B15-JsLo OK

 

ĐỂ SỐNG ĐỜI SỐNG CÓ Ư NGHĨA

 

Dalai Lama

 

Nguyên Hảo (Thị Giới) dịch

 

dalai lama

 

MẬT GIÁO

 

11.

 

THIỀN ĐỊNH HỢP NHẤT VỚI PHẬT/ BỒ TÁT

 

Trong Phật Giáo có hai đường lối tu tập: Hiển Giáo và Mật Giáo. Từ trước, chúng ta thảo luận về phần tu tập Hiển Giáo. Mục đích đặc biệt của Mật Giáo là cung cấp một con đường nhanh hơn cho những hành giả hội đủ tiêu chuẩn có thể phục vụ tha nhân nhanh hơn. Trong Mật Giáo, sức mạnh của sự quán tưởng được sử dụng trong tham thiền khi tu tập được goi là thiền định hợp nhất với Phật/ Bồ tát. Trong việc tu tập nầy, bạn quán tưởng 1) thay thế tâm của bạn khi nó vừa mới khởi lên, trong đó đầy dẫy phiền năo, bằng một tâm thanh tịnh chứa đầy ḷng từ bi; 2) Thay thế thân thể b́nh phàm của bạn (thân thịt, máu và xương) bằng một thân thể được cấu thành bằng trí tuệ và đầy ḷng từ bi; 3) phát triển cảm thức về một cái ngă thanh tịnh nương trên tâm và thân thanh tịnh trong một khung cảnh lư tưởng, hiến thân hoàn toàn vào việc giúp đỡ tha nhân. V́ sự thực hành đặc biệt nầy của Mật Giáo đ̣i hỏi bạn h́nh dung chính bạn với thân thể, hoạt động, tiềm lực, và cảnh giới của một vị Phật, nó được gọi là “con đường tu tập tâm linh bằng quán tưởng.”

Chúng ta hăy lưu ư một điều trong sự tu tập nầy. Bạn tự coi chính ḿnh có những đức tính của Đức Phật mà hiện tại bạn chưa có. Đó có phải là một loại ư thức đúng hay không? Vâg. Tâm của bạn hoàn toàn hiến dâng cho việc việc t́m hiểu thực tại, ở đó bạn xuất hiện như một vị bồ tát. V́ vậy, tâm của bạn, từ quan điểm nầy, là đúng. Cũng vậy, bạn chủ tâm quán tưởng chính bạn có một thân thể thiêng liêng cho dù hiện tại bạn không có. Đây là một việc thiền quán quán tưởng; từ thâm sâu bạn không tin tưởng rằng bạn thật sự có tâm, thân và cá tính trong sạch.  Hơn nữa, đặt nền tảng trong sự quán tưởng rơ ràng về thân và tâm lư tưởng, bạn đang trau dồi ư thức của một vị bồ tát, giúp đỡ tha nhân với ḷng từ bi.

Để là một người học tṛ đặc biệt của Mật Giáo - loại học tṛ mà Đức Phật đặc biệt giao phó việc tu tập Mật Giáo - một hành giả phải có những khả năng sắc bén và đă đạt được trí tuệ vững chăi thể nghiệm tánh không, hoặc sẵn sang cho việc hoạt hóa nhanh chóng trí tuệ nầy. Những đ̣i hỏi cho sự tu tập đơn thuần về Mật Giáo ít nghiêm nhặt hơn; tuy nhiên, đi vào Mật Giáo với bất cứ mức độ nào cũng đ̣i hỏi một ư hướng mạnh mẽ được giác ngộ v́ sự lợi ích của tha nhân, và một cảm nghĩ rằng việc nầy cần được thực hiện nhanh chóng.

Giai đoạn đầu trong sự tu tập Mật Giáo, con đường căn bản để phát triển sự an trú là thiền quán vào chính thân thể của bạn coi nó như thân thể của một vị Phật/ Bồ tát. Khi bạn thiền quán về một thân thể siêu phàm, trước tiên bạn thiền quán về tánh không, gặt hái được càng nhiều nhận thức về tánh rỗng không của sự hiện hữu bản hữu mà bạn có thể. Khi bạn quen thuộc với trạng thái đó, bạn sử dụng chính tâm đó như nền tảng mà vị Phật/ Bồ tát xuất hiện. Tâm, thể nghiệm về tánh không, xuất hiện như là vị Phật/ Bồ tát cùng với những khung cảnh xung quanh của ngài. Trước tiên bạn thiền quán về tánh không; từ đó vị Phật/ Bồ tát xuất hiện; sau đó bạn tập trung vào vị Phật/ Bồ tát.

