B15-JsLo OK

 

NHỮNG KỶ NGUYÊN ĐẦU CỦA ĐẠO PHẬT

Daisaku Ikeda

Nguyên Hảo (Thị Giới) dịch

4.

 

VUA MILINDA (DI LAN ĐÀ)

 

MỘT TRIẾT GIA HY LẠP

Sau khi vua Ashoka (A Dục) qua đời, triều đại Mauryan (Khổng Tước) cũng chấm dứt, và vương quốc bị xấu xé do người trong nước cũng như ngoại bang. Miền Tây Bắc Ấn Độ thời bấy giờ thuộc quyền cai trị của các vua chúa Hy Lạp đến từ vùng Tây Á. Một vị vua đáng lưu ư nhất là hoàng đế Manander, sống vào hậu bán thế kỷ thứ hai trước Tây lịch, được đề cập nhiều trong các nguồn tài liệu Ấn Độ. V́ vị hoàng đế nầy liên quan mật thiết với Phật Giáo, và đại biểu cho sự giao lưu văn hóa giữa Phật Giáo với Hy lạp, chúng tôi muốn nêu ra một vài chi tiết ở đây.

Như chúng ta được biết, từ rất sớm, Vua Ashoka (A Dục) đă cố gắng truyền bá tín ngưỡng và lư tưởng của một nhà vua Phật Giáo đến những vị vua Hy Lạp phương Tây bằng cách gởi những sứ thần đến những triều đ́nh của họ. Nhưng chúng ta không biết được những kết quả nhà vua đă đạt được, bởi v́ không c̣n một chứng tích nào về những sứ mạng nầy trong các nguồn tài liệu Tây phương.

Khi Vua A Dục lên ngôi, Ấn Độ là một nước lớn thống nhất, trội vượt hơn những vương quốc Hy lạp cả về cương thổ cũng như sự hùng mạnh. Vào thời đại vua Menander, t́nh thế đổi ngược. Sức mạnh quân sự và chính trị thuộc về phương Tây, Ấn Độ th́ suy yếu và bị chia cắt, là nạn nhân của những cuộc xâm lăng và nô lệ. C̣n về phương diện văn hóa và tâm linh, Đông và Tây đối diện ngang ngửa.

Vua Melander là một nhân vật quan trọng trong một Kinh thuộc tạng Pali của Phật Giáo, kinh Milindapanha hay Vua Di Lan Đà Hỏi Đạo (Na Tiên Tỳ Kheo Kinh). Milinda (Di Lan Đà) là tên Pali của vua Menander. Ở đây, tôi xin dùng tên Milinda để nói về vị vua nầy.

Đầu tiên chúng ta t́m hiểu mẫu người của vua Milinda. Bản Kinh nói về vị vua nầy như sau: "Milinda là người học rộng, có tài hùng biện, sáng suốt, và dũng luợc; là một người tín đồ đầy ḷng tin, và đúng thời, trong mọi thời công phu và nghi lễ, với những bài tụng niệm về quá khứ, hiện tại và tương lai. Nhà vua biết nhiều môn nghệ thuật và khoa học - về truyền thống thiêng liêng cũng như thế tục; những trường phái triết học như Shankya (Số Luận), Yoga, Nyaga (Luận Lư) và Vaisheshika (Thắng Luận); toán học; âm nhạc; y học; các kinh Veda (Phệ Đà), Purana (Thánh Thi), và Itihasa; thiên văn, huyền học, nhân minh và chánh tả; binh pháp; thi ca; giao thông - tóm lại là tất cả mười chín môn.

Nói về nghệ thuật tranh luận, khó có người ngang hàng, thắng được nhà vua lại càng khó hơn; là một người có kiến thức siêu việt về nhiều trường phái tư tưởng. Về trí tuệ cũng như sự cường tráng của cơ thể, sự lanh lợi và dũng cảm, toàn cơi Ấn độ không ai sánh được. Nhà vua c̣n là một người giàu có, của cải sung túc, số lượng quân đội không thể đếm xiết."

