B15-JsLo OK

 

GIÁO LƯ BÁT NHĂ

 

Nguyên Hảo (Thị Giới) soạn dịch

(Theo các tài liệu: Bát Nhă Tâm Kinh Tư Tưởng Đích H́nh Thành của Trương Tác Lâm, The First Mileage of Buddhism của Daisaka Ikeda, Tổ Đường Tập, Mahayana Buddhist Mediatation của nhiều tác giả do Minoru Kiyota ấn hành, Bát Nhă Cương Yếu của TKN Hồng Ẩn...)

2.

 

ĐẠI TRÍ ĐỘ LUẬN

 

Đại Trí Độ Luận là bản luận chú thích Đại Phẩm Bát Nhă. Bản Phạn và bản Tây Tạng cho đến ngày nay vẫn không t́m thấy, chỉ c̣n bản Hán do Ngài Cưu Ma La Thập dịch.

 

Theo Ngài La Thập, tác giả Đại Trí Độ Luận chính là Ngài Long Thọ. Theo giáo thọ Lamote, tác giả Đại Trí Độ Luận là một người xứ Tây Bắc Ấn Độ, trước xuất gia theo học A Tỳ Đạt Ma của Hữu Bộ và rất thông thái về môn này, sau chuyển hướng về tư tưởng Không của Đại Thừa, chắc chắn với tác giả Trung Luận không phải cùng một người, và niên đại thành lập của Đại Trí Độ Luận là vào khoảng đầu thế kỷ thứ tư. Cũng có một số nghi vấn cho rằng Đại Trí Độ Luận là do chính Ngài La Thập trước tác.

 

Tuy nhiên đến ngày nay vấn đề này vẫn chưa có ǵ cụ thể.

 

Theo Vọng Nguyệt Phật Học Đại Tự Điển, Đại Trí Độ Luận nguyên danh là Mahàprajnàpàramitopadesa. Upadesa là luận. Theo Lamote, tên tối cổ của Đại Trí Độ Luận là Ma Ha Bát Nhă Ba La Mật Đa Thích Luận. Nguyên ngữ "thích luận" là "upadesa", tức là Mahàprajnàparamitppadesa hay Mahàprajnàparamitàsùtra-upadesa.

 

 

A) LẬP TRƯỜNG CĂN BẢN CỦA ĐẠI TRÍ ĐỘ LUẬN VỀ BÁT NHĂ

 

Đại Trí Độ Luận là luận chú thích Đại Phẩm Bát Nhă. Đầu tiên Đại Trí Độ Luận nêu ra những công đức của Bát Nhă như sau:

 

1/ Bát Nhă Ba La Mật là giáo lư cho Bồ Tát.

 

2/ Bát Nhă Ba La Mật tạo thêm dũng khí của Bồ Tát trong Niệm Phật Tam Muội.

 

3/ Từ trong Tam Muội, Phật đối trước các Bồ Tát thuyết Pháp, đó là Bát Nhă Ba La Mật.

 

4/ Nội dung sơ chuyển Pháp luân của Phật là Bát Nhă Ba La Mật.

 

5/ Đức Phật từ trong các Tam Muội hiển thị thần lực trang nghiêm thân, đó là Bát Nhă Ba La Mật.

 

6/ Đức Phật hiện vô lượng thần lực, trí tuệ lực, làm cho kẻ tà ác tin theo, đó là Lực Bát Nhă Ba La Mật.

 

7/ Bát Nhă Ba La Mật khai mở pháp nghĩa sâu mầu của ba mươi bảy bồ đề phần, tất cả đều hướng về chúng sanh hiển bày.

 

8/ Bát Nhă Ba La Mật chữa trị các bịnh kiết, sử của chúng sanh.

 

9/ Bát Nhă Ba La Mật hướng về chúng sanh hiển bày thân Phật, cùng năm phần Pháp Thân vô lượng.

 

10/ Bát Nhă Ba La Mật hiển bày đại thần lực và trí tuệ lực của Phật.

 

11/ Bát Nhă Ba La Mật là Trung Đạo.

 

12/ Cúng dường Pháp Thân Phật là Bát Nhă Ba La Mật.

 

13/ Bát Nhă Ba La Mật hiển bày tướng không thối chuyển.

 

14/ Bát Nhă Ba La Mật phá trừ ma và huyễn ma.

 

15/ Người cúng dường Bát Nhă Ba La Mật Đa nhập Vô Dư Niết Bàn.

 

16/ Trong các kinh điển, Phật thuyết bốn thứ kiến giải:

(a) Thế gian tất đàn (laukika-siddhànta): Vay mượn ngôn ngữ thế gian, thừa nhận các kiến giải thế gian.

(b) Các cá vi nhân tất đàn (pràtipaurusika): Kiến giải thuận ứng theo năng lực và thị hiếu riêng của cá nhân.

(c) Đối trị tất đàn (pràtipàksika-siddhànta): Kiến giải về việc thuyết giảng để trị liệu các bịnh một cách thích đáng.

(d) Đệ nhất nghĩa tất đàn (pàramàrthika-siddhànta): Kiến giải về việc phô bày thật tướng các pháp không sinh, không diệt.

Trong bốn loại tất đàn trên, loại thứ tư là là nội dung Bát Nhă Ba La Mật Đa.

 

17/ Bát Nhă Ba La Mật có đủ năng lực khiến cho các đại luận sư có lợi căn quy y Tam Bảo.

 

18/ Bát Nhă Ba La Mật ảnh hiện thật tướng các pháp.

 

19/ Bát Nhă Ba La Mật vượt ngoài mọi tranh cải, siêu vượt tướng có, không.

 

20/ Bát Nhă Ba La Mật không hiển bày trong thiện, bất thiện, vô kư

trong A Tỳ Đạt Ma, mà hiển bày trong phi thiện, phi bất thiện, phi vô kư.

 

21/ Bát Nhă Ba La Mật khác với phương pháp Tứ Niệm Xứ của Thanh Văn, thuyết Tứ Niệm Xứ.

 

22/ Bát Nhă Ba La Mật không hiển bày năm uẩn có tướng vô thường, khổ, không, vô ngă, mà hiển bày cái không của phi thường và phi vô thường.

 

Tóm lại có năm vấn đề được nêu ra:

 

1/ BÁT NHĂ BA LA MẬT VÀ BỒ TÁT: Bát Nhă Ba La Mật là giáo lư của Bồ Tát, giúp dũng khí cho Bồ Tát, khiến Bồ Tát nhập vị bất thối chuyển.

 

2/ BÁT NHĂ BA LA MẬT VÀ THẬT TƯỚNG CÁC PHÁP: Trong bốn tất đàn, ba cái đầu liên quan đến tục đế, cái thứ tư liên quan đến thật tướng các pháp. Trong Bát Nhă Kinh đă xuất hiện chữ Chân đế và Tục đế, Ngài Long Thọ trong Trung Luận dùng hai từ này rất nhiều. Lại nữa, Bát Nhă Ba La Mật soi rơ thật tướng của các pháp, vượt trên cái thấy hữu, vô là chủ đề của Bát Nhă Kinh.

