trước tiên Ngài nhận ra được chân lư về khổ, nguồn gốc của khổ, sự chấm dứt khổ và con đường để chấm dứt khổ, và rồi Ngài nói:

Khổ phải được nhận thấy, nhưng không có ǵ để nhận thấy. Tập (nguyên nhân của khổ) phải được từ bỏ, nhưng không có cái ǵ để từ bỏ. Diệt (chấm dứt nguyên nhân của khổ) phải được thực hiện, nhưng không có cái ǵ để thực hiện. Đạo (con đường chấm dứt nguyên nhân của khổ) phải được tư duy, nhưng không có cái ǵ để tư duy.

Ư nghĩa của lời nói trên là mặc dù có những tác nhân trong bốn chân lư vi diệu cần được nhận thấy, từ bỏ, thực hiện và tư duy một cách giả lập (và có giá trị), không có cái ǵ phải được nhận thấy, từ bỏ, thực hiện và tư duy một cách tối hậu. Từ quan điểm thực tại tối hậu tất cả những điều nầy đều là sự hoạt động bên ngoài; tất cả mọi sự đều cùng một vị như nhau trong sự trống không không có hiện hữu bản hữu. Trong cách đó, Đức Phật đưa ra hai loại chân lư – chân lư giả lập (tục đế) và chân lư cứu cánh (chân đế).

Tất cả các hiện tượng - nguyên nhân và kết quả, tác động và tác nhân, tốt và xấu, vân vân - chỉ hiện hữu một cách giả lập, chỉ hiện hữu trên danh nghĩa (giả danh); chúng là duyên khởi. Bởi v́ các hiện tượng dựa vào những tác nhân khác để hiện hữu, chúng không độc lập. Sự không có tính độc lập (tự tại) nầy – hoặc tánh rỗng không về một sự hiện hữu bản hữu – là chân lư cứu cánh của chúng. Bạn sẽ hiểu sự rỗng không thật sự về hiện hữu bản hữu khi bạn không thỏa măn với chỉ những h́nh tướng bên ngoài và dùng phân tích để thăm ḍ vào bên trong.

Khi đă hoàn toàn hiểu về h́nh tướng bên ngoài và tánh không, bạn cũng sẽ hiểu rằng chúng ḥa điệu nhau. H́nh tướng không ngăn ngại tánh không, và tánh không không ngăn ngại h́nh tướng. Không hiểu được điều nầy, bạn có thể tin vào đạo đức, không đạo đức, nhân quả, vân vân, nhưng không thể tin được tánh không. Tương tự, bạn có thể nghĩ rằng bạn hiểu tánh không nhưng rồi không thể tin vào nhân quả - cứu giúp hay làm hại, vui hay khổ - khởi lên tùy thuộc vào các điều kiện. Không có sự hiểu biết đúng, tánh không và h́nh tướng dường như ngăn ngại với nhau.

Tuy nhiên, các hiện tượng không có sự hiện hữu bản hữu bởi v́ chúng phụ thuộc vào những điều kiện bên ngoài để hiện hữu. Và ngược lại, các hiện tượng có khả năng hoạt động bởi v́ chúng không có sự cứng nhắc của một hiện hữu bản hữu. Nếu các hiện tượng không trống không về một sự hiện hữu bản hữu, nếu chúng hiện hữu bằng năng lực riêng của ḿnh, chúng sẽ không bị những nguyên nhân và điều kiện bên ngoài tác động – chúng sẽ không thể biến đổi. Trong trường hợp đó, chúng sẽ không tạo ra vui và khổ, cứu giúp và làm hại. Tốt và xấu sẽ không thể có.

Hiểu thấu về duyên khởi sẽ đem đến thêm hai sự hiểu biết: sự hiện hữu h́nh tướng và sự rỗng không về hiện hữu bản hữu. Hai cực đoan, một cho rằng tuyệt đối không có sự hiện hữu (chấp đoạn) và hai cho rằng có sự hiện hữu bản hữu (chấp thường), sẽ cùng lúc bị xóa sạch bằng hai sự hiểu biết nầy. Biết các hiện tượng có khởi lên làm cho sự tin tưởng vào cực đoan hư vô bị ngăn chận, v́ sự biết đó chấp nhận có sự hoạt động của sự vật và chúng sinh trong thế giới nầy – trong đó có nguyên nhân và kết quả của nghiệp. Biết rằng hiện tượng là tùy thuộc làm cho sự tin vào cực đoan cho rằng có sự hiện hữu bản hữu bị ngăn chận, v́ sự biết đó loại bỏ quan điểm cho rằng các hiện tượng hiện hữu một cách tự tại. Qua sự hiểu về hai chân lư nầy, bạn tiến vào trung đạo.

