B15-JsLo OK

 

GIÁO LƯ BÁT NHĂ

 

Nguyên Hảo (Thị Giới) soạn dịch

(Theo các tài liệu: Bát Nhă Tâm Kinh Tư Tưởng Đích H́nh Thành của Trương Tác Lâm, The First Mileage of Buddhism của Daisaka Ikeda, Tổ Đường Tập, Mahayana Buddhist Mediatation của nhiều tác giả do Minoru Kiyota ấn hành, Bát Nhă Cương Yếu của TKN Hồng Ẩn...)

4.

 

BÁT NHĂ VÀ MẬT TÔNG

 

 

A) BÁT NHĂ KINH VỚI TAM MUỘI, ĐÀ LA NI

 

1) SỰ H̀NH THÀNH MẬT GIÁO VÀ GIÁO LƯ BÁT NHĂ

 

Bát Nhă Kinh được coi như cơ sở thành lập Phật Giáo Đại Thừa. Có thể nói như vậy là v́ Phật Giáo Đại Thừa được thành lập trên giáo lư Không, lấy Không làm nền tảng tối hậu. Như hầu hết các tông phái Đại Thừa khác, kinh điển Mật Tông cũng phát xuất từ giáo lư Bát Nhă. Các kinh điển chính của Mật Giáo như Đại Nhật Kinh và Kim Cang Đảnh Kinh, về phương diện giáo nghĩa và phương diện tu chứng, đều đặt cơ sở trên giáo lư Bát Nhă của Đại Thừa. Như phẩm Trụ Tâm trong Đại Nhật Kinh nói: Lấy Bồ Đề Tâm làm trung tâm cầu Trí Nhứt Thiết Trí (tức Phật Trí), bản tánh của Tâm đồng với Bồ Đề, là tâm thanh tịnh, ĺa hết thảy các phân biệt, là Không, là vô tướng. Giáo lư Tức Thân Thành Phật của Hoằng Pháp Đại Sư Không Hải cũng căn cứ trên hai Kinh Đại Nhật và Kim Cang Đảnh. Giáo lư Tức Thân Thành Phật đặt cơ sở trên ư niệm Phàm Thánh Không Hai (Phàm Thánh Bất Nhị). Giáo lư Không Hai là một trong những giáo lư được nêu ra trong Bát Nhă Kinh. Trong Đại Thừa thuần túy, "phiền năo tức Bồ đề, sinh tử tức Niết Bàn," th́ đối với Mật Giáo, Tam Mật thân khẩu ư (ấn, chân ngôn, mạn đà la) tương quan một cách rơ ràng.

 

 

2) TAM MUỘI VÀ ĐÀ LA NI

 

Tam Muội và Đà la Ni bắt đầu từ Đại Phẩm Bát Nhă Kinh, được nêu ra trong rất nhiều kinh điển Đại Thừa, do đó có thể thấy rơ rằng giữa Tam Muội và Đà La Ni có sự quan hệ mật thiết. Trong Bát Nhă Kinh thuộc Tiểu Phẩm hệ, không thường thấy giáo thuyết về Tam Muội. Tiểu Phẩm Bát Nhă Kinh và Đạo Hành Bát Nhă Kinh chỉ đề cập một lần về Đà La Ni, c̣n các Kinh khác th́ hoàn toàn không thấy nói đến. Chỉ đến Bát Nhă Kinh thuộc Đại Phẩm hệ, mới có hai phẩm là Tam Muội Phẩm và Đà La Ni Phẩm riêng nói về Tam Muội và Đà La Ni. Lư do là đến kinh điển Bát Nhă thuộc Đại Phẩm hệ, Tam Muội và Đà La Ni chuyên chở chân lư Bát Nhă Ba La Mật được đẩy lên bề mặt, chân lư đó là tính phổ biến và vĩnh hằng của Bát Nhă Ba La Mật Đa.

 

Với Bát Nhă Kinh thuộc Tiểu Phẩm hệ, về Tam Muội và Đà La Ni, có thể khảo sát các phẩm Tát Đà Ba Luân Bồ Tát và Đàm Vô Kiệt Bồ Tát.

 

Với sự nhứt tâm chí thành cầu Bát Nhă Ba La Mật Đa, Bồ tát Tát Đà Ba Luân được Bồ tát Đàm Vô Kiệt thủ hộ, làm thiện hữu, và nhờ vậy đắc được Bát Nhă Ba La Mật Đa.

 

Vững tin Bát Nhă Ba La Mật Đa là chân lư tối cao duy nhất, đồng thời tin chắc rằng người t́m cầu chân lư đó đuợc chư Phật, Bồ tát quá khứ, hiện tại và tương lai ủng hộ, niềm tin đó là từ trong Tam Muội thấy Phật mà có. Đạo Hành Tam Muội Kinh gọi Tam Muội này là Tất Kiến Thập Phương Chư Phật Tam Muội (Tam Muội Thấy Rơ Chư Phật Mười Phương.)

 

 

3) TẤT KIẾN THẬP PHƯƠNG CHƯ PHẬT TAM MUỘI VÀ BÁT NHĂ TAM MUỘI

 

Tam muội Thấy Chư Phật Trong Mười Phương (Kiến Thập Phương Chư Phật Tam Muội) tương đương với sáu mươi hai loại Tam muội trong Bát Thiên Tụng. Trong Bát Thiên Tụng, Tam muội thứ mười bốn và thứ mười lăm gồm có Tam muội Hiển Xuất Kính Diện Ánh Tượng và Tam muội Kiến Nhứt Thiết Như Lai. Ngoài ra c̣n có các Tam muội Tán Hoa Xưng Tán Chư Phật Thuyết Pháp, Trang Nghiêm Liên Hoa, và Thần Thông Vô Úy Du Bộ Chư Phật Quốc Độ. Theo đây, chúng ta thấy rằng sáu mươi hai Tam muội là Phật trên ṭa liên hoa ở trong cơi Phật nói về những tâm niệm của chư Phật. Do đó, điểm then chốt của các Tam muội đó là lấy sự thấy Phật nghe Pháp làm nội dung Niệm Phật (Tam muội), đó là Bát Nhă Tam Muội.