Bằng cách nầy, thiền định hợp nhất với Phật/Bồ tát phối hợp trí tuệ và từ bi: một ư thức đơn thuần thể nghiệm tánh không và xuất hiện một cách từ bi dưới h́nh tướng một vị Phật/ Bồ tát đầy ḷng vị tha. Trong hệ thống Hiển giáo, mặc dù có sự hợp nhất của trí tuệ và từ bi, sự tu tập về trí tuệ chỉ được tác động do sức mạnh của sự thực hành từ bi, và sự thực hành từ bi chỉ được tác động do sự thực hành trí tuệ; chúng không ở trong cùng một ư thức. Mật Giáo có điểm khác biệt riêng. Sự bao gồm của từ bi và trí tuệ trong cùng một ư thức là cái làm cho sự tiến bộ trong Mật Giáo đi rất nhanh.

Khi tôi c̣n là một cậu bé, tôi nghĩ rằng Mật Giáo đúng là một một sự tin tưởng mù quán. Đến năm tôi hai mươi bốn tuổi, tôi bị mất nước, và sau khi đến Ấn độ tôi bắt đầu thật sự đọc những giải thích của Tsongkhapa về tánh không. Sau đó, khi dời về Dharamsala, tôi dồn thêm nỗ lực vào việc học hỏi và thực hành những giai đoạn về con đường đạo, tánh không, và Mật Giáo. Và đến những năm cuối của lứa tuổi hai mươi sau khi gặt hái được một số kinh nghiệm về tánh không, thiền định hợp nhất với Phật/ Bổ tát có ư nghĩa đối với tôi.

Có một lần ở ngôi chùa chính tại Dharamsala tôi đang thực hành nghi lễ quán tưởng chính ḿnh là một vị Phật của Mật Pháp Tối Thượng, tên là Guhyasamaja (Kim Cang A Súc). Tâm tôi liên tục tŕ niệm, và khi đến chữ “chính tôi,” tôi hoàn toàn quên cái ngă b́nh thường của tôi trong mối liên hệ với sự phối hợp thân tâm của tôi. Thay v́ vậy, tôi có một ư thức rất rơ về “cái tôi” trong mối liên hệ với sự phối hợp mới, thanh thuần túy của thân và tâm của đức Guhyasamaja mà tôi đang quán tưởng. V́ đây là một loại tự nhận diện, trọng tâm của Mật Giáo, kinh nghiệm xác quyêt cho tôi rằng nếu có đủ thời gian tôi có thể đạt đến một cách chắc chắn những trạng thái tuyệt vời, thâm sâu được đề cập trong kinh điển.

 

ĐIỂM ĐẠO

Để tu tập Mật Giáo, điều đặc biệt quan trọng là được truyền ân điển từ những vị giác ngộ đi trước. Truyền ân điển cũng hiện diện trong Hiển Giáo, nhưng đặc biệt cần thiết trong sự tu tập Mật Giáo. Phương tiện đầu tiên để bước vào những ân điển nầy là qua sự điểm đạo. Có bốn cấp Mật Pháp – Hành Động, Thực Hiện, Hợp Nhất, Mật Pháp Hợp Nhất Tối Thượng - mỗi loại có những sự điểm đạo riêng làm tâm thức chin mùi cho sự tu tập, và mỗi loại có những phương pháp thiền quán riêng.

Bạn nhận sự điểm đạo ở đâu? Trong một mandala, trong đó là những khung cảnh lư tưởng và những bậc thiêng liêng, tất cả đều là những biểu hiện của từ bi và trí tuệ. Có các mandala với nội dung khác nhau cho bốn cấp Mật Giáo. Một số được vẽ. Số khác được tạo với cát màu, và có những thứ khác chứa đựng một loại đặc biệt về các mandala thiền định tập trung.

Để được nhận sự điểm đạo và nhận lănh những nguyện trong một mandala của Mật Pháp Hợp Nhất hay Mật Pháp Hợp Nhất Tối Thượng, vị lama hướng dẫn buổi lễ phải hội đủ các tiêu chuẩn. Cả bốn loại Mật Pháp đều đặc biệt nhấn mạnh vào các đặc tính của vị lama, để giữ đúng những diễn tả chi tiết của Đức Phật về những tiêu chuẩn của một vị thấy cho những cấp độ khác nhau trên con đường đạo. Cũng nên nhớ lời dạy của Đức Phật rằng hăy nương tựa vào giáo pháp không nương tựa vào người. Bạn không nên bị áp đảo bởi tiếng tăm của vị thầy. Quan trọng nhất, vị thầy phải biết giáo pháp, những sự tu tập.