 

3/ BÁT NHĂ BA LA MẬT VÀ TẾ ĐỘ CHÚNG SANH: Bát Nhă Ba La Mật cứu chúng sanh thoát khổ, đưa chúng sanh đi vào Phật Đạo.

 

4/ BÁT NHĂ NHĂ BA LA MẬT VÀ THANH VĂN THỪA: Đầu tiên Đức Phật chuyển Pháp Luân là Bát Nhă Ba La Mật. Nội dung sơ chuyển Pháp luân được coi là Trung Đạo, và Bát Nhă Ba La Mật là Trung Đạo. Căn cứ vào Bát Nhă Ba La Mật, không chấp trước vào pháp tướng của A Tỳ Đạt Ma, lư giải về các pháp Thanh Văn là Ba Mươi Bảy Bồ Đề Phần và Tứ Niệm Xứ là việc trọng yếu, và có thể chứng nhập Vô Dư Niết Bàn của Tam Thừa. Bát Nhă Ba La Mật không phủ định toàn bộ A Tỳ Đạt Ma, mà là cơ sở để học các pháp Thanh Văn.

 

5/ BÁT NHĂ BA LA MẬT VÀ CÔNG ĐỨC BẤT KHẢ TƯ NGH̀: Đức Phật nương vào Bát Nhă Ba La Mật hiện bày các loại lực thần biến, và các loại công đức bất khả tư ngh́.

 

 

B) ĐẠI TRÍ ĐỘ LUẬN VÀ ĐẠI PHẨM BÁT NHĂ

 

Mở đầu Kinh, Phật cùng năm ngàn Tỳ kheo, năm trăm Tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di, cùng rất nhiều Bồ Tát Ma ha tát, vân tập về núi Kỳ Xà Quật trong thành Vương Xá (Grdhakùtaparvata tức núi Linh Thứu). Lúc bấy giờ, Phật vào trong Tam muội, dùng thần thông hiển bày Thân để tế độ chúng sanh. Các vị Bồ Tát từ các nước Phật ở các phương Đông, Tây, Nam, Bắc cùng về núi Linh Thứu để nhập hội. Sau đó Phật hướng về Xá Lợi Phất giảng về việc tu học Bát Nhă Ba La Mật của các vị Đại Bồ Tát.

 

Đại Phẩm Bát Nhă Kinh gồm hai phần chính:

 

1) PHẦN THỨ NHỨT:

 

(a) Như thị ngă văn nhứt thời: Lời mở đầu của tất cả Kinh điển Phật Giáo do Đức Phật tuyên thuyết. Kinh Đại Phẩm Bát Nhă là do chính Đức Phật tuyên thuyết.

 

(b) Thuyết sự khác nhau giữa Không của Bồ Tát Ma Ha Tát và của Thanh văn.

 

(c) Dùng mười thí dụ để thuyết minh pháp Không: các pháp như huyễn, như ánh lửa, như trăng dưới nước,... , như bóng trong gương, như hóa.

 

2) PHẦN THỨ HAI:

 

Nói về những sự tu học Bát Nhă Ba La Mật của các Đại Bồ Tát:

 

(a) Sáu Ba La Mật.

 

(b) Ba mươi bảy Bồ Đề Phần.

 

(c) Mười tám pháp bất cộng.

 

(d) Mười tám loại Nội Không, Ngoại Không.

 

 

C) BỒ TÁT THỪA VÀ THANH VĂN THỪA

 

1/ KHÁC BIỆT GIỮA THANH VĂN VÀ BỒ TÁT

 

Đại Trí Độ luận được coi là cuốn bách khoa toàn thư về Phật giáo, nội dung bao gồm nhiều phương diện, với mục tiêu thuyết minh Thật Tướng các pháp, Bát Nhă Ba La Mật, và tuyên dương sự ưu việt của Đại Thừa đối với Tiểu Thừa.

 

Từ xưa đến nay, giới học Phật các nước Trung Quốc, Nhật Bản, v.v... chịu ảnh hưởng Đại Trí Độ Luận, phân biệt sự khác nhau giữa Tiểu Thừa và Đại Thừa.

 

"Đại Thừa quảng đại. Các thừa, các đạo đều qui vào Đại Thừa. Thanh Văn Thừa nhỏ bé, không dung chứa được Đại Thừa. Ví như Hằng Hà không chứa được biển lớn, nên nhỏ hẹp."

(Ma Ha Diễn quảng đại. Chư thừa, chư đạo giai nhập Ma Ha Diễn. Thanh Văn Thừa hiệp tiểu, bất thụ Ma Ha Diễn. Thí như Hằng Hà bất thụ đại hải, dĩ kỳ hiệp tiểu cố.)

 

"Là pháp chân thật của Phật, do chính miệng Phật thuyết, ngươi không soi xét, lại ngươi cũng từ trong Đại thừa mà sinh ra."

(Thị Phật chân pháp, Phật khẩu tuyên thuyết, nhữ vô phản, phục nhữ ṭng Ma Ha Diễn trung xuất sinh.)

 

Đại Trí Độ Luận lấy sự tu hành khác nhau giữa Bồ tát và Thanh văn để thuyết minh sự khác nhau của hai thừa.

 

Theo Đại Trí Độ Luận, Bồ Tát tu hành Đàn (Bố Thí) Ba La Mật, chỉ bố thí thân thể th́ không đầy đủ. Bố thí gồm ba hạng: hạ, trung và thượng. Bố thí tài sản là hạ, bố thí thân thể là bậc trung; tâm không chấp trước với mọi việc là sự bố thí cao hơn hết. Lấy tâm không chấp trước mà thực hành bố thí là Bố Thí Ba La Mật của Đại Thừa.

 

Đại Thừa Phật Giáo có khái niệm về Ba La Mật. Đức Phật trong những kiếp trước thực hành bốn ba la mật là Đàn (Bố thí), Giới, Tấn, Huệ như trong A Tỳ Đạt Ma đề cập. Với Đại Trí Độ Luận, Đàn Ba La Mật của Thanh Văn như thuyết trong A Tỳ Đạt Ma, gồm ba hạng bố thí, chỉ là bố thí bậc trung, không phải là Bố thí ba la mật chân chính.

 

"Nếu không v́ chúng sanh, không v́ hiểu thật tướng các pháp mà thí, chỉ cầu thoát khỏi sinh, già, bịnh, chết, đó là bố thí của Thanh văn. V́ hết thảy chúng sanh mà bố thí, lại v́ hiểu thật tướng các pháp mà bố thí, đó là bố thí của chư Phật, Bồ tát."

(Phục thứ, bất vị chúng sanh, diệc bất vị tri chư pháp thật tướng cố thí, đản cầu thoát sinh, lăo, bịnh, tử, thị vi Thanh Văn Đàn; vị nhứt thiết chúng sanh cố thí, diệc vị tri chư pháp thật tướng cố thí, thị vi chư Phật, Bồ Tát Đàn.)