Đoạn Kinh nầy có thể đă được người sau thêm vào, và chúng ta không thể biết mức độ chính xác của sự diễn tả trên về h́nh ảnh một vị vua cách đây trên hai ngàn năm như thế nào. Nhưng đoạn Kinh trên cũng nói lên tŕnh độ học thuật ở Ấn độ thời bấy giờ với những môn học đă có ở xứ nầy.

Về toán học, một vấn đề thú vị là những con số toán học mà chúng ta học ngày nay được coi là của người Ả Rập (v́ được truyền từ Ả Rập vào châu Âu), nhưng trong thực tế lại là những khám phá của người Ấn Độ. Khái niệm về "số không" đă có tại Ấn Độ hai ngàn năm về trước, dù người Mayan ở Trung Mỹ nói rằng họ đă xử dụng nó từ xa xưa. Chúng ta không nghi ngờ xă hội Ấn Độ thời vua Milinda đă đạt đến một mức độ rất cao về học thuật và văn hóa.

Chúng ta có thể thấy rằng, vua Milinda, cộng vào sự hiểu biết về học thuật và văn hóa Hy Lạp, đă học hỏi và thấm nhuần học thuật và văn hóa Ấn Độ. Sự dung hợp trí tuệ của cả Đông phương và Tây phương đă tạo cho vua Milinda thành một người đáng kính nể dưới mắt của một người Ấn Độ b́nh thường. Chúng ta cũng được nghe nói rằng có nhiều triết gia Ấn độ đến tranh luận với nhà vua, nhưng cuối cùng đều nh́n nhận là bị đánh lạc hướng.

Theo phong tục của vua chúa Hy lạp, vua Milinda phát hành tiền có in h́nh nhà vua. Theo h́nh trong các đồng tiền t́m được, chúng ta có thể thấy rằng nhà vua tuy không phải là một người đặc biệt đẹp trai, nhưng là một người có một khuôn mặt rất thông minh.

Động lực nào khiến cho vị vua nầy tích cực trong việc tranh luận với những triết gia Ấn Độ, những người lănh đạo tôn giáo của Ấn Độ Giáo và Phật Giáo? Có một số học giả cho rằng đó chỉ v́ một mục đích thuần túy chính trị, với hy vọng gặt hái được nhiều hiệu quả hơn trong việc cai trị người bản xứ. Một số học giả khác cho rằng đó là tập quán từ Alexander Đại Đế của các vua chúa Hy Lạp, t́m học những nhà thông thái ở những xứ khác. Riêng tôi, tôi nghĩ rằng vị vua nầy thực hành theo lư tưởng của Plato về một vị vua triết gia, hoặc có thể bắt chước theo Alexander Đại Đế, người đă học triết lư với Aristote.

Trong mọi trường hợp, khi chúng ta khảo sát phương pháp của vua Milinda sử dụng trong những cuộc tranh luận, chúng đều được gợi lại triết học Hy Lạp. Điều nầy thấy rơ ràng ở sự kiện rằng nhiều câu hỏi của nhà vua được đặt nền tảng trên công thức "hoặc cái nầy, hoặc cái kia"; có nghĩa là nêu ra hai tiền đề rồi đặt câu hỏi cái nào là đúng. Cung cách nầy là đặc tính của tư tưởng Hy lạp nói riêng, và tư tưởng Tây Phương nói chung. Thêm vào đó, chúng ta có thể ghi nhận rằng có nhiều câu hỏi nhà vua nêu ra để quật ngă đối phương, hoặc những câu hỏi mà đối phương khó nhận ra cách trả lời nào có lợi.

Lấy một thí dụ, khi vua Milinda viếng triết gia Purana Kasyapa, cuộc vấn đáp giữa hai người như sau:

- Thưa ngài Kasyapa, ai là kẻ điều khiển thế giới?

