B15-JsLo OK

 

GIÁO LƯ BÁT NHĂ

 

Nguyên Hảo (Thị Giới) soạn dịch

(Theo các tài liệu: Bát Nhă Tâm Kinh Tư Tưởng Đích H́nh Thành của Trương Tác Lâm, The First Mileage of Buddhism của Daisaka Ikeda, Tổ Đường Tập, Mahayana Buddhist Mediatation của nhiều tác giả do Minoru Kiyota ấn hành, Bát Nhă Cương Yếu của TKN Hồng Ẩn...)

1.

 

TRƯỜNG PHÁI TRUNG QUÁN

 

A) NGÀI LONG THỌ VÀ PHẬT GIÁO ĐẠI THỪA

 

Ngài Long Thọ được coi như thủy tổ của tám tông phái Phật giáo từ khi Phật giáo Đại thừa phát triển ở Ấn độ rồi truyền qua Đông độ. Địa vị của ngài trong lịch sử Phật giáo Đại thừa rất to lớn. Giáo lư Tánh Không của ngài là một đóng góp lớn vào sự phát triển Phật giáo Đại thừa, không những đă ảnh hưởng lớn vào tư tưởng các nước Phật giáo đại thừa, mà ngày nay người Tây phương cũng rất chú ư. Ngài cùng với đệ tử thân cận là Aryadeva (Thánh Thiên) được coi như đă dựng nên trường phái Trung Quán, là một nỗ lực khai thị, chứng minh một cách có hệ thống một chân lư về thực tướng của các pháp.

 

Candrakirti (Nguyệt Xứng), một người thừa kế và chú giải Long Thọ, trong Madhyamakàvatàra Bhàsya, nói rằng không dễ ǵ hiểu được ư của thánh điển, nhưng may mắn là đă có một người được Phật ấn chứng cho để hiểu đúng ư nghĩa của Kinh điển. Đó là ngài Long Thọ.

 

Đối với Phật Giáo Đại thừa, ngài Long Thọ có thể nói là một nhân vật Phật Giáo chỉ đứng sau Đức Thế tôn, và v́ vậy ngài cũng đă được coi như vị Phật thứ hai. Tuy nhiên chúng ta không biết nhiều về cuộc đời ngài.

 

Theo truyền thuyết Tây Tạng, ngài Long Thọ khi mới sinh có người tiên đoán là ngài sẽ chết yểu nên được gởi vào một ḍng tu từ khi c̣n nhỏ. Ngài học thông giáo lư, y học và phép luyện kim, do đó ngài được mời đến long cung, và ngài t́m thấy kinh Bát Nhă Ba La Mật đă thất lạc trên thế gian và mang bộ kinh về thế gian. Với huyền thuật, ngài có thể sống nhiều thế kỷ. Ngài kết bạn với một vị đại vương và dùng huyền thuật làm cho vị vua này mạnh khỏe và lâu già. Tuy nhiên, dù có thần thông và ḷng từ bi cũng không thể làm vui ḷng mọi người. Vị thái tử nóng ḷng nối ngôi vua, buộc Long Thọ tự tử, muốn ngài chứng minh sự quảng đại bằng việc hiến dâng đầu. Lưỡi dao được đưa cho ngài làm bằng một lá cỏ linh. Nguyên khi dọn cỏ để làm nơi thiền định, ngài đă vô t́nh giết hại một vài sinh vật, làm cho lá cỏ này thành linh. Người ta cũng nói rằng, đến một thời gian nào đó, đầu và ḿnh ngài Long Thọ sẽ nối lại để ngài lại làm việc lợi sinh. Sau khi chết, ngài Long Thọ sinh vào cơi Cực Lạc của Phật A Di Đà.

 

Theo truyền thuyết Trung Hoa, ngài Long Thọ là con của một gia đ́nh Bà La Môn ở miền Nam Ấn Độ. Ngài tỏ ra có một khả năng phi thường về việc học, từ nhỏ đă học thông kinh điển Veda và rất thành thạo giáo lư Bà La Môn. Sau khi học xong, ngài rủ ba người bạn tiến vào một giai đoạn thứ hai, thử đi vào con đường dục lạc. Học được môn tàng h́nh, họ bắt đầu lén vào hoàng cung. Kết quả là nhiều cung nữ bị hiếp dâm và có một số mang thai. Một hôm, vị vua cho trải cát trên lối vào hoàng cung và cho lính mai phục chời đợi. Mặc dù bốn người thanh niên biết tàng h́nh, nhưng dấu chân của họ cũng đă in lên cát. Thế là lính t́m theo vết chân mà chém. Kết qua là ba người bạn đều chết, chỉ c̣n ḿnh ngài Long Thọ núp sát vị vua không bị chết rồi t́m cách trốn thoát được. Ngài nhận ra rằng sự đam mê và dục vọng là nguồn gốc của khổ đau, và quyết định xuất gia.

