B15-JsLo OK

 

NHỮNG KỶ NGUYÊN ĐẦU CỦA ĐẠO PHẬT

Daisaku Ikeda

Nguyên Hảo (Thị Giới) dịch

3.

 

VUA ASHOKA (A DỤC VƯƠNG)

 

VỊ VUA CỦA CÁC VUA

Vào thế kỷ thứ ba trước Tây nguyên, ở Ấn Độ có vua Ashoka (A Dục) đă đóng một vai tṛ quan trọng trong việc truyền bá Đạo Phật. Vương quốc Maurya (Khổng Tước) do vua Ashoka cai trị bao gồm toàn cơi Ấn Độ chỉ trừ vùng Nam Ấn Độ, và miền Nam ảnh hưởng tận đến Shri Lanka, miền Tây đến lănh thổ của những quốc gia Hy lạp, những địa phương mà Đạo Phật được đưa vào. Chúng ta được cho biết rằng trong triều đại Ashoka, những tăng sĩ Phật Giáo du hành từ Ấn Độ qua các quốc gia Hy Lạp, truyền bá giáo pháp, thâu phục được bảy mươi ba ngàn người cải đạo và độ được một ngàn tăng sĩ.

Tên vua Ashoka được kinh điển nói đến theo một giai thoại sau đây. Một lần nọ, Đức Shakyamuni đi khất thực ở ngoại thành Rajagaha, Ngài gặp hai cậu bé đang chơi trong cát. Hai cậu bé, ngắm nh́n "ba mươi hai tướng tốt của bậc vĩ nhân" mà họ được nghe nói về Đức Phật, muốn dâng vật cúng dường cho Ngài và họ đă lấy cát làm bánh đặt vào b́nh bát của Đức Phật. Một người trong họ chấp hai tay tỏ ḷng cung kính. Đức Shakyamuni nhận món quà bằng cát với một một nụ cười an lành. Ngài Ananda lúc đó đi cạnh Đức Phật hỏi Phật v́ cớ ǵ Ngài mỉm cười. Đức Phật trả lời: "Ta có lư do để cười, Ananda, và ngươi co thể biết lư do đó. Một trăm năm sau khi ta nhập diệt, đứa bé nầy sẽ là một vị Chuyển Luân Vương ở Pataliputra cai trị mọi miền. Tên của vị vua nầy là Ashoka, và vị vua nầy sẽ cai trị theo Chánh Pháp. Lại nữa, ông ta sẽ phân phát xá lợi của ta đến những xứ xa, xây dựng tám mươi bốn ngàn tháp để xưng tán Đấng Pháp Vương, đem an lạc đến cho vô số sanh linh."

Dĩ nhiên trọng tâm của giai thoại nhấn mạnh lên rằng trong sự bố thí, không phải vật bố thí nhưng chính tinh thần bố thí mới là quan trọng. Hai cậu bé dâng bánh cát cúng dường Phật với một tâm thức trong trắng, và Đức Phật đă thọ nhận với ḷng biết ơn. Nhưng đáng tiêc là người lớn lại rất thường có thái độ tính toán khi bố thi hay cúng dường, do đó mất đi công đức đáng lư phải có nếu bố thí với sự hảo tâm và ḷng cung kính chân thật.

Những nhà học giả Tây Phương, với thói quen của chủ nghĩa hoài nghi, trong một thời gian dài đă coi Ashoka như là một nhân vật huyền thoại trong kinh điển Phật Giáo. Nhưng vào năm 1837, những câu ghi khắc bằng chữ Ấn Độ cổ nhất đă được đọc ra, và những chỉ dụ được khắc trên những tảng đá và trụ đá của vua Ashoka được khai quật, người ta mới biết rằng vua Ashoka không những là một nhân vật có thật trong lịch sử mà như H.G. Wells nói, ông là "một nhà lănh tụ vĩ đại mà thế giới chưa từng có." Lư do vị vua nầy được sự tán tụng lớn lao như vậy là v́ ông là một lảnh chúa đầu tiên không chấp nhân chiến tranh, áp dụng một chính sách tuyệt đối ḥa b́nh đặt nền tảng trên lư tưởng Phật Giáo, và bước từng bước mạnh mẽ trên đường xây dựnmg sự sung túc và hạnh phúc cho dân chúng. Coudenhove-Kalergi, một ngưồi đề xướng sự hợp nhất Âu Châu, nói với tôi trong một lần đàm thoại rằng ông ta coi Ashoka là "một người đáng được sự kính trọng lớn lao trong những lảnh tụ của lich sử thế giới." Và nhà sinh vật học Anh J.B.S. Haldane cũng nói rằng ông muốn được sinh ra vào thời đại Ashoka.