 

Dù có những điểm khác nhau, các Tam muội đều nhất trí về việc chư Phật hiện ra trong thực tế để thuyết Pháp. Trong Thực Tướng Tam Muội, tính vĩnh hằng, tính vô ngại của Bát Nhă Ba La Mật Đa được soi thấy và tŕ giữ.

 

Trong Kiến Thập Phương Chư Phật Tam Muội, nhờ vào sự hiển hiện của Phật, tin nhận, tŕ giữ tính phổ biến của chân lư Không. Với sự nương tựa vào Phật, mong muốn một lần thấy lại đức Phật của Phật tử Đại Thừa sơ kỳ khi nghĩ đến đức Phật với đầy đủ ba mươi hai tướng tốt, miệng đang thuyết Bát Nhă Tánh Không, do đó, trong Niệm Phật Tam Muội, tưởng nghĩ tướng hảo của Phật, khai triển sự chứng đắc Vô Tướng Tam Muội về tánh Không, tức Không Tam Muội. Chứng đắc Không tức thực hiện Vô Thượng Chánh Đẳng Giác. Như Tát Đà Ba Luân Bồ Tát, vị Bồ tát thực tiễn trong Bát Nhă Ba La Mật, thấy Phật trong Niệm Phật Tam Muội, nhận lănh sự giáo hóa và tin chắc, khi chứng ngộ Bát Nhă Tánh Không, được Phật thọ kư - thấu hiểu Bát Nhă Ba La Mật Đa - thực hiện Vô Thượng Chánh Giác, tương lai thành Phật.

 

 

B) ĐÀ LA NI VÀ BÁT NHĂ BA LA MẬT ĐA

 

Theo Bát Nhă Kinh thuộc Tiểu Phẩm hệ, Đà La Ni và Tam Muội tương ưng, quan hệ mật thiết trong quá tŕnh triển khai.

 

Sự phát triển của Đà La Ni (dhàrań, tổng tŕ), trong Bát Nhă Kinh thuộc Đại Phẩm hệ chứa đựng nội dung phức tạp. Trong Tiểu Phẩm chỉ thấy một vài điển h́nh. Một trong những điển h́nh đó là chương thứ ba mươi của Bát Thiên Tụng Bát Nhă Kinh, Bồ tát Tát Đà Ba Luân khi tu hành Bát Nhă Ba La Mật Đa, theo âm thanh của Như Lai truyền đi trong không trung, dạy đến bái phỏng Bồ tát Đàm Vô Kiệt. Lúc bấy giờ, ngài biết Bồ tát này "đắc được Đà La Ni, có đủ năm thần thông, phụng sự bậc Tối thắng thời quá khứ, là người thủ hộ, là bạn lành."

 

Trong đoạn trên, ta không thấy Như Lai xuất hiện một cách hiện thật trong Tam Muội dạy Bát Nhă Ba La Mật Đa. Từ Tam Muội, Bồ tát Tát Đà Ba Luân, do nghe âm thanh Như Lai dạy mà hướng về vị Bồ tát có đầy đủ công đức là Đàm Vô Kiệt. Bồ tát Tát Đà Ba Luân trải qua nhiều khốn khó, cuối cùng gặp được sự xuất hiện chân thật trong thực tế, được dạy giáo lư về Không "Như Lai đến đi không biết" (Như Lai khứ lai bất tri). Ở đây sự cầu học Bát Nhă Ba La Mật Đa được lấy làm chủ đề. Điểm chúng ta lưu ư là: Không thấy Như Lai xuất hiện một cách hiện thật trong Tam Muội, thực chứng chân lư Không Sanh Không Diệt.

 

Đà La Ni của Bồ tát Đàm Vô Kiệt, trong Bát Thiên Tụng cũng xuất hiện một lần. Bồ tát Tát Đà Ba Luân sau bao nhiêu gian nan, gặp được "bậc Thánh Đàm Vô Kiệt Bồ Tát Đại Sĩ, ngài đă hoạch đắc được Đà La Ni, có đủ năm thần thông, phụng sự các bậc Thánh trong thời quá khứ, trồng các căn lành, học rành Bát Nhă Ba La Mật Đa và Phương Tiện tối cao." Ở đây, ngài Tát Đà Ba Luân không thấy Như Lai. Trong phẩm Đàm Vô Ánh Bồ Tát trong Đạo Hành Bát Nhă Kinh, khi Bồ tát Đàm Vô Kiệt từ trong Phật Thân Duyên Khởi Không nói với Bồ tát Tát Đà Ba Luân lư do Như Lai không đến không đi, dạy về Bách Ức Bồ Tát Tật Đắc Đà Lân Ni Pháp:

 

"Lúc bấy giờ Bồ tát Đàm Vô Ánh nói về Thân Phật. Bốn vạn tám ngàn Bồ tát đều đắc hạnh Tận Tín. Trăm ức Bồ Tát đều đắc các pháp Đà Lân Ni. Hai trăm ức Bồ Tát đắc Vô Sở Quái Ngại Vấn Giai Năng Chấp. Bốn trăm ức Bồ Tát đều đắc A Duy Việt Trí Bồ Tát. Tám vạn ức Bồ Tát đều đắc A Xà Tịnh Hạnh Trụ Pháp."