Thanh Văn chỉ v́ muốn thoát khỏi sanh, già, bịnh, chết, Bồ Tát v́ nghĩ tưởng đến hết thảy chúng sanh, cố gắng hiểu biết thật tướng các pháp.

 

"Nếu bố thí với tâm không nhiễm trước, chán ghét thế gian, cầu vui Niết Bàn, đó là bố thí của A La Hán, Bích Chi Phật. Nếu bố thí v́ Phật Đạo, v́ chúng sanh, đó là bố thí của Bồ Tát."

(Nhược nhân bố thí tâm bất nhiễm trước, yếm hoạn thế gian, cầu Niết Bàn lạc, thị vi A La Hán, Bích Chi Phật bố thí. Nhược nhân bố thí vị Phật Đạo, vị chúng sinh cố, thị vi Bồ Tát bố thí.

 

Từ đó nêu ra sự khác biệt giữa A La Hán và Bồ Tát:

 

"Các pháp Thanh văn tuy có Bốn Đế, lấy Vô Thường, Khổ, Không, Vô Ngă mà quán thực tướng các pháp, trí tuệ đó không đầy đủ, không sắc bén, không thể v́ hết thảy chúng sanh, không đến được Pháp Phật. Tuy có trí huệ chân thật, không gọi là Bát Nhă Ba La Mật. .... Các vị A La Hán, Bích Chi Phật khi phát tâm, không có nguyện lớn, không đại từ đại bi, không cầu hết thảy công đức, không cúng dường hết thảy chư Phật ba đời trong mười phương, không xét rơ cầu hiểu biết thật tướng các pháp, chỉ cầu thoát các khổ già, bịnh, chết. Các Bồ Tát từ khi phát thệ nguyện lớn khi mới phát tâm, có đại từ bi, cầu hết thảy các công đức, cúng dường hết thảy mười phương các đức Phật trong ba đời. Có trí tuệ sắc bén để cầu thật tướng các pháp, trừ hết các loại quán, như là tịnh quán, bất tịnh quán, thường quán, vô thường quán, lạc quán, khổ quán, không quán, thật quán, ngă quán, vô ngă quán."

(Thanh Văn pháp trung tuy hữu Tứ Đế, dĩ vô thường, khổ, không, vô ngă quán chư pháp thật tướng, dĩ trí tuệ bất cụ túc bất lợi, bất năng vị nhứt thiết chúng sanh, bất vị đắc Phật Pháp cố. Tuy hữu chân trí tuệ, bất danh Bát Nhă Ba La Mật. ...Chư A La Hán, Bích Chi Phật sơ phát tâm thời, vô đại nguyện, vô đại từ đại bi, bất cầu nhứt thiết chư công đức, bất cúng dường nhứt thiết tam thế thập phương Phật, bất thẩm đế cầu tri chư pháp thật tướng, đản dục cầu thoát lăo, bịnh, tử khổ cố. Chư Bồ Tát ṭng sơ phát tâm hoằng đại thệ nguyện, hữu đại từ bi, cầu nhứt thiết chư công đức, cúng dường nhứt thiết tam thế thập phương chư Phật. Hữu đại lợi trí cầu chư pháp thật tướng, trừ chủng chủng chư quán, sở vị tịnh quán, bất tịnh quán, thường quán, vô thường quán, lạc quán, khổ quán, không quán, thật quán, ngă quán, vô ngă quán.)

 

Tóm lại, Đại Trí Độ phân tích sự khác biệt giữa Thanh văn và Bồ tát như sau:

 

THANH VĂN THỪA: Học tập Tứ Đế. Không có đại nguyện, không có tâm đại từ, không biết thật tướng các pháp.

 

BỒ TÁT THỪA: Tu hành sáu Ba La Mật. Có đại nguyện, có từ tâm lớn, biết thật tướng các pháp, vượt qua các quán.

 

Thanh Văn Thừa chỉ học tập Bốn Đế, không có nguyện lớn cứu độ chúng sanh, do đó không có tâm đại bi, cũng không biết thật tướng không sinh không diệt của các pháp. Trái lại, Bồ Tát Thừa phát nguyện lớn, tu hành Lục Độ Ba La Mật, muốn lấy tâm Đại Bi cứu chúng sanh, nương Bát Nhă Ba La Mật giác ngộ các pháp không sinh không diệt.

 

2/ BỒ TÁT TIỂU THỪA VÀ BỒ TÁT ĐẠI THỪA

 

Với Tiểu Thừa, Bồ Tát là những kiếp tu hành trước khi thành Phật của Đức Thế Tôn. Tiểu Thừa nhận thấy nhân cách quá vĩ đại của Đức Thế Tôn, tự cho ḿnh chỉ chứng đến quả A La Hán, không dám cho ḿnh có thể là Bồ Tát. Trái lại, Đại Thừa Phật Giáo noi theo sự tu hành của Đức Thế Tôn, lấy Bất Động Địa làm chỗ tu hành, tự xưng là Bồ Tát. Từ đó có sự khác biệt giữa Bồ tát Tiểu Thừa Bồ và Bồ tát Đại Thừa.

 

Theo Tiểu Thừa Phật giáo, khi đức Thế Tôn tu hành Đạo Bồ Tát trong những kiếp quá khứ, trải qua ba đại a tăng kỳ kiếp cúng dường chư Phật, trong một trăm kiếp sau cùng tu hành sáu Ba La Mật (Đại Tỳ Bà Sa Luận nói bốn Ba La Mật), gieo trồng nhân duyên đầy đủ để có được ba mươi hai tướng tốt. Sau đó sinh vào thế gian này, trải qua sáu năm miên mật tu hành để chứng quả tối hậu là thành Phật.

 

Trong ba đại a tăng kỳ kiếp cúng dường chư Phật đó, tại a tăng kỳ kiếp thứ nhứt, không biết tương lai sẽ thành Phật; tại a tăng kỳ kiếp thứ hai, tự biết tương lai sẽ thành Phật nhưng không nói ra. Trong a tăng kỳ kiếp thứ ba, quyết định tương lai sẽ thành Phật, và không do dự nói rằng "Ta sẽ thành Phật". Qua thời gian ba a tăng kỳ kiếp đó, một trăm kiếp tiếp theo tu các hạnh Ba La Mật, tạo đầy đủ nhơn duyên cho ba mươi hai tướng tốt. Căn cứ vào Tiểu Thừa Hữu Bộ, trước khi tu nhơn cho ba mươi hai tướng trang nghiêm, không thể coi là Bồ Tát thật sự. Chỉ một trăm kiếp sau cùng thực hành Ba La Mật mới được gọi là Bồ Tát.

 

Tuy nhiên, theo Đại Trí Độ Luận:

 

"Với Đại thừa, khi sơ phát tâm th́ biết là ḿnh sẽ làm Phật."

(Ma Ha Diễn trung thuyết sơ phát tâm, thị thời tri ngă đương tác Phật.)

 

Sau khi phát tâm th́ liền được gọi là Bồ Tát. Theo Đại Trí Độ Luận, khởi từ ba a tăng kỳ kiếp tu hành đă là Bồ Tát chân thật. Tư tưởng nầy giúp mănh khí cho người tu đạo.