Nhờ ở tính chất ḥa h́nh và chủ nghĩa nhân đạo trong đường lối cai trị đă làm cho những người Tây Phương nầy bày tỏ sự cảm phục. Chúng ta không lấy làm ngạc nhiên về điều nầy lắm khi nh́n lại lịch lịch của Tây Phương, một chuổi dài của chiến tranh. Đưa ra một chánh sách ḥa b́nh là một việc không mấy khó khăn, nhưng rất ít những nhà lảnh tụ trong lịch sử nhân loại đă áp dụng chính sách đó. Nhưng Ashoka, một người sinh ra ở Ấn Độ trên hai ngàn năm trước, đă chứng tỏ cho chúng ta thấy rằng chúng ta có thể áp dụng những lư tưởng ḥa b́nh vào thực tế. Thêm vào đó, là một tín đồ Phật Giáo, ông đă đặt ra ngoài pháp luật việc giết hại sinh mạng và t́m biện pháp để bảo đảm phúc lợi cho mọi người, như trồng cây dọc theo đường đi, đào giếng nước cách khoảng, xây dựng nhà nghỉ cho khách đi đường, cung cấp thuốc men cho dân chúng. Ông đóng một vai tṛ tối quan trọng trong việc xiểng dương Phật Pháp và giúp Đạo Phật trở thành một tôn giáo lớn trên thế giới, và v́ vậy chúng ta sẽ khảo cứu kỹ về vị vua nầy.

Sự khảo cứu về Ashoka vẫn c̣n ở trong giai đoạn khởi đầu. Cho đến 1915 ông c̣n chưa được coi như một người có thật trong lịch sử. Có thể những khai quật mới trong tương lai sẽ soi nhiều ánh sáng hơn vào những chỉ dụ được khắc của ông, và chúng ta có thể biềt nhiều hơn về khuôn mặt kỳ đặc nầy.

Vua Ashoka có lẽ lên ngôi vào khoảng 268 B.C. Theo hệ thống kinh điển Phật Giáo tiếng Phạn (Sanscrit), th́ vào một trăm năm sau khi Đức Phật nhập diệt, trong khi theo hệ thống kinh điển Pali th́ vào 218 năm sau khi Phật nhập diệt. Những con số nầy là những dữ kiện quan trọng cho các nhà học giả xác định năm nhập diệt của Đức Phật, nhưng đó là một vấn đề quá phức tạp để chúng ta có thể đi vào.

Bảy năm sau khi vua Ashoka lên ngôi, ông quy y Phật Giáo, trở thành một Upasaka (Ưu bà tắc - Cư sĩ), mặc dầu ban đầu ông không có vẻ sùng tín lắm. Vào năm thứ chín sau khi lên ngôi, ông tấn công nước Kalinga, trong vùng Orissa ngày nay, giết hại vài trăm ngàn người và bắt cầm tù và đày qua xứ khác hơn một trăm năm mươi ngàn người. Vào lúc nầy rơ ràng ông đă trải qua một cuộc biến chuyển nội tâm. Theo một câu khắc, nh́n thấy sự khổ đau và chết chóc đă làm cho nhà vua buồn vô hạn, và ông nguyện sẽ không bao giờ gây chiến tranh nữa.

Trước cuộc viễn chinh, người ta nói về ông là "Ashoka bạo chúa." Theo huyền thoại, khi lên ngôi vua, ông đă giết chín mươi chín người thân tộc, và sau khi lên ngôi đă tiêu diệt năm trăm quần thần. Sau khi tấn công Kalinga, ông từ bỏ sự cai trị bằng vũ lực và thay thế bằng Chánh Pháp, và từ đó người ta gọi ông là "Ashoka của Chánh Pháp."

Mặc dầu người ta có thể nói về "một sự cai trị trên Chánh Pháp," cũng rất khó khăn cho vua Ashoka thực hiện nó. Ngay cả sau khi thâu phục được xứ Kalinga, vẫn c̣n nhiều bộ tộc lạc hậu sống trong rừng, núi dọc theo biên giới luôn luôn sợ sự thanh b́nh, trong khi đó, như chúng ta cũng có thể thấy, có những người Bà la môn và những nhóm muốn chống lại ông, luôn luôn t́m cơ hội để lật đổ ông. Theo một nguồn tài liệu, thời bấy giờ ở Ấn Độ có 118 bộ tộc khác nhau sống khắp nơi, và đặc biệt vùng Tây Bắc Ấn Độ là nơi luôn luôn gây xung đột. Mặc dầu các vị vua triều đại Mauryan (Khổng tước) đă thành công trong việc thống nhất hầu hết các lảnh thổ nhỏ dưới quyền thống trị của ḿnh, địa vị của Ashaka cũng không hoàn toản êm ả và vững vàng. Kinh sách Phật Giáo cho biết rằng ông đă gặp hiểm họa nhiều lần trong thời gian trị v́ của ông.