 

Sau khi xuất gia, ngài Long Thọ đọc ba tạng kinh, luật, luận chỉ trong ṿng chín mươi ngày. Nhưng ngài không thỏa măn, nên đă du hành nhiều nơi để cầu học. Trong cuộc du hành, ngài đă đi vào miền Bắc Ấn độ, và t́m gặp một vị ẩn tu trong Hy mă lạp sơn. Nơi đây, ngài được đọc một số kinh điển Đại Thừa và rất thích thú. Tuy nhiên, ngài vẫn cảm thấy c̣n có cái ǵ sâu xa hơn cần khám phá. Ngài đi khắp nơi trong nước Ấn Độ, viếng hỏi các triết gia và t́m kiếm kinh điển Đại Thừa. Cuối cùng, sau bao nhiêu khổ nhọc, ngài t́m được chân lư cao tột của Đại Thừa chứa trong Kinh Pháp Hoa.

 

Sau đó, ngài Long Thọ được Long vương mời xuống Long cung, nơi đây, ngài được cho xem nhiều kinh điển Đại Thừa, những kinh điển thâm diệu nhất. Ngài đọc những kinh điển này và hiểu thấu đưọc chân lư cao tột của Phật Pháp.

 

Theo các nhà học giả Phật Giáo, có ít nhất hai người trùng tên Nàgàrjuna. Một người ở miền Nam vùng Andhra, và sống vào khoảng thế kỷ thứ hai, và một người khác là một hành giả du già và là một nhà huyền thuật.

 

Trong Tam Tạng Trung Hoa, những văn bản về Bồ Tát Long Thọ có đến 20 bộ, tổng cộng 150 quyển. Có những tác phẩm nghi ngờ là được gán cho Long Thọ, ví dụ như Đại Trí Độ Luận. Tác phẩm quan trọng nhất của ngài là Trung Luận gồm bốn chương, kệ do ngài làm và chú thích do Pingala.

 

 

B) TRUNG QUÁN VÀ TÁNH KHÔNG

 

Như ta đă biết, giáo lư Tánh Không là nền tảng của Phật giáo Đại thừa nói chung và hệ thống Trung Quán nói riêng.

 

Theo A Tỳ Đạt Ma, các thành tố nền tảng tạo nên sự hiện hữu cũng gọi là pháp th́ thật sự hiện hữu, ngoài ra, mọi vật thể được tạo nên do các thành tố kia đều không thật có. Tuy nhiên, theo Bát Nhă, mọi hiện thể kể cả các thành tố nền tảng, pháp, thảy đều là những hiện hữu giả tạm, hay giả lập.

 

Trung Quán triển khai giáo lư Không của hệ thống Bát Nhă bằng một thứ lư luận phủ định sắc bén.

 

Với Trung Quán, các pháp đều là rỗng không (sùnya) có nghĩa là chúng không có một hiện hữu nội tại nào, mà chỉ hiện hữu trong sự đối đăi. Sự hiện hữu giả tạm này là sự hiện hữu do duyên sinh (pratityasamutpàda - duyên khởi), và v́ vậy nên gọi là không (sùnyatà).

 

Theo Pràsangika, duyên khởi cũng có nghĩa là nương vào tâm mà khởi, có nghĩa là mọi hiện thể chỉ là những giả lập trên tâm thức. Tất cả các pháp đều không hiện hữu một cách tự tại, mà đều dựa vào tâm thức, kể cả tâm thức và không. Như vậy, các pháp là không có nghĩa là chúng là giả lập, do tâm thức tạo nên, không hiện hữu tự tại, giống như mộng, như huyễn.

 

Trung Quán Luận bắt đầu với những câu kệ như sau:

 

"Không sinh cũng không diệt,

Không thường cũng không đoạn,

Không cùng cũng không khác,

Không đến cũng không đi.

Nói nhân duyên như thế,

Khéo trừ các hí luận.

Con cúi đầu lễ Phật,

Đệ nhất trong các thuyết."

(Bất sinh diệc bất diệt,

Bất thường diệt bất đoạn,

Bất nhứt diệc bất dị,

Bất lai diệc bất xuất.

Năng thuyết thị nhân duyên,

Thiện diệc chư hí luận.

Ngă khể thủ lễ Phật,

Chư thuyết trung đệ nhứt.)

 

Những câu kệ này rất phổ biến trong Phật Giáo Đại Thừa và thường được biểu thị bằng Tám Phủ Định (Bát Bất Trung Đạo.) Tám phủ định là: không sinh, không diệt, không dứt đoạn, không thường c̣n, không tương đồng không dị biệt, không đến, không đi.

 

Tuy nói rằng tám, nhưng không phải là giới hạn ở tám. Tám phủ định này là biểu trưng cho vô số phủ định, hay phủ định hết thảy. Với tiến tŕnh phủ định mọi khái niệm trong chiều hướng như vậy, dẫn đến sự ngộ nhập Tánh Không, Sunyata, là trọng tâm của giáo lư Trung Đạo của Long Thọ.

 

Không mà ngài Long Thọ muốn đề cập không phải là không trơn. Sự vật được coi là không v́ chúng ta muốn phủ định tất cả những khả tính, những tiên kiến, không phải là cái không của hư vô chủ nghĩa. Cái không đối kháng với cái có trong giáo lư của Long Thọ cũng bị phủ định như mọi khái niệm khác. Cái Không chân thật của Trung Đạo là cái trống không vượt lên trên không và có. Không vật ǵ có thể sinh ra từ ngoan không. Nhưng trong cái không của Trung Đạo, mọi sự vật có thể hiện khởi tùy theo nhân duyên.

 

Giáo lư Không của Trung Đạo có nguồn gốc từ giáo lư Duyên khởi (Thập Nhị Nhân Duyên) do chính Đức Phật dạy. Theo giáo lư này, không một sự vật nào trong thế gian này hiện hữu độc lập; mọi cái đều gắn liền với những cái khác trong mối tương liên nhân quả. Trong Trung Quán Luận, ngài Long Thọ nói về mối tương liên hiện hữu này bằng h́nh ảnh lửa và gỗ:

 

"Nếu cháy là vật cháy,

Cháy, vật cháy không hai.

Nếu cháy khác vật cháy,

Rời vật cháy, có cháy ..."

(Nhược thiêu thị khả thiêu,

Tác, tác giả tắc nhứt.

Nhược thiêu dị khả thiêu,

Ly khả thiêu hữu thiêu ...)

 

Lửa không thể thiêu nếu không có củi, do đó phải có củi mới có thể thiêu. Cũng thế, củi không thể gọi là củi nếu không có lửa. Lửa và củi đều không có sự hiện hữu độc lập, tách rời nhau. Do đó, chúng không thể được nói là có hiện hữu. Chúng chỉ hiện hữu trong sự trống không, hay nói cách khác chờ một tác nhân bên ngoài để có hiện hữu.

 

Mọi chúng sanh cũng đều như vậy, đều cùng một bản tánh tương thuộc lẫn nhau, đi vào sự hiện hữu xuyên qua nhân duyên, do đó được định tính là vô, không. Vô hay không này không phải là có mà cũng phải là không, mà vượt lên cả hai.

 

Nhưng theo Long Thọ, chúng ta nói rằng mọi pháp đều trống không, là v́ chúng hiện hữu trong điều kiện. Cũng thế, khái niệm Không cũng không khác ǵ hơn là một giả lập, giả danh. Đó là Trung Đạo. Có nghĩa là khái niệm về Không khởi ra trong quá tŕnh phủ định có và không, khái niệm Không này rốt ráo cũng phải được phủ định. Trung Đạo v́ vậy cũng chính là tiến tŕnh tuần tự phủ định. Đó là một cố gắng phơi bày tính duyên sinh bằng cách tuần tự nêu ra một tiến tŕnh phủ định liên tục, tận cùng.

 

Trường phái Theravada (Thượng Tọa Bộ) của Tiểu Thừa trong thời đại ngài Long Thọ vẫn c̣n nhiều thế lực, cho rằng các pháp là thật có, và dùng Abhidharma (A Tỳ Đạt Ma) để bảo vệ quan điểm. Ngài Long Thọ chứng minh quan điểm này sai bằng việc nêu lên quan điểm về tánh Không của tất cả các pháp. Theo ngài Long Thọ, Tiểu Thừa cũng lập trên Bát Nhă. Nhưng không phải chỉ dừng lại ở Không mà phải bước thêm để kiến nhập Trung Đạo Tánh Không như tŕnh bày ở trên.

 

Chẳng những ngài Long Thọ đả phá giáo lư sai lầm trong chính Phật Giáo, ngài c̣n nhắm vào các tôn giáo ngoài Phật Giáo, đả phá sự giải thích về "không" trên quan điểm hư vô của họ.

 

Ngài Long Thọ c̣n nhấn mạnh vào việc phá bỏ mọi khái niệm cố định. Trong Trung Luận, ngài nói rằng chư Phật có khi dạy ngă, có khi dạy vô ngă, có khi dạy không ngă cũng không không ngă. Ngài c̣n nói thêm rằng người nào chấp vào Không th́ người này khó cứu được. Chẳng những chúng ta phủ định có và không có, chúng ta c̣n phải từ bỏ luôn cả Không, chỉ như thế, mới thấy được tướng chân thật của vạn pháp, là Tánh Không.

 

Cũng không nên để bị tù nhốt trong những từ ngữ vô tri như nhân duyên, Tánh Không rồi giải thích các pháp, các hiện tượng thế gian như là có những tính chất bất biến. Như vậy sẽ không thể thấy được cái Không chân thật (Chơn Không), hay sự vắng bóng mọi đặc tính có định tính trong bản thể của chúng. Long Thọ v́ vậy nhấn mạnh rằng chúng ta không nên hiểu những khái niệm như Duyên sinh do Đức Phật dạy hoặc Trung Đạo do Long Thọ dạy trên mặt ngôn ngữ thuần túy, mà phải thể nghiệm những chân lư đó qua sự tu tập.

 

Tóm lại, chúng ta có thể tóm lược lập trường về tiến tŕnh quán chiếu thật tướng các pháp của ngài Long Thọ như sau:

 

Khởi từ không quán, quán chiếu tính giả danh của các khái niệm để bước vào thế giới diệu hữu của Trung Đạo. Chân lư này được thuyết minh qua bài kệ trong Trung Quán sau đây:

 

"Các pháp do duyên sinh,

Tôi thuyết tức là không;

Không cũng là giả gọi,

Cũng gọi nghĩa Trung Đạo."

(Nhân duyên sở sinh pháp,

Ngă thuyết tức thi không;

Thị danh vi giả danh,

Diệc danh Trung Đạo nghĩa)

 

 

C) HAI ĐẾ

 

Đặt nền tảng trên giáo lư Diệu hữu, ngài Long Thọ, trong bài kệ trả lời người cho rằng giáo pháp về Tánh Không của ngài có thể làm phá hoại Phật Giáo, viết:

 

"Chư Phật theo hai đế,

V́ chúng sanh thuyết pháp:

Thứ nhất Thế Tục Đế,

Hai: Đệ Nhất Nghĩa Đế.

Nếu người không hiểu rơ,

Phân biệt là hai đế,

Với Phật Pháp thâm sâu,

Không hiểu nghĩa chân thật.

Nếu không nương tục đế,

Không được Đệ Nhất Nghĩa.

Không được Đệ Nhứt Nghĩa,

Tất không được Niết Bàn."

(Chư Phật y nhị đế,

Vi chúng sanh thuyết pháp:

Nhứt dĩ thế tục đế,

Nhị đệ nhất nghĩa đế.

Nhược nhân bất năng tri,

Phân biệt ư nhị đế,

Tắc ư thâm Phật Pháp,

Bất tri chân thật nghĩa.

Nhược bất y tục đế,

Bất đắc Đệ Nhất Nghĩa.

Bất đắc Đệ Nhất Nghĩa,

Tắc bất đắc Niết Bàn.)

(Trung Quán Luận, phẩm 24)

 

Theo quan điểm Trung Quán, thế giới giả tạm là nền tảng cho sự tu tập, không có thế giới của tục đế này th́ sự giác ngộ Niết bàn không thể đạt được.

 

Tuy nhiên thế giới này không nên được coi như một thế giới cứu cánh, nhưng phải được nh́n thấy như thật tính của nó, tức là thế giới giả tạm, có nghĩa là phải được thấy là không có sự hiện hữu nội tại.

 

Khi thế giới giả tạm được quán chiếu đúng như thật, sẽ thấy rằng Tánh Không và thế gian không phải là hai cực đối nghịch, nhưng hàm chứa nhau. Tánh Không, được thấy xuyên qua cái nh́n phi nhị nguyên, được chứng thực bằng trực nhận vượt ngoài ngôn ngữ, khái niệm, chỉ là sự vắng bóng mọi hiện hữu nội tại.

 

Sai lầm lớn của những người đối lập với Long Thọ là họ cho rằng Tánh Không đồng nghĩa với sự không hiện hữu.

 

Theo Candrakirti, Tánh Không được dạy với mục đích phá bỏ những sai biệt trong danh ngôn, mạn lưới khái niệm, và v́ vậy không thể tương đồng với một khái niệm khác là vô hữu. Vô hữu phải nương tựa trên Hữu mới tồn tại. Duyên khởi đồng nghĩa với Tính Không, không phải là vô hữu. Tánh Không và duyên khởi hàm chứa nhau bởi v́ sự vật rỗng không không một chút hiện hữu nội tại, thay đổi không dừng.

 

Giáo lư về sự dung thông của hai đế được tŕnh bày kỹ trong Madhyamakàvatàra (Nhập Trung Luận) của Candraḱrti (Nguyệt Xứng).

 

Theo Candraḱrti, mọi hiện thể đều có hai tánh đi đôi với hai cái thấy là thấy đúng và thấy sai. Đối tượng của sự thấy đúng là thực tướng. Đối tượng của thấy sai là chân lư giả tạm.

 

Cả Candraḱrti và Tsong-kha-pa đều cho rằng thực tướng thấy được bằng sự thấy đúng không phải là một cái ǵ có sự hiện hữu nội tại.

 

Cái thấy sai lạc cũng có hai loại: một loại xảy ra với người có các cơ quan cảm nhận vận động b́nh thường và một loại xảy với những người cơ quan vận động khiếm khuyết. Loại sau là loại xă hội cho là sai lầm so với cái thấy trước được xă hội chấp nhận.

 

Tuy nhiên, đối tượng của cái thấy đúng thuộc thế gian chỉ đúng với thế tục chứ không đúng với người giác ngộ.

 

Thêm nữa, những khái niệm tưởng tượng từ sự suy tư triết lư sai lạc, như khái niệm về Ngă, là sai lạc ngay cả đối với cái nh́n thế tục. Các sự vật rỗng không được người thế tục thấy là thật có bởi v́ với sự vô minh nguyên thuỷy, người thế tục thấy sự vật là có sự hiện hữu nội tại. Tuy nhiên những người giác ngộ không nh́n thấy những sự vật giả tạm là có thật. Chúng chỉ là giả tạm (samvrtimàtra). Đây là cái thấy đúng về sự vật giả tạm. Atisa nói: một pháp, khi c̣n khả năng tác động, hiện khởi và tồn tại, và hoàn tất khi không bị sự phê phán đánh gia xen vào - và như vậy được coi là sự giả tạm đúng như thật.

 

Giả tạm và cứu cánh không phải là hai thực thể đối lập. Cứu cánh tức tánh rỗng không là cái làm cho giả tạm là giả tạm, có nghĩa là Tánh Không nh́n thấy sự giả tạm là giả tạm. Như vậy Tánh Không và giả tạm không phải hai, cũng không phải là một.

 

Giáo lư Không Hai cũng không được coi là chân lư cứu cánh như phái Duy Thức chủ trương, bởi v́ "một vật không sinh ra từ chính nó và từ vật khác, năng quán và sở quán cả hai đều không thật, và tri thức về tính Không Hai cũng được nh́n từ hai phạm trù trên cho nên đuợc coi là không thật, không phải là chân lư cứu cánh." (Kamalasila). Tánh Không của Trung Quán là không có sự tự tại, cũng không có sự hiện hữu của chân lư cứu cánh. Giáo lư Không Hai cũng chỉ là tri kiến và đối tượng của tri kiến, cả hai đều rỗng không.

 

Thị Giới.

 

sen 5 OK2