B15-JsLo OK

 

GIÁO LƯ BÁT NHĂ

 

Nguyên Hảo (Thị Giới) soạn dịch

(Theo các tài liệu: Bát Nhă Tâm Kinh Tư Tưởng Đích H́nh Thành của Trương Tác Lâm, The First Mileage of Buddhism của Daisaka Ikeda, Tổ Đường Tập, Mahayana Buddhist Mediatation của nhiều tác giả do Minoru Kiyota ấn hành, Bát Nhă Cương Yếu của TKN Hồng Ẩn...)

3.

 

TAM LUẬN TÔNG

 

Tam Luận Tông là một tông phái Phật Giáo triển khai và phát triển giáo lư Trung Quán Luận Ấn độ của Ngài Long Thọ trên đất Trung Hoa. Tông phái này y cứ vào ba bộ luận là Trung Luận, Bách Luận, Thập Nhị Môn Luận, nên được gọi là Tam Luận Tông. Trung Luận và Bách Luận do Ngài Long Thọ viết và Thập Nhi Môn Luận do đệ tử của Long Thọ là Đề Bà viết. Ba bộ luận này do Ngài Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập dịch vào đời Diêu Tần Hoằng Thỉ (399 - 415 Tây lịch).

 

Tam Luận Tông lấy Kinh Đại Phẩm Bát Nhă và ba luận như đă nói ở trên làm y cứ. Các dịch phẩm của Ngài Cưu Ma La Thập ảnh hưởng mạnh trên tư tưởng siêu h́nh Trung hoa thế kỷ thứ bốn thứ năm. Đến thế kỷ thứ sáu, giáo lư Trung Quán trong ba luận được ngài Các Tạng hệ thống hóa và giáo lư ngài ảnh hưởng mạnh cho đến thế kỷ thứ tám. Tụng bản Trung Luận cũng được gọi là Trung Quán Luận do Ngài Long Thọ viết, được Ngài Cát Tạng chú thích, toàn bộ gồm hai mươi bảy phẩm.

 

Ngài Cát Tạng chia Trung Luận ra hai phần như sau: Quán Nhân Duyên: gồm hai mươi lăm phẩm; Quán Thập Nhị Nhân Duyên và Quán Tà Kiến: gồm hai phẩm. Tụng bản và chú thích Thập Nhị Môn Luận cũng do Ngài Long Thọ làm ra. Toàn bộ gồm mười hai bài giảng về quán nhân duyên. Theo phân tách của Ngài Cát Tạng, Quán Nhân Duyên có ba cửa (tam môn): Quán Không; Quán Tướng: gồm sáu cửa, quán về Vô Tướng; Quán Tác: gồm ba cửa, quán về Vô Tác. Tụng bản Bách Luận do Ngài Đề Bà làm ra, Bà Tẩu chú thích. Ngài Cát Tạng phân ra làm mười phẩm, hai phần. Phần thứ nhứt gồm phẩm Xả Tội Phước thứ nhứt: quán bỏ tội, bỏ phước, bỏ tam tướng trí, hiển bày giáo lư tiệm xả của Phật, thuộc về hiển chính. Phần thứ hai gồm từ phẩm thứ hai (Phá Thần) đến phẩm thứ mười (Phá Không): Phá vô ngă, quy về cảnh giới Rốt Ráo Không .

 

Về phương diện phán giáo, chủ điểm của Tông phái này là phá tất cả mọi kiến chấp về sở đắc, nói rằng tất cả các kinh điển Đại Thừa, Tiểu thừa đều dạy một đạo lư, lấy quán chiếu chỗ không đắc (vô đắc chính quán) làm tông chỉ. Chỉ v́ muốn đối trị kiến chấp của chúng sanh, tùy bịnh cho thuốc, chúng sanh căn cơ không đồng, nên có nhiều pháp môn khác nhau. Do đó, về phương diện phán giáo, tông phái này thiết lập Hai Tạng, Ba Luân. Hai Tạng là Thanh Văn Tạng và Bồ Tát Tạng; Ba Luân là: 1/ Căn Bản Pháp Luân: Hoa Nghiêm Kinh; 2/ Chi Mạt Pháp Luân: sau Hoa Nghiêm và trước Pháp Hoa; 3/ Nhiếp Mạt Qui Bản Pháp Luân: Pháp Hoa Kinh.

 

Trung tâm lư luận của tông phái là luận về Thật Tướng Trung Đạo Tánh Không của các pháp. Tất cả các pháp thế gian, xuất thế gian, hữu vi, vô vi, chỉ là do nhiều nhân duyên ḥa hợp mà sinh ra, do đó không có tự tánh, không tự tánh tức là tối hậu không, không có chỗ được. Chỉ v́ giáo hóa chúng sanh nên mượn lời giả mà thuyết.

 

Các học giả chia Tam Luận Tông làm hai: Cổ Tam Luận và Tân Tam Luận. Từ ngài Cát Tạng về trước là Cổ Tam Luận và từ ngài Cát Tạng về sau là Tân Tam Luận.

 

Các nhà Phật học cho rằng giáo lư của ngài Cát Tạng là giáo lư chính thống của Ngài La Thập và coi ngài La Thập như là sơ tổ của Tam Luận Tông. Chính ngài Cát Tạng cũng tự cho là người kế thừa ngài La Thập.

 

 

A) NGÀI CƯU MA LA THẬP

 

Ngài Cưu Ma La Thập (344 - 413) là người Ấn Độ, mẹ là em vua nước Quy Tư, và sinh ra Ngài ở nước này. Trước tiên, Ngài theo sư phụ thuộc Nhứt Thiết Hữu Bộ, học giáo lư A Tỳ Đàm, sau quay về theo phái Trung Quán của Ngài Long Thọ, nghiên cứu Trung Luận, Bách Luận, Thập Nhị Môn Luận, và kinh điển Bát Nhă. Vào năm 382, Tùy chiến thắng Quy Tư, Ngài di cư vào Lương Châu. Năm 410, quân Hậu Tần b́nh định Lương Châu, Ngài theo vua Diêu Tần vào Trường An. Tại Trường An, nhờ sự giúp đở của vua nhà Hậu Tần là Diêu Hưng, và nhiều nhà sư Trung Hoa, Ngài dịch nhiều bộ kinh như Đại Phẩm Bát Nhă Kinh, Tiểu Phẩm Bát Nhă Kinh, Kim Cang Bát Nhă Kinh, Duy Ma Kinh, Pháp Hoa Kinh, các luận: Trung Luận, Bách Luận, Thập Nhị Môn Luận, Đại Trí Độ Luận. Nhờ những Kinh Luận Ngài dịch, Phật Giáo Trung Hoa từ đó có một nền tảng vững chắc, mở ra một thời kỳ rất hưng thịnh của Phật Pháp ở Trung Hoa. Ngoài ra, Ngài c̣n xiển dương giáo lư Trung Quán của Long Thọ, làm sống dậy giáo lư Bát Nhă ở Trung Hoa. Về lịch sử dịch Kinh Bát Nhă ở Trung Hoa th́ Đại Phẩm Bát Nhă Kinh và Tiểu Phẩm Bát Nhă Kinh do Ngài Cưu Ma La Thập dịch được coi là những bản dịch tối cổ.

 

Chúng ta có thể nói rằng những luận trọng yếu về Bát Nhă Tánh Không của hai ngài Long Thọ và Đề Bà dạy ở Ấn Độ đều được ngài Cưu Ma La Thập dịch và truyền bá đầu tiên ở Trung Hoa, như Đại Trí Độ Luận (100 quyển), Trung Luận (bốn quyển), Thập Nhị Môn Luận (một quyển), Bách Luận (hai quyển). Ngoài ra, ngài c̣n dịch Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận (mười bốn quyển), Thành Thật Luận (hai mươi quyển), Đại Trang Nghiêm Kinh Luận (mười lăm quyển).

 

Ngoài việc dịch Bát Nhă và các kinh luận về giáo lư Tánh Không, ngài La Thập c̣n dịch Pháp Hoa Kinh. Bát Nhă th́ diệt trừ mê vọng, Pháp Hoa chỉ rơ cứu cánh. Kinh Pháp Hoa do Ngài La Thập dịch gồm bảy quyển, 27 phẩm, về sau thêm phẩm Đề Bà Đạt Đa thành 28 phẩm. Ngoài những dịch phẩm, ảnh hưởng lớn về giáo lư của ngài đối với Phật giáo giới đương thời là những vấn đáp bằng miệng và ở nhân cách xuất chúng của ngài. Chính với ḷng từ bi, khiêm nhường, sức nhẫn nhục vô song mà người đời tôn kính ngài như một bậc Thánh.

 

Những đệ tử ưu tú của Ngài như Tăng Triệu, Tăng Duệ, Đạo Sinh, Đạo Dung, v.v. về sau cũng cực lực xiển dương giáo lư Bát Nhă. Sau đây, xin đơn cử một vị đệ tử ưu tú nhất của Ngài là Ngài Tăng Triệu.

 

 

B) NGÀI TĂNG TRIỆU

 

Ngài Tăng Triệu (384 - 414), lúc c̣n trẻ học theo Lăo Trang, sau nhân đọc Duy Ma Kinh do Ngài Chi Khiêm dịch, rất xúc động, do đó xuất gia. Về sau, khi Ngài Cưu Ma La Thập di cư qua Lương Châu, ngài Tăng Triệu t́m đến xin làm đệ tử, từ đó cùng với ngài Cưu Ma La Thập dịch các Kinh Luận Đại Thừa và Trung Quán của Long Thọ, được liệt vào hàng tứ kiệt của ngài La Thập. Ba vị kia là Đạo Sinh, Huệ Quán và Tăng Duệ.