 

GIỚI VÀ NGUYỆN

Trong hai loại Mật Pháp thấp – Hành Động và Thực Hiện – không nói rơ rằng các nguyện Mật Giáo phải được nhận lănh khi điểm đạo; tuy nhiên, có nhiều điều cam kết phải được tuân giữ. Trong hai loại Mật Pháp cao - Hợp Nhất và Hợp Nhất Tối cao – sau khi nhận lễ điểm đạo với mọi khía cạnh của nó, bạn phải nhận lănh các nguyện Mật Giáo củng với những điều cam kết. Mật Pháp Hợp Nhất và Mật Pháp Hôp Nhất Tối Thượng có mười bốn nguyện căn bản cùng với những danh mục về những điều không được vi phạm, nhưng chúng khác nhau tùy theo con đường tu tập, ngay cả những nguyện căn bản cũng khác nhau chút đỉnh. Bởi v́ sự tu tập Mật Giáo chủ yếu liên quan đến việc vượt qua h́nh tướng và của chính bạn và những khung cảnh chung quanh của chính bạn trong đời sống b́nh phàm (để vượt qua ư niệm coi những thứ nầy là b́nh phàm), bạn quán tưởng chính bạn có một thân thểt, những hạnh từ bi, các phương tiện và trú xứ của Đức Phật. V́ vậy, phần lớn những điều cam kết đều liên quan đến việc thay thế sự thể hiện b́nh phàm bằng sự thể hiện lư tưởng, và kiềm chế sự tự đánh giá về bạn, về những người bạn, về môi trường và nhũng hành động của bạn là b́nh phàm.

Ngoại trừ nguyện đặc biệt về giải thoát bản thân chỉ kéo dài hai mươi bốn tiếng đồng hồ, tất cả những nguyện khác về giải thoát bản thấn phải được giữ suốt đời (mặc dù có thể cho phép một người huy bỏ các nguyện và thọ giới lại). Ngược lại, các nguyện Bồ Tát và Mật Giáo kéo dài cho đến sự giác ngộ tối thượng, bao lầu mà người đó không phạm những giới căn bản.

Trước tiên người đó nhận lănh những giới thuộc phạm vi giải thoát cá nhân, sau đó giới Bồ Tát, và cuối cùng là giới Mật Giáo. Những người tại gia nhận lănh giới Bồ Tát và Mật Giáo giữ các giới dành riêng choi người tại gia trong việc giải thoát cá nhân. Mật Pháp Thời Luân (Kalachakra Tantra) xuất hiện vào thế kỷ thứ mười một ở Ấn Độ và trở thành Mật Pháp chính của các Trường Phái Tân Dịch ở Tây Tạng, nói rơ rằng nếu có ba vị thậy Mật Giáo, một với các nguyện tại gia (cu sĩ), vị khác với các nguyện của người mới xuất gia (sa di), và người thứ ba đă nhận các giới đầy đủ (cụ túc), vị đă nhận giới cụ túc được coi là cao hơn hai vị kia. Điều nầy chứng tỏ rằng sự đánh giá ngay cả trong hệ thống Mật Giáo cũng coi giới luật trong đời sống tu việc là cao hơn. Mật Pháp Guhyasamaja (Kim cang A Súc) nói rằng bên ngoài bạn nên giới luật về việc thực hành cho sự giảithoát cá nhân, và bên trong luơn luôn giữ ǵn sự tu tập Mật Giáo. Bằng cách nầy, sự tu tập Hiển Giáo và Mật Giáo phối hợp nhau.

 

VIỆC SỬ DỤNG QUAN HỆ NAM NỮ VÀO CON ĐƯỜNG ĐẠO

Chúng ta hăy bắt đầu quan sát về vai tṛ của quan hệ nam nữ trong con đường đạo trong Mật Giáo bằng cách nh́n vào sự sự cấm đoán những hành vi xấu về quan hệ nam nữ trong giới luật về sự giải thoát cá nhân, nó hoàn toàn đặt nền tảng trên nguyên lư tránh gây tổn hại. Những hành vi xấu đặc biệt về quan hệ nam nữ được tác phẩm vạch ra một cách chi tiết trong cuốn Kho Tàng Tri Thức Hiển Nhiên. Đối với một người nam có thể đó là việc ăn ở với vợ của người khác, hoặc với người đang c̣n đang dưới sự chăm sóc của gia đ́nh. Đối với người nữ cũng tương tự, bị cấm đoán không được ăn ở với chồng của người khác hoặc người nam c̣n đang ở dưới sự chăm sóc của gia đ́nh. Có người giải thích một cách lố lăng rằng v́ ngài Thế Thân giải thích mười điều vô luân dưới quan điểm của một người đàn ông nên không có lỗi khi người nữ phạm vào các điều đó – và như vậy không có sự cấm đoán cho nữ giới!