(Thị thời Đàm Vô Ánh Bồ Tát thuyết Phật Thân thời. Tứ vạn bát thiên Bồ Tát tức giải đắc Tận Tín chi hạnh. Bách ức Bồ Tát tất đắc chư Đà Lân Ni pháp. Nhị bách ức Bồ Tát đắc Vô Sở Quái Ngại Vấn Giai Năng Chấp. Tứ bách ức Bồ Tát giai đắc A Duy Việt Trí Bồ tát. Bát vạn ức Bồ tát giai đắc A Xà Tịnh Hạnh Trụ Pháp.)(Đại chính, quyển 8, trang 477.)

 

Lại, trong Bát Thiên Tụng, có đoạn như sau: "Đàm Vô Ánh Bồ Tát đáp: Khi ông hỏi ta về giáo lư Như Lai Không Đến Không Đi, trong khi ta thuyết, có tám ngàn hữu sinh được Vô Sanh Pháp Nhẫn, tám mươi na do tha hữu sinh phát tâm hướng Vô Thượng Chính Đẳng Giác, sáu vạn bốn ngàn hữu sinh đối với sự vật được pháp nhăn thanh tịnh không trần không cấu." Theo đó, ta thấy rằng Đà Lân Ni trong Đạo Hành Bát Nhă Kinh quan hệ mật thiết với Vô Sanh Pháp Nhẫn.

 

 

C) CHÂN NGÔN VÀ ĐÀ LA NI

 

Về tính phổ biến của Đà La Ni, trong toàn bộ kinh điển do ngài Chi Lâu Ca Sấm dịch, sự quan hệ giữa Đà La Ni và Không của Bát Nhă như là nói về cùng một sự.

 

Tuy nhiên trong Bát Nhă Kinh thuộc Tiểu Phẩm hệ, chỉ thấy xuất hiện một ít Đà La Ni, tập trung chung quanh việc Bồ tát Tát Đà Ba Luân cầu học Bát Nhă Ba La Mật Đa, những Đà La Ni này mang tính chất vĩnh hằng. Như đă thấy, nơi Bồ tát Đàm Vô Kiệt, Đà La Ni được trang nghiêm như đứng đầu các công đức, nhờ đó làm người thủ hộ, người bạn lành của Bồ tát Tát Đà Ba Luân. Đà La Ni được coi như đức mục đứng đầu của người thủ hộ Bát Nhă Ba La Mật Đa. Người thủ hộ, Bồ tát Đàm Vô Kiệt, vượt thời gian mà xuất hiện, do đó Ngài cũng tượng trưng cho tính phổ biến.

 

Như vậy, Đà La Ni từ khởi thủy đă có tính vĩnh hằng của Bát Nhă Ba La Mật Đa, tức là tính chân lư. Đà La Ni về sau cùng với Biện Tài và Chân Ngôn kết hợp trong một sự triển khai phức tạp. Tuy nhiên, nếu Đà La Ni từ căn để, với cái nh́n từ Bát Nhă Ba La Mật Đa, dù đă trải qua một quá tŕnh diễn biến triển khai phức tạp, không thể không thừa nhận rằng toàn bộ đă triển khai theo sát Bát Nhă Ba La Mật Đa.

 

Nói về Đà La Ni và Chân Ngôn, trong giai đoạn mới phát triển của Đại Thừa, sự quan hệ giữa Đà La Ni và Chân Ngôn, Minh Chú không mấy mật thiết. Nếu có quan hệ th́ Đà La Ni được coi là mục đích, c̣n Chân Ngôn là phương pháp. Ư nghĩa của Chân Ngôn không khác ǵ hơn là những Chú thủ hộ làm cho ác quỉ, la sát, năo hại tránh xa. Đến thời trung kỳ, tức thời kỳ kinh điển Đại Thừa với Tạp Mật, Chân Ngôn vượt qua ư nghĩa chỉ là những Chú thủ hộ, mà trở nên nhờ tụng đọc Chân Ngôn có thể đạt đến mục đích tối cao là Vô Thượng Chánh Đẳng Giác. Từ ư nghĩa chỉ là những Chú thủ hộ, Chân Ngôn phát triển thành mục đích thành Phật. Đến đây th́ Chân Ngôn và Đà La Ni đồng hóa.

 

Về sự đồng hóa giữa Đà La Ni và Chân Ngôn, đối với Pháp Sư, người mà qua đó Đà La Ni thể hiện, Biện Tài và Thủ Hộ Chú trở nên tất yếu, Đà La Ni cùng với Chân Ngôn Thủ Hộ Chú bắt đầu đồng hóa. Điểm chú ư là Đà La Ni và Biện Tài đều chỉ là một mặt thực tiễn của Bát Nhă Ba La Mật Đa, do đó gắn liền. Chân lư Bát Nhă Ba La Mật Đa là bất biến, khởi ra sự bảo hộ. Pháp Sư là người thể hiện Đà La Ni, do đó, v́ bảo hộ Pháp Sư mà tạo ra Chân Ngôn, giống như xưa, để bảo hộ Đà La Ni nên có Chân Ngôn. Bảo hộ Pháp Sư có nghĩa làm cho tài hùng biện liên tục không dứt. Bát Nhă Kinh mở bày Tánh Không Bát Nhă. Các kinh điển Đại Thừa khác tuyên thuyết Chân Ngôn, Thần Chú, trên thực tế là làm cho sự thuyết Pháp, biện tài kế tục không ngừng. Nhờ Đà La Ni làm cho Chân Ngôn cùng thuyết Pháp, biện tài vô ngại, tức với mục tiêu bảo hộ Pháp sư, cả hai tương liên không thể tách rời, và cuối cùng Đà La Ni và Chân Ngôn đồng hóa.

 

Như trên đă nói, đọc tụng Chân Ngôn, với sự đồng hóa giữa Đà La Ni với Chân Ngôn, có mục đích là thành Phật tức Chánh Đẳng Giác. Tuy nhiên về mục đích thành Phật của việc đọc tụng Chân Ngôn, trong các kinh điển Đại Thừa và kinh điển Thuần Mật có hai loại khác nhau là Tiệm và Đốn: Thành Phật trong Đại Thừa là thành Phật trải qua a tăng kỳ; tại Tín Giải Hành Địa và Thập Địa trở lên, nếu không qua ba a tăng kỳ kiếp (ba vô lượng kiếp) chứa góp các công đức lành, th́ không thể thành Chánh Giác. Nhưng theo Đại Nhựt Kinh, khi phát tâm tức liền đến (phát tâm tức đáo), cho rằng có thể thành Phật ngay trong hiện đời.

 

 

D) CHÂN NGÔN, ĐÀ LA NI TRONG MẬT GIÁO

 

1) BỐN LOẠI TR̀

 

Theo Tổng Thích Đà La Ni Nghĩa Tán của Bất Không, đầu tiên, Như Lai trong trăm ngàn cu chi a tăng kỳ kiếp, tích chứa tư lương Bồ đề, gia tŕ Đà La Ni Chân Ngôn Văn Tự có khả năng làm cho Bồ tát đốn ngộ, nhờ đó tương ưng mà tích chứa tư lương phước đức cùng trí tuệ. Lại lúc tu đạo, Bồ tát Đại Thừa dùng hai thứ tu hành để tu đạo Vô Thượng Bồ Đề. Đó là: nhờ Ba La Mật tu hành thành Phật, và nhờ ba Mật Môn Chơn Ngôn Đà La Ni tu hành thành Phật. Chân Ngôn và Đà La Ni phân ra làm bốn loại tổng tŕ: Pháp Tŕ, Nghĩa Tŕ, Tam Ma Địa Tŕ và Văn Tŕ.

 

PHÁP TR̀: Do được Tŕ này nên diệt được mọi pháp tạp nhiễm, chứng được pháp giới thanh tịnh.

 

NGHĨA TR̀: Do được Tŕ này nên nơi nghĩa một chữ ngộ được trăm ngàn vô lượng kinh điển, khi diễn thuyết nghịch thuận tự tại.

 

TAM MA ĐỊA TR̀: Nhờ Tŕ này được không tán động Tam Muội hiện tiền, ngộ vô lượng trăm ngàn Tam Muội, do đó tăng tâm Bi của Bồ tát, theo nguyện thọ sinh sáu nẻo không bị phiền năo, mà nương theo phiền năo, chứng năm thần thông, thành tựu lợi lạc vô số hữu t́nh.

 

VĂN TR̀: Nhờ Tŕ này mà thọ tŕ Đà La Ni, thành tựu sự nghe hết thảy khế kinh nơi hết thảy chư Như Lai và Bồ tát, nghe trăm ngàn vô lượng kinh điển không bao giờ quên.

 

Bốn loại Tŕ này nương vào Đà La Ni thọ giữ kinh luận lưu thông trong pháp giới không bao giờ quên, nói giáo pháp thọ tŕ không cùng tận, làm lợi hữu t́nh, tạo các công đức. Pháp Tŕ biểu thị khả năng năng tŕ năng độ của Đà la ni; Nghĩa Tŕ biểu thị biện tài; Tam Ma Địa Tŕ biểu thị sự giao tiếp bí mật không rời giữa Đà La Ni và Tam Muội của Tâm Địa Quán Môn; Văn Tŕ là không bỏ mất đa văn. Những điều này đối với Đà La Ni Hiển Giáo trong Đại Trí Độ Luận, Đại Tập Kinh không khác.

 

Đối với việc phân làm bốn loại của Đà La Ni, chúng ta có thể nghĩ đến bốn loại Đà La Ni trong Bồ Tát Địa. Trong Bồ Tát Địa, Đà La Ni phân thành Pháp, Nghĩa, Chân Ngôn, Năng Đắc Bồ Tát Nhẫn. Trong đó, Pháp Đà La Ni và Nghĩa Đà La Ni, như tên gọi, tương ứng với nghĩa ở trên. Chân Ngôn Đà La Ni và Năng Đắc Bồ Tát Nhẫn Đà La Ni là nói về tính hữu hiệu của Đà La Ni, trong Tam Muội quán chiếu về ư nghĩa của Đà La Ni đó (trên thực tế là thể nhận được tính vô nghĩa, Không của Chân ngôn), trong nghĩa này, hai loại Đà La Ni đó liên quan với Tam Ma Địa Tŕ ở trên.

 

 

2) BỐN NGHĨA CỦA CHÂN NGÔN VÀ BỐN NGHĨA CỦA MẬT NGÔN

 

Ở trên Đà La Ni phân thành bốn loại Tŕ. Về Tam Mật Môn của Chân Ngôn phân làm Chân Ngôn, Mật Ngôn, Minh. Mỗi loại lại gồm có bốn nghĩa: Pháp, Nghĩa, Tam Ma Địa, Văn. Chân Ngôn, Chân là tương ưng với Chân Như, Ngôn là nghĩa đầy đủ chân thật, đều có bốn nghĩa như sau:

 

PHÁP CHÂN NGÔN: Lấy pháp giới thanh tịnh làm Chân Ngôn.

 

NGHĨA CHÂN NGÔN: Tương ưng với Thắng Nghĩa. Trong mỗi mỗi chữ đều có nghĩa của Thật Tướng.

 

TAM MA ĐỊA CHÂN NGÔN: Người tu theo hạnh Du Già dùng Chân Ngôn này, chí tâm nơi Nguyệt Luân Kính Trí, dàn bố các chữ Chân Ngôn, chuyên tâm không tán loạn, chóng chứng Tam Ma Địa, cho nên gọi là Tam Ma Địa Chân Ngôn.

 

VĂN TR̀ CHÂN NGÔN: Từ chữ OM đến Ta-Bà-Ha (svàhà), văn tự trong khoảng giữa, mỗi chữ đều gọi là Chân Ngôn.

 

Ở đây, Pháp Chân Ngôn là Thanh tịnh Pháp giới. Nghĩa Chân Ngôn khiến cho hiểu rơ thắng nghĩa thực tướng, Chân Ngôn được coi là Chân Như, hiện tướng của Chân Tế (chân lư). Chân Ngôn ở đây được coi là thắng nghĩa, là chân tế, không phải là phương tiện. Do đó, như nói về Tam Ma Địa Chân Ngôn, người tu hạnh Du Già nương vào Nguyệt Luân Kính Trí của tự tâm, bố trí Chân Ngôn này, nhập vào Tam Muội, chứng Tam Ma Địa của Như Lai.

 

Thứ đến, nêu ra bốn nghĩa của Mật Ngôn là Pháp Tŕ, Nghĩa Tŕ, Tam Ma Địa Tŕ, Văn Tŕ. Nói về Pháp Mật Ngôn, Mật Ngôn trong Tam Mật Môn không phải là chỗ của hàng ngoại đạo phi pháp và Nhị Thừa, mà là quỹ tắc, ấn khế, mạn đà la của hành giả tu Mật Ngôn nghe và tu tŕ. Tam Mật Pháp môn chỉ có Thầy tṛ truyền bảo, người ngoài không biết được.

 

Như vậy, Văn Tŕ Mật Ngôn xuất phát từ Văn Tŕ Đà La Ni (dhàrana-dhàrani) trong Bát Nhă Kinh thuộc Đại Phẩm hệ. Văn Tŕ biểu thị tính chất nhớ giữ không mất vốn đầy đủ của Đà La Ni, rồi từ đó chuyển thành ư chỉ đệ tử do Thày truyền dạy Pháp môn Chân Ngôn. Tuy nhiên, Văn Tŕ Mật Ngôn hướng đến Văn Tŕ Đà La Ni, do đọc tất địa thâu hoạch được như trong kinh nói: "Tam Ma Địa Văn Tŕ không mất tha tâm, thiên, nhăn, nhĩ, hạ, trung, thượng Tất Địa."

 

 

3) BỐN NGHĨA CỦA MINH CHÚ

 

PHÁP MINH: Trong mỗi chữ xưng tụng của người tu có quang minh, chiếu khắp hết thảy hữu t́nh ch́m đắm trong biển sinh tử trong mười phương thế giới, phá trừ các phiền năo vô minh, ĺa cấu được giải thoát, cho nên gọi là Pháp Minh

 

NGHĨA MINH: Làm cho hành giả Du Già và Chân Ngôn tương ưng, nhờ thông đạt sáng suốt Bát Nhă Ba La Mật, xa ĺa những đạo lư vô nghĩa.

 

TAM MA ĐỊA MINH: Nhờ chủng tử của Chân Ngôn mà lúc quán tưởng, trong Tâm Nguyệt Luân (mặt trăng tṛn trong tâm) được quang minh lớn, soi chiếu sáng suốt trong ngoài, thành tựu Tam Ma Địa.

 

VĂN TR̀ MINH: Chứng đắc pháp Văn Tŕ, phá trừ hoặc vọng, chứng đắc và thành tựu Tâm Bồ Đề.

 

Chân Ngôn đồng nghĩa với Minh (vidya: Minh Chú) chỉ cho Trí Tuệ Quang Minh. Pháp Minh, nhờ xướng niệm Chân Ngôn, mỗi mỗi chữ quang minh chiếu sáng mười phương thế giới, chiếu thế giới sanh tử của các loài hữu t́nh, phá trừ vô minh, phiền năo. Nghĩa Minh tương ưng với nghĩa của Chân Ngôn, tức thông đạt Bát Nhă Ba La Mật. Tam Ma Địa Minh chỉ Nguyệt Luân trong tâm sáng suốt. Văn Tŕ Minh, hay phá trừ các rối loạn hư dối.

 

Chân Ngôn có một chữ, hai chữ, ba chữ, cho đến ngàn chữ, vạn chữ, cũng có Đà La Ni, Chân Ngôn vượt quá vô lượng vô biên số chữ, tuy nhiên nếu tương ưng với Tam Mật Môn, th́ không cần phải qua nhiều kiếp khó hành, khổ hạnh. Có thể chuyển định nghiệp ra nhẹ, thành tựu Phật Đạo.

 

 

E) TƯ TƯỞNG BÁT NHĂ MẬT GIÁO HÓA

 

Ngài Bất Không Tam Tạng phiên dịch rất nhiều kinh điển Mật Giáo. Theo kinh điển của ngài Bất Không phiên dịch, có thể thấy được sự triển khai của Mật Giáo là từ tư tưởng Đại Thừa. Những kinh điển nầy khi đến Nhật Bản trở thành cơ sở lư luận cho giáo lư Tức Thân Thành Phật và Pháp Thân Thuyết Pháp của ngài Không Hải.

 

Bát Nhă Lư Thú Kinh do ngài Bất Không dịch (Đại Nhạo Kim Cang Bất Không Chân Thật Ta Ma Da Kinh) có những đặc điểm như sau:

 

- Đại Tỳ Lô Giá Na Như Lai là Giáo chủ;

 

- Một chữ chú là kết chứa tư tưởng của kinh điển;

 

- Công đức đọc tụng kinh điển, theo Phật giáo là để đạt đến Vô Thượng Chánh Đẳng Giác, ở đây lấy cảnh vị Kim Cang Thân làm mục đích.

 

Như vậy, Bát Nhă Lư Thú Kinh có đủ những đặc điểm của kinh điển Đốn Mật.

 

Cùng loại có Bát Nhă Lư Thú Phần, thuộc Đại Bát Nhă Kinh do ngài Huyền Trang dịch. Kinh nầy, được coi như một kinh Bát Nhă có khuynh hướng khai triển kinh điển Mật Giáo, không những mang tính chất cùng loại với Bát Nhă Lư Thú Kinh, mà theo nội dung, có sự quan hệ mật thiết với Chân Thật Nhiếp Kinh (phần đầu Kim Cang Đảnh Kinh) của ngài Bất Không dịch, trong đó đề cập đến: Giáo chủ Đại Tỳ Lô Giá Na (Mahàvairocana), Bốn B́nh Đẳng (Tứ B́nh Đẳng), Phổ Hiền Bồ tát, Như Lai Tạng, Tự Tánh Thanh Tịnh Tâm (tức Bồ Đề Tâm).

 

Tuy nhiên, Giáo chủ Quảng Đại Biến Chiếu Đại Tỳ Lô Giá Na Phật (Thế Tôn) chưa thành Đại Tỳ Lô Giá Na với tôn cách duy nhất. Ngoài ra đoạn đầu Lư Thú Kinh, trước "Chứng Vô Thượng Chánh Đăng Bồ Đề" đă có nói "Định Đắc Như Lai Chấp Kim Cang", đối với kinh điển Đại Thừa th́ đây là một điểm khác biệt. Tuy nhiên, lấy sự đạt đến Vô Thượng Chánh Đăng Bồ Đề làm công đức sau cùng, điểm nầy xác nhận là không đánh mất đặc điểm của kinh điển Đại Thừa.

 

Tính Đại Thừa cùa Lư Thú Phần về Đà La Ni và Chú có thể thấy được. Về phần công đức của các Bồ tát trong phần đầu của kinh nói: "Hết thảy đều đầy đủ Đà La Ni Môn, Tam Ma Địa Môn, vô ngại diệu biện, vô lượng các thứ công đức như vậy." Rơ ràng là Đà La Ni, cùng với Tam Muội, Biện Tài có quan hệ với Tổng Tŕ. Ngoài ra về tính thanh tịnh của hết thảy các pháp, nói: "Cú nghĩa thanh tịnh không tịch của hết thảy Đà La Ni Môn là cú nghĩa của Bồ tát." Lại nói, Tam Muội Môn thanh tịnh v́ là Tổng Tŕ Đà La Ni. Lại ở cuối kinh nói về Thần chú: "Nếu hay thọ tŕ, tiêu trừ nghiệp chướng, tổng tŕ chánh pháp đă nghe không quên, chóng chứng Vô Thượng Bồ Đề." Chủ trương nầy với công đức, mục đích của Đà La Ni là một với công đức, mục đích đạt được từ sự tụng niệm Thần chú.

 

Chú trong Lư Thú Kinh và trong kinh do ngài Kim Cang Trí dịch so với các kinh điển khác nội dung khác nhau. Chú trong Lư Thú Kinh tuy quan hệ đến việc tiêu trừ nghệp chướng cho mục đích Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề, ngoài ra c̣n có công năng thủ hộ - nhờ xướng niệm chú có thể bảo hộ thân thể, làm cho không bị ác quỹ, ngoại đạo xâm nhiễu. Như vậy, Thủ hộ chú và những Thần chú, Chân ngôn khác được nói trong các kinh điển Đại Thừa không có một điểm bất đồng nào. Tuy nhiên, kinh sách do ngài Bất Không dịch cũng như kinh sách khác nói về Chú, về yếu chỉ, giáo nghĩa của Chú, không chỉ có tinh chất thủ hộ. Thủ hộ chú, như nói ở trên, đều có tính chất đại dụng của Bát Nhă Ba La Mật Đa. Với ư nghĩa nầy, Thủ hộ chú Đại Thừa có thể nói là toàn bộ hướng về Chánh Giác. Tuy nhiên không thể nói rằng tất cả Thủ hộ chú đều có mục đích đạt đến Chánh Giác. Tóm lại, Thần chú Đại Thừa có nhiều hiệu dụng, tính chất đa dạng phức tạp.

 

Bát Nhă Kinh vào thời sơ kỳ lấy Không Không, Đại Không, Tất Cánh Không để phủ định ngôn ngữ biện thuyết, về việc tuyên thuyết đó là Trí Ấn của Như Lai, lấy Tự luân (văn tự), những chữ Tam Ma Da, Kim Cang, dùng biểu thị, cuối cùng dùng Chân Ngôn Một Chữ để chỉ thị. Thần chú (mantra) trong Lư Thú Phần, ngài Bất Không dịch là Tam Ma Da (samya). Cả hai biểu thị Bát Nhă Ba La Mật Đa như là chân lư (Pháp tính) Kim Cang không thể hoại, điều nầy rơ ràng. Và viêc dịch Thần chú thành Tam Ma Da làm cho ư nghĩa Chân ngôn - nội chứng của chư Phật - thêm rơ ràng. Thủ hộ chú, lấy ư niệm thành Phật làm thể trong Thần chú của Bát Nhă Kinh, đến đây biến thành Chân ngôn Khẩu Mật của Đại Nhạo Vô Thượng Như Lai.

 

 

F) PHÁP THÂN TỲ LÔ GIÁ NA

 

1) PHÁP THÂN

 

Không chỉ Thần chú biến thành Tam Mật Môn Chân Ngôn, đoạn đầu Lư Thú Kinh nói: "Như Lai nắm giữ Kim Cang", tức giai đoạn trước khi thành Chánh Giác, trong bản dịch Bát Nhă Lư Thú Kinh của ngài Bất Không, điều được coi là mục đích thứ nhứt là đạt được Chánh Giác. Đó là muc đích Chánh Giác của Đại Thừa, tức Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề, trong Mật Giáo là đạt được Kim Cang Thân của Đại Nhật Như Lai, tức Đại Tỳ Lô Giá Na. Lấy Không và Vô Tướng làm trọng điểm của Bát Nhă Ba La Mật Kinh thuộc sơ kỳ, tuy không dùng ngôn từ hữu tướng để thuyết minh Bát Nhă Ba La Mật Đa và Pháp Thân, nhưng đến thời kỳ thứ hai của kinh điển Đại Thừa (vào khoảng thế kỷ thứ tư) như các kinh Hoa Nghiêm, theo chiều hướng biểu hiện tính tích cực của Không, Sắc Thân được thành lập từ việc hữu tướng hóa Vô Tướng Pháp Thân. Thêm vào đó, cường điệu tính phổ biến nội tại của Phật Tánh đến Pháp Thân, quy định Pháp Thân là Thường Trụ Thân, Kim Cang Thân, Vô Biên Thân. Về một phương diện, Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na của Mật Giáo là từ Báo Thân Tỳ Lô Giá Na Phật trong kinh Hoa Nghiêm - là thân Phật vĩnh viễn, phổ biến, cụ thể - phát triển mà thành. Về điểm nầy, trong bản dịch Bát Nhă Lư Thú Thích (Đại Nhạo Kim Cang Bất Không Chơn Ngôn Tam Muội Da Kinh Bát Nhă Ba La Mật Đa Lư Thú Thích) cho rằng Giáo chủ Đại Tỳ Lô Giá Na là "Pháp Thân Quang Minh Biến Chiếu Tỳ Lô Giá Na", lại cho rằng Tỳ Lô Giá Na Như Lai "là Biến Chiếu Pháp Thân Phật."  Báo thân Tỳ Lô Giá Na là từ Pháp Thân vô tướng hiện hóa, từ Phật Thân Quán, nhân cách hóa Pháp Thân trực tiếp thuyết Pháp lập thành "Pháp Thân Thuyết Pháp."

 

Lư luận nầy đến Hoằng Pháp Đại Sư Không Hải được cụ thể hóa. Trong Lư Thú Kinh và Lư Thú Thích, Giáo chủ Tỳ Lô Giá Na được đưa lên địa vị Pháp Thân, và trong thực tế thuyết Pháp th́ là Báo Thân Tỳ Lô Giá Na. Lư luận về Pháp Thân Thuyết Pháp của ngài Không Hải chỉ là ảnh hưởng trong kinh điển do ngài Bất Không dịch. Căn cứ vào những tác phẩm của ngài Bất Không như Kim Cang Đảnh Kinh Du Già Thập Bát Hội Chỉ Quy, Lược Thuật Kim Cang Đảnh Du Già Phân Biệt Thánh Vị Tu Chứng Pháp Môn, Kim Cang Đảnh Du Già Lược Thuật Tam Thập Thất Tôn Tâm Yếu, Kim Cang Đảnh Du Già Tam Thập Thất Tôn Xuất Sanh Nghĩa, Tỳ Lô Giá Na Phật là Báo Thân, là Thọ Dụng Thân, các kinh có nói: "Chứng trọn vẹn Tự Tánh Thân, Thọ Dụng Thân, Biến Hóa Thân, Đẳng Lưu Thân, bốn thân." "Ba mươi sáu đức của Phật thảy đồng Tự Tánh Thân, Pháp Giới Thân, tổng cộng thành ba mươi bảy." "Bồ tát thực hành Chân ngôn thành tựu th́ là Tự Thọ Dụng Thân Pháp Giới Thể Tánh Trí, tức Tỳ Lô Giá Na ở trong tháp." Trong những kinh điển đó, có thể thấy rằng Báo Thân tức Thọ Dụng Thân, tức Tỳ Lô Giá Na Phật. Tư tưởng Phật Thân Quán nầy chịu ảnh hưởng Giáo học của ngài Không Hải, căn cứ vào lư Pháp Thân Thuyết Pháp.

 

 

PHÁP NHĨ CHÂN NGÔN

 

Trong giáo lư về Chân ngôn của ngài Không Hải, Đương Thể Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na Phật - năm Trí Pháp Giới Thể Tính Trí, và hết thảy chư Như Lai tức năm vị Phật - đều gồm một thể, Pháp Nhĩ tự chiếu thế giới Mạn đà la. Hết thảy thế giới sai biệt, nhờ Đại Nhật Như Lai thần biến gia tŕ, từ cơi bất động quay về thế giới tuyệt đối. Ở đó, hết thảy các loài hữu t́nh, trong những hoạt động của thân thể, ngôn ngữ, tư duy, tức là ba nghiệp thân, miệng, ư, là ba Mật Hạnh của Như Lai, đầy đủ vô số công đức. Khẩu Mật trong ba Mật Hạnh đó là Pháp Nhĩ Chân Ngôn. Trong Thập Trụ Tâm Luận, ngài Không Hải nói về Tướng Chân ngôn thường trụ bất biến như sau:

 

"Thân, ngữ, ư của Như Lai đồng với cứu cánh, Tướng Chân Ngôn đó, âm và chữ đều thường. Thường cho nên không di chuyển, không biến dịch, Pháp Nhĩ cũng như vậy, không do tạo tác mà thành... Do đó, Tướng Chân Ngôn đó, dù Phật ra đời hay không ra đời, dù đă nói, chưa nói hoặc đương nói, pháp trụ pháp vị, tánh tướng thường trụ. Cho nên gọi Tất Định Ấn, đồng với đạo của các Thánh; là hết thảy Chân ngôn của Đại Bi Mạn Đà La, tướng của mỗi mỗi Chân ngôn, đều là Pháp Nhĩ." (Hoằng Pháp Đại Sư Toàn Tập)

 

Pháp Nhĩ Chân Ngôn nầy đặt nền tảng trên kinh Đại Nhật. Chúng ta cũng thấy ở đây tư tưởng "Có Phật hay không có Phật, Pháp Tánh thường trụ" được thấy trong kinh Phóng Quang Bát Nhă và Ma Ha Bát Nhă. Pháp Thân thường trụ nầy chỉ cho Bát Nhă Ba La Mật Đa. Dù Phật có ra đời hay chưa ra đời, dù đă được nói, chưa được nói, đang được nói, Pháp Tánh thường c̣n không biến đổi, và Bát Nhă Ba La Mật được chư Phật xác nhận là chân lư bất biến, đồng một nền tảng. Như đă nói, Bát Nhă Ba La Mật Đa là chân lư bất biến mà chư Phật trong quá khứ, hiện tại, vị lai, chứng ngộ Thật Tướng tương ưng.

 

 

G) BÁT NHĂ VÀ TỨC THÂN THÀNH PHẬT

 

Ngài Không Hải trong Ngự Thỉnh Lai Mục Lục viết:

 

"Pháp vốn không lời, nhưng nếu không dùng lời th́ không hiển bày ra được. Chân Như không h́nh sắc, mà theo sắc được ngộ. Có thể nói có người mê vào ngón tay chỉ mặt trăng, nhưng khiến cho được thức tỉnh cũng vô cùng. Kỳ quan kinh mục không quư giá, nếu tâm thành th́ là châu báu trấn quốc lợi người. Mật Tạng sâu xa huyền diệu, bút mực không thể chở, đồ họa giả mở bày không thấy được. Các thứ oai nghi, các thứ ấn khế, xuất ra từ Đại Bi, thấy liền thành Phật.  Nghĩa bí mật của kinh sớ chuyên chở nơi đàn tượng. Yếu nghĩa của Mật Tạng thật có liên quan đến đó. Truyền Pháp, thọ Pháp, bỏ cái đó được sao? Căn nguyên của hải hội ở tại chỗ đó."

 

Tinh thần nầy thông dung với tư tưởng Nhị Đế của Trung Quán, chủ trương có thể nương vào ngôn ngữ thế tục để tỏ lộ nghĩa cao siêu của cảnh giới Không vượt ngoài ngôn ngữ, suy lự. Nghĩa của Tánh Không vượt ngoài mọi suy nghĩ phân biệt của thế gian, chân lư không thể dùng lời mà nói. Tuy nhiên, nếu không nhờ phương tiện, ngôn thuyết thế tục th́ không thể hiển bày được. Từ thế giới hữu hạn tương đối có-không, Niết bàn được thành lập với sự phủ định thế giới sanh tử, vượi qua thế giới sanh tử. Trong thế giới tuyệt đối vượt trên có-không, Niết bàn do ngay sanh tử mà có. Sinh tử tức Niết bàn, đó là sự triển dụng Đại Bi tuyệt đối của Như Lai.

 

Nói về thế giới thế tục, Mật Giáo có câu "Tức sự nhi chân". Câu nầy nguyên xuất xứ từ Thiên Thai Tông, trong Pháp Hoa Huyền Nghĩa và Ma Ha Chỉ Quán, được Mật Giáo sử dụng v́ Đại Nhật Kinh Sớ cũng thừa nhận giá trị tuyệt đối của thế giới thế tục. Tuy nhiên, sự siêu vượt tính chất thường nhật của Mật Giáo cùng với sự hiển hiện của Pháp Nhĩ Chân Ngôn là đồng thời, không chỉ dừng lại ở sự trầm mặc phủ định ngữ ngôn. Tánh Không là phủ định ngôn ngữ hằng ngày nhờ vào những Chân ngôn chữ A để biểu thị.

 

 

H) THỰC HIỆN TỨC THÂN THÀNH PHẬT

 

Tức Thân Thành Phật đặt nền tảng trên tư tưởng không hai giữa thế giới tuyệt đối và thế giới hiện thực thế tục. Ngôn ngữ loài người đến chỗ nầy không thể thích ứng, không c̣n phẩm chất giá trị, nên không thể không bị tiếp tục phủ định. Sự phát ra âm thanh của Khẩu Mật cũng chỉ là ngôn ngữ hữu t́nh, nên phải nhờ lực gia tŕ của Như Lai, vốn ẩn kín nơi bất động, hiển hóa thành âm thanh của thế giới thực tại. Âm thanh trong thế giới cụ thể biến thành sự hiển hiện của chân lư từ cảnh giới Thánh Tục Không Hai. Thế giới nầy theo Đại Nhật Kinh là thế giới "Đại Bi Thai Tạng Sinh Mạn Đà La". Thế giới bí mật trang nghiêm của Đại Nhật Như Lai đó là thế giới Thánh-Tục ḥa hợp, bao nhiếp hết thảy, vô cùng b́nh đẳng, trong đó, hành động của thân thể, hoạt động của ngữ ngôn, hành vi của tinh thần thảy đều là những hành vi hết sức chân thật cụ thể, đầy đủ giá trị tuyệt đối. Tính tượng trưng của Mạn đà la có h́nh tướng, chỉ riêng Mật Giáo có. Tuy nhiên, quan điểm về chư Phật tập hội, chư Phật siêu việt quá khứ, hiện tại, vị lai, hội về một chỗ của Mạn đà la không khác với quan niệm về tính bất biến của Bát Nhă Ba La Mật Đa. Đại Thừa Phật Giáo xuất phát từ Niệm Phật Tam Muội, trực tiếp nhớ nghĩ tướng hảo của Phật. Nhưng với Phật Giáo Đại Thừa, niệm Phật là đối diện với Phật mà niệm, Phật là đối tượng. Riêng với Mật Giáo, nhờ vào sự đọc tụng, quán tưởng các Chân ngôn của Phật trong Mạn đà la, liền ngay đó tự thân cùng vơi thế giới thực tại hội nhập làm một, ngay thân là Phật.

 

Thị Giới.

 

sen 5 OK2