 

Với tài văn chương, ngài Tăng Triệu làm "thủ bút" cho ngài La Thập, tức là ghi chép ra bằng Hán Văn những kinh luận do Ngài La Thập dịch, và thỉnh thoảng có những lời giải thích của ngài La Thập.

 

Năm 20 tuổi, Tăng Triệu trước tác Bát Nhă Vô Tri Luận, tŕnh lên ngài La Thập, được thầy rất tán thán. Lưu Di Dân cũng rất ca ngợi, và ngài Huệ Viễn, lúc bấy giờ đang ở Lô Sơn dạy về pháp môn Tịnh Độ cũng ca ngợi là độc đáo. Về sau, ngài trước tác thêm các luận Vật Bất Thiên, Bất Chân Không, Niết Bàn Vô Danh, hợp với Bát Nhă Vô Tri Luận thành cuốn Triệu Luận, rất ảnh hưởng trong Phật Giáo giới, và được coi như là sáng tổ của Tam Luận Tông. Những kinh luận Tăng Triệu thường dùng để dẫn chứng trong các luận là Đại Phẩm Bát Nhă, Tịnh Danh, Đạo Hành Bát Nhă, Trung Luận, Đại Trí Độ Luận. Trong truyền thống Nhật Bản, Ngài được coi như tổ của Tam Luận Tông.

 

Theo Triệu Luận Lược Chú của Ngài Hám Sơn Thích Đức Thanh, Pháp sư Tăng Triệu là người xứ Kinh Triệu, thuở bé nhà nghèo làm nghề viết mướn nên được xem hết các sách chư tử, bách gia, có chí ham thích hư huyền, thường lấy lời Lăo Trang làm tâm yếu. Sau lại than rằng: "Tốt th́ tốt lắm nhưng c̣n trụ ở hư vô, chưa được cứu cánh." Kế đó, được xem kinh Duy Ma Cật, rất hoan hỉ lănh thọ, nói rằng: "Nay mới biết được chỗ về." Nhân đó phát tâm xuất gia, làm bậc Sa môn, lúc ấy tuổi hai mươi, tiếng tăm chấn động khắp nơi. Khi Pháp sư La Thập c̣n ở Cô Tàng, Ngài t́m đến để y chỉ, Pháp sư nói chuyện với ngài, kinh ngạc rằng: "Ngài là long tượng ở trong Phật pháp." Đến khi trở về Quang Trung, giúp Pháp sư La Thập phán định kinh luận, học giả bốn phương tấp nập t́m đến, đặt ra đủ thứ vấn nạn, Ngài giải đáp dễ dàng vượt ra ư định của mọi người. Ngài soạn bài Bát Nhă Vô Tri Luận, Ngài La Thập xem rồi nói: "Kiến giải ta không hơn ông, nên kính trọng nhau vậy." Bài luận ấy truyền đến Lư Sơn, Lưu Di Dân đưa cho ngài Huệ Viễn (Sơ Tổ của Tịnh Độ) xem, tán thán rằng: "Xưa nay chưa từng có." Ngài soạn các luận kia đều tinh vi cứu cánh. Vua Tần càng kính trọng những tác phẩm ấy, cho truyền khắp trong nước và ngoài nước. Ngài tịch lúc 32 tuổi, người đương thời đều than tiếc. (Triệu Luận Lược Chú).

 

 

C) TƯ TƯỞNG BÁT NHĂ CỦA NGÀI TĂNG TRIỆU

 

Giải thích giáo lư Không, ngài Tăng Triệu dựa vào giáo lư Trung Quán của ngài Cưu Ma La Thập, lấy Duyên Khởi và Vô Tự Tánh làm cơ sở để thuyết minh cho lập trường "Phi Hữu Phi Vô."

 

"(Các pháp) nếu muốn nói rằng Có, Có không có tự tánh, nếu muốn nói rằng Không, do duyên tụ nên có h́nh, tụ thành h́nh không thể bảo là Không, không tự có th́ không gọi là Có, nếu có Có tất có Không, không Có th́ Không lấy ǵ y cứ? Có Không tất có Có, không Không th́ Có lấy ǵ y cứ?"

((Chư pháp) dục ngôn kỳ hữu, hữu bất tự tánh, dục ngôn kỳ vô, duyên hội tức h́nh, hội h́nh phi vị vô, phi tự phi vị hữu, thả hữu hữu cố hữu vô, hữu vô cố hữu hữu, vô vô hà sở hữu.) (Chú Duy Ma Cật Kinh, phẩm Phật Quốc, Đại Chính quyển 38.)

 

Theo Ngài Tăng Triệu, cái có là do nhơn duyên ḥa hợp mà tồn tại, không có tự tánh do đó nên không thật có; tuy nhiên, rơ ràng là có tồn tại trong sự ḥa hợp của nhân duyên nên không phải là thật không. Hai khái niệm về Có và Không ấy đối với thật tướng siêu việt cũng chỉ là vay mượn để phân biệt nên chỉ là giả danh. Tăng Triệu dùng "phi hữu phi vô" chỉ trạng năng của các pháp là không thật, chỉ là cái Không không có tự tánh (Vô tự tánh Không). Thật Tướng Luận của Tăng Triệu như được nêu ra trong Bất Chân Không Luận là y cứ vào giáo lư Trung Quán:

 

"Các pháp do nhân duyên sanh, ta nói tức là không, v́ sao vậy? Các duyên ḥa hợp đầy đủ nên vật sinh ra, vật thuộc về nhân duyên, nên không có tự tánh; không tự tánh nên là Không; ....chỉ v́ dẫn dắt chúng sanh, dùng danh giả mà thuyết, rời hai bên Có Không, nên gọi là Trung Đạo."

(Chúng nhân duyên sinh pháp, ngă thuyết tức thị không, hà dĩ cố? Chúng duyên cụ túc ḥa hợp nhi vật sinh, thị vật thuộc chúng nhân duyên, cố vô tự tánh; vô tự tánh cố không; .....đản vi dẫn đạo chúng sanh cố, dĩ giả danh thuyết, ly hữu vô nhị biên, cố danh vi Trung Đạo.) (Trung Luận, phẩm Quán Tứ Đế.)

 

Đó là tư tuởng Bất Nhị của chân đế và tục đế được tŕnh bày trong Vật Bất Thiên và Bất Chân Không. Vật bất thiên có nghĩa là các pháp không biến đổi, phàm phu vọng thấy vật có biến đổi, nhưng ngay trong thể tánh thực tướng của các pháp v́ là duyên sinh tánh không nên thường hằng bất động. Thấy được các pháp không biến đổi nên tức tục tức chân, toàn lư tức sự, sự sự đều chân:

 

"Quả chẳng cùng nhân, mà v́ nhân thành quả, v́ nhân thành quả, nhân xưa chẳng mất; quả chẳng cùng nhân, nhân chẳng đến nay, chẳng mất chẳng đến th́ y chỉ Bất thiên rơ ràng, đâu c̣n mê lầm chỗ đi, ở mà do dự giữa động tịnh vậy." (Vật Bất Thiên)

"Do đó, người ngộ lư Bất Thiên nơi vi ẩn, dù cho tứ thời biến đổi mau lẹ như gió bay điện chớp, cũng là bất động như như." (Vật bất Thiên).

 

Tuy nhiên, Không là v́ duyên khởi mà thành tất cả các pháp. V́ duyên khởi cho nên cũng không phải là thật không. Chiếu soi đến chỗ nhiệm mầu đó gọi là Trung Đạo:

 

"Trung Đạo là chỗ dụng của thật trí nên mới diệu dụng, thế th́ không mà chẳng không; vạn vật lấy trung đạo làm căn bản của tông thể nên hữu mà chẳng hữu, phi không, phi hữu là tả hết thể dụng của Trung Đạọ, ở đây là kiến lập tông thể." (Bất Chân Không).

 

Ở trên là nói về tánh không hai của các pháp hay thật tướng luận về các pháp, đó là cảnh sở quán. Trí quán chiếu thật tướng đó được Tăng Triệu nêu ra trong Bát Nhă Vô Tri.

 

Không nhận thọ giả danh Có, Không, soi thấu thật tướng "phi hữu phi vô" mà "bất chân, không" của sự vật, hoàn thành được trí tuệ, vượt qua các khái niệm tương đối.

 

"Vô của Thánh Trí là vô tri; Vô của người mê là tri vô, vô tuy đồng nhưng nghĩa Vô khác nhau."

(Thánh Trí chi vô giả, vô tri; hoặc trí chi vô giả, tri vô, kỳ vô tuy đồng, sở dĩ vô giả dị dă.) (Bát Nhă Vô Tri Luận.)

 

Như vậy, theo Ngài Tăng Triệu, Trí Tuệ (tức Bát Nhă) là tác động trên b́nh diện thực tướng, không phải cái không vô bị khái niệm hóa, đối tượng hóa. Nghĩa là nương vào trí tuệ tức tác dụng của chủ thể nhận thức mà chuyển thành không vô. Do đó, Trí Tuệ Hoàn Thành (tức Bát Nhă Ba La Mật) không ngoài cái không của đối tượng nhận thức tức là các pháp và cái không chủ thể tức trí tuệ, tại chỗ không này mà viên thành nhứt thể.

 

"Biết vô phân biệt tức là biết không; các pháp không tướng tức pháp không; trí không phân biệt pháp, tức biết pháp không.... Bấy giờ, trí và pháp đều đồng, không và có chẳng khác nhau."

(Tri vô phân biệt tức tri không dă; chư pháp vô tướng, tức pháp không dă; dĩ trí bất phân biệt ư pháp, tức tri pháp không dĩ hỉ.... Nhĩ thời, trí pháp cụ đồng nhứt không, vô phục dị không,) (Chú Duy Ma Cật Kinh, phẩm Văn Thù Sư Lợi Vấn Bịnh.)

 

Trí Bát nhă rỗng rang, vô tri, vô tác này, tuy là tiềm ẩn bên trong mà luôn luôn ứng ra quyền trí theo cơ hóa độ ở bên ngoài:

 

"Thật trí chứng lư bên trong, ánh sáng tiềm ẩn mà quyền trí luôn luôn hiện ra sự ứng cơ hóa độ bên ngoài."

 

 

D) CÁT TẠNG ĐẠI SƯ

 

Gia Tường Đại Sư (549 - 623) pháp danh Cát Tạng. Ngài xuất gia năm lên bảy tuổi. Khi nhà Tùy b́nh định được Bách Việt, Ngài đi về Hội Kê và dừng lại ở chùa Gia Tạng. Ngài giảng Tam Luận, người đời tôn xưng là Gia Tường Đại Sư. Ngài suốt đời hoằng dương Tam Luận, viết Tam Luân Huyền Nghĩa. Ngài tự xưng là kế thừa của Cưu Ma La Thập. Trong truyền thống Trung Hoa, người ta cũng coi học thuyết của ngài là chính thống của ngài La Thập, đă tập đại thành giáo lư của La Thập ở phương Nam, và coi Cưu Ma La Thập là sơ tổ của Tam Luận Tông.

 

Tông yếu của Ngài Cát Tạng có thể được tóm lược như sau:

 

(1) BA THỜI PHÁN GIÁO:

 

Thuyết Ba Thời Phán Giáo do Trí Quang Luận Sư người Ấn độ thành lập, ngài Cát Tạng truyền thuật:

 

Thời thứ nhất: v́ những người tiểu căn dạy pháp Tiểu Thừa, dạy tâm và cảnh đều có. Để dẫn độ nhị thừa nên thuyết pháp Duyên Sinh.

 

Thời thứ hai: Cho những người căn cơ bậc trung, thuyết Đại Thừa Pháp tướng, nói cảnh không tâm có, giáo lư Duy Thức. Phá cái chấp cho là duyên sinh có thật của Nhị Thừa.

 

Thời thứ ba: Đối với những người thượng căn thuyết Đại Thừa Vô Tướng, nói tâm cảnh đều không. Thuyết duyên sinh tức là tánh không, b́nh đẳng một vị, là Liễu Nghĩa Giáo.

 

Ngoài ra c̣n có thuyết Hai Tạng Ba Luân (Nhị Tạng Tam Luân thuyết) như đă nói ở trên.

 

(2) PHÁ TÀ QUY CHÁNH

 

Tam Luận Tông lấy phá tà quy chánh làm nền móng. Phá Tà Quy Chánh có bốn: Thôi Ngoại Đạo, Bài Tỳ Đàm, Bài Thành Thật, Ha Đại Chấp.

 

Chánh có Thể Chánh và Dụng Chánh.

 

Dụng Chánh là giáo lư hai đế, chân đế và tục đế. Pháp xuất thế là chân đế, cũng gọi đệ nhứt nghĩa đế. Pháp thế gian gọi là tục đế, cũng gọi là thế đế. Tông phái khác cũng có nhị đế nhưng đối với họ, nhị đế là chỗ chứng, hay cảnh quán. Đối với Tam Luận Tông, hai đế có bốn loại:

 

(i) Thuyết Không Là Có tức tục đế, Có Là Không tức chân đế.

 

(ii) Cho loại thứ nhứt hoặc có hoặc không là tục đế, thấy Không Có Không Không là chân đế.

 

(iii) Không và có là hai, không không có là không hai, phân biệt hai và không hai, thảy đều là tục đế; Không Hai Không Không Hai là chân đế.

 

(iv) Ba loại trên đều là tục đế; Không Không Không Có, Không Không Không Không, là chân đế.

 

3) NGŨ CÚ: Thật sinh thật diệt, bất sinh bất diệt, giả sinh giả diệt, giả bất sinh giả bất diệt, phi bất sinh phi bất diệt.

 

 

E) TƯ TƯỞNG BÁT NHĂ CỦA NGÀI CÁT TẠNG

 

(1) BỒ TÁT VÀ BÁT NHĂ

 

Ngài Cát Tạng coi Bát Nhă là trí tuệ thực tiễn của Bồ Tát Đại thừa, thường dẫn hai trí là Bát Nhă Trí và Phương Tiện Trí. Đó là căn cứ vào Đại Trí Độ Luận của Ngài Long Thọ chú giải Đại Phẩm Bát Nhă. Theo Đại Trí Độ Luận:

 

"Bát Nhă không thuộc Phật, không thuộc Thanh Văn, Bích Chi Phật, chỉ thuộc Bồ Tát."

(Bát Nhă bất thuộc Phật, bất thuộc Thanh Văn, Bích Chi Phật, bất thuộc phàm phu, đản thuộc Bồ Tát) (Đại Chính, quyển 25)

 

"Đạo Bồ Tát có hai loại: thứ nhứt là Bát Nhă Ba La Mật Đạo; thứ hai là Phương Tiện Đạo."

(Bồ tát đạo hữu nhị chủng: nhứt giả Bát nhă ba la mật đạo; nhị giả Phương tiện đạo) (như trên).

 

Ngài Cát Tạng căn cứ vào giáo lư trên để giải thích Bát Nhă. Thứ nhứt Bát Nhă là trí tuệ thực tiễn dành cho hàng Bồ Tát, thứ hai là Nhị Trí, Nhị Đạo quy về một. Về ba loại Bát Nhă - Thật Tướng Bát Nhă, Quán Chiếu Bát Nhă, Văn Tự Bát nhă, Ngài Cát Tạng giải thích: Thật Tướng là cảnh năng sinh, Quán Chiếu là trí sở sinh, Văn Tự là văn tự chuyên chở. Theo Cát Tạng, Bát nhă cùng Phương Tiện cho đến Thật Trí và Quyền Trí, chỉ đối với Bát Nhă tức Thật Trí mới theo ba quan điểm giải thích, tức là ba loại Bát Nhă.

 

Các thuyết về ba loại Bát nhă, từ Nam Bắc triều cho đến Tùy Đường, thuyết của Ngài Cát Tạng được coi là chính thống. Đại biểu đương thời ở phương Bắc là Địa Luận Sư Huệ Viễn (523 - 592) cùng với thuyết của Ngài Cát Tạng giống nhau: Thật Tướng, Quán Chiếu, Văn Tự Bát Nhă. Ở miền Nam, phái Thành Thật cũng không khác, chia làm Văn Tự Bát Nhă, Quán Chiếu Bát Nhă, Thật Tướng Bát Nhă, theo đó chia ra làm Giáo, Hạnh, Cảnh. Các thời đại về sau, có Hiền Thủ Đại Sư (643 - 712) của Hoa Nghiêm Tông cũng chia Bát Nhă làm ba loại là Thật Tướng, Quán Chiếu, Văn Tự, chỉ cho Chân Tính sở quán, Diệu Huệ năng quán, và giáo lư chuyên chở (Bát Nhă Tâm Kinh Lược Sớ). Từ Ân Đại Sư của Pháp Tướng Tông (632 - 682) lấy ba loại Bát Nhă trên thêm vào Cảnh Giới và Quyến Chúc Bát Nhă thành năm loại Bát Nhă. Giải thích ba loại Bát Nhă giống như Ngài Cát Tạng.

 

(2) HÁN DỊCH CHỮ BÁT-NHĂ

 

Về phương diện thích danh, chữ Bát Nhă được phiên dịch ra Hán văn rất đa dạng. Phóng Quang Bát Nhă dịch là Viễn Ly, Lục Độ Tập Kinh dịch là Minh Độ, Đại Phẩm Bát Nhă dịch là Thanh Tịnh. Chỉ một từ thuờng xử dụng nhất là Trí Tuệ. Trí Tuệ có khi giản lược gọi là Trí, có trường hợp gọi là Huệ. Như Đại Trí Độ Luận dịch là Trí Độ là Bát Nhă Ba La Mật; Duy Ma Kinh dùng chữ Trí Độ Bồ Tát Mẫu. Về Huệ, như trong Đại Trí Độ Luận: "Ma Ha Tần ngôn Đại, Bát nhă ngôn Huệ." (Ma ha người Tần gọi là Đại, Bát nhă gọi là Huệ.) (Đại Chính, quyển 14).

 

Như vậy, Hán dịch chữ Bát nhă có nhiều, nhưng thông dụng hơn cả là Trí hay Huệ, hoặc Trí Huệ. Nhưng dịch Huệ th́ chính xác hơn. Ngài Cát Tạng nêu ra bốn lư do:

 

(1) Mười độ không đồng. Trong những đức hạnh thực tiễn của Bồ Tát Đại Thừa, sáu độ ba la mật cho đến mười độ ba la mật, ba la mật thứ sáu là Bát Nhă (prajnà) dịch là Huệ, ba la mật thứ mười là Xà Na (jnàna) dịch là Trí.

 

(2) Nghĩa khác giữa Không và Hữu. Như kinh Duy Ma nói: "Tri nhứt tướng môn khởi ư Huệ nghiệp, tri chủng chủng tướng môn khởi ư Trí nghiệp." (Biết nhứt tướng sanh Huệ nghiệp, biết hết thảy tướng sanh Trí nghiệp), soi thấy thế giới Không tuyệt đối vô sai biệt là Huệ, quán sát thế giới Hữu tương đối sai biệt là Trí; lấy Không, Hữu mà phân biệt.

 

(3) Sự sai biệt giữa nhân và quả. Như Đại Trí Độ Luận nói: "Nhân danh Ba Nhă, quả phản danh Tát Ba Nhă." (Nhân tên gọi Ba Nhă, quả gọi phản là Tát Ba Nhă). Quả Tát Ba Nhă gọi là Nhứt Thiết Trí, do đó nhân Ba Nhă gọi là Huệ. Lấy phân biệt nhân quả mà định tên.

 

(4) Khác nhau giữa phàm và Thánh. Như Bát Nhă Kinh nói: "Ba Nhă giả nhứt thiết chúng sanh." Bát nhă là tính sẵn có của hết thảy phàm Thánh. Nếu trí thông đạt, th́ rơ được nghĩa lư, do đó Thánh nhân th́ có, phàm phu th́ không. V́ vậy gọi Bát Nhă là Huệ.

 

(3) Tuyệt Quán Bát Nhă

 

(a) TUYỆT QUÁN BÁT NHĂ

 

Đại Trí Độ Luận nói: "Bát Nhă ứng hợp với thật tướng, vô cùng sâu xa, trí tuệ th́ nông cạn, cho nên không xứng được." (Bát Nhă định thật tướng, thậm thâm cực trọng, trí tuệ khinh bạt, thị cố bất năng xứng.) (Đại Chính, quyển 25). Bát Nhă như vậy khế hợp với thật tướng của các pháp, tức căn nguyên của thế giới. Ngài Cát Tạng nói:

 

"Phàm vạn vật không phải không có nguồn gốc, nhưng nguồn gốc không có tướng, nguồn gốc không hư không phải là không khế hợp, mà khế hợp vô tâm. V́ vậy Thánh nhân lấy trí huệ huyền diệu của vô tâm khế hợp với nguồn gốc không hư của vô tướng"

(Phù vạn hóa phi vô tông, nhi tông chi giả vô tướng, hư tông phi vô khế, nhi khế chi giả vô tâm. Cố Thánh nhân dĩ vô tâm chi diệu huệ, khế bỉ vô tướng chi hư tông) (Đại Thừa Huyền Luận, quyển 4.)

 

Nguồn gốc thiên biến vạn hóa của thế giới hiện tượng không thể nhờ nơi h́nh tướng mà thấu được. Muốn khế hợp với thế giới vô tướng chỉ có vô tâm diệu huệ, tức Bát Nhă. Bát Nhă trong ngoài khó thấu, duyên (khách) trí (chủ) đều vắng lặng, nên gọi là Tuyệt Quán Bát Nhă. Bản chất của Bát Nhă là duyên (chủ quan) và quán (khách quan) đều dứt tuyệt.

 

Vả lại, nói về trí và ngu, biểu hiện của trí tuệ th́ là trí, đối lập với ngu. Nhưng Bát Nhă đối với sự đối lập giữa ngu và trí th́ không ngu không trí. Thế giới Bát Nhă siêu vượt sự đối lập ngu trí. Do đó, dùng chữ Trí Tuệ để phiên dịch ư nghĩa vô cùng sâu xa của Bát Nhă th́ không xứng hợp, nên không dùng Hán dịch mà dùng âm Phạn.

 

(b) CHƯ PHÁP THẬT TƯỚNG BÁT NHĂ

 

Đại Trí Độ Luận nói: "Thật tướng các pháp ... hoặc nói Bát Nhă Ba La Mật." (Chư pháp thật tướng ... hoặc thuyết Bát Nhă Ba La Mật) (Đại chính, quyển 25.), lại nói: "Huệ biết tướng thật các pháp là Bát Nhă Ba La Mật." (Tri chư pháp thật tướng huệ thị Bát nhă ba la mật) (Như trên). Như vậy, Bát Nhă Ba La Mật bao gồm nghĩa thật tướng các pháp và trí quán chiếu thật tướng đó.

 

Vô Tướng Hư Tông của Ngài Cát Tạng là nghĩa căn bản của Bát Nhă (Bát Nhă căn bản nghĩa), chính là thật tướng các pháp, như vậy cũng là Bát Nhă Ba La Mật. Vô Tâm Diệu Huệ là Huệ biết thật tướng các pháp (tri chư pháp thật tướng huệ), là Huệ khế hợp với nguồn gốc không hư vô tướng (vô tướng hư tông) cũng là Bát Nhă Ba La Mật.

 

Như vậy, đối với ba loại Bát nhă, theo thuật ngữ của Cát Tạng, Vô Tướng Hư Tông là Thật Tướng Bát Nhă, Vô Tâm Diệu Huệ là Quán Chiếu Bát Nhă.

 

C̣n như Đại Trí Độ Luận nói: "Huệ biết thật tướng các pháp" (Tri chư pháp thật tướng huệ) hoặc "Bát nhă, Tần nói trí huệ" (Bát nhă Tần ngôn trí huệ). Dùng ngôn ngữ để biểu hiện Bát Nhă thâm sâu, nếu muốn phô bày được ư nghĩa, phải dùng Huệ hay Trí Huệ. Đó là Văn Tự Bát Nhă. Thật tướng không danh tướng, đương thể tánh không là nghĩa tối hậu của Bát Nhă, cần dùng ngôn ngữ của trí tuệ biểu thị để khế hớp với cảnh giới chứng ngộ, đó là Văn Tự Bát Nhă.

 

Nói nguồn gốc không hư vô tướng là nghĩa căn bản của Bát Nhă, Thánh nhân lấy trí huệ huyền diệu của vô tâm để khế hợp với nguồn gốc không hư vô tướng đó, không phải chỉ Ngài Cát Tạng thuyết. Chữ Hư Tông đă được thấy trong Bất Chân Không Luận của Ngài Tăng Triệu. Về việc sử dụng từ ngữ nói trên, từ trước cũng đă thấy nơi Ngài Đàm Ảnh, một môn hạ của Ngài Cưu Ma La Thập đồng thời với Tăng Triệu. Trong bài tựa sách Trung Luận Chú, Ngài Đàm Ảnh viết:

 

"Phàm vạn vật không phải không có nguồn gốc, mà nguồn gốc th́ không có tướng. Nguồn gốc không hư (hư tông) không phải là không khế hợp, mà khế hợp với đó là vô tâm. Cho nên bậc chí nhân lấy trí huệ huyền diệu của vô tâm mà khế hợp với nguồn gốc không hư của vô tướng. Trong ngoài man mác, duyên trí đều lặng."

(Phù vạn hóa phi vô tông, tông chi giả vô tướng. Hư tông phi vô khế, như khế chi giả vô tâm. Cố chí nhân dĩ vô tâm chi diệu huệ, nhi khế bỉ vô tướng chi hư tông. Nội ngoại tịnh minh, duyên trí cu tịch) (Đại Chính, quyển 55.)

 

Trong những tác phẩm của Cát Tạng, ngoại trừ Đại Thừa Huyền Luận, trong các sách như Trung Quán Luận Sớ, Tịnh Danh Huyền Luận, Pháp Hoa Huyền Luận, đều dẫn lời của Ngài Đàm Ảnh.

 

Trong Bất Chân Không Luận, Ngài Tăng Triệu viết về nghĩa của Hư Tông:

 

"Phàm vật chí hư không sinh, đó là ư nghĩa sâu xa của tấm gương huyền diệu Bát Nhă, tận cùng nguồn gốc của vật vậy."

(Phù chí hư vô sinh giả, cái thị Bát Nhă huyền giám chi diệu thú, hữu vật chi tông cực giả dă.) (Đại chính, quyển 45.)

Theo đó, ư nghĩa sâu xa của Bát Nhă chí hư không sinh gọi là "Hư Tông."

 

Như vậy, danh từ Hư Tông hay Vô Tâm để chỉ thị bản chất của Bát Nhă đă có từ các môn đệ của Ngài La Thập là Tăng Triệu và Đàm Ảnh. Chỉ danh từ "Tuyệt Quán Bát Nhă" là khởi nguyên từ chính Ngài Cát Tạng. Danh từ chỉ rơ tính thực tiễn của Bát nhă, mà sau này đối với Thiền Tông, một môn phái Bát Nhă rất thực tiễn, được tiếp nhận rộng răi.

 

 

F) BÁT NHĂ VÀ PHƯƠNG TIỆN

 

(1) HAI TRÍ

 

Thông thường khi gọi hai trí là chỉ hai trí Quyền và Thật, gọi là Phương Tiện (hay Quyền) Trí và Thật Trí. Bát Nhă là trí chân thật, nên gọi là thật, Phương Tiện là phương pháp tạm thời, hàm chứa ư giả tạm, nên gọi là quyền.

 

Ngài Cát Tạng thường xử dụng hai danh từ là Bát Nhă và Phương Tiện để chỉ cho hai Trí này. Theo Cát Tạng, hai Trí không phải Phật Trí hoàn thành, nhưng là chỗ tu đạo của Bồ Tát Đại Thừa; Trí và Đạo là hai chữ cùng nghĩa. Do đó, Ngài không dùng các thuật ngữ Thật Trí, Quyền Trí, mà theo Đại Trí Độ Luận dùng Bát Nhă Đạo và Phương Tiện Đạo để nói về sự tu hành, dùng Bát Nhă Trí và Phương Tiện Trí để nói về hai Trí.

 

(2) KHÁC NHAU GIỮA BÁT NHĂ VÀ PHƯƠNG TIỆN

 

Bát Nhă và Phương Tiện là hai Trí và hai Đạo đặc biệt của Bồ Tát Đại Thừa. Về sự quan hệ giữa Bát Nhă và Phương Tiện, Ngài Cát Tạng phân làm mười đối (thập đối), tŕnh bày sơ lược như sau:

 

(a) SAI KHÁC GIữA KHÔNG VÀ HữU: Sự khác biệt cơ bản là đối với Không là Bát Nhă, liên quan với Có là Phương Tiện. Bát Nhă là tấm gương soi thấy thật tướng các pháp, trí huệ về thế giới Không chí hư vô sinh; c̣n Phương Tiện là nói về các pháp, là trí huệ về sự phân biệt các pháp. Đại Trí Độ Luận nói: "Bát Nhă hướng vào trong Tánh Không tối hậu, Phương Tiện khởi ra từ Tánh Không tối hậu." (Bát nhă ... tương chí tất cánh Không trung, phương tiện tương xuất tất cánh Không.) (quyển 1). Ngộ nhập Tánh Không là Bát nhă, khởi ra từ Tánh Không, vận dụng trong thế giới của hữu là Phương Tiện.

 

(b) KHÁC NHAU GIữA CHIếU VÀ XảO: Ngay tức thời liền nhận gọi là Chiếu Kiến Không, đó là Bát Nhă, nơi Không mà không chứng, nơi Hữu mà không dính mắc, đó là Phương Tiện. Giống như tức thời soi vào kiến mà có thể nh́n thấy, soi xét không và có, đó là Bát Nhă, đối với Có mà không vướn mắc, đó là Phương Tiện thiện xảo. V́ tác dụng của Chiếu và Xảo không phải là một nên phân làm hai. Nếu không đắm vào Không Quán, gọi là không chứng Không. Không chứng Không là không lấy Không làm chỗ cuối cùng, không ch́m đắm nơi Không.

 

(c) SAI KHÁC GIữA SOI CHIếU VÀ BIếN ĐộNG: Bên trong tĩnh lặng soi chiếu là thật, bên ngoài biến động là giả. Như với (2), Chiếu và Xảo phân biệt là Bát Nhă và Phương Tiện. Tuy nhiên Chiếu và Xảo cùng đều soi chiếu từ Tâm, toàn thuộc Bát Nhă, ứng theo thời mà hiển lộ ra biến động bên ngoài làm phương tiện, đó là Phương Tiện, cũng gọi là Quyền Trí.

 

(d) RƠ KHÔNG VÀ TU HữU: Lấy sáu Ba La Mật phân làm Bát Nhă và Phương Tiện, Ba La Mật thứ sáu - Bát Nhă Ba La Mật, là Rơ Không (Không giải), năm Ba La Mật kia là Tu Hữu (Hữu hành).

 

Ở trên có nói rằng chiếu Không là Bát Nhă, nương Hữu là Phương Tiện, là lấy nền tảng Trí Giải về Không và Hữu phân biệt, ở đây lấy Giải và Hành phân làm hai môn.

 

(e) CHIếU KHÔNG VÀ KHÔNG CHứNG KHÔNG: Lấy Chiếu Không là thật, biết Không cũng không mà không chứng Không là quyền. Đối với (2) ở trên, Bát Nhă tức thời soi chiếu và Phương Tiện không chứng Không và không bám Hữu, là nói khác về "Chiếu Không" về phương diện Bát Nhă, và "Không Chứng Không" về phương diện Phương Tiện. Đối với (1), Bát Nhă chiếu Không và Phương tiện nương Hữu, nơi Bát Nhă chiếu Không, soi chiếu Không đồng thời không chứng Không, đó là Bát Nhă và Phương Tiện. Biết Không cũng không th́ không ch́m đắm Quán Không mà thường nương vào Hữu. Đây thuộc về Phương Tiện.

 

 

G) KHÔNG ĐẠI THỪA VÀ KHÔNG TIỂU THỪA

 

Tư tưởng của Ngài Cát Tạng về hai Trí: Bát Nhă Chiếu Không và Phương Tiện Không Chứng Không là một tư tưởng hết sức đặc sắc về Không Quán. Ngài Cát tạng, trong Tam Luận Huyền Kư, về Không Quán của Đại Thừa và Tiểu Thừa, đưa ra bốn điểm khác nhau. Điểm khác nhau thứ tư là Tiểu Thừa th́ "Chỉ Không" (Đản Không), c̣n Đại Thừa th́ "Không không thể đắc" (Bất khả đắc Không). Có nghĩa là: Tiểu Thừa không biết rằng Không cũng là không, lấy Không là chỗ tận cùng, v́ chỉ nương nơi Không nên gọi là "Đản Không." Đó là lư do chứng Không. Về phần Đại Thừa, Bồ tát Đại Thừa biết Không cũng là không, cho nên không trụ trong Không. Do đó gọi là "Bất khả đắc Không", hoặc "Vô sở đắc Không" (Không không chỗ được). Đó là đại biểu tư tưởng trọng yếu của Cát Tạng về Không Quán. Đản Không và Không Chứng Không, trên mặt thực tiễn, cũng biểu thị sự tu hành sâu cạn, v́ hai sự quán tâm có sâu cạn khác nhau nên sản sinh ra loại Trí. Điều này cũng cho thấy rằng Bát Nhă và Phương Tiện vốn cùng là một, do sự hành đạo mà thành ra có sai khác.

 

 

H) NHỊ TRÍ TƯƠNG TỨC

 

THỂ VÀ DỤNG: Bát Nhă và Phương Tiện là hai Trí, hai Đạo của Bồ Tát, tùy theo nội dung cụ thể, thể hiện mà phân ra các pháp khác nhau. Có nghĩa là Bát Nhă và Phương Tiện chỉ là một. Về nhất thể không hai đó, Ngài Cát Tạng theo tư tưởng truyền thống của Trung Hoa về khái niệm Thể và Dụng, lấy Bát Nhă làm thể, Phương Tiện làm dụng. Theo Đại Trí Độ Luận, "Bản thể của Bát Nhă và Phương Tiện là một, v́ chỗ dụng có chút khác nên nói là hai, thí dụ như sư tử vàng dùng phương tiện khéo, từ vàng làm ra các loại vật khác nhau, thảy cũng đều là vàng mà có tên khác nhau." (Bát Nhă dữ Phương Tiện bản thể thị nhứt, dĩ sở dụng tiểu dị cố biệt thuyết, thí như kim sư dĩ xảo phương tiện cố, dĩ kim tác chủng chủng dị vật, duy giai thị kim, nhi các dị danh) (Đại chính, quyển 25), Bát Nhă và Phương Tiện được thí dụ với vàng và các vật phẩm tinh xảo do vàng làm ra.

 

Lấy Phương Tiện làm dụng, Bát Nhă làm thể, v́ Bát Nhă là đối với Thật Tướng, Thật Tướng là gốc các pháp, Phương Tiện là đối với các pháp, các pháp là ngọn của Thật Tướng. Tại sao gọi Thật Tướng là gốc và các pháp là ngọn? - V́ mê Thật Tướng nên có luân hồi trong sáu nẻo, nếu ngộ Thật Tướng th́ có Thánh Hiền của Ba Thừa, Thực Tướng là nguồn gốc của mê ngộ, nên gọi là gốc.

 

Do đó, từ chỗ Bát Nhă là thể, Phương Tiện là dụng, nếu nh́n ở phương diện gốc-ngọn, th́ Bát Nhă là gốc, Phương Tiện là ngọn. Nếu nói theo cách đó, Bát Nhă được coi là hơn, Phương Tiện bị coi là kém hơn? Tuy nhiên theo mười địa hành Đạo của Bồ tát, nơi Hiện Tiền Địa thứ sáu, Đại Trí Bát Nhă hiện ra trước mắt, địa thứ bảy là Viễn Hành Địa được gọi là Phương Tiện Cụ Túc Địa, đó là địa vị của phương tiện diệu dụng. Do đó, trên quan điểm Thập Địa, không cho rằng Phương Tiện là thấp hơn.

 

Đi xa hơn, đối chiếu giữa Phương Tiện và Bát Nhă, Bát Nhă là gốc, Phương Tiện là ngọn, Phương Tiện được coi là ưu vượt hơn, bởi v́ Bát Nhă và Phương Tiện vốn cùng là một, mà Phương Tiện là diệu dụng khởi ra từ Bát Nhă. Bồ tát nơi địa thứ sáu chứng được thể Bát Nhă, rồi hướng về ngọn mà được diệu dụng của Bát Nhă. Từ địa thứ bảy mới có sự diệu dụng của Bát Nhă ấy, gọi là Phương Tiện, địa thứ bảy gọi là Phương Tiện Cụ Túc Địa. Đại Trí Độ Luận quyển 46 nói: "Phương Tiện tức là trí tuệ, trí tuệ lắng trong, nên biến danh là Phương Tiện." (Phương Tiện tức Trí Tuệ, Trí Tuệ đ́nh tịnh, cố biến danh vi Phương Tiện). Có nghĩa là Bát Nhă thanh tịnh biến thành Phương Tiện. Phương Tiện - diệu dụng của Bát Nhă - là biến hóa của Bát Nhă.

 

Nói một cách cụ thể, Trí Tuệ Chiếu Không không thường nương vào Có, không có thiện xảo của Không Huệ, đó là Bát Nhă; Trí Tuệ Chiếu Không thường nương nơi Có mà thành thiện xảo, gọi là Phương Tiện. Do đó, đứng về mặt tu hành mà nói th́ Phương Tiện ưu việt. Tuy nhiên Bát Nhă và Phương Tiện không phải là hai thể riêng biệt, Không Huệ tiềm tàng trong Xảo gọi là Bát Nhă của Phương Tiện; chỗ thiện xảo của Bát Nhă gọi là Phương Tiện của Bát Nhă. Bát Nhă của Phương Tiện và Phương Tiện của Bát Nhă vốn là một thể không hai, có mối quan hệ nhân duyên tương tức, do đó lấy sự quan hệ thể dụng - Bát Nhă làm thể, Phương Tiện làm dụng, mà thành lập.

 

 

G) BỐN LỰC CỦA BÁT NHĂ VÀ BA LỰC CỦA PHƯƠNG TIỆN

 

Bát Nhă và Phương Tiện không phải là hai thể, nhưng Phương Tiện thường được coi là ưu việt hơn Bát Nhă, nguyên do là khởi từ hai Trí, hai Đạo của Bồ Tát Đại Thừa mà xuất hiện. Theo Ngài Cát Tạng, Bát Nhă có Bốn Lực. Đó là: (1) Soi chiếu Thật Tướng (Chiếu Thật tướng); (2) Không chỗ bám (Vô sở trước); (3) Trừ mê lầm (Cát chư hoặc); (4) Khéo dẫn đạo Phương Tiện. Có nghĩa là không thấy tất cả tướng mà ngay tức thời thấy Thật Tướng là Bát Nhă. Thật Tướng là Tánh Không tuyệt đối (Tất cánh Không), là Không Tướng, không chỗ nương. Do đó, Bát Nhă khế hợp với Thật Tướng tất cánh Không đó th́ không chỗ nương, cho nên không có chỗ bám giữ. Nếu không có chỗ bám giữ, th́ ĺa tất cả các phiền năo, được vào nơi tịch tịnh. Đại Trí Độ Luận nói: "Bát Nhă Ba La Mật hay trừ các tà kiến, phiền năo, hí luận, dẫn đến tất cánh Không." (Bát Nhă Ba La Mật năng diệt chư tà kiến, phiền năo, hí luận, tương chí tất cánh Không trung). Trừ các hí luận ở đây là trừ mê lầm (đoạn hoặc). Lúc tâm không bệnh hoạn mà tịch tịnh, thường khởi ra tác dụng xảo diệu của Phương Tiện.

 

Phương Tiện nương vào vạn pháp mà không bám giữ (vô chấp trước), là nhờ đặt nền tảng trên Bát Nhă. Theo ư nghĩa đó, vô trước (không bám) thuộc về Lực của Bát Nhă. Tuy nhiên, Bát Nhă nương vào cái Có của các pháp lại ở trong phạm trù của Phương Tiện. Do đó nói về Lực Phương Tiện dẫn đạo Bát nhă. Lực Phương Tiện có ba là: (1) Thiện Xảo Chiếu Cảnh (Chiếu cảnh chi xảo); (2) Lực Không Chứng Không (Bất chứng Không chi lực); (3) Tác Dụng Khởi Hạnh (Khởi hạnh tác dụng), tác dụng sinh khởi các hạnh.

 

Thiện Xảo Chiếu Cảnh, là Phương Tiện soi rọi các pháp, nương Hữu mà không bám. Như đă nói qua, sự sai khác thứ nhứt giữa Bát Nhă và Phương Tiện là Bát Nhă soi chiếu Thật Tướng, Phương Tiện soi chiếu các pháp. Theo phạm trù thứ nhứt, soi chiếu các pháp thuộc về Phương Tiện. Theo phạm trù thứ hai, tức thời soi chiếu Không Hữu là Bát Nhă, tu Không mà không chứng, nương Hữu mà không dính mắc là Phương Tiện. Do đó, soi chiếu hai cảnh Không và Có thuộc Bát Nhă. Lực thứ nhứt của Phương Tiện Trí - Thiện Xảo Chiếu Cảnh - không ǵ khác hơn là điều mà phạm trù thứ hai nói: nương Hữu mà không bám giữ. "Không bám giữ" như nói ở trước, thuộc về Lực Bát Nhă. Bát Nhă có Lực Không Bám Giữ (vô trước lực), do đó trong Bát Nhă Quán, có Phương Tiện thiện xảo. Đó là Phương Tiện Không Bám Giữ.

 

Như vậy, Bát Nhă và Phương Tiện nói một cách khắc khe th́ có sự khác biệt, nhưng v́ các pháp và Thật Tướng không hai mà hai, hai mà không hai, nên hai Trí cũng không hai mà hai, hai mà không hai. Tuy nhiên nếu đứng về mặt hành Đạo th́ Nhị Thừa chỉ thấy Không, không thể nương vào Hữu, Bồ Tát có thể nơi Không mà khởi chỗ dụng của Hữu. Lại, các Bồ Tát địa thứ sáu chỉ đắc Không Quán Bát Nhă, phải đến địa thứ bảy mới có thể nơi Không nương vào Hữu. Chỗ khác nhau là ở sự "xảo diệu", nơi Không, nương vào Hữu, khởi ra Thiện Xảo Chiếu Cảnh (chiếu cảnh chi xảo), cũng gọi là Lực Phương Tiện.

 

 

H) LỰC KHÔNG CHỨNG KHÔNG VÀ DỤNG KHỞI HẠNH

 

Lực Không Chứng Không thuộc phạm trù thứ hai về sự khác nhau giữa Bát Nhă và Phương Tiện như đă tŕnh bày là "hành Không mà không chứng, nương Có không bám giữ " (Hành Không bất chứng, thiệp Hữu vô trước). Trong phạm trù thứ hai này, "hành Không không chứng" và "nương Hữu không bám" đều là sự thiện xảo của Phương Tiện. Tuy nhiên theo trên, Thiện Xảo Không Bám Giữ (bất trước chi xảo) là thuộc về Lực Bát Nhă. Từ đó, Thiện Xảo Không Chứng là đại biểu của Lực Phương Tiện.

 

"Nương Hữu mà không bám giữ," nương Hữu là một Lực của Phương Tiện. Nếu so sánh "Không Bám Hữu" và "Không Chứng Không", không bám vào Hữu là thuộc về Bát Nhă, v́ Hữu là tục đế. Chổ tu hành của Nhị Thừa là trong chỗ quán Thực Tướng mà không bám vào Hữu, do đó thoát ly phàm phu. Bồ Tát nơi quán Thật Tướng, soi chiếu các pháp, không dính nơi Không, do đó thoát ly Nhị Thừa. Ĺa sự bám vào Hữu của phàm phu, vượt khỏi sự dính mắc vào cảnh giới Không của hàng Thánh. Do đó, không chứng Không là biểu hiệu của Lực Phương tiện.

 

Tư tưởng "Không Chứng Không" đă được Ngài Cưu Ma La Thập nói trong Chú Duy Ma Kinh: "Quán Không không giữ, nương Hữu không bám, gọi là Phương Tiện khéo." (Quán Không bất thủ, thiệp hữu bất trước, thị danh xảo Phương Tiện.) (Đại chính quyển 42). Ngài Cát Tạng lấy "Quán Không không giữ" (quán Không bất thủ) đổi thành "Quán Không không chứng" (quán Không bất chứng). Quán Không Không Giữ của Ngài La Thập là ư quán Không mà không giữ tướng, đó thuộc về Bát Nhă, lănh vực của quán Không; c̣n Nương Hữu Không Bám là Phương Tiện.

 

Như vậy, Ngài Cát Tạng lấy "Quán Không Không Giữ" - là tác dụng của Bát Nhă - để thuyết "Quán Không Không Chứng", tiến vào phạm vi xảo diệu là "Hành Không Không Chứng," từ tư tưởng Không của Bát Nhă chuyển thành tư tưởng về Phương Tiện.

 

Dụng Khởi Hạnh, là tác dụng biểu lộ ra bên ngoài của Phương Tiện Trí. Đó là điều mà Đại Trí Độ Luận nói: "Phương Tiện khởi ra từ Tánh Không tuyệt đối, trang nghiêm quốc độ, giáo hóa chúng sinh." (Phương Tiện tương xuất tất cánh Không, nghiêm độ hóa nhân.) (Đại chính, quyển 25.) Nhị Thừa không có hạnh nguyện giáo hóa chúng sinh, nên vào trong Không có chứng Không. V́ vậy, Dụng Khởi Hạnh của Phương Tiện là thệ nguyện của Bồ Tát, là tác dụng của Đại Từ Đại Bi. Bát Nhă và Phương Tiện quan hệ nương nhau, kết quả hiện xuất nơi Từ Bi - là hạnh nguyện của Bồ Tát - hai cái là một thể không hai.

 

 

I) NHÂN DUYÊN CẢNH TRÍ - HAI ĐẾ VÀ HAI TRÍ

 

(1) CẢNH TRÍ TƯƠNG TỨC VÀ HAI ĐẾ

 

Trí không phải là Tự Tánh, tất phải nương vào Cảnh để khởi sinh. Trong ư nghĩa này, Cảnh là nền tảng của Trí. Tuy nhiên, khi nói về Cảnh, Cảnh không phải là độc lập, Cảnh phải hợp với Trí mới có tên. Do đó, Trí là nền tảng của Cảnh. Nếu không có Cảnh, Trí không phát lộ; nếu không có Trí, th́ không chiếu Cảnh. Với nghĩa thứ nhứt, Cảnh là năng phát, Trí là sở phát; nhưng với ư nghĩa thứ hai, Trí là năng chiếu, Cảnh là sở chiếu. V́ vậy, có năng phát và sở chiếu của Cảnh, năng chiếu và sở sở phát của Trí, tức là năng và sở của Cảnh và Trí. Sự quan hệ gữa chủ và khách là nếu Cảnh là sở th́ Trí là năng, nếu Trí là sở th́ Cảnh là năng, do đó không thể nói rằng Cảnh là trước, Trí là sau, cũng không nói được rằng Trí là trước, Cảnh là sau. Lại nữa, Cảnh và Trí cũng không thể đồng thời. Không trước sau, cũng không đồng thời. Đại Thừa Huyền Luận gọi sự quan hệ giữa Cảnh và Trí đó là "Nhân Duyên Cảnh Trí." V́ là Cảnh, Trí trong tương quan nhân duyên nên Cảnh và Trí là hai mà không hai, không hai mà hai.

 

Về Cảnh Phát Trí, Trung Luận nói :"Chư Phật theo Nhị Đế, v́ chúng sanh thuyết Pháp." (Chư Phật y Nhị Đế, vị chúng sanh thuyết Pháp.) (Đại chính, quyển 30.) Nhị Đế là giáo pháp do chính Phật dạy, nhân y vào giáo lư Hai Đế phát sinh hai Trí. Do đó, hai Trí là cảnh của hai Đế.

 

Hai Đế là Thắng Nghĩa Đế (Đệ Nhứt Nghĩa Đế) và Thế Tục Đế. Đế thứ nhứt là chỗ Phật, Bồ Tát soi chiếu bản tính Không Tuyệt Đối của sự vật trong hiện tượng giới, Đế thứ hai là cái thấy thông thường của thế gian, thừa nhận sự hiện hữu của thế giới hiện tượng tương đối. Trung Luận nói: "Nếu có người không hiểu, phân biệt có hai Đế, với Phật Pháp sâu xa, không hiểu nghĩa chân thật." (Nhược nhân bất năng tri, phân biệt ư nhị Đế, tắc ư thâm Phật Pháp, bất tri chân thật nghĩa) (Đại chính, 30). Do đó, như ở trước chúng ta có nói về Trung Luận Chú của Ngài Đàm Ảnh là coi Hai Đế là chủ đề của Trung Luận. Theo Ngài Đàm Ảnh :

 

"Chân Đế nên không Có, Tục Đế nên không Không. Chân nên không Có, th́ tuy Không mà Có. Tục nên không Không, th́ tuy Có mà Không. Tuy Có mà Không, nên không buộc vào Có. Tuy Không mà Có, nên không dính nơi Không. Không dính nơi Không, th́ dứt trừ thấy nghĩ. Không ở nơi Có th́ thường giống như nước tan. Lặng hết bờ mé ấy, nên gọi là Trung." (Dĩ Chân Đế cố vô Hữu, Tục Đế cố vô Vô. Chân cố vô Hữu, tắc tuy Vô nhi Hữu. Tục Đế cố vô Vô, tắc tuy Hữu nhi Vô. Tuy Hữu nhi Vô, tắc bất lụy ư Hữu. Tuy Vô nhi Hữu, tắc bất đái ư Vô. Bất đái ư Vô, tắc đoạn diệt kiến tư. Bất tồn ư Hữu, tắc thường đẳng thủy tiêu. Tịch thử chư biên, cố danh viết Trung) (Trung Luận Tự, Đại chính quyển 55.)

 

(2) NHỊ ĐẾ TRUNG ĐẠO

 

Ngài Cát Tạng gọi Nhị Đế Quán của Ngài Đàm Ảnh là Nhị Đế Trung Đạo, do Nhị Đế Trung Đạo mới có Nhị Đế Trung Quán. Ngài Cát Tạng theo đó diễn rộng ra: "Chân nên không Có, tuy Không mà Có." (Chân cố vô Hữu, tuy Vô nhi Hữu), đó là không hoại giả danh mà thuyết Thật Tướng. Không hoại giả danh (hiện tượng) mà thuyết Thật Tướng, cho nên giả danh thuận theo Thật Tướng. Không động Chân Tế (Không) mà kiến lập các pháp, do đó Chân Tế thuận theo các pháp. Chân Tế thuận theo các pháp, cho nên không buộc nơi Không (vô); các pháp thuận theo Chân Tế cho nên không vướn nơi Có (hữu). Không vướn nơi Có nên ĺa thường kiến (kiến chấp về sự thường c̣n); không buộc nơi Không, cho nên không bị nhốt trong đoạn kiến (kiến chấp về sự chấm dứt), tức là Trung Đạo. Từ nơi Nhị Đế Trung Đạo này mà sinh ra hai Trí. Đó là muốn nói: do liễu ngộ Thật Tướng duyên thuận theo các pháp mà sinh ra Phương Tiện của Bát Nhă. V́ là Bát Nhă Phương Tiện, cho nên nói là Bát Nhă, là thuận theo Phương Tiện. V́ là Phương Tiện Bát Nhă, cho nên nói là Phương Tiện, là thuận theo Bát Nhă. Phương Tiện thuận theo Bát Nhă cho nên không vướn nơi Có (Hữu). Bát Nhă thuận theo Phương Tiện cho nên không dính nơi Không. Do không vướn vào Có, không dính vào Không, cho nên diệt cái thấy Có-Không, dứt hai biên Có-Không, nên gọi là Trung Quán. Như thế, nhờ Nhị Đế Trung Đạo sinh Nhị Trí Trung Quán, Nhị Trí Trung Quán trở lại soi chiếu Nhị Đế Trung Đạo.

 

Hai Đế và Hai Trí này, gọi là Nhân Duyên Cảnh Trí. Hai Đế cùng Hai Trí gọi là Nhân Duyên Cảnh Trí, là do Đế và Trí có sự quan hệ tương tức thể và dụng. Ngài Cát Tạng trong Tam Luận Huyền Nghĩa, lấy ư nghĩa chữ "Chính" trong "phá tà tức hiển chính" của Tam Luận phân ra làm Chính của Thể và Chính của Dụng. Nói: "Không Chân không Tục là Chính của Thể, Chân Tục là Chính của Dụng." (Phi Chân phi Tục thị thể chi Chính, Chân Tục thị dụng chi Chính.) (Đại chính, quyển 45), lư do là: "Thật Tướng các pháp là thế giới quên lời dứt nghĩ, là không Chân không Tục. Do đó lấy làm thể. Lại, thể này không nghiêng về tà cho nên là Chính, gọi là Chính của Thể. Thể vượt ngoài tên gọi hay lời nói, cho nên người không thấu được đầu mối. Do đó, nói một cách cường điệu phi Chân phi Tục là Tục của Chân, đó là Dụng. Tục của Chân này cũng không nghiêng về tà, cho nên là Chính, nói là Chính của Dụng." (Chư pháp thật tướng thị ngôn vọng lự tuyệt đích thế giới, thị phi Chân phi Tục. Cố dĩ thử vi thể. Hựu, thử thể tuyệt thiên tà, cố vi Chính, thuyết thử vi Thể Chính. Thể tuyệt danh ngôn, cố nhân vô ngộ thử đích tuyến tác. Nhân thử, cường ngôn phi Chân phi Tục vi chân tục, thử thị dụng. Thử chân tục diệc ly thiên tà, cố vi chính, ngôn thử vi Dụng Chính). Có nghĩa là, Chính của Thể là lư của phi Chân phi Tục, Chính của Dụng là Giáo của Chân Tục, thể của Giáo này là Hai Đế, nương Hai Đế mà sinh Hai Trí là dụng của Giáo. Trung Quán Luận Sớ quyển 1 nói: "Trước tỏ rơ thể của Giáo, tức là Hai Đế, sau tỏ rơ dụng của Giáo, tức là Hai Trí." (Sơ minh giáo thể, tức thị Nhị Đế, thứ minh Giáo dụng, tức thị Nhị Trí).

 

(3) HAI ĐẾ VÀ HAI TRÍ

 

Như vậy, Đế và Trí vốn có mối liên hệ tương tức thể dụng, do đó tuy hai mà không hai. Nếu không nương Đế th́ không được Trí; nếu không theo Trí để tu th́ không rơ được Đế. Ở Phật, bên trong có Hai Trí mà bên ngoài thuyết Hai Đế; ở chúng sanh, nương theo Giáo lư Hai Đế Phật dạy khởi sinh Hai Trí. V́ vậy, Đế và Trí vốn là hai mà không hai, không hai mà hai; khi hướng theo duyên là nương Giáo sinh Trí, do đó nói Đế là thể của Giáo, Hai Trí là dụng của Giáo. Trong Trung Luận Sớ gọi đó là "Hành Thuyết Nhân Duyên."

 

 

J) VÔ ĐẮC CHÍNH QUÁN

 

(1) CÓ CHỖ ĐẮC VÀ KHÔNG CHỖ ĐẮC

 

Ngài Cát Tạng lấy Hai Đế và Hai Trí thuyết Nhân Duyên Cảnh Trí, đối với Hai Trí, lấy Bát Nhă làm thể của Phương Tiện, lấy Phương Tiện làm dụng của Bát Nhă. Tư tưởng Bát Nhă của Ngài Tăng Triệu trước kia nhân v́ tính cách phân tách của thời Nam Bắc triều, nên đă khái niệm hóa một cách cực độ, có khuynh hướng cố định hóa. Theo Ngài Cát Tạng:

 

"Khi Tam Luận chưa ra đời, Tỳ Đàm, Thành Thật, Đại Thừa có chỗ đắc, cùng Thiền Sư, Luật Sư, các vị như Hạnh Đạo, Khổ Tiết, đều là có chỗ đắc, sinh diệt đoạn thường, ngăn che Chính Quán Trung Đạo. Đă ngăn che Chính Quán Trung Đạo, cũng ngăn che đại dụng nhân duyên giả danh vô phương. V́ vậy, một mặt tẩy trừ làm cho không c̣n một chút sót lại, tức ngộ Chân Tướng. Ngộ được thể của Chân Tướng tức thấu rơ giả danh nhân duyên vô phương đại dụng." (Tam Luận mạt xuất chi tiền, nhược Tỳ Đàm, Thành Thật, hữu sở đắc Đại Thừa, cập Thiền Sư, Luật Sư, Hạnh Đạo, Khổ Tiết như thử chi nhân, giai thị hữu sở đắc sinh diệt đoạn thường, chướng Trung Đạo Chính Quán. Kư chướng Trung Đạo Chính Quán, diệc chướng giả danh nhân duyên vô phương đại dụng. Cố nhứt hướng phá tẩy linh tất cánh vô di, tức ngộ Thật Tướng. Kư ngộ Thật Tướng chi thể, tức giải giả danh nhân duyên vô phương đại dụng dă.) (Đại chính quyển 43).

 

Khuynh hướng học giả Phật Giáo thời Nam Bắc Triều là "có chỗ được" (hữu sở đắc). Ngài Cát Tạng gọi lập trường của ḿnh là "Vô Đắc Chính Quán Tông", lấy "không chỗ được" làm chủ yếu.

 

Theo Ngài Cát Tạng, lập trường "có chỗ được" ngăn che Chính Quán Trung Đạo và ngăn che đại dụng giả danh nhân duyên vô phương. Cũng theo Ngài Cát Tạng, vô sở đắc là ngộ được thể của Thật Tướng và hiểu rơ nhân duyên giả danh đại dụng không hai. Vô sở đắc biểu hiện của Không vào trong thực tiễn tức là không chấp trước, là Tánh Không siêu việt tứ cú, chấm dứt bách phi. Vô sở đắc là tướng tu hành Bát Nhă Ba La Mật, tức là thể chứng ngộ của Thật Tướng. Tuy nhiên, Vô Sở Đắc của Ngài Cát Tạng thuyết không chỉ là thể chứng ngộ của Thật Tướng, nhưng đồng thời hiểu rơ dụng của nhân duyên vô phương.

 

(2) BÁT NHĂ VỚI PHẬT TÍNH, NHƯ LAI TẠNG

 

Nói lại về Không Quán, tức là nói về "Bất khả đắc Không", là biết Không cũng là không mà không chứng Không, không chứng Không này là tác dụng của Phương Tiện. Ngài Cát Tạng gọi là "Vô sở đắc Không." Không Quán vô sở đắc này, như Tam Luận Huyền Nghĩa nói, "Tiểu Thừa chỉ biết Không, không nói không Không. Đại Thừa biết Không, cũng nói không Không." (Tiểu Thừa đản minh ư Không, vị thuyết bất Không. Đại Thừa minh Không, diệc biện bất Không).

 

Theo Trung Quán Luận Sớ, thấy Không có nghĩa là thấy Không cùng lúc thấy không Không, Không là thể tánh Không của Đại Thừa Không Quán, tức là Chân Không; không Không là thấy sự hiện hữu mầu nhiệm của Phật Tánh, gọi là thấy không Không, do đó không Không là chỉ cho sự diệu hữu của Phật Tánh.

 

Đứng trên lập trường vô sở đắc như nói ở trước, thấy Không là chứng ngộ thể của Thật tướng, thấy không Không là chứng ngộ cái dụng nhân duyên giả danh. Do đó biết rằng lập trường Vô Đắc Chính Quán của Tam Luận là sự tương tức giữa Chân Không Bát Nhă và Diệu Hữu Phật Tánh.

 

Theo Ngài Cát Tạng, Phật Tánh, Như Lai Tạng và Bát Nhă cùng nghĩa. Bát Nhă là Trí Tuệ Trung Đạo, v́ là Trí Tuệ Trung Đạo, nên xa ĺa hai cái thấy Hữu-Vô, đứng về phương diện vô ngă, Bát Nhă khử trừ cái thấy Có, đứng về phương diện Phật Tánh, Diệu Hữu Như Lai Tạng, khử trừ cái thấy Không. Tư tưởng Bát Nhă này và tư tưởng Phật Tánh ḥa điệu nhịp nhàng, không ngoài lập trường chứng ngộ thể Thật Tướng và thấu rơ cái dụng nhân duyên giả danh. Liên quan giữa Bát Nhă và Phương Tiện, sự ḥa điệu giữa tư tưởng Bát Nhă và tư tưởng Phật Tánh khai mào từ tư tưởng Vô Sở Đắc.

 

 

K) BÁT NHĂ VÀ THIỀN

 

VÔ TRỤ

 

Trong Đại Phẩm Nghĩa Sớ, Ngài Cát Tạng nói: "Bát Nhă lấy vô trụ làm tông, cho nên phá trừ trụ trước là gốc; muốn phá trừ trụ trước điên đảo, nên dùng lời nói rơ vô trụ." (Bát Nhă dĩ vô trụ vi tông, cố đảo dĩ trụ trước vi bản; linh dục phá điên đảo trụ trước, thị cố phát âm minh vô trụ.)

 

Có nghĩa là lấy một chữ "Vô Trụ" chỉ rơ tinh thần vô chấp vô trước phá trừ sự trụ trước điên đảo, đó là tông chỉ của Bát Nhă.

 

Khái niệm về Vô Trụ, Kinh Duy Ma nói, "theo gốc Vô Trụ, thiết lập hết thảy các pháp" (Ṭng Vô Trụ bản lập nhứt thiết pháp) (Đại Chính quyển 14). Trung Quán Luận Sớ nói: "Mê mờ Thật Tướng đó nên phân vân sáu nẻo sống chết, cho nên Kinh Tịnh Danh nói: Theo gốc Vô Trụ thiết lập hết thảy pháp." (Mê thử Thật Tướng tiện hữu lục đạo sinh tử phân nhiên, cố Tịnh Danh Kinh vân: Ṭng Vô Trụ bản lập nhứt thiết pháp) (Đại Chính quyển 42), "bản" là biểu thị khái niệm Thật Tướng Tánh Không. Như Ngài Cát Tạng nói :"Lấy Vô Trụ làm nội dung của thể, đó là hợp môn; từ trong thể mở ra hai dụng, là Chân Tục, đó là nội dung của dụng." (Dĩ Vô Trụ vi thể trung, thử thị hợp môn; ư thể trung khai vi lưỡng dụng, vị Chân Tục, thử thị dụng trung) (Tam Luận Huyền Nghĩa quyển 1, Đại Chính quyển 45). Bát Nhă, Chánh Pháp, Vô Trụ, chỉ là tên khác của một thể, đều mang ư nghĩa trên của Vô Trụ. Với Ngài Cát Tạng, "Bát Nhă lấy Vô Trụ làm Tông" biểu thị Thật Tướng (Kinh Duy Ma và Kinh Bát Nhă nói là Gốc Không (Vô Bản), Tính Không cũng là căn cứ trên luận lư không chấp trước), đồng thời chỉ cho sự thể hiện thực tiễn không chấp trước của Tánh Không.

 

Đại Phẩm Nghĩa Sớ nói: "Không nương, không đắc, không chỗ trụ, là nguồn gốc nhiệm mầu của Bát Nhă" (Vô y vô đắc vô sở trụ, thị Bát Nhă huyền tông), nói không chỗ trụ đó là "Bát Nhă Chính Trụ" (Chính Trụ Bát Nhă), tức trụ chính xác trong Bát Nhă, "Dĩ bất trụ vi trụ" (Lấy không trụ mà trụ), v.v. đều cùng một khuôn mẫu. Lại trong Đại Phẩm Du Ư, nói về tông chỉ khai thủy chung của Bát Nhă Kinh, nói : "Mở nguồn gốc tông của Kinh, lấy pháp Không Trụ làm chỗ trụ, bàn chỗ tận cùng của nghĩa đó, lấy Không Đắc làm chỗ đắc." (Khai Kinh tông chi thủy, dĩ Bất Trụ pháp trụ, biện kỳ nghĩa chi chung, dĩ Vô Đắc vi đắc) (Tục tạng 38). Điều đó cùng với lời trong Ngĩa Sớ "không nương không đắc không chỗ trụ, là nguồn gốc mầu nhiệm của Bát Nhă" có ư nghĩa tương đồng. Ư nói rằng lấy không trụ làm chỗ trụ là "Không Trụ" (Vô Trụ), lấy Không Đắc làm chỗ đắc là "Không Chỗ Đắc" (Vô Sở Đắc) là chỗ thực tiễn của Bát Nhă Ba La Mật.

 

Thị Giới.

 

 

sen 5 OK2