Triều đại Maurya được dựng lên do Chandragupta, ông nội của Ashoka và là một tín đồ Kỳ na sùng tín, nhờ vào quân sự. Vào năm 327 B.C. Alexandre Đại Đế xâm lăng Ấn Độ, nhưng sau khi ông ta rút lui, Chandragupta thành công trong việc đẩy lui lục lượng đồn trú của La Mă và vào khoảng 317 B.C. tấn công và lật đổ nhà cầm quyền vương quốc Nanda để thiết lập một vương quốc thống nhất đầu tiên trong lịch sử Ấn Độ.

Chandragupta, với sự giúp đỡ của viên đại thần tên là Kautilya, giăng một mạng lưới gian điệp chính trị trên toàn lănh thổ và cai trị bằng sự khủng bố. Vào năm 305 B.C., ông gây chiến với Seleucus Nicator, một ông vua La Mă của Syria, và ở vào thế thượng phong. Một ḥa ước được kư kết và Chandragupta cưới con gái vua Syria làm vợ.

Con trai của Chandragupta là Bindusara thừa kế ông lên ngôi vua và tiếp tục áp dụng chính sách cai trị của cha ông theo phương sách của Kautilya một cách nghiêm nhặt. Điều đáng chú ư là ông có mười sáu người vợ, và v́ vậy Ashoka được kể lại là có 101 anh chị em. Bindusara là một điển h́nh cái mà người đông phương gọi là bạo chúa, và dĩ nhiên là ông luôn luôn có những mối đe dọa từ ngoài nước cũng như trong nước.

Vua Ashoka cũng như vậy. Chuyện huyền thoại La Mă có "thanh gươm của Damocles." Ashoka cũng giống như vậy. Ông lúc nào cũng cảm thấy ở trong một tư thế nguy hiểm, không làm sao biết được lúc nào hay từ đâu sẽ có người lén hại ông. Đó là số phận của quyền lực.

Tuy nhiên, trong trường hợp Ashoka, những cảnh kinh hoàng mà ông chứng kiến trong trận chiến Kalinga mở ra cho ông thấy bản chất hải hùng của cuộc sống. Chính ông đă bày tỏ trong những sắc dụ rằng hai năm rưỡi sau khi trở thành một Ưu Bà Tắc và trên một năm sau khi gần gũi với Tăng Già Phật Giáo và tinh cần tu học, ông đă có niềm tự tin rằng có thể cai trị quốc gia bằng Chánh Pháp. Và thật vậy, như chúng ta thấy, ông đă trở thành một vị hoàng đế lớn lao nhất trong lịch sử Ấn Độ. V́ lư do đó mà ngày nay chính phủ Ấn Độ đă chọn h́nh đầu trụ sư tử do vua Ashoka dựng cho vào con dấu của họ.

Tuy nhiên, sự tán dương và niềm vinh quang mà Ashoka được hưởng qua bao nhiêu thế kỷ dài không phải là do sức mạnh và khả năng cá nhân của ông. Nhưng chúng được coi như thành quả của những giáo pháp đầu tiên được vun trồng trên đất nước Ấn Độ do Đức Shakyamuni và được cẩn trọng vun bón và bảo tồn do vô số tín đồ trong Giáo Đoàn Phật Giáo tiền kỳ.

 

CHÍNH PHỦ H̉À B̀NH TUYỆT ĐỐI

Chúng ta khảo cứu một số sắc dụ của vua Ashoka trên các tảng đá và trụ đá và coi chính phủ của ông đă điều hành như thế nào. Bia Đá Thứ Mười Ba, sau khi diễn tả cuộc chinh phục nước Kalinga và những thống khổ mà ông chứng kiến lúc đó, tấm bia viết tiếp: "Nhưng có điều mà Trẫm, Người được chư Thần thương yêu, thấy c̣n đau thương hơn nữa: đó là những người dân - Bà la môn, ẩn sĩ và những thuộc môn phái khác, những người chủ gia đ́nh, họ biết vâng lời cha mẹ và bậc trưởng thượng, họ đối xử với bạn bè, người quen, người đồng sự, thân nhân, nô lệ và tôi tớ một cách kính trọng, và bền chăt trong tín ngưỡng - tất cả đều phải chịu đau khổ dưới bạo lực, giết hại, và phân ly với những người thương yêu."

Sau khi tỏ bày sự xót thương cho những khổ sở của dân chúng, ông tuyên bố rằng sự chinh phục cao cả nhất là sự chinh phục bằng Chánh Pháp, và ông nguyện sống trong Chánh Pháp và làm cho Chánh Pháp được lan tỏa. Ông cũng chứng tỏ điều nầy bằng cách gởi những người sứ thần đi đến các nước quanh biên giới để kêu gọi từ bỏ chiến tranh và thiết lập nền ḥa b́nh và thân hữu.