 

 

D) BÁT NHĂ BA LA MẬT VÀ THẬT TƯỚNG CÁC PHÁP

 

1/ NHỨT THIẾT PHÁP KHÔNG

 

Đại Trí Đô Luận là sách chú thích Đại Phẩm Bát Nhă Kinh, do đó chủ đề của luận là giải thích Bát Nhă Ba La Mật và Thật Tướng các Pháp. Trước tiên, Đại Trí Độ Luận dùng mười thí dụ để thuyết minh về Nhứt Thiết Pháp Không. Đại Trí Độ Luận phản đối lập trường cho rằng các pháp là thật có (sarvam asti) của Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvàstivàdin). Đại Trí Độ Luận căn cứ vào mệnh đề "Nhứt thiết pháp nhân duyên sinh" để thuyết minh nhứt thiết pháp không. Nhứt thiết pháp nhân duyên sinh là tư tưởng được đề cập trong Kinh Bát Nhă.

 

"Thí dụ về huyễn đó, thấy hết thảy pháp hữu vi do chúng (duyên) sanh là không, không kiên cố."

(Thị huyễn thí dụ, thị chúng sanh nhứt thiết hữu vi pháp không vô kiên cố.)

 

"Giống như hư không, chỉ có tên gọi, không phải pháp chân thật."

(Như hư không giả, đản hữu danh nhi vô chân pháp.)

 

Khác với Hữu Bộ cho rằng các pháp thật có, với Đại Thừa, chúng chỉ có tên gọi, ngoài cái không ra, không c̣n ǵ khác, giống như bóng trong gương. V́ hết thảy các pháp đều do nhân duyên sinh ra.

 

"Các pháp theo nhân duyên sinh không có tự tánh, giống như h́nh trong gương."

(Chư pháp ṭng nhân duyên sinh vô tự tánh, như kính trung tượng.)

 

"Như h́nh trong gương, chân không không sinh không diệt, lừa gạt con mắt phàm phu, hết thảy các pháp cũng như vậy, chân thật không vô không sinh không diệt, dối gạt mắt người phàm phu."

(Như kính trung tượng, chân không bất sinh bất diệt, cuống hoặc phàm phu nhân nhăn, nhứt thiết chư pháp diệc phục như thhị, không vô chân bất sinh bất diệt, cuống hoặc phàm phu nhân nhăn.)

 

Hết thảy các pháp đều do nhân duyên sinh, do đó nên là không. Hết thảy các pháp là không nên không sinh không diệt. Có thực thể th́ có sinh diệt, v́ hết thảy là không, nên không sinh không diệt.

 

Các pháp là do nhân duyên sinh nên là không, v́ là không nên không sinh không diệt. Đó là lập trường của Bát Nhă Kinh. Tướng trạng chân thật đó của các pháp gọi là Thật Tướng Các Pháp (Chư Pháp Thật Tướng).

 

2/ THẬT TƯỚNG CÁC PHÁP

 

Câu "Chư Pháp Thật Tướng" tiếng Phạn là "dharmata". Chữ này được dịch ra chữ Hán là "pháp tánh", có nghĩa là "h́nh trạng chân thật của các pháp." Đại Trí Độ Luận giải thích về tướng chân thật của các pháp như sau đây.

 

Tướng chân thật của các pháp không sinh không diệt, thường trụ như tướng tịch diệt (Niết Bàn). Bồ tát quán tướng của các pháp là không thường không vô thường, không khổ không vui, không tự tại cũng không không tự tại v.v., tuy nhiên cũng không nương bám vào các quán. Thật tướng của các pháp v́ vậy, vượt ngoài mọi h́nh tướng, mọi ngữ ngôn, định nghĩa, mọi bám víu, vượt ngoài các quán.

 

"Hỏi: Thế nào là tướng thật của các pháp? Đáp: Các người thuyết thật tướng của các pháp, tự cho đó là thật. Trong thật tướng đó, không thể phá hoại, thường trụ không đổi, không thể tạo tác. Như trong Phẩm kinh, Phật nói với Tu Bồ Đề, Bồ Tát quán hết thảy các pháp, không thường không vô thường, không khổ không vui, không ngă không vô ngă, không hữu không vô các thứ, mà không khởi sự quán đó, gọi là Bồ Tát thực hành Bát Nhă Ba La Mật. Gọi là xả hết thảy các quán, diệt hết thảy ngôn ngữ rời ĺa các tâm hành, từ đầu đến sau không sinh không diệt như tướng Niết Bàn; hết thảy các pháp tướng đều như vậy, gọi là tướng thật của các pháp."

(Vấn: Vân hà thị chư pháp thật tướng? Đáp viết, chúng nhân các cá thuyết chư pháp thật tướng, tự dĩ vi thật. Thử trung thật tướng giả, bất khả phá hoại, thường trụ bất dị, vô năng tác giả. Như ṭng phẩm trung, Phật ngữ Tu Bồ Đề, nhược Bồ Tát quán nhứt thiết pháp, phi thường phi vô thường, phi khổ phi lạc, phi ngă phi vô ngă, phi hữu phi vô đẳng, diệc bất tác thị quán, thị danh Bồ Tát hành Bát Nhă Ba La Mật. Thị danh xả nhứt thiết quán, diệt nhứt thiết ngôn ngữ ly chư tâm hành, ṭng bản dĩ lai bất sinh bất diệt như Niết Bàn tướng; nhứt thiết pháp tướng diệc như thị, thị danh chư pháp thật tướng.)

 

Đối với Hữu bộ th́ có sự phân biệt giữa ba thời: quá khứ, hiện tại, vị lai. Với Bát nhă, thật tướng của các pháp chẳng những vượt ngoài hạn lượng của không gian mà c̣n vượt ngoài hạn lượng của thời gian, do đó, không c̣n tồn tại sự phân biệt giữa ba thời.

 

"Trong thật tướng các pháp, ba đời là một không khác."

(Chư pháp thật tướng trung, tam thế đẳng nhứt vô dị.)

 

Người không trí cho rằng các pháp có nhiều tướng trạng. Khi nh́n thấy thật tướng của các pháp th́ chỉ có một tướng, không phân tán, không hội hợp. Tướng này siêu vượt các tướng nên chỉ có thể gọi là "Vô Tướng."

 

"Bồ Tát quán hết thảy các pháp không hội hợp, không phân tán, không sắc, không h́nh, không đối, không thấy, không nói đó là một tướng. Đó là không tướng. Như thế các pháp thảy đều một tướng."

(Bồ Tát quán nhứt thiết pháp bất hợp, bất tán, vô sắc, vô h́nh, vô đối, vô thị, vô thuyết nhứt tướng. Sở vị vô tướng. Như thị đẳng chư pháp nhứt tướng.)

 

Tướng thật của các pháp đó c̣n được gọi là Như (tathatà), Pháp Tánh (dharmadhàtu), Thật Tế (bhùtakoti), chỉ khác tên mà cùng một nghĩa.

 

"Ba tên đó (như, pháp tánh, thật tế) đều là tên khác của tướng thật các pháp."