Đối với người Phật tử, sự quan hệ nam nữ có thể được sử dụng trong con đường phát triển tâm linh v́ nó tạo nên một sự tập trung mạnh mẽ của ư thức nếu người hành giả có ḷng từ bi và trí tuệ vững chăi. Mục đích của nó là thể hiện và kéo dài những mức độ tâm thức sâu thẳm (được diễn tả ở phần trước trong tiến tŕnh của sự chết), để sử dụng sức mạnh của chúng trong việc làm tăng mức độ chứng nghiệm về tánh không. Ngược lại, sự liên hệ nam nữ suông không có ǵ liên quan đến sự tu tập. Khi một người đạt đến mức độ cao trong sự tu tập về từ bi và trí tuệ, th́ sự giao tiếp của hai cơ quan sinh dục, hoặc như được gọi là giao hợp, không phá sư6 duy tŕ tâm thanh tịnh của người đó. Các hành giả đă đạt đến một mức độ cao trong hành động giao hợp, và một vị tu sĩ với khả năng nầy có thể duy tŕ mọi giới luật.

Một hành giả lăo luyện Tây Tạng, khi bị người khác chỉ trích, nói rằng ông ăn thịt và uống bia như những phẩm vật cúng dường cho vị bổn tôn của mandala. Những hành giả Mật Giáo như vậy thấy họ là những vị Phật/Bồ tát trong một mandala trọn vẹn, trong sự thể nghiệm rằng vị bổn tôn tối hậu là niềm vui tối hậu - sự hợp nhất của niềm vui và tánh không. Vị ấy cũng nói rằng hành động giao hợp của ḿnh với người phối ngẫu được thực hiện với mục đích phát triển tri kiến chân thật. Và thật sự đó là mục đích. Một vị hành giả như vậy có thể tạo ra sự lợi ích về tâm linh không chỉ bằng thịt và rượu ngon mà c̣n với phẩn và nước tiểu của con người. Sự thiền định của một vị hành giả chuyển hóa những thứ nầy thành những chất cao lương thật sự. Tuy niên, đối với những người như chúng ta việc nầy ở ngoài tầm tay. Bao lâu mà bạn chưa thể chuyển hóa được nước tiểu và phẩn, không nên thực hành những việc nầy!

Đức Phật đă nêu ra những nhóm đặc biệt về các giai đoạn trên con đường tu tập v́ lư do nầy. Giai đoạn đầu tiên là giữ các nguyện cho việc giải thoát cá nhân. Nếu là một vị tăng hay ni, giới hạnh của bạn có cơ sở vững chăi hơn – ít có sự nguy hiểm trong việc xao lăng quá mức. Ngay cả nếu bạn không thể tuân giữ được tất cả các nguyện, cũng không có nhiều nguy hiểm. Chỉ thực hành, thực hành và thực hành. Khi bạn phát triển sức mạnh nội tâm, bạn có thể kiểm soát được bốn đại – đất, nước, lửa và gió (hoặc năm đại nếu kể luôn không đại). Khi bạn có thể kiểm soát hoàn toàn các yếu tố bên trong nầy, bạn có thể kiểm soát năm yếu tố bên ngoài. Sau đó bạn có thể sử dụng bất cái cái ǵ.

Sự giao hợp nam nữ giúp như thế nào trên con đường tu tập? Có nhiều mức độ của ư thức.  Tiềm năng của những mức độ thô rất giới hạn, nhưng càng sâu hơn, những mức độ tế vi có nhiều sức mạnh hơn. Chúng ta cần bước vào những mức độ vi tế hơn nầy của tâm. Nhưng để thực hiện được như vậy, chúng ta cần làm cho ư thức thô yếu đi và tạm thời dừng lại. Để thực hiện việc nầy, cần phải có sự thay đồi mạnh mẽ trong gịng những năng lượng bên trong. Những mức độ sâu của tâm cũng xảy ra một cách rất ngắn ngay cả khi nhảy mũi và ngáp. Cũng vậy, những kinh nghiệm đó cũng xảy ra trong giấc ngủ say. Đây là chỗ mà sự giao hợp nam nữ đi vào. Bằng những kỹ thuật tập trung đặc biệt trong khi giao hợp, những hành giả đủ khả năng có thể kéo dài những trạng thái rất sâu, vi tế và đầy năng lực, và sử dụng chúng trong việc thể nghiệm tánh không. Tuy nhiên, nếu giao hợp với một cách b́nh thường th́ không có ích lợi ǵ.