Đặc biệt chúng ta cũng được biết trong bản chỉ dụ và những bản khác, ông đă gởi các sứ thần đến những nước miền Nam như Cholas, Pandyas, Satyaputras, Keralaputras, và các đảo thuộc Sri Lanka, và miền Tây đến năm vị vua La Mă, Antiochus II Theos của Syria, Ptolemy II Philadelphus của Ai Cập, Antigonus Gonatas của Macedonia, Magas của Cyrene, và Alexander II của Epirius (hay có thể là Alexander của Corinth).

Chúng ta không lấy làm ngạc nhiên lắm khi những học giả Tây phương cảm thấy khâm phục trước những việc làm của vua Ashoka để tiến hành chính sách ngoại giao ḥa b́nh của ông. Nhân loại vào hậu bán thế kỷ thứ hai mươi ngày nay mới bắt đầu cố gắng thực hiện vài loại cơ cấu để bảo đảm sự chung sống ḥa b́nh giữa các quốc gia, tuy nhiên những cường quốc vẫn tiếp tục xây dựng những kho vũ trang khổng lồ và sự đàm phán giữa các nước đặt trên tinh thần che dấu và nghi ngờ nhau. Vua Ashoka ngược lại kêu gọi ḥa b́nh tuyệt đối dựa trên lư tưởng Phật Giáo, và đơn phương tuyên bố từ bỏ chiến tranh, một bước rất khó khăn đối với một quốc gia rộng lớn. Quốc Hội Nhật Bổn là một trong những quốc hội hiếm hoi trên thế giới khước từ chiến tranh, và ngày nay Nhật Bản vẫn xếp vào hàng thứ bảy trên thế giới về lực lượng quân sự. Đối với tôi đều nầy có nghĩa là Nhật Bản c̣n lâu lắm mới hiểu và thực hiện được lư tưởng về ḥa b́nh tuyệt đối.

Theo tài liệu, vua Ashoka khi quyết định thi hành chính sác cai trị bằng Chánh Pháp đă giảm quân lực và chỉ dùng quân đội để diễu hành và trong các dịp lễ. Tài liệu cũng cho chúng ta biết rằng nông dân và những nhóm người khác trong xă hội không phải làm nghĩa vụ quân sự nữa. Như vậy chính sách theo Chánh Pháp của ông đă không làm áp chế người dân như những nước nặng về vũ trang.

Chính sách của Ashoka, ngay cả với những bộ tộc cứng đầu ở vùng biên giới, là coi mọi người dân như con ruột. Tinh thần nầy được nêu rơ trong một chỉ dụ sau đây cho những viên chức được phái tới xứ mới thâu phục là Kalinga. Một phần của chỉ dụ viết:

"Mọi người đều là con của ta, và v́ ta muốn mọi sự phúc lợi và an vui khắp thế giới và kế đến là cho con cái của ta, do đó ta mong muốn điều đó cho khắp mọi người. Nhưng ta tin rằng trong số người ở vùng biên giới chưa qui phục là những người có ư nghĩ rằng 'Nhà vua muốn ǵ nơi chúng ta?' Ta sẽ nói với các ngươi rằng thật sự chỉ một điều duy nhất ta muốn về những người dân ở vùng biên giới. 'Đây là điều nhà vua muốn: ta muốn cho người dân ở vùng biên giới không c̣n sự sợ sệt v́ ta, ta muốn họ tin tưởng ta, và chỉ nhận sự thoải mái từ nơi ta, không nhận nổi khó khăn từ nơi ta.' Họ nên làm cho hiểu rơ điều nầy. 'Nhà vua chịu tất cả những ǵ có thể chịu v́ sự lợi ích của họ. Và nếu họ tuân theo những giáo huấn của ta và thực hành Chánh Pháp, họ chắc chắn sẽ được phúc lạc trong đời nầy và đời sau."

Câu "mọi người là con cái của ta" đặc biệt gây xúc động, một biểu lộ sống động của giáo lư Phật Đà về sự b́nh đẳng của tất cả mọi người, không kể thuộc giai cấp nào trong bốn giai cấp của truyền thống cổ đại Ấn Độ. Đạo Phật c̣n dạy rằng mỗi một người đều mang nợ của tất cả chúng sanh, và vua Ashoka cũng tỏ ra đă nhận chân được bổn phận đó đối với tất cả chúng sanh, không chỉ trong quốc gia ông ta mà đối với toàn thế giới. Không biết có bao nhiêu vị lănh tụ như vậy trong lịch sử nhân loại.

