B15-JsLo OK

 

ĐỂ SỐNG ĐỜI SỐNG CÓ Ư NGHĨA

 

Dalai Lama

 

Nguyên Hảo (Thị Giới) dịch

 

dalai lama

9.

 

TÂM VÀ BẢN TÁNH SÂU XA CỦA TÂM

 

Trong một bộ Kinh về Bát Nhă, Đức Phật  nói ra lời thâm sau sau đây:

Trong tâm, tâm không thể được t́m thấy, bản tánh của tâm là ánh sáng tinh ṛng.

Để hiểu những mức độ của ư nghĩa trong câu Kinh nầy, các bạn cần nhận ra tâm là ǵ, phân tích bản tánh sâu xa của nó, và khảo sát những kết quả tốt và xấu xảy ra như thế nào. Chúng ta hăy khảo sát những phần khác nhau của câu nầy.

  1. Hai chữ “trong tâm” liên quan với tâm là ǵ - bản tánh trong sáng và hiểu biết của nó. Trong Chương 7, nói về thiền định, chúng ta đă đề cập về bản chất sáng láng và hiểu biết của tâm và, mặc dù nó hiện hữu trong từng khoảnh khắc của tâm, sự cần thiết không dính mắc vào những niệm tưởng đă xảy ra và không bắt đầu khởi lên những niệm tưởng mới như thế nào để nhận chân ra nó (Tâm).
  2. Khi đức Phật nói “tâm không t́m thấy được,” là nói tánh sáng láng và hiểu biết không phải là bản tánh sâu xa nhất và sau cùng của tâm. Thay v́ vậy, bản chất tối hậu của tâm là “ánh sáng tinh ṛng” (chân quang), sự rỗng không về sự hiện hữu nội tại của nó.

Bạn có thể nghĩ rằng Đức Phật đang nói rằng tâm không hiện hữu, nhưng không phải như vậy. Tôi, với cương vị một người giải thích, đang giải thích câu nầy qua sự làm việc của chính tâm tôi, và bạn, người đọc, đang đọc qua sự làm việc của tâm bạn. Chúng ta luôn luôn sử dụng tâm, và nó luôn luôn đúng với chúng ta, nhưng chúng ta không biết rơ về nó. Như vậy, mặc dù khó nhận ra được tâm, nó hiện hữu và được phân tích để thấy nó có phải là bản tánh thâm sâu của chính nó hay không.

Chúng ta thấy rơ ràng rằng tâm hiện hữu, nhưng v́ nó không được thiết lập bằng bản tánh tối hậu và nền tảng của chính nó, thế th́ nó hiện hữu như thế nào? Bản tánh sâu thẳm của nó chỉ là một sự rỗng không về sự hiện hữu nội tại của chính nó. Điều nầy có nghĩa là những sự bất tịnh làm nhiểm ô tâm thức – như ngu si, tham lam và thù hận - chỉ là giả tạm, và v́ vậy ở ngoài khỏi tâm. Một khi những sự ô trược nầy được hiểu chỉ là nằm ở bề mặt, không phải là bản tánh nền tảng của tâm, chúng ta thấy bản tánh sâu xa của tâm là ánh sáng tinh ṛng, là tánh không.

SỰ Ô NHIỄM CHỈ Ở TRÊN BỀ MẶT, BẢN TÁNH CỦA TÂM LÀ ÁNH SÁNG TINH R̉NG (CHÂN QUANG)

Các kinh điển Phật giáo giải thích bằng nhiều cách câu “Nhiễm ô chỉ ở trên bề mặt, bản tánh của tâm là ánh sáng tinh ṛng.” Tuy nhiên không phải đức Phật đă nói về một điều ǵ một cách mơ hồ để người ta có thể giải thích tùy ư muốn. Thật sự, nó có những nghĩa đen và nghĩa bóng khác nhau. Trong Mật Giáo Tối Thượng, có nhiều cách phơi bày ư nghĩa của câu giáo lư khó hiểu. Người ta có thể giải thích nghĩa đen, nghĩa tổng quát, nghĩa bóng và nghĩa tất cánh của nó.

Để làm rơ lời của đức Phật, “Nhiễm ô chỉ ở trên bề mặt, bản tánh của tâm là ánh sáng tinh ṛng,” trong sự kết hợp với Mật Pháp, tôi sẽ trích Mật Pháp Dăy Mầu Nhiệm là một phần trong Tụng Niệm Tên Mật Pháp Văn Thù:

Đức Phật toàn hảo xuất hiện từ ‘A’

 

A’ là chữ tối thượng trong các chữ

Bằng bốn cách giải thích được nêu ra ở trên, tôi sẽ đưa ra giải thích tổng quát của câu nầy. Chữ ‘A’ là một tiểu từ phủ định trong Phạn ngữ. Nó chỉ cho sự rỗng không, là sự vắng mặt, hay phủ định, của sự hiện hữu bản hữu. Khi Mật Pháp Dăy Mầu Nhiệm nói rằng “Đức Phật toàn hảo xuất hiện từ ‘A’,” có nghĩa là các Đức Phật xuất hiện từ tánh không, hoặc nói cách khác, các Đức Phật xuất hiện từ sự thiền định về tánh rỗng không của sự hiện hữu bản hữu. Từ thiền định, các sự nhiễm ô tiêu tan trong thực tại (tánh rỗng không về sự hiện hữu bản hữu). Tánh không, được tượng trưng bằng chữ ‘A’, là một chủ đề tối thượng, và v́ vậy Mật Pháp Dăy Mầu Nhiệm nói, “ ‘A’ là chữ tồi thượng của các chữ.”

Cũng vậy, từ quan điểm Mật Pháp Yoga Tối Thượng, chữ ‘A’ đề cập đến giọt không thể hủy hoại trong đó thân Phật được đạt đến. Trong Mật Pháp Yoga Tối Thượng, Phật Tánh hiện ra từ sự tập trung vào giọt không thể hủy hoại đó. Thân tối hậu của Đức Phật có bản tính của giọt không thể hủy hoại. Điều nầy giải thích thêm về câu Đức Phật toàn hảo hiện ra từ chữ ‘A’.

Giọt không thể hủy hoại là ǵ? Đó là sự hợp nhất của luồng khí rất vi tế với tâm rất vi tế. Tâm biết các đối tượng, nơi đó khí, hay năng lượng bên trong, tạo ra ư thức để giao kết với các đối tượng. V́ vậy, với sự hợp nhất của khí và tâm, có những đổi thay trong ư thức.

 

TÂM VÔ THỦY

Thức không thuộc vật lư. Nó không có màu sắc hay h́nh dáng hay tính chất chướng ngại của các vật thuộc vật lư. Thực thể của nó là thuần ánh sáng và sự biết, và khi nó gặp một số điều kiện nào đó (như khi một đối tượng hiện diện và khả năng nhận biết sẽ làm việc một cách thỏa đáng), nó phản ánh đối tượng đó. Việc tâm thay đổi từ lúc nầy qua lúc khác, và hiện ra dưới nhiều dạng khác nhau, chứng tỏ rằng tâm vận hành dưới ảnh hưởng của nhân và quả.

Một tâm hiện ra trong sự phụ thuộc vào tâm trước cùng loại đ̣i hỏi có sự liên tục vô thủy của tâm. Nều sự sinh ra của tâm không cần dựa vào những khoảnh khắc trước của tâm nhưng chỉ được tạo ra một cách không lư do, th́ tâm có thể được sinh ra bất cứ nơi nào và bất cứ lúc nào, việc đó vô lư. Tương tự, nếu thức không được sinh ra một cách liên tục từ sự tồn tại trước của thức và thay v́ vậy được sinh ra từ một thứ thuộc vật lư, dù nó luôn luôn, một cách vô lư, được sinh ra hoặc nó không bao giờ được sinh ra, cũng vô lư. Điều nầy chứng tỏ rằng thức là một sự liên tục của sự tồn tại trước đó của thức.

Bởi v́ thức có nền tảng từ một khoảnh khắc trước của thức, không thể có khởi điểm của gịng liên tục của nó. Không có điểm khởi đầu của của thức, và không có điểm chấm dứt cho nó. Sự liên tục nầy cho phép tâm có thể chuyển hóa vào những trạng thái tốt hơn. Khi sự liên tục về tinh thần được kết hợp với những trạng thái bất tịnh, kinh nghiệm của chúng ta bị giới hạn trong thế giới của sinh tử luân hồi. Khi sự liên tục tinh thần vượt ra ngoài những trạng tái bất tịnh, chúng ta có thể đạt được niết bàn. Theo cách đó, tất cả mọi hiện tượng (các pháp) đều là giả tạo hoặc tṛ đùa của tâm. Hiện tượng không trong sạch của luân hồi là tṛ đùa của tâm không trong sạch; hiện tượng trong sạch của niết bàn là tṛ đùa của tâm trong sạch.

 

NHỮNG TRẠNG THÁI SAI LẦM CỦA TÂM NƯƠNG TỰA TRÊN VÔ MINH

“Trong tâm, tâm không thể được t́m thấy; tánh của tâm là ánh sáng tinh ṛng,” những trạng thái không trong sạch như sự ham muốn và ḷng ganh ghét không phải là thành phần trong bản tánh của tâm và phải được sinh ra do vô minh - một ư thức nhận thức sai lầm rằng có một sự hiện hữu bản hữu – hoặc trong khoảnh khắc hiện tại hoặc từ một nguồn có trước. Tất cả những trạng thái sai lầm của tâm có nguồn gốc là ư thức sai lầm. Vô minh là một h́nh thức của ư thức sai lầm về đối tượng hướng đến; nó sai lầm về nó; nó không có một nguồn gốc nhận thức có giá trị.

Một nhận thức sai lầm và một nhận thức có nền tảng có giá trị có những cách thức nắm bắt các hiện tượng (pháp) trái ngược nhau, v́ vậy cái nầy loại trừ cái kia. Khi, trong sự tu tập, các bạn trở nên quen thuộc với những thái độ đúng, những trạng thái sai lầm của tâm giảm bớt một cách tự nhiên cho đến cuối cùng th́ hoàn toàn bị dập tắt.

Hệ thống giáo lư Phật Giáo đặt nền tảng trên sự mâu thuẩn tự nhiên. Chúng ta muốn hạnh phúc và không muốn đau khổ. Sự đau khổ mà chúng ta t́m cách để tiêu diệt chính yếu bắt nguồn từ những thái độ tinh thần, và bởi v́ nguồn gốc của sự đau khổ về tinh thần là những phiền năo tác động trực tiếp hay gián tiếp, chúng ta phải coi có những sức mạnh nào đối nghịch với chúng hay không. Nếu, thí dụ, giận hờn sinh ra đau khổ, th́ chúng ta phải t́m một sức mạnh ngược lại. Với giận hờn th́ đó là t́nh thương và ḷng trắc ẩn. Mặc dù giận hờn và t́nh thương và ḷng trắc ẩn đều là ư thức, chúng có những đường lối trái ngược để tiếp cận với cùng một đối tượng. Sự nhận thức của chúng trái ngược nhau. Tương tự, nếu một căn pḥng quá nóng, không có cách nào để giảm khí nóng nhưng có thể đem khí lạnh vào. Giống như nóng và lạnh đối ngược nhau, những trạng thái tinh thần cũng có tịnh và bất tịnh đối ngược nhau. Khi bạn phát triển cái nầy th́ cái kia bớt đi. V́ vậy, chúng ta có thể tẩy trừ những trạng thái sai lầm của tâm. Có thuốc để cứu giải.

 

SỰ HỢP NHẤT GIỮA GIẢ LẬP VÀ CỨU CÁNH

Tâm tự nó là một chân lư giả lập; thực tại của tâm, sự rỗng không về sự hiện hữu bản hữu, là chân lư cứu cánh của nó. Hai chân lư nầy được bao hàm trong một thực thể không thể chia chẻ. Như có một sự hợp nhứt giữa hai chân lư, giả lập và cứu cánh, của tâm, do đó có một sự hợp nhất giữa hai chân lư đối với mỗi và mọi đối tượng. H́nh tướng của nó là chân lư giả lập; và tánh rỗng không về sự hiện hữu nội tại là chân lư cứu cánh của nó.

Thực tại cuối cùng được biết qua lư luận về duyên khởi. Ví dụ, tâm là một thực thể hiện ra một cách tùy thuộc, tâm không có sự hiện hữu bản hữu. Khi bạn hiểu tánh không qua lư luận về duyên khởi, bạn nhận ra rằng tất cả mọi hiện tượng (pháp) là những tập hợp của duyên khởi và tánh không; sắc tướng và tánh không được nhận thấy là hài ḥa với nhau.

Sự hiện khởi một cách tùy thuộc của các hiện tượng giả lập tạo khung cảnh cho giáo pháp về từ bi - được gọi “con đường rộng lớn,” v́ số lượng lớn về các sự thể hiện như vậy. Tánh rỗng không về sự hiện hữu bản hữu của các h́nh tướng cung cấp nền tảng cho giáo pháp “con đường thâm sâu,” v́ tánh không là bản tánh tối hậu của hiện tượng -  an tịnh, vượt ngoài khái niệm, và một vị. Qua việc tu tập thiền quán về hai con đường nầy - từ bi và trí tuệ thâm sâu về tánh không – trong một đường lối không phân ly, những trạng thái sai lầm của tâm trong chuổi tồn tại liên tục nơi bạn dần dần chuyển hóa. Chúng từ từ được tẩy trừ, và những đức tính tuyệt vời của tâm và thân của một Đức Phật xuất hiện.

Phật Tánh đạt được qua sự tu tập hợp nhất của động cơ thúc đẩy (từ bi) và trí tuệ. Tuy nhiên, động cơ thúc đẩy và trí tuệ có những ảnh hưởng tương ứng trên Phật Tánh. Kết quả của sự tu tập động lực thúc đầy là các Sắc Thân (thân h́nh tướng) của một Đức Phật, hiện hữu để thực hiện trọn vẹn sự hạnh phúc cho những chúng sanh khác. Ảnh hưởng của sự tu tập trí tuệ là Chân Thân (Pháp Thân) của một Đức Phật, là sự thực hiện trọn vẹn sự phát triển bản thân. Đâu là những h́nh tướng chính của động lực thúc đẩy và trí tuệ? Động lực thúc đẩy là khuynh hướng hướng về người khác để giác ngộ, được thúc đẩy bằng t́nh thương và ḷng trắc ẩn và hướng đến việc tu tập những hạnh từ bi như bố thí, tŕ giới và nhẫn nhục. H́nh thức chính của trí tuệ là một ư thức sang suốt nhận thấy được tánh rỗng không về sự hiện hữu bản hữu.

*     *     *

Nền tảng của Phật Giáo có ba phương diện. Căn bản là hai chân lư (hai đế), giả lập và cứu cánh. Từ hai chân lư nầy con đường đạo hiện ra với hai tác nhân song đôi là động lực thúc đẩy và trí tuệ, mỗi tác nhân liên hệ với chân lư tương ứng. Quả, hay kết quả của cuộc hành tŕnh trên đường đạo, là sự thực hiện của hai thân - Sắc Thân và Pháp Thân của một Đức Phật. Để gom tất cả những điều nầy với nhau, trên nền tảng của hai chân lư - giả lập và cứu cánh - tu tập hai đức tính của con đường đạo - từ bi và trí tuệ - để đạt đến kết quả, Sắc Thân và Pháp Thân của một vị Phật.

 

TÓM TẮT VIỆC TU TẬP HẰNG NGÀY

  1. Nhận ra bản chất sáng láng và hiểu biết của tâm, không bị niệm tưởng che mờ.
  2. Thường xuyên thăm ḍ bản tánh sâu xa của tâm để khám phá ra sự vắng bóng của sự hiện hữu bản hữu, sự rỗng không của nó, bằng cách suy tư về sự tùy thuộc của tâm vào các nguyên nhân và điều kiện và vào các thành phần của nó – bao hàm sự việc rằng bất cứ khoảng thời gian nào đi qua trong tâm cũng tùy thuộc vào những thành phần trước và sau của khoảng thời gian đó.
  3. Cố gắng nhận ra sự tương hợp giữa sự thể hiện ra bên ngoài của tâm với sự rỗng không về sự hiện hữu bản hữu của nó; nh́n xem hai cái nầy nương tựa lẫn nhau như thế nào.

 

sen 5 OK2