(Thị tam giai thị chư pháp thật tướng dị danh.)

 

Trí tuệ hiểu được thật tướng các pháp đó là Bát Nhă Ba La Mật.

 

3/ Ư NGHĨA BÁT NHĂ BA LA MẬT

 

Sau đây là thuyết minh của Đại Trí Độ Luận về Bát Nhă Ba La Mật.

 

Tướng trạng chân thật của hết thảy các pháp ĺa tất cả mọi sự đối đăi nhị nguyên, vượt ngoài mọi nói năng suy lường. Trí Tuệ thực hành sự quán tưởng đó là Bát Nhă Ba La Mật, cũng không được coi là có tướng. Bồ Tát tu Bát Nhă Ba La Mật không chấp trước vào Bát nhă ba la mật, rời ĺa mọi quán như đă nói ở trên, tịch diệt, bất động, không suy lường, không hí luận (nisprapanca). Đó là trí tuệ tối cao.

 

"Trong Bát Nhă này, có cũng không, không cũng không, không có không không cũng không, lời nói ra đó cũng không. Gọi là pháp tịch diệt, không suy lường, không hí luận. Do đó không thể phá, không thể hoại. Gọi đó là Chân Thật Bát Nhă Ba La Mật. Vượt trội không ǵ hơn."

(Thử Bát Nhă trung, hữu diệc vô, vô diệc vô, phi hữu phi vô diệc vô, như thị ngôn thuyết diệc vô. Thị danh tịch diệt, vô lượng, vô hí luận pháp. Thị cố bất khả phá, bất khả hoại. Thị danh chân thực Bát Nhă Ba La Mật. Tối thắng vô quá giả.)

 

Bát Nhă Ba La Mật là trí tuệ hiểu rơ thật tướng các pháp. Đối với Bồ tát, từ khi mới phát tâm là cầu hiểu rơ thật tướng các pháp. Do đó, Bát Nhă Ba La Mật là khởi điểm và mục đích tu hành của Bồ Tát.

 

"Hỏi: Như thế nào gọi là Bát Nhă Ba La Mật? Đáp: Các Bồ Tát từ khi mới phát tâm trong khi cầu nhứt thiết chủng trí (sarvàkàrajnàna), trí tuệ biết thật tướng của các pháp là Bát Nhă Ba La Mật."

(Vấn viết: Vân hà danh vi Bát Nhă Ba La Mật? Đáp viết, Chư Bồ Tát ṭng sơ phát tâm, cầu nhứt thiết trí ư kỳ trung gian, tri chư pháp thật tướng huệ, thị Bát Nhă Ba La Mật.)

 

Bát Nhă Ba La Mật là trí tuệ tu tập quán chiếu thật tướng của các pháp trước khi Bồ Tát thành Phật, là trí huệ học tập để biết thật tướng của các pháp. Tuy nhiên, Bát nhă Ba La Mật không phải chỉ là đạo tu hành của Bồ Tát. Nơi Phật Trí đó là Nhứt Thiết Chủng Trí.

 

"Hỏi: Như ông không được gọi là Ba La Mật, v́ sao? V́ không đến bờ mé của trí tuệ. Đáp: Trí tuệ Phật sở đắc là Ba La Mật chân thật. Nhân là Ba La Mật, chỗ tu hành của Bồ Tát cũng là Ba La Mật, nơi nhân thuyết quả, Bát Nhă Ba La Mật đó trong tâm Phật biến danh là Nhứt Thiết Chủng Trí. Bồ Tát tu hành trí tuệ cầu đến bờ bên kia, gọi là Ba La Mật, Phật đă đến bờ bên kia, gọi Nhứt Thiết Chủng Trí."

(Vấn viết: Nhược nhĩ giả, bất ứng danh vi ba la mật, hà dĩ cố? Vị đáo trí tuệ biên cố. Đáp viết: Phật sở đắc trí tuệ thị chân Ba La Mật. Nhân thị Ba La Mật cố, Bồ Tát sở hành diệc danh Ba La Mật, nhân trung thuyết quả cố, thị Bát Nhă Ba La Mật tại Phật tâm trung biến danh vi Nhứt Thiết Chủng Trí. Bồ Tát hành trí tuệ cầu độ bỉ ngạn cố, danh Ba La Mật, Phật dĩ độ bỉ ngạn cố, danh Nhứt Thiết Chủng Trí.)

 

Ba La Mật chỉ ư tối cao, hoàn thành, hoàn toàn. Như thế Bát Nhă Ba La Mật chỉ cho trí tuệ ḥan toàn, đó là trí tuệ của Phật. Trong Phật Giáo Đại Thừa, các vị Bồ Tát nguyện hướng đến sự giác ngộ của Phật, y như Phật. Mục đích cứu cánh của Bồ Tát là sự giác ngộ của Phật, là cảnh giới của Phật. Nhưng với Bồ Tát, sự tu hành hiện tại của chính ḿnh là thật trọng yếu nhất. Đó là con đường đi đến bờ bên kia, là Ba La Mật (pàramità: pàram là hướng đến bờ bên kia, ità là đến, là qua đến bờ bên kia). Trung gian tu hành của Bồ tát là Bát Nhă Ba La Mật.

 

 

E) BÁT NHĂ BA LA MẬT VÀ ĐẠI BI

 

Như trên đă nói, trí tuệ thấu hiểu thật tướng không sinh không diệt của các pháp là Bát Nhă Ba La Mật và Bồ tát nương vào trí tuệ này để đi đến bờ bên kia. Nhưng chúng ta đều biết rằng Phật Giáo Đại thừa lấy đại bi làm gốc, như vậy trong Bát Nhă Ba La Mật có Đại Bi hay không?

 

Theo Đại Trí Độ Luận, tuy tướng chân thật của các pháp tịch diệt, bất động, không tạo không tác, nhưng với tâm nguyện độ thoát chúng sinh, Bồ tát dùng sức tinh tấn, dĩ nhiên là tinh tấn ba la mật, khởi tâm Từ Bi độ thoát hết thảy chúng sinh. Bởi v́ tinh tấn ba la mật không ở bên ngoài thật tướng, v́ thật tướng là tịch diệt, không nhất không nhị.

 

"Tuy biết thật tướng các pháp không tạo không tác, với tâm bản nguyện đại bi muốn độ chúng sanh, trong chỗ vô tác lấy sức tinh tấn độ thoát hết thảy. Lại, nếu thật tướng các pháp là không tạo không tác, như tướng Niết Bàn, không nhất không nhị, ông có thể nói thực tướng và tinh tấn khác nhau sao?"

(Tuy tri chư pháp thật tướng vô vi vô tác, dĩ bản nguyện đại bi dục độ chúng sanh cố, ư vô tác trung dĩ tinh tiến lực độ thoát nhứt thiết. Phục thứ, nhược chư pháp thật tướng vô vi vô tác, như Niết Bàn tướng, vô nhứt vô nhị, nhữ vân hà ngôn, thực tướng dữ tinh tiến tương dị?)

 

Bồ tát, trong Bát Nhă Ba La Mật, thấu rơ thật tướng các pháp vô vi vô tác, chúng sanh không thể đắc, và nhớ bản nguyện Đại Bi tế độ chúng sanh c̣n đang vô minh, muốn làm cho chúng sanh biết rơ thật tướng đó của các pháp.

 

"Bồ Tát trong Bát Nhă Ba La Mật, biết thật tướng các pháp, nghĩ nhớ bản nguyện muốn độ chúng sanh, suy nghĩ như vầy: trong thật tướng các pháp, chúng sanh không thể đắc, ta lấy ǵ để độ ? Lại suy nghĩ rằng trong thật tướng các pháp, chúng sanh tuy không thể được, nhưng chúng sanh không biết tướng đó của các pháp, muốn làm cho rơ biết thật tướng đó."

(Bồ Tát dĩ Bát Nhă Ba La Mật, tri chư pháp thật tướng, niệm kỳ bản nguyện, dục độ chúng sanh, tác thị tư duy, chư pháp thật tướng trung, chúng sanh bất khả đắc, đương vân hà độ ? Phục tác thị niệm, chư pháp thật tướng trung, chúng sanh tuy bất khả đắc, nhi chúng sanh bất tri thị chư pháp tướng cố, dục linh tri thị thật tướng.)

 

Bồ tát "trong Bát Nhă Ba La Mật, biết thật tướng các pháp, nghĩ nhớ bản nguyện muốn độ chúng sanh". Do đó, Bát Nhă Ba La Mật bao hàm biết thật tướng của các pháp và cứu độ chúng sanh. Có nghĩa là Bát Nhă chỉ rốt ráo (ba la mật) khi bao hàm cả trí biết thật tướng các pháp và Tâm Đại Bi.

 

"Các Bồ Tát từ lúc mới phát tâm, mở thệ nguyện lớn, có Tâm Đại Bi, cầu hết thảy công đức, cúng dường hết thảy chư Phật ba đời, có trí rất bén nhạy, cầu thật tướng các pháp, trừ hết các thứ quán. ... Sự hành xử của Thánh nhân, gọi là Bát Nhă Ba La Mật."

(Chư Bồ Tát tự sơ phát tâm, hoằng đại thệ nguyện, hữu đại bi tâm, cầu nhứt thiết chư công đức, cúng dường nhứt thiết tam thế thập phương chư Phật, hữu đại lợi trí, cầu chư pháp thật tướng, trừ chủng chủng chư quán. ...Chư Thánh nhân hành xứ, thị danh Bát Nhă Ba La Mật.)

 

Ta thấy Đại Từ Bi và cầu thật tướng các pháp là nội dung của Bát Nhă Ba La Mật. Thực hành hạnh từ bi cũng đồng thời là tiến về trí tuệ biết thật tướng các pháp. Trong Bát Nhă Ba La Mật, hai cái không tách rời. Bởi v́ ḷng Từ Bi của Bồ tát tràn khắp vũ trụ và ḷng Từ Bi đó là gạch nối giữa chân đế và tục đế.

 

"V́ hết thảy chúng sanh cho nên thí, cũng v́ muốn biết thật tướng các pháp cho nên thí, đó là bố thí của chư Phật, Bồ Tát."

(Vị nhứt thiết chúng sanh cố thí, diệc vị tri chư pháp thật tướng cố thí, thị vi chư Phật Bồ Tát đàn.)

 

Bố thí này là Bố Thí Ba La Mật, bao hàm "V́ hết thảy chúng sanh" và "V́ biết thật tướng các pháp." Bố thí Ba la mật muốn được gọi là Ba La Mật phải nương vào Bát Nhă Ba La Mật. Do đó, Đại Bi không tách rời trí biết thật tướng các pháp. Vả lại, Bồ tát dùng sức phương tiện không nghiêng lệch giữa Bi và Trí, Bi và Trí dung nhiếp trong độ sanh và quán thật tướng, không phương hại nhau.

 

"Có tâm Bi mà nghĩ rằng: Nếu các pháp đều không, tắc không có chúng sanh, vậy th́ ai được độ, khi đó tâm Bi suy yếu; hoặc khi đó thấy chúng sanh thật đáng thương xót, mà sự quán tướng Không của các pháp suy yếu; nếu có phương tiện lực, đối với hai tướng (Đại Bi và Thật tướng các pháp) đều không nghiêng lệch, tâm Đại Bi không phương hại thật tướng các pháp, đắc thật tướng các pháp không phương hại tâm Đại Bi, phát khởi phương tiện như vậy, lúc bấy giờ nhập vào Pháp vị Bồ Tát, trụ A Bệ Bạt Trí Địa."

(Đắc Bi Tâm nhi tác thị niệm, nhược chư pháp giai không, tắc vô chúng sanh, thùy khả đắc độ giả, thị thời Bi Tâm tiện nhược; hoặc thời dĩ chúng sanh khả mẫn, ư chư pháp không quán nhược; nhược đắc phương tiện lực, ư thử nhị pháp đẳng vô thiên (?), Đại Bi Tâm bất phương chư pháp thật tướng, đắc chư pháp thật tướng bất phương đại bi, sinh như thị phương tiện, thị thời tiện đắc nhập Bồ Tát Pháp Vị, trụ A Bệ Bạt Trí Địa.)

 

Ở đây nói về phương tiện. Nhập vào Bồ Tát Pháp vị (bodhisattvanyàma), thành bậc Bồ Tát không thối chuyển, việc học tập Bát Nhă Ba La Mật không thể thiếu. Có nghĩa là phối hợp Tâm Đại Bi và Trí Tuệ thấu rơ thật tướng các pháp là Bát Nhă Ba La Mật.

 

Như trên, Bát Nhă Ba La Mật bao hàm Trí Tuệ thấu rơ thật tướng các pháp và Đại Bi. Tuy nhiên, theo Đại Trí Độ Luận, ở một phương diện khác, Bát Nhă Ba La Mật Đa và Đại Bi là hai sự khác nhau. Bát Nhă Ba La Mật là Trí Tuệ thấu rơ thật tướng các pháp, Đại Bi được xây dựng trên một nguyên lư khác hơn.

 

"Khi Bồ Tát tu hành Bát Nhă Ba La Mật, quán các pháp đều không. Không cũng lại là không, diệt các quán được Bát Nhă Ba La Mật vô ngại, lấy sức phương tiện Đại Bi khởi lên các công đức."

(Bồ Tát hành Bát Bát Nhă Ba La Mật thời, phổ quán chư pháp giai không. Không diệc phục không, diệt chư quán đắc vô ngại Bát Nhă Ba La Mật, dĩ Đại Bi phương tiện lực hoàn khởi chư công đức nghiệp.)

 

Sự khác nhau đó được Đại Trí Độ Luận thuyết minh:

 

"Phàm việc tu hành, lấy Bát Nhă Ba La Mật để biết thật tướng các pháp, lấy tâm Đại Bi nghĩ thương chúng sinh."

(Tu hành dĩ, dĩ Bát Nhă Ba La Mật tri chư pháp thật tướng, dĩ Đại Bi tâm mẫn niệm chúng sanh.)

 

Như chúng ta biết, sau khi Đức Thích Tôn thành đạo, Ngài nghĩ rằng Pháp Ngài chứng ngộ rất sâu mầu, do đó không muốn giảng dạy cho người. Sau v́ sự cầu xin của Phạm Thiên, Thích Tôn mới quyết định đem Giáo Pháp giảng dạy. Lúc đó, Thế Tôn phát khởi Tâm Đại Bi, và với Tâm Đại Bi này, suốt một đời v́ chúng sanh gỉảng dạy Chân Lư. Có nghĩa là từ lúc đó, Trí Tuệ thấu rơ thật tướng các pháp và Tâm Đại Bi đều có nơi đức Thích Tôn.

 

Phái Tiểu Thừa cho rằng trung tâm sự chứng ngộ ngộ của Đức Thích Tôn là Bốn Đế, và cho đó là chân lư, là thật tướng các pháp, thấu rơ pháp này là tiến đến Niết Bàn. Do đó, họ đem toàn lực tu học Bốn Đế, để hoàn thành lư giải về sự tu hành đó. Người tu hạnh Tiểu Thừa trước giữ giới luật, tu Thiền định, ở trong định phân tích quán sát Bốn Đế, để đắc Trí tuệ. Mượn Trí tuệ này dứt trừ phiền năo, nhập Niết Bàn. Do đó Trí tuệ này rất trọng yếu. Tuy nhiên, một thành phần rất trọng yếu nơi nhân cách của Đức Thích Tôn, đó là Đại Bi Tâm, th́ Phật giáo đồ Tiểu Thừa bỏ sót.

 

Sự thành lập Đại Thừa Phật Giáo là do từ Tâm Đại Bi. Tâm cứu độ chúng sanh được thấy rơ ràng trong suốt cuộc đời của Đức Thích Tôn, nơi nhân cách của Đức Thích Tôn. Cố gắng bước theo gót chân của Đức Thích Tôn, từ đó phát sinh ra Bồ Tát Đại Thừa.

 

Như vậy, Chân lư (thật tướng các pháp) do Tiểu Thừa đề xướng không phải là chân lư siêu việt. Phật giáo Đại Thừa thấu rơ trí tuệ chân thật của chân lư đức Thích Tôn dạy, kết hợp với Đại Bi Tâm làm động lực cứu tế chúng sanh. Từ tam học Giới, Định, Huệ là chỗ tu hành của các vị Tiểu Thừa Phật Giáo, Bồ tát Đại thừa thêm vào Đàn (Thí), Nhẫn, Tấn để thành sáu Ba La Mật, vừa thực hành trí tuệ giải thoát, vừa tế độ chúng sanh, để thành tựu Bát Nhă Ba La Mật.

 

Về ư nghĩa Bát Nhă Ba La Mật là ǵ, có hai cách giải thích. Cách giải thích thứ nhứt là đối với các trường hợp khác nhau của sáu Ba La Mật. Đó là phân biệt "Bát Nhă Ba La Mật" với các Ba La Mật khác mà giải thích. Đây là hệ đối nghiệp thích (karmadhàraya).

 

Cách thứ hai giải thích Bát Nhă Ba La Mật là hệ y chú thích (tatpurusa). Ba la mật (paramita) vốn chỉ cho sự hoàn thành, hoàn toàn. Do đó, Bát Nhă Ba La Mật có nghĩa là sự Hoàn Thành của Trí Tuệ. Ở đây như vậy Bát Nhă Ba La Mật có nghĩa là "Trí Tuệ Hoàn Toàn."

 

Trong các kinh điển Bát Nhă, hai ư nghĩa nêu trên đều được sử dụng, nhưng nguyên nghĩa là nghĩa thứ hai, tức "Hoàn thành Trí tuệ", "Trí Tuệ Hoàn Toàn." Có nghĩa là Trí tuệ hoàn toàn đối với trí tuệ của Tiểu Thừa.

 

Về thật tướng các pháp, Tiểu Thừa Hữu Bộ cho các pháp là thật có, và coi đó là Trí Tuệ tuyệt đối. Kiến giải về thực tướng các pháp này không phải là Trí tuệ hoàn toàn. Trí Tuệ này của Tiểu Thừa không hàm chứa Tâm Đại Bi mà đức Thế Tôn đă thể hiện qua suốt đời hành đạo giáo hóa của Ngài. Trí Tuệ Đại Thừa hàm chứa Tâm Đại Bi, là động lực đưa đến hành động thực tiễn cứu độ chúng sanh, do đó là Trí Tuệ Hoàn Toàn.

 

Từ xưa Trí Tuệ (prajnà) và Đại Bi (mahàkuranà) bị coi như hai việc hoàn toàn riêng rẽ. Chỉ khi nhận thấy nơi Đức Thích Tôn, cùng lúc hiện diện cả Trí Tuệ chứng biết thực tướng các pháp và Tâm Đại Bi cứu độ chúng sanh, từ đó hai phương diện được kết hợp. Đó là chỗ trội vượt của Đại Thừa đối với Tiểu Thừa. Do đó Đại Thừa sử dụng chữ "Ba La Mật." Trong Đại Trí Độ Luận, Bát Nhă Ba La Mật thường được phân biệt làm hai loại: bao hàm Tâm Đại Bi, và không bao hàm Tâm Đại Bi.

 

F) ĐẠI TRÍ ĐỘ LUẬN VÀ A TỲ ĐẠT MA

 

Về mặt phương tiện, Đại Thừa Phật Giáo là một h́nh thức phản đối Tiểu Thừa Phật Giáo, nhất là phản đối tư tưởng thật hữu của Nhất Thiết Hữu Bộ. Tuy nhiên, Đại Trí Độ Luận không hề bác bỏ tư tưởng A Tỳ Đạt Ma, trái lại thường lấy A Tỳ Đạt Ma làn căn cứ để chứng minh cho lập trường của ḿnh. Đối với tác giả Đại Trí Độ Luận, tạng A Tỳ Đàm là một tạng do chính Phật thuyết.

 

"... Phật thuyết A Tỳ Đàm nơi nào? A Nan nhận lời khuyên của chư tăng ngồi nơi ṭa sư tử nói: Tôi nghe thế này, một thuở Phật tại thành Xá Bà Đề (Sràvasŕ), lúc ấy Phật dạy các tỳ kheo: những người có năm việc đáng sợ, năm tội, năm sự giận dữ không dứt trừ được, do nhân duyên đó, trong đời này thân tâm chịu vô lượng khổ, đời sau lại đọa vào đường ác. Những người không có năm việc đáng sợ, năm tội, năm sự giận dữ, do nhân duyên này, hiện tại được các thứ thân tâm an vui, đời sau sinh lên cơi trời an vui. Đâu là năm điều đáng sợ nên tránh xa? Thứ nhứt là giết hại, thứ hai là trộm cắp, thứ ba là tà dâm, thứ tư là vọng ngữ, thứ năm là uống rượu, tất cả những điều này tên là Tạng A Tỳ Đàm." (Quyển hai, trang 69)

(...Phật tại hà xứ thuyết A Tỳ Đàm? A Nan thọ tăng giáo sư tử ṭa xứ tọa thuyết, như thị ngă văn, nhứt thời Phật tại Xá Bà Đề thành, nhĩ thời Phật cáo chư Tỳ kheo, chư hữu ngũ bố, ngũ tội, ngũ nộ bất trừ bất diệt, thị nhân duyên cố, thử sinh trung thân tâm thọ vô lượng khổ, phục hậu thế đọa ác đạo trung. Chư hữu vô thử ngũ bố, ngũ tội, ngũ nộ, thị nhân duyên cố, ư kim sinh chủng chủng thân tâm thọ lạc, hậu thế sinh thiên thượng lạc xứ. Hà đẳng ngũ phố ưng viễn, nhứt giả sát, nhị giả đạo, tam giả tà dâm, tứ giả vọng ngữ, ngũ giả ẩm tưởu, như thị đẳng danh A Ty Đàm Tạng.)

 

"Sao gọi là A Tỳ Đàm Môn? Hoặc Phật tự thuyết nghĩa của các pháp, hoặc Phật tự thuyết tên các pháp, các đệ tử họp lại thuật giải nghĩa này."

(Vân hà danh A Tỳ Đàm Môn? Hoặc Phật tự thuyết chư pháp nghĩa, hoặc Phật tự thuyết chư pháp danh, chư đệ tử chủng chủng tập thuật giải kỳ nghĩa.) (Quyển 16, trang 19).

 

Tuy nhiên, cũng như Không Môn, A Tỳ Đàm Môn phải nương vào Bát Nhă Ba La Mật mới không bị rơi vào một trong hai đối cực thuộc tương đối.

 

"Nếu không được Pháp Bát Nhă Ba La Mật, vào A Tỳ Đàm Môn tất rơi vào có, vào Không Môn tất rơi vào không."

(Nhược bất đắc Bát Nhă Ba La Mật pháp, nhập A Tỳ Đàm Môn tắc đọa hữu trung, nhược nhập Không Môn tắc đọa vô trung....) (Quyển 8, trang 194 )

 

Theo Đại Trí Độ Luận, Bát Nhă Ba La Mật là giáo nghĩa chân thật của Phật khi mới chuyển Pháp Luân, là giáo pháp nền tảng trong Phật pháp. Do đó A Tỳ Đạt Ma cũng phải nương vào Bát Nhă Ba La Mật mới chân thật và khi ấy th́ rất hữu dụng.

 

"Hỏi: Ba Mươi Bảy Phẩm (Trợ Đạo) là Đạo của Thanh Văn, Bích Chi Phật. Sáu Ba La Mật là Đạo của Bồ Tát Ma Ha Tát. V́ sao trong Đạo Bồ Tát lại thuyết Pháp Thanh Văn?"

(Vấn viết: Tam Thập Thất Phẩm thị Thanh văn, Bích Chi Phật Đạo. Lục Ba La Mật thị Bồ Tát Ma Ha Tát Đạo. Hà dĩ cố ư Bồ Tát Đạo trung thuyết Thanh Văn Pháp? (Quyển 19, trang 197.))

 

Theo Đại Phẩm Bát Nhă, Bồ tát ở trong Bát Nhă Ba La Mật, trụ nơi pháp Không, không sinh (không diệt) nên trọn vẹn các pháp Thanh Văn.

 

"Bồ Tát Ma Ha Tát nơi Pháp Không Trụ, trụ trong Bát Nhă Ba La Mật, v́ không sinh nên đầy đủ Bốn Niệm Xứ, Bốn Chánh Cần, Bốn Như Ư Túc, Sáu Căn, Sáu Lực, Bảy Giác Phần, Tám Thánh Đạo Phần."

(Bồ Tát Ma Ha Tát dĩ Bất Trụ Pháp, trụ Bát Nhă Ba La Mật trung, bất sinh cố, ưng cụ túc Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ư Túc, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Giác Phần, Bát Thánh Đạo Phần.)

 

Lư do Bồ Tát thực hành đầy đủ Ba Mươi Bảy Bồ Đề Phần của Tiểu Thừa được Đại Trí Độ Luận giải thích bằng hai lư do:

 

Thứ nhứt: Bồ Tát học hỏi hết thảy các thiện, hết thảy các Đạo, do đó không thể không học Pháp Thanh Văn.

 

Thứ hai: Theo Kinh, Ba Mươi Bảy Bồ Đề Phần là Pháp Thanh Văn, cũng là những công đức Đại Thừa do chính Phật v́ ḷng Từ Bi mà thuyết, tùy theo sự thông lẹ hay tŕ độn của người nghe mà giải thích. Có nghĩa là, A Tỳ Đạt Ma là do chính Phật thuyết từ lúc Phật c̣n tại thế, nếu được soi sáng bằng Bát Nhă Ba La Mật Đa th́ sẽ hiểu rơ ư thật của Phật.

 

Về A Tỳ Đạt Ma, trong kinh điển xưa có đề cập đến từ "abhidhammakatha." Chữ này là căn nguyên của A Tỳ Đạt Ma, là luận phân tách, khảo sát về các pháp trong thời đại Phật Giáo Nguyên Thủy. Đại Tỳ Ba Sa Luận cũng cho rằng A Tỳ Đạt Ma được truyền từ thời đại Phật c̣n tại thế nên rất tôn trọng. Đến thời Câu Xá Luận, có ư kiến cho rằng A Tỳ Đạt Ma không phải do Phật thuyết, mà xuất phát từ sự phản đối Hữu Bộ (nhứt là Kinh Lượng Bộ - Sautràntika).

 

Trong thời kỳ Đại Thừa Phật Giáo sơ kỳ, A Tỳ Đạt Ma c̣n có sắc thái nội dung gắn bó với thời đại Đức Thích Tôn c̣n tại thế. Do đó, chúng ta có thể thấy rằng tác giả Đại Trí Độ Luận đối với A Tỳ Đạt Ma không có thái độ chống đối.

 

Chúng ta biết rằng lập trường nền tảng của Nhứt Thiết Hữu Bộ là: hết thảy đều có (sarvamasti), và từ đó, mọi giáo nghĩa đều căn cứ vào đó để thành lập. Do đó, toàn bộ Đại Trí Độ Luận đứng trên lập trường "Không" để phủ định giáo nghĩa Hữu Bộ, chủ yếu là đả phá mệnh đồ "Hết thảy các pháp là thật có" (Nhứt thiết pháp thật hữu) của Thật Hữu Bộ.

 

Tuy nhiên, lập trường Đại Trí Độ Luận không phủ định giáo nghĩa A Tỳ Đạt Ma, trái lại c̣n tích cực xử dụng A Tỳ Đạt Ma làm luận cứ. Mục đích Đại Trí Độ Luận ở đây là làm sáng tỏ mệnh đề "làm trọn đủ ba mươi bảy Bồ Đề Phần và các Pháp Thanh Văn" trong Đại Phẩm Bát Nhă.

 

Thị Giới.

 

sen 5 OK2