Ở phương Đông cũng như phương Tây, quá khư hay hiện tại, đại đa số những người nắm quyền lực dường như chỉ quan tâm đến việc đặt ư muốn của riêng họ trên những người dưới quyền bằng mọi cách cần thiết. Những người nhận thức được rằng họ cũng có những bổn phận đối với dân chúng họ quả thật là ít ỏi.

Quyết định của Ashoka về chánh sách cố gắng tối đa trong việc cai trị đúng đắn và hiệu quả chúng ta thấy rơ ràng trong Bia Văn Số Sáu. Một phần văn bia ấy như sau:

"Trải một thời gian lâu dài trong quá khứ, không một vị lănh tụ nào muốn giải quyết việc nước hay lắng nghe những kiến nghị từng ngày từng giờ. Nhưng nay, ta đưa ra một yêu cầu sau đây. Dù khi ta đang ăn, hay trong pḥng nữ, hay trong pḥng riêng của ta, hay đang cùng với gia đ́nh, hay đang đi xe, hay trong ngự uyển, những viên chức có kiến nghị ǵ đến ta để giải quyến những vấn đề của dân chúng được phép tŕnh bày bất cứ lúc nào và nơi nào. Nếu làm như vậy, về phần ta, ta giải quyết công việc của dân chúng bất cứ nơi nào ta đang ở. Mỗi khi có sự tranh cải trong triều đ́nh hay một vận động muốn duyệt lại về bổng lộc hay những ưu đải mà ta đă ban ra và những lệnh mà ta đă tự ban bố liên quan đến sự thực hiện các chỉ dụ, hay liên quan đến việc xứ lư những vấn đề quan trọng đă được giao phó cho những vị đại thần, những tin tức như vậy phải được tŕnh lên ta lập tức, bất kỳ ta đang ở đâu và vào lúc nào."

Chúng ta thấy rơ ràng từ chỉ dụ nầy, Vua Ashoka đă ư thức rơ ràng tầm quan trọng lịch sử trong phương pháp cai trị của ông. Ông đă thực sự chứng tỏ là một vị hoàng đế đầu tiên trong lịch sử cai trị không với vũ lực mà với sức mạnh của Chánh Pháp.

Cũng nên nêu ra đây ư chính của một số chỉ dụ của vua Ashoka:

Chỉ Dụ Thứ Nhất: cấm không được dùng mạng người và súc vật để cúng tế.

Chỉ Dụ Thứ Hai: xây dựng hai loại bệnh viện, cho người và vật, trồng cỏ, trồng cây cây dọc theo những đường cái lớn, đào giếng nước.

Chỉ Dụ Thứ Ba: công du các tỉnh năm năm một lần.

Chỉ Dụ Thứ Tư: vạch ra những biện pháp để truyền bá Chánh Pháp.

Chỉ Dụ Thứ Năm: thiết lập "Hội đồng Phật Pháp" để thi hành những chính sách mới.

Chỉ Dụ Thứ Sáu: ra lịnh nhanh chóng đệ tŕnh những kiến nghị và đề nghị liên quan đến việc quốc chánh.

Chỉ Dụ Thứ Bảy: mong muốn mọi tôn giáo chung sống với mọi tôn giáo khác, kêu gọi sự từ bỏ và sự trong sạch tâm hồn.

Chỉ Dụ Thứ Tám: từ bỏ mọi thú vui mà những vua quá khứ vui chơi, khởi sự những sự vui chơi trong Chánh Pháp.

Chỉ Dụ Thứ Chín: những lời Kinh và giải thích những giá trị của chúng.

Chỉ Dụ Thứ Mười: giải thích về tiếng tốt và sự vinh quang đạt được do sự tuân theo và thực hành Chánh Pháp.

Chỉ Dụ Thứ Mười Một: Giải thích sự bố thí Chánh Pháp; thiện tâm trong danh nghĩa của Chánh Pháp, sự chia xẻ trong danh nghĩa của Chánh Pháp, và sự thiết lập những mối liên hệ với Chánh Pháp là sự bố thí cao cả nhất.

Chỉ Dụ Thứ Mười Hai: Kêu gọi ḷng khoan dung lẫn nhau giữa các tôn giáo, tuyên bố rằng sự nuôi dưỡng những yếu tố nền tảng của mọi tôn giáo là sự bố thí và sùng kính cao cả nhất; bổ nhiệm các viên chức đặt trách Phật Pháp, đại thần lo về nữ giới, quan coi sóc khu bảo tồn súc vật.

Chỉ Dụ Thứ Mười Ba: diễn tả những rùng rợn trong cuộc chiến thôn tính Kalinga, bày tỏ hối hận, sự sùng kính Phật Pháp và quyết định truyền bá Phật Pháp; chinh phục bằng Chánh Pháp được tuyên bố là sự chinh phục cao cả nhất; những sứ thần được gời đi các nước lân cận, năm vị vua La mă được đề cập đến tên.