Một Đức Phật không cần sử dụng việc giao hợp. Những vị Phật/Bồ tát được diễn tả trong mandala thường hợp nhất với vị phồi ngẫu, nhưng việc nầy không phải để nói rằng các Đức Phật phải dựa vào sự giao hợp để được sự phúc lạc. Các đức Phật tự có đầy đủ sự phúc lạc nơi chính các ngài. Các đức Phật/Bồ tát với h́nh ảnh hợp nhất xuất hiện trong mandala là để làm lợi ích cho những người có những khả năng rất bén nhạy có thể sử dụng được vị phối ngẫu và sự khoái lạc trong việc giao hợp để thực hành con đường tu tập nhanh chóng của Mật Giáo. Cũng như vậy, Đức Kim Cang Thủ (Vajradhrara) hiện ra với những h́nh tướng an lành và những h́nh tướng phẩn nộ, nhưng điều nầy không có nghĩa là đức Kim Cang Thủ có những h́nh trạng nầy trong nhân cách của ngài. Đức Kim Cang Thủ luôn luôn hoàn toàn từ bi. Hơn nữa, sự hiện tướng một cách tự phát của ngài bằng nhiều cách là để đem lại lợi lạc cho người tu tập. Ngài Kim Cang Thủ hiện ra đúng theo cách mà người tu tập có thể thiền quán khi sử dụng những phiền năo như tham và sân trong tiến tŕnh tu đạo. Để sử dụng những t́nh cảm mạnh mẽ như vậy vào con đường tâm linh, những người tu tập không thể quán tưởng rằng họ có thân thể an b́nh của Đức Thích Ca Mâu Ni. Phương pháp thiền định bổn tôn được đ̣i hỏi. V́ trong trường hợp giận dữ chẳng hạn, cần thiết phải thiền quán về thân của chính bạn trong một h́nh tướng hung dữ. Ngài Kim Cang Thủ tự động xuất hiện trong một h́nh tướng dữ tợn tương ứng để chỉ cho người tu cách thiền quán. Đối với việc thiền định về giao hợp nam nữ cũng như vậy, những người tập sự có khả năng sử dụng sự khoái lạc từ dục vọng trong sự nh́n, cười, nắm tay, hoặc kết hợp phải thực hành phương pháp thiền quán bổn tôn thích hợp; họ không thể quán tưởng họ là Đức Thích Ca Mâu Ni, một vi tu sĩ. Mục đích của những h́nh tướng khác nhau của Kim Cang Thủ không phải để đe dọa người tu tập cũng không phải kích động dục vọng trong họ, nhưng để chỉ cho họ cách thiền định quán tưởng trong những h́nh tướng đó để có thể vượt qua những phiền năo.

Một Đức Phật có khả năng xuất hiện một cách tự phát không cần sự cố gắng làm sao cho thích hợp. H́nh tướng của những sự xuất hiện nầy được thành h́nh từ nhu cầu của những người khác, không phải v́ sự lợi ích cho Đức Phật đó. Từ cái nh́n của một Đức Phật, đức Phật có đầy đủ Pháp Thân, trong đó ngài tồn tại vĩnh viễn.

*     *     *

Nên nhớ rằng giới luật Mật Giáo được thiết lập trên giới luật giải thoát cá nhân và trên đạo đức về ḷng từ bi. Mục tiêu của Mật Giáo là chứng được Phật Tánh bằng con đường nhanh hơn để phục vụ tha nhân nhanh hơn.

 

TÓM TẮT VỆC TU TẬP HẰNG NGÀY

V́ sự thực hành Mật Giáo trước tiên là chuyển hóa cách nh́n thấy chính ḿnh, người khác, hoàn cảnh chung quanh và những sinh hoạt của bạn, nó có thể giúp trong việc quán tưởng chính bạn có một tâm từ bi, một thân thanh tịnh, và đức hạnh làm lợi ích cho tha nhân.

 

sen 5 OK2