- Thưa đại vương, Đất điều khiển thế giới.

- Nhưng, thưa ngài, nếu Đất điều khiển thế giới th́ tại sao có người bị sa vào địa ngục A Tỳ ở bên ngoài Đất?

Kasyapa không thể trả lời.

Giống như nhiều người được ca tụng về trí tuệ của họ, Minlinda chắc chắn cảm thấy thỏa dạ khi quật ngă đối phương theo kiểu nầy. Chúng ta cũng có thể tưởng tượng ra rằng người Ấn Độ, mặc dù ở dưới sự chinh phục chính trị của người Hy Lạp, họ vẫn kiêu hănh về sự thông thái trí óc và sự vượt trội hơn người Hy lạp về vấn đề tâm linh. V́ vậy, vua Milinda không để lỡ cơ hội làm họ bị bẽ mặt.

Chúng ta có thể nói rằng câu hỏi của nhà vua thật là một câu hỏi ngớ ngẩn, và cũng khó mà hiểu v́ sao Purana Kasyapa không trả lời được câu hỏi đó. Ông có thể trả lời rằng sau khi chết, chúng sanh không đến địa ngục A tỳ bằng thân xác vật chất. Hoặc hay hơn, có thể nói rằng dù địa ngục A Tỳ là nơi thấp nhất và nóng nhất trong các địa ngục dưới đáy cơi dục giới, đó không ǵ khác hơn là một biểu hiện hay là một ẩn dụ cho một trạng thái đau khổ không ngừng nghỉ. Vua Milinda, nghĩ rằng địa ngục A tỳ ở một nơi bên ngoài quả đất và hỏi làm sao đến được đó, quả là một câu hỏi ngớ ngẩn.

Nhưng có thể chúng ta không nên quá khắc khe với Milinda. Ngay cả ngày nay, chúng ta vẫn c̣n gặp phải những câu hỏi ngớ ngẩn về Phật Giáo cũng như về tín ngưỡng Phật Giáo. Đặc biệt thậm tệ trong lănh vực nầy là những nhà trí thức Nhật. Hầu hết họ tiếp thu toàn bộ nền giáo dục Âu Châu, nhưng dường như không biết chút xíu ǵ về tư tưởng Ấn Độ hoặc tuệ giác Đạo Phật. Như vậy đối với Phật Giáo, họ cũng hoàn toàn mù tịt và lầm lẫn giống như vua Milinda hai ngàn năm về trước.

Thật là vô nghĩa khi t́m hiểu văn hóa Á Đông, hoặc ngay cả văn hóa thế giới về vấn đề nầy, mà không biết ǵ đến ảnh hưởng của Đạo Phật. Chính v́ đa số người Nhật không t́m hiểu Đạo Phật, một nền tư tưởng đă có những ảnh hưởng lớn lao trong quá khứ, và nghĩ rằng một khi họ nắm vững được tinh thần duy lư Tây Phương, họ có thể hiểu được trọn vẹn thế giới, mà chúng ta phải đối diện với nhiều vấn đề ngày hôm nay. Chúng tôi không muốn nói là chúng ta nên lập tức từ bỏ con đường duy lư Tây Phương để trở về với sự minh triết Đông Phương. Vấn đề không phải là chọn lựa cái nầy hoặc cái kia. Điều quan trọng là một sự cố gắng thành khẩn và cởi mở để hiểu được cả hai một cách đúng đắn.