Chỉ Dụ Thứ Mười Bốn: những lời kết thúc; những câu khắc các chỉ dụ được đặt ở trong nước gồm ba loại: ngắn gọn, hơi chi tiết, và rất chi tiết, tùy thuộc vào địa phương.

Thêm vào mười bốn chỉ dụ chính nầy, những lời tuyên bố khác của vua Ashoka cũng được t́m thấy trên những tảng đá, trụ đá nhỏ hơn, nhiều cỡ khác nhau, trong các hang động, và dưới nhiều h́nh thức khác trên toàn cơi Ấn Độ của vương triều Mauryan (Khổng Tước).

Trong một thời đại không có đủ phương tiện truyền thông như chúng ta ngày nay, ghi chép những mục tiêu và chính sách của chính phủ vào những tảng đá và trụ đá để truyền thông cho dân chúng là việc làm thực tiễn. Mặc dù được viết trên hai ngàn năm về trước, những gịng chữ nầy của Vua Ashoka dường như muốn khẩn thiết nói với chúng ta ngày hôm nay. Việc nhiều nhà lănh đạo ngày nay đánh mất h́nh dáng của vị đại đế cổ xưa nầy là một điều đáng tiếc.

 

QUAN HỆ GIỮA QUỐC GIA VÀ TÔN GIÁO

Chúng ta đă biết tư tưởng Phật Giáo đóng một vai tṛ quan trọng trong việc h́nh thành những lư tưởng về một chính phủ nhân đạo của vua Ashoka, bây giờ tôi muốn bỏ ra một lát để khảo sát thêm về vị trí tôn giáo ở Ấn Độ dưới thời vua Ashoka.

Điều quan trọng đầu tiên cần nêu ra là mặc dù Ashoka là một Phật tử nhiệt thành, ông đă không có một hành động đàn áp các tôn giáo khác. Ngược lại, ông đă tích cực giúp đỡ và khuyến khích họ.

Vua Ashoka đă lưu tâm đến Phật Giáo do giáo pháp của những tăng sĩ Magadha (Ma Kiệt Đà). Như nhà nghiên cứu về Ấn Độ D.D. Kosambi, sự thay đổi của ông thường được so sánh với sự thay đổi của hoàng đế La mă Constantine thành người Cơ Đốc Giáo. Tuy nhiên, trong khi Constantine đưa Cơ Đốc Giáo lên làm quốc giáo th́ t́m mọi cách để quét sạch những tôn giáo khác trong lănh thổ La mă, vua Ashoka và những người hậu thế của ông ta đă tỏ ra đầy ḷng khoan dung, đă ban lễ vật và sự kính trọng đối với những người Bà la môn, Kỳ na giáo, Ajivika, và những tôn giáo không phải Phật Giáo. Ông đă dùng những người Bà la môn trong guồng máy hành chánh, và trong các chỉ dụ ông cũng đă chứmg tỏ sự kính trọng của ông đối với những tôn giáo khác cũng như Phật Giáo.

Điều nầy đưa đến cho ta một vấn nạn về sự liên hệ giữa chính quyền và tôn giáo. Quan niệm về sự duy nhất giữa nhà thờ và quốc gia là một điển h́nh Tây phương được thấy trong sự liên minh giữa Cơ Đốc Giáo và những vua La mă. Phật Giáo luôn luôn có quan điểm rằng những nguyên lư phổ quát phát sinh từ sự soi sáng của tôn giáo có thể phản ảnh trong lề lối cai trị của một chính phủ đương thời. Nhưng điều đó khác xa với quan điểm cho rằng tôn giáo và đất nước là một và bất phân ly, và không nên lẫn lộn với quan niệm sau.

Trong trường hợp vua Ashoka rơ ràng rằng, là một nhà lănh tụ của một đế quốc lớn, ông đă cố gắng đặt những việc làm của ông trên nền tảng tinh thần từ bi của Phật Giáo và diễn dịch tinh thần đó ra những phạm vi cụ thể trong những chính sách của chính quyền. Làm như vậy, ông đă không áp đặt những lư tưởng Phật Giáo trên quần chúng như những giáo điều bắt họ phải chấp nhận. Thay v́ vậy, ông nêu lên những lư tưởng đó như là Chánh Pháp, là Chân Lư hay Chánh Đạo mà mọi người, đơn giản chỉ v́ ḷng nhân đạo của họ, có thể hiểu và chấp nhận. Những khái niệm nền tảng của Chánh Pháp, như chúng ta thấy, là những lư tưởng phổ quát về sự ḥa b́nh tuyệt đối và tôn trọng sự sống, những lư tưởng đều có thể được chấp nhận bởi những người Phật Giáo cũng như không Phật Giáo. Nếu Ashoka cố gắng vượt ra ngoài phạm vi nầy, tuyên bố rằng Phật Giáo là một tôn giáo chính thức của quốc gia và t́m cách đàn áp những người Bà la môn và những tôn giáo khác, ông tất sẽ trở thành kẻ thù của quần chúng và đă đi ra ngoài tinh thần chân chính của Đạo Phật.

Đến đây một điều quan trọng cũng cần được bổ túc. Măc dù người ta có thể lư luận rằng chính quyền và tôn giáo thuộc vào những lănh vực hoàn toàn khác nhau, và rằng một vị vua hay một vị nguyên thủ quốc gia trong đời sống công cộng phải đối xử b́nh đẳng với mọi tôn giáo, điều nầy không có nghĩa là vị nguyên thủ quốc gia bị cấm không được có một tín ngưỡng riêng cho ḿnh. Cấm như vậy tức là đặt ông ta ra ngoài "quyền tự do tín ngưỡng," quyền được chấp nhận trong hầu hết các quốc gia ngày nay. Ngược lại, một nhà lănh tụ chính trị không có tín ngưỡng nào cả sẽ đưa đến sự mất tin tưởng và niền lo lắng của nhân dân, làm cho họ có cảm tưởng như những hành khách trên chiếc tàu mà người thuyền trưởng không có địa bàn. Chỉ khi nào một người lănh tụ chính trị, nhờ ở sức thuyết phục cá nhân, dùng sức mạnh quần chúng theo ư riêng để xen vào nội bộ tôn giáo, những khó khăn bắt đầu khởi dậy. Những lúc như vậy, để bảo vệ quyền tự do tôn giáo, quần chúng cần sát cánh với nhau để chấm dứt t́nh trạng can thiệp đó.

Vua Ashoka, trước khi quy y Phật Giáo, đă ngược đăi tu sĩ và cư sĩ trong Giáo Đoàn Phật Giáo. Một phần v́ lư do nầy, ông đă bị gọi là "Ashoka bạo chúa." Và như được đề cập trong một số kinh sách Phật Giáo, những người Phật tử dẫn đầu trong việc cảnh cáo những hành động của ông, mặc dù họ biết rằng họ sẽ bị giết chết khi làm việc nầy, và họ đă thành công trong việc đưa ông quay về.

Sự việc nầy được diễn tả sống động trong Bia Đá Nhỏ Số Bốn như sau:

"Mười năm sau khi lên ngôi, ta, Người được Chư Thần thương yêu, bắt đầu xiểng dương Giáo Pháp trong dân chúng của ta. Từ đó, ta đă làm việc để nuôi dưỡng và truyền bá Chánh Pháp trong nhân dân. Như vậy tất cả mọi chúng sanh trong mọi miền đều được phúc lạc. Là Vua, ta đă cố gắng bảo vệ mọi sinh linh khỏi bị thương tổn và đă giải bỏ số lớn những thợ săn, những người đánh cá, và những cuộc săn bắn mà những vị vua khác đă làm. Nếu có ai đă quá đà trong việc giết chóc, giờ đây, đă đến lúc có thể bỏ sự quá đà đó. Những người biết vâng lời cha, mẹ và thầy, trong đời nầy và đời sau, họ có thể sống với mọi người trong hạnh phúc và tốt đẹp."

Như chỉ dụ nầy và những đoạn trong những chỉ dụ khác của Ashoka bày tỏ, chính quyền của ông nổi bậc thái độ từ bi đối với mọi sự sống. Ông không những kêu gọi chấm dứt sự hy sinh thú vật và những sự giết chóc khác, nhưng ông cũng đă chính ḿnh nghiêm túc ăn chay và có lúc đă cấm ăn thịt trong hoàng cung.

Chúng ta đă đề cập ở trên rằng trong đời sống cộng đồng, ông đă đối xử b́nh đẳng với các tôn giáo, ngay cả đối với phái Ajivika, một phái tách ra từ sáu phái ngoại đạo như đă được ghi lại trong các kinh điển Phật Giáo nguyên thủy, và là một trong những phái chống đối Phật Giáo chính, ông cũng đă cấp cho những ngôi chùa động. Nhưng trong đời sống cá nhân, ta thấy rơ ông là người sống theo những giáo pháp chân thật của Phật Giáo. Mười năm sau khi lên ngôi, ông hành hương đến Bồ Đề Đạo Tràng, nơi mà xưa kia Đức Phật đă giác ngộ, và sau đó, với cuộc hành tŕnh vui vẻ của những ngày trước, ông làm những cuộc kinh lư để coi t́nh h́nh dân chúng và ban cho họ những sự dạy dỗ, mà ông gọi là "những cuộc du hành thuyết Pháp." Ông cũng đă viếng Lumbini (Lâm Tỳ Ni), nơi đản sanh của Đức Shakyamuni, để chiêm bái, và cho giảm thuế tại đây.

Theo truyền thống Phật Giáo, vua Ashoka đă dựng tám mươi bốn ngàn ngôi chùa lớn và tám mươi bốn ngàn tháp thờ xá lợi Phật, và rất nhiều tháp đă được khai quật trong những năm gần đây ở khắp nơi trên đất Ấn Độ dường như cũng xác minh ít nhất là cho điều xác nhận sau. Những tháp nầy cũng bao gồm số lớn do dân chúng đóng góp, điều nầy chứng minh rằng Phật Giáo đă được truyền khắp Ấn Độ là điều không nghi ngờ. Xưa kia, như chúng ta biết, Phật Giáo chỉ có mặt ở một số địa phương rải rác. Vào thời vua Ashoka, lần đầu tiên Đạo Phật trở thành một trong những tôn giáo có tính cách quốc gia của Ấn Độ.

Ashoka cũng đă gởi đi nhiều phái đoàn tu sĩ Phật Giáo đến các nơi để truyền bá tín ngưỡng. Một trong những phái đoàn đó, do hoàng tử Mahinda dẫn đầu, đă đi đến Sri Lanka và được coi như nguồn gốc của Phật Giáo Theravada lưu hành cho đến ngày nay ở xứ sở nầy và ở nhiều quốc gia khác ở Đông Nam Á Châu.

Chúng ta được cho biết là có sáu chục ngàn tăng sĩ ở Pataliputra, kinh đô của Ashoaka, và chúng ta chắc chắn được rằng Đạo Phật đă đi vào giai đoạn cực hưng thịnh và huy hoàng. Chúng ta cũng được cho biết rằng những tu sĩ Bà la môn, v́ không c̣n sống được, đă hàng loạt chuyển qua Phật Giáo, mặc dù điều nầy dường như một sự thổi phồng hay một sự hóm hỉnh của một người nào đó.

Kinh điển hệ Pali cho chúng ta biết rằng, bởi v́ số lượng người theo Phật Giáo tăng lên nhanh chóng và v́ sợ rằng giáo pháp bị bóp méo hoặc giải thích sai lạc, một cuộc triệu tập một ngàn tăng sĩ họp tại Pataliputra vào năm 236 sau khi Phật nhập diệt để san định kinh điển. Đó thường được gọi là Kỳ Kết Tập Lần Thứ Ba hay Cuộc Kết Tập Của Một Ngàn Tăng Sĩ. Chắc chắn vào khoảng thời gian đó, giáo pháp của Đức Shakyamuni cần được xem lại và chỉnh lư và số lượng khổng lồ kinh sách được truyền đến ngày nay được giả thiết là giống như những ǵ có sau cuộc Kết Tập nầy.

Vua Ashoka ở ngôi tổng cộng ba mươi bảy năm. Trong hai mươi năm sau cùng hay sau cuộc chiến chinh phục Kalinga, không có thấy nói đến chuyện chiến tranh trong đất nước nầy, nhân dân được vui hưởng thanh b́nh. Trên Trụ Bia Số Năm, Ashoka nói rằng cho đến hai mươi sáu năm sau khi lên ngôi, ông đă phóng thích tù nhân tổng cộng là hai mươi lăm lần. Trong thế giới thuộc vào thế kỷ thứ ba, ḷng nhân đạo đó là một khúc phim rất ngắn của lịch sử.

Sự hiện diện của vua Ashoka là điển h́nh những tương phản của một bạo quân bóc lột và khống chế trên nhân dân của ông ta. Chúng ta được nói lại rằng ông không muốn được gọi là một " Đại Vương" theo như tập quán hay "Hoàng Đế", nhưng muốn luôn luôn nghĩ ông chỉ là "vua nước Magadha," một chứng tỏ cho ta thấy rằng ông đă vượt xa ra ngoài bản chất của một ông vua tự đắc thông thường. Và rơ ràng rằng, bao lâu mà trong kho của hoàng gia c̣n có của cải, ông đă tận dụng trong việc phúc lợi xă hội.

Tôi tin tưởng rằng sẽ đến ngày Ashoka được toàn thế giới học hỏi và sự lớn lao thật sự của ông được mọi người biết đến và khen ngợi. Tôi nói thế v́ quá nhiều người, đối diện với những sự khủng hoảng của thời đại tân tiến của chúng ta ngày hôm nay, bắt đầu hướng về những lư tưởng và nguyên lư Phật Giáo mà ông đă áp dụng.

 

sen 5 OK2