 

Tâm Kinh

Đâu là mối tương quan giữa sự vật với tánh không? Vấn đề sâu sắc nầy được nêu ra trong một cuốn kinh về trí tuệ hoàn măn, gọi là Tâm Kinh, được tŕ tụng và thiền quán hằng ngày ở khắp các nước theo Phật Giáo Đại Thừa như Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn, Mông Cổ, Tây Tạng và Việt Nam. Đó là một tŕnh bày ngắn gọn và súc tích của Đức Phật về trí tuệ cần thiết để vượt qua hoàn toàn các chướng ngại và - phối hợp với một động năng hướng đến người khác và những việc làm từ bi - để đạt được sự toàn tri của một Đức Phật. Sau đây là toàn bộ Tâm Kinh:

Nam mô Bát Nhă Ba La Mật Đa

Tôi nghe như thế nầy: Một thuở nọ, Đức Thế Tôn cùng với đại chúng và số đông các vị Bộ Tát ngự trên núi Linh Thứu trong thành Vương Xá. Lúc bấy giờ Đức Bồ Tát Ma Ha Tát là Ngài Quán Tự Tại, quán sát sự thực hành sâu xa về trí tuệ toàn măn và thấy rằng năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành và thức) đều không có sự hiện hữu bản hữu.

Khi đó, nhờ năng lực của Phật, ngài Xá Lợi Phất nói với Đức Bồ Tát Quán Tự Tại:

Một người con Phật, khi muốn thực hành trí tuệ toàn măn sâu xa, th́ nên tu tập như thế nào?

Đức Đại Bồ Tát Quán Tự Tại trả lời Ngài Xá Lợi Phất:

Nầy Xá Lợi Phất, các thiện nam tín nữ muốn thực hành trí tuệ toàn măn thâm sâu nên quán sát [các pháp] như sau. Họ nên quán một cách đúng đắn và hoàn toàn năm uẩn nầy không có sự hiện hữu bản hữu. Sắc tức là không; không tức là sắc. Không không khác với sắc; sắc không khác với không. Cũng như thế, thọ, tưởng, hành, thức đều không.

Nầy Xá Lợi Tử, cũng như thế, tất cả các pháp đều là không – không có tướng trạng, không sinh ra, không chấm dứt, không ô nhiễm, không không ô nhiễm, không giảm, không tăng. V́ vậy, Xá Lợi Tử, trong không không có sắc, không có thọ, không có tưởng, không có hành, không có thức, không mắt, không tai, không mũi, không lưỡi, không thân, không ư, không h́nh tướng, không âm thanh, không mùi, không vị, không xúc chạm, không đối tượng nhận thức (pháp). Trong không không có thế giới (yếu tố cấu thành) của mắt cho đến không có thế giới của tâm (yếu tố cấu thành của tâm) và không có thế giới của thức (yếu tố cấu thành của thức). Trong không, không có vô minh và không có sự chấm dứt của vô minh cho đến không có sự chấm dứt của già và chết. Cũng như vậy, trong không, không có khổ, nguồn gốc của khổ, sự chấm dứt khổ và con đường chấm dứt khổ; không trí tuệ, không chứng đắc, không không chứng đắc.

V́ vậy, Xá Lợi Tử, v́ các vị Bồ Tát Ma Ha Tát không ǵ để chứng đắc, các ngài nương tựa và an trú trong trí tuệ tuyệt đối và sâu thẳm nầy. Tâm các ngài không có sự ngăn ngại và không sợ hăi; hoàn toàn vượt qua sự sai lầm, đạt đến niết bàn cứu cánh. Tất cả chư Phật trong quá khứ, hiện tại và tương lai đạt được sự giác ngộ cao tột, viên măn và tuyệt đối bằng sự nương vào trí tuệ viên măn thâm sâu nầy.

V́ vậy, thần chú của trí tuệ toàn măn là thần chú của tri kiến lớn lao, thần chú không ǵ vượt qua, thần chú không ǵ sánh, thần chú làm êm dịu tất cả mọi khổ đau. Nên biết rằng nó là không hư dối, nó là chân thật. Nói ra lời chú về trí tuệ viên măn:

Tadya gate gate paragate parasamgate bodhi svaha. (Như thế: Hăy vượt, hăy vượt, hăy vượt qua, hoàn toàn vượt qua, thể nhập vào sự giác ngộ.)

Với phương cách đó, nầy Xá Lợi Phất, Bồ Tát Ma ha tát thực hành trí tuệ viên măn thâm sâu.

Sau đó, Đức Điều Ngự ra khỏi định và nói với Bồ Tát Ma ha tát, ngài Quán Tự Tại:

Lành thay, lành thay, lành thay. Nầy thiện nam tử, chính là như vậy. Chính là như vậy. Chính trong cách thức mà ngươi nói ra đó, trí tuệ viên măn thâm sâu nên được thực hành. Ngay cả những bậc Như Lai cũng tôn trọng.

Đức Điều Ngự đă tuyên bố điều nầy, ngài Xá Lợi Phất, Đức Đại Bồ Tát Quán Thế Âm, tất cả đại chúng, và các hàng phàm phu - gồm có trời, người, thần và loài ăn mùi hương – tôn trọng điều nầy và tán thán lời dạy của Đức Điều Ngự.

 

Sắc và Không

Qua các chú giải vể Tâm Kinh trong truyền thống Ấn Độ và Tây Tạng, tôi sẽ đưa ra vài vấn đề nghiêm túc về đoạn kinh trọng yếu nầy: “Sắc tức là không; không tức là sắc. Sắc không khác với không; không không khác với sắc.” Đoạn kinh ngắn nầy chứa đựng nhiều ư nghĩa:

1.     Tất cả mọi người và mọi sự vật đều tùy thuộc vào các nguyên nhân và các thành phần của chúng, không hiện hữu một cách độc lập khỏi chúng. Chúng là duyên-khởi; do đó chúng hoàn toàn không có sự hiện hữu bản hữu. V́ tất cả hiện tượng là duyên-khởi, bản chất của chúng là không.

2.     Ngược lại, v́ chúng sinh và sự vật không có tính chất độc lập và hiện hữu bản hữu, chúng phải nương tựa vào những tác nhân bên ng̣ai. Chúng phải là duyên khởi.

3.     Tánh không của các h́nh tướng (sắc) không tách rời khỏi các h́nh tướng. Các h́nh tướng, h́nh thành và tan ră do sự hiện diện của các điều kiện, bản chất là không có sự hiện hữu bản hữu.

4.     Sự không có một hiện hữu bản hữu là thực tại sau cùng của chúng, cách hiện hữu, cách tồn tại sau cùng của chúng.

5.     Tóm lại, sự h́nh thành và tan ră, tăng lớn và thu nhỏ, vân vân của h́nh tướng có thể xảy ra bởi v́ h́nh tướng không có sự hiện hữu tự tại. Các hiện tượng như h́nh tướng được cho là lóe lên từ bản chất của tánh không.

Cuối cùng, Tâm Kinh nói, “Sắc tức là không; không tức lá sắc; sắc chẳng khác không; không chẳng khác sắc.” Theo cách nầy, không và duyên khởi chứng tỏ có sự ḥa điệu.

Tóm lại, sắc không phải là không do tánh không, sắc tự chúng là không. Không, không có nghĩa là một hiện tượng không có sự tồn tại một đối tượng nào khác, nhưng có nghĩa là nó không có một sự hiện hữu nội tại của chính nó. Sắc tức là không có nghĩa là bản chất cuối cùng của một h́nh tướng là sự vắng bóng tự nhiên của hiện hữu nội tại; bởi v́ các h́nh tướng là duyên khởi, chúng không có một thực tại tự điều động. Không tức là sắc có nghĩa là sự vắng bóng tự nhiên nầy về hiện hữu nội tại – là không có một nguyên lư tự điều động. Bởi v́ các h́nh tưóng là nền tảng của tánh không, không chính là sắc; h́nh tướng xuất hiện như những phản ảnh của tánh không.

Theo kinh nghiệm riêng của tôi, nhận thức với lư luận “v́ sự vật là duyên-khởi nên chúng không có sự hiện hữu nội tại” dễ hơn nhận thức với lư luận “v́ sự vật là không nên chúng phải là duyên-khởi.” Mặc dù với lư trí, tôi biết điều sau rất rơ, nhưng kinh nghiệm ở mức độ cảm nhận th́ khó khăn hơn. Ngày nay, tôi thường tư duy về một câu trong cuốn Tràng Hoa Báu của ngài Long Thọ:

Con người không phải là đất, không phải là nước,

Không phải là lửa, không phải là gió, không phải là không,

Không phải là thức, và không phải là tất cả những thứ đó.

Con người là ǵ khác hơn những thứ nầy?

Trước tiên ngài xem xét những yếu tố vật lư của cơ thể - đất (chất cứng), nước (chất lỏng), lửa (chất nóng), gió (chất khí), và không (những khoảng trống như họng) – có thể là cái ngă hay không. Tiếp theo, ngài quán xét về thức. Sau đó ngài xem xét có phải tập hợp của tất cả những yếu tố nầy là cái ngă hay không. Sau cùng, ngài hỏi có phải cái ngă có thể là khác hơn những thứ nầy hay không. Không có một cách nào trong những cách nầy t́m thấy được cái ngă.

Sau đó ngài Long Thọ không vội vàng kết luận rằng cái ngă là không thật. Thay v́ vậy, ngay sau đoạn kệ đó, ngài nói rằng cái ngă không phải không hiện hữu nhưng là một sự khởi lên của nhiều yếu tố tùy thuộc lẫn nhau được thiết lập dựa vào sáu yếu tố nêu trên. Sau đó, đặt nền tảng trên sự tùy thuộc nầy, ngài đưa ra kết luận rằng ngă là không thật:

V́ là một tập hợp của sáu yếu tố

Một con người là không thật

Ở đây, “không thật” không có nghĩa là ngă không thể được t́m thấy khi nh́n từ bên trong hay bên ngoài sáu thành tố. Ngài Long Thọ đưa ra quan điểm rằng mặc dù tâm nhận ra sự rỗng không về một hiện hữu nội tại chỉ thấy một sự không hiện hữu, tâm nầy dẫn đến sự nhận thức rằng ngă là sự khởi lên của nhân duyên. Tôi có cảm tưởng rằng cách ngài tŕnh bày vấn đề nầy rất toàn vẹn, triệt tiêu cả hai cực đoan cho rằng ngă có sự hiện hữu nội tại và ngă hoàn toàn không hiện hữu.

Giống như hai mặt của bàn tay, khi nh́n bằng sự quán sát bản chất sâu xa của nó, có sự rỗng không về sự hiện hữu nội tại, nhưng khi nh́n nó từ mặt khác, có sự biểu hiện của hiện tượng. Chúng là một thực thể. V́ vậy, sắc tức là không và không tức là sắc.

Bạn phải hiểu rằng nội dung của tánh không cũng là ư nghĩa của duyên-khởi. Chúng nối kết với nhau một cách sâu xa. Khi có cái nh́n vào tánh không rơ ràng hơn, bạn sẽ thấy ngày càng rơ hơn rằng các pháp tùy thuộc vào nguyên nhân và các điều kiện (nhân và duyên) và vào các thành phần của chúng, và chúng đem đến sự vui hay sự khổ bởi v́ chúng không hiện hữu một cách bản hữu. Nếu bạn có khuynh hướng cảm thấy rằng mọi sự đều vô ích v́ chúng là không, bạn đă hiểu lầm tánh không là hư vô. Hiểu đúng đắn tánh không có nghĩa là thể nhận cách chúng ta phải tùy thuộc vào nhân và quả như thế nào. Cái hiểu tự nhiên và toàn vẹn về tánh không là một hiểu biết sâu xa về sự hợp nhứt giữa biểu hiện và tánh không.

*      *      *

Hiểu về tánh không thật là kỳ diệu, phải không? Nó có tác dụng như liều thuốc chống lại khái niệm sai lầm về sự hiện hữu bản hữu, và tự nó, nó c̣n giúp có được một một sự hiểu biết lớn lao hơn về nhân và quả. Đó là hiểu chân thật về tánh không. Không thể giải thích sự thể nghiệm về tánh không bằng việc chỉ nghe hay đọc một giải thích. Đó là điều cần phải thực hành trong thời gian dài cùng với việc giữ ǵn giới hạnh – không làm tổn hại và phát triển tâm từ bi – và qua sự cầu nguyện chư Phật, chư Bồ tát và các bậc Thầy, giúp đỡ vượt qua những chướng ngại. Chúng ta cần có nhiều nhân lành.

TÓM TẮT NHỮNG TU TẬP HẰNG NGÀY

Thường xuyên quán xét rằng cách các hiện tượng khởi lên là tùy thuộc vào nhân và duyên, và cố gắng để thấy việc nầy trái ngược lại với cách chúng ta thấy về sự hiển lộ của con nguời và sự vật - như là có sự hiện hữu vững chăi, tự tại và một cách bản hữu. Nếu có khuynh hướng nghiêng về cái thấy hư vô, quán xét thêm về tính duyên-khởi. Nếu với sự tập trung vào nhân và duyên, bạn có khuynh hướng củng cố sự hiện hữu bản hữu của các hiện tượng (pháp), hăy nhấn mạnh thêm vào sự mâu thuẩn giữa cách hiện hữu tùy thuộc với sự hiển lộ dường như cố định nầy. Bạn sẽ bị kéo từ phía nầy sang phía kia; con đường giữa chân thật (trung đạo) sẽ dần dần hiển lộ.

 

 

sen 5 OK2