Và đó dường như là điều mà vua Milinda đă làm. Nhà vua khởi sự là một nhà quân sự, nhưng về sau dồn nỗ lực vào việc t́m hiểu tư tưởng Ấn Độ qua những cuộc tranh luận. Vào khoảng giữa những năm 160 và 140 trước Tây lịch, có lúc vị vua nầy chinh phục được miền Kabul, ngày nay là Afghanistan, và đến hậu bán thế kỷ thứ hai trước Tây lịch th́ xâm chiếm Ấn Độ, kiểm soát được đến vùng Trung Ấn. Người Ấn Độ coi vị vua nầy như là "một vị vua lớn lao nhất trong toàn cơi Ấn Độ," và sau khi qua đời, xương của vua được phân phối cho khắp nước Ấn Độ và được chôn ở nhiều nơi, giống như Đức Thích Ca Mâu Ni ngày xưa. Có thể đây là do sự yêu cầu của vua Milinda. Nhiều học giả giả thuyết rằng nhà vua có thể nói được một số ngôn ngữ Ấn Độ, hoàn toàn hội nhập vào xă hội Ấn Độ và coi Ấn Độ như quê hương ḿnh.

Nếu có một ḷng chân thành học hỏi, th́ những ngăn cách về chủng tộc và quốc gia luôn luôn được vượt qua bằng cách nầy hay cách khác. Vua Milinda, ham thích nói chuyện và tranh luận với người, thấy đó là một phương cách học hỏi.

 

TRÍ TUỆ CỦA NGÀI NAGASENA (NA TIÊN)

Vua Milinda, như chúng ta đă thấy, t́m mọi cơ hội gặp gỡ các tu sĩ và các nhà lănh đạo tôn giáo để tranh luận. Trong một thời gian dài, nhà vua dường như không t́m được người đối thủ xứng đáng, nói: "Toàn nước Ấn Độ chỉ là rỗng không, hoàn toàn giống như rơm rác! Không có một người nào, kể cả những ẩn sĩ, những vị Bà la môn, có khả năng tranh luận với ta, và giải quyết những nghi ngờ của ta."

Lời tuyên bố nầy làm xôn xao các vị Bà La Môn, các tín đồ Phật Giáo, và những nhóm tôn giáo khác ở Ấn Độ. Trong Kinh Milindapanha (Na Tiên Tỳ Kheo), chúng ta được cho biết là Chư Tăng thực sự nghiêm túc muốn t́m một người có đủ khả năng tranh luận với vua Milinda.

Lúc nầy là lúc ngài Nagasena (Na Tiên) xuất hiện. Tương truyền ngài sinh cùng ngày với một con voi khổng lồ nên được đặt tên là Nagasena. Naga chỉ cho voi, một con vật rất được tôn kính ở Ấn Độ. Tên Nagasena nói lên ư nghĩa Milinda là vua của quốc gia, Nagasena là vua của tư tưởng.

Theo bản Kinh, ngài Na Tiên sinh trưởng trong một gia đ́nh Bà La Môn, từ tuổi thơ ấu đă có một tinh hần ham học. Ngài tinh thông ba Kinh Veda (Phệ Đà) khi c̣n là một cậu bé, nhưng về sau, tuyên bố rằng các kinh điển nầy đều vô nghĩa, rồi xuất gia theo Phật Giáo. Không bao lâu sau, vị tu sĩ trẻ tuổi nầy nổi danh trên khắp nước Ấn Độ và tiếng tăm của ngài lọt đến tai vua Milinda đang ở tại thủ đô Shakala (Xá Kiệt La).

Và điều không thể tránh là hai người đi vào một cuộc chân tranh. Trước khi bắt đấu cuộc tranh luận, chúng ta có thể giả thiết rằng ngài Na Tiên đă chuẩn bị cho những việc có thể xảy ra, bảo đảm rằng ḿnh đă sẵn sàng cho cuộc tranh luận, v́ ngài biết rằng tiếng tăm của cộng đồng Phật Giáo tùy thuộc vào ngài.

Đối thủ của ngài là một nhà chinh phục đến từ nước ngoài. Nếu người nầy chỉ thuần túy là một nhà chính trị và quân sự, công việc của ngài sẽ không có ǵ khó khắn. Nhưng đối thủ của ngài cũng là một người tột đỉnh thông minh, thấm nhuần học thuật và văn hóa Tây Phương. Và sự đối đầu giữa hai người trong thực tế cũng là sự đối đầu giữa Đông Phương và Tây Phương. Nếu Nagasena thua cuộc, chẳng những tiếng tăm của riêng ngài bị sụp đổ, mà có thể nó c̣n kéo theo sự sụp đổ ḷng tin vào Phật Giáo.

Chúng ta không nghi ngờ ngài Nagasena về ḷng tin hoàn toàn của ngài vào sự lớn lao của Chánh Pháp, tuy nhiên ngài cũng cần phải có một sự can đảm để gánh vác cuộc tranh luận. Khi tŕnh bày với thầy ḿnh là Ngài Rohana, chúng ta được nghe lại lời ngài: "Chẳng những một ḿnh vua Milinda, vị vua đáng kính, mà hăy mời tất cả những vị vua trong nước Ấn Độ, đến và đặt câu hỏi, và con sẽ đập vỡ và giải quyết mọi vấn đề khó giải quyết."

Sau khi ngài Na Tiên đi vào kinh đô Shakala (Sa Kiệt La), bản kinh ghi lại như sau: "Ngài là lănh tụ của một Giáo đoàn; người lănh đạo của một khối tín đồ; vị thầy của của một trường phái; tiếng tăm và danh vọng, được người kính mến. Ngài cũng là người học rộng, thông minh, lịch lăm, thánh thiện, và tài ba; là một nhà thuyết minh thiện xảo, tính t́nh ôn nhu, nhưng đầy can đảm; rành về phong tục, thông suốt ba tạng Kinh điển, và uyên bác về Phệ Đà. Ngài sở đắc trí tuệ cao tột của Phật Pháp, hiểu biết mọi giáo lư của các trường phái, và lănh hội được nhiều lối phân biện để có thể giải thích những vấn đề khó hiểu nhất. Ngài hiểu biết tường tận giáo pháp của chín trường phái Phật Giáo, và thấu rơ ngang nhau cả về mặt tinh thần và văn tự. Có thiên phú về khả năng ứng đáp mau lẹ và về nhiều phương diện, ngôn ngữ phong phú, ngôn từ văn hoa, khó có nguời nào sánh kịp ngài, huống lại hơn ngài, khó t́m được một ngựi có thể đối đáp, địch lại, hay thắng được ngài. Ngài điềm tĩnh như chiều sâu của biển cả, bất động như núi chúa; chiến thắng những điều ác, đẩy lui mọi tối tăm và đem đến ánh sáng; là nhà đại hùng biện, là người làm run rẩy đệ tử của các vị thầy khác, và là người nghiền nát môn đồ của những giáo thuyết đối nghịch."

Đoạn Kinh c̣n tiếp tục theo một mạch như vậy, cách của người Ấn Độ bày tỏ ḷng tôn kính tột cùng. Có thể đoạn Kinh được những người đời sau thêm vào để nhấn mạnh phẩm cách của ngài Nagasena, nhưng chúng ta cũng có thể coi đoạn Kinh như là một diễn tả khái quát mẫu người truyền bá Phật Pháp lư tưởng. Tuy nhiên, bản Kinh cũng cho chúng ta biết rằng cuối cùng Nagasena đă tranh luận thắng vị vua tiếng tăm và cũng là đại biểu của tinh thần Hy lạp, th́ thấy rằng đoạn Kinh trên không phải là một sự thổi phồng quá đáng.

Nếu chúng khảo quan sát những câu hỏi của nhà vua với ngài Nagasena và những câu đối đáp của ngài, chúng ta thấy rằng ngài có sức trầm tĩnh và nhặm lẹ cao tột. Dù những câu hỏi kia hầu hết mọi người đều cảm thấy bị dồn ép vào câu trả lời, ngài đă trả lời bằng một phép loại suy thiện xảo và những lư lẽ vững chắc theo một đường lối đặc biệt. Chúng tôi trưng dẫn ra đây một đoạn nói về sự hiện hữu thật sự của Đức Phật.

"Thưa ngài Nagasena, ngài có từng thấy Đức Phật không?"

"Thưa đại vương, không!"

"Thế th́ các vị thầy của ngài có thấy Đức Phật không?"

"Thưa đại vương, không!"

"Thế th́, thưa ngài Nagasena, không có Đức Phật!"

Đến chỗ nầy, chúng ta tự hỏi làm sao chúng ta có thể đáp lại lư luận nầy. Đối phương của chúng ta là một người Hy Lạp và là một người thực tiễn, muốn một chứng minh có nền tảng trên kinh nghiệm cụ thể. Bằng chứng nào trong lịch sử Phật Giáo có thể chứng minh rơ ràng sự hiện hữu của Đức Thích Ca Mâu Ni, chúng ta tự hỏi. Nhưng ngài Nagasena đă đi theo một phương cách khác.

"Nhưng, thưa đại vương, ngài có từng thấy sông Uha (U Há) trong núi Hymalaya (Hi Mă Lạp Sơn) không?"

"Thưa ngài, không."

"Hoặc là cha ngài có thấy con sông đó không?"

"Thưa ngài, không."

"Như vậy, thưa đại vương, phải chăng là không có con sống đó?"

"Thật có con sông đó. Mặc dù tôi và cha tôi không thấy con sông đó, tuy vậy nó vẫn có đó."

"Thế th́, thưa đại vương, mặc dù tôi và các vị thầy của tôi không thấy được Đấng Đại Từ, tuy nhiên ngài đă hiện hữu."

"Hay lắm, thưa ngài Nagasena!"

Bằng cách đó, ngài Nagasena đă chiến thắng vua Milinda trong cuộc tranh luận về sự hiện hữu của Đức Thích Ca Mâu Ni. Cuộc vấn đáp phản phất tính chất của những sự đối đáp người ta thường thấy trong văn học Thiền hay chỉ bày ra một tṛ chơi chữ. Hơn nữa, tùy theo cách thế người ta nh́n vào, cuộc đối thoại trên có thể được coi như một sự phê phán gợi ư và bóng gió sâu sắc về toàn bộ khái niệm về hiện hữu của người Tây Phương. Phương pháp trả lời của ngài Nagasena với vua Milinda là nêu ra một loạt những câu hỏi của chính ngài, mà khi nhà vua trả lời những câu hỏi đó, điều không thể tránh và một cách tự nhiên là đưa nhà vua bước dần đến quan điểm của ngài Nagasena. Điều nầy, đối với tôi, dường như là một một biểu lộ của minh triết Động Phương. Chúng ta được biết rằng, thời bấy giờ, ngài Nagasena được coi như ngang hàng với ngài Xá Lợi Phất (Shariputra) về trí tuệ.

Lấy gịng sông Uha làm đối tượng so sánh dường như có một ư hướng đặc biệt. Nhiều con sông ở Ấn Độ có nguồn phát xuất từ trong núi Hy Mă Lạp, mở rộng ra khi xuống thấp, mang phù sa cho đồng bằng trước khi cuộn vào biển cả. Cũng như vậy, giáo pháp của Đức Thích Ca Mâu Ni, phát xuất từ quá khứ xa xôi, đến thời đại của ngài Nagasena đă truyền rộng khắp nước, làm phong phú cho tâm linh người Ấn Độ. Đức Thích Ca Mâu Ni đă qua đời từ nhiều trăm năm về trước, nhưng tôn giáo ngài xây dựng đă trở nên thịnh đạt là bằng chứng về sự tồn tại và sự cao cả của Ngài.

Những học giả Tây Phương hiện đại cũng đặt câu hỏi về sự có thật của Đức Thích Ca Mâu Ni, và chúng ta không ngạc nhiên rằng ở vào thời kỳ xa xưa đă có những người như vua Milinda nghi vấn như vậy. Nhà vua đặt nền tảng sự tranh luận trên tiền đề rằng chỉ khi nào được một người chính mắt nh́n thấy và chính tay rờ thấy th́ một sự kiện mới là có thật. Một sự mệnh danh là đúng, dù có thể có những tác động trong thời gian được dùng làm khí cụ xác quyết quan điểm của một người, sự mệnh danh đó trong tự thể cũng là sai lầm. Tuy nhiên, có nhiều sự kiện, mặc dù chúng ta không thể nh́n thấy, hay xúc chạm, nhưng vẫn hiện hữu trong thực tế, và hoàn toàn thích đáng khi chúng ta tin vào sự hiện hữu của chúng.

Ngài Nagasena, để chứng tỏ sự nông cạn của phương pháp lư luận mà vua Milinda xử dụng (phương pháp episteme), đă phá vỡ phương pháp lư luận đó.

Như thường được nêu ra, có một số phương pháp suy tư đối với người Đông Phương th́ rất tự nhiên nhưng thật là khó hểu đối với người Tây Phương. Sự kiện hai triết gia lớn của Đông Phương và Tây Phương, ngài Nagasena và vua Milinda, đi vào một cuộc tranh luận thẳng thắng và cởi mở là một sự kiện rất đáng lưu ư. Do đó, chúng ta không lấy làm lạ tại sao các nhà sử học của cả Đông Phương và Tây Phương lưu tâm đến quyển Kinh Milindapanha.

Cuốn Kinh đặc biệt có giá trị trong việc cho chúng ta biết những giáo lư đặc biệt của Phật Giáo mà người Hy Lạp thích nhất và đôi khi làm cho họ khó hiểu nhất, và tŕnh bày cách thức của người Phật Giáo giải thích những giáo pháp nầy cho những người không quen thuộc với chúng. Trong đoạn Kinh sau đây, về việc nhà vua hỏi ngài Nagasena về nghiệp, sự tái sinh, và không có một linh hồn trường cửu, chúng ta được đọc:

"Vua hỏi: 'Thưa ngài Nagasena, tái sinh là ǵ?'"

"Danh-và-sắc tái sinh"

"Có phải cùng một danh-và-sắc nầy tái sinh?"

"Không; nhưng do danh-và-sắc nầy, nghiệp được tạo ra - nghiệp thiện và nghiệp ác - và do các nghiệp nầy, một danh-và-sắc khác được tạo ra."

"Nếu như thế, thưa ngài, cái hiện hữu mới sẽ không thể rời khỏi nghiệp ác của nó phải không?"

"Ngài Nagasena trả lời: 'Vâng, nếu nó không tái sinh. Nhưng bởi v́ nó tái sinh, nên thưa đại vương, nó không thể tách khỏi nghiệp ác."

Ở đây, ngài Nagasena giải thích về vấn đề không có một linh hồn thường tồn hay vĩnh cửu. "Danh-và-sắc" chính là tâm-và-thân, cái tạo nên con người trong một đời sống, khác với tâm-và-thân mà y có trở lại sau khi tái sinh vào một đời sống khác. Ngài cũng nêu ra rằng chính nghiệp - sự tích tập của những hành động tốt và xấu trong một cuộc sống - tựu thành một sức mạnh tạo nên sự tái sinh.

Triết học Phật Giáo dạy rằng các chúng sinh được tạo thành do năm thành tố (năm uẩn). Một trong năm thành tố nầy là shiki hay "sắc", chỉ cho vật chất hay yếu tố xác thịt. Bốn thành tố khác là thọ, tưởng, hành và thức chỉ cho những yếu tố tinh thần. Bởi v́ năm thành tố nầy tập hợp nhau để tạo ra con người trong những cuộc sống tiếp nối, không có một thực thể hay linh hồn vĩnh viễn trong con người.

Chúng ta thấy rằng nghiệp được tạo ra do một người trong một cuộc sống là nguyên nhân làm cho năm thành tố tập hợp nhau trở lại để tựu thành một con người trong cuộc sống kế tiếp. Suy tư về những câu trả lời của ngài Nagasena trong đoạn Kinh trên, chúng ta có thể thấy rằng hai hiện sinh trong hai đời sống không phải đồng nhất cũng không phải là không đồng nhất. Tư tưởng Ấn Độ thường dùng những khái niệm như vậy, được diễn tả bằng những ngôn từ dường như đối nghịch hay mâu thuẫn. Chúng ta phải hiểu khái niệm về đồng nhất nầy là đồng thời với bất đồng nhất nếu chúng ta muốn hiểu quan điểm Phật Giáo về tái sinh hay luân hồi và sự bác bỏ quan niệm về một linh hồn trường cữu. Dĩ nhiên chúng ta cũng phải hiểu khái niệm về nghiệp, tác nhân tạo ra động năng cho sự tái sinh.

Khi được hiểu thấu đáo, những giáo lư về luân hồi của Phật Giáo đem đến cho chúng ta một ư nghĩa vô cùng tốt đẹp, ngay cả ngày nay. Ngược lại, giáo lư về một linh hồn hay một thực thể vĩnh cửu trong con người qua tiến tŕnh luân hồi như quá cứng nhắc và mang nhiều mâu thuẩn.

Ngài Nagasena tiếp tục đưa ra nhiều chứng minh để làm sáng tỏ cho nhà vua sự liên hệ giữa một hữu thể trong cuộc sống trước với hữu thể trong cuộc sống sau qua sức mạnh của nghiệp. Cuối cùng, ngài thành công trong việc thuyết phục nhà vua chấp nhận chân lư trong Phật Pháp. Những đoạn Kinh trên cho chúng ta thấy cách thức người Phật tử xử dụng phương pháp luận thuyết hùng hồn và đầy tính chất luận lư như được xử dụng trong Triết học Hy lạp để làm sáng tỏ và bảo vệ Giáo Pháp của ḿnh.

Sau khi vua Milinda và ngài Nagasena kết thúc hai cuộc tranh luận dài và sâu sắc về triết lư Phật Giáo, chúng ta đọc thấy đoạn Kinh sau đây:

"Tất cả các câu hỏi của nhà vua đều được Na Tiên ứng đáp rành rẽ và mau lẹ, cho nên ông hết sức hài ḷng. Ông liền truyền mở kho lấy ra một cây gấm đáng giá mười vạn đồng dâng cúng cho Na Tiên và bạch rằng: 'Bạch Đại Đức, từ nay về sau, trẫm nguyện cúng dường tám trăm đại đức sa môn ngay tại cung điện nầy. Chư đại đức cần dùng những ǵ th́ xin cứ tùy thích, của trong kho có sẳn.'" (theo bản dịch G.S. Cao Hữu Đính)

Và khi ngài Nagasena từ chối, bảo rằng ngài có đủ để sống, vị vua nói: 'Trẫm vẫn biết như vậy. Nhưng Đại đức nên tự bảo vệ và đồng thời bảo vệ luôn cho trẫm nữa. - V́ sao vậy? - V́ nếu Đại đức từ khước th́ e dư luận sẽ cho rằng, một là trẫm là người keo lẫn, được Đại đức dạy bảo và cởi mở hết mọi hoài nghi thắc mắc mà không chịu đền ơn, hai là Đại đức không đủ sức giải đáp các thắc mắc của trẫm cho nên trẫm không ban thưởng ǵ hết. Ngược lại, nếu Đại đức không từ khước th́ điều đó khiến trẫm được phước mà chính Đại đức cũng vẹn toàn tiếng thơm.'(theo bản dịch G.S Cao Hữu Đính).

Ngài Nagasena trả lời: 'Thế th́ xin vưng lănh ư đại vương!'"

Sau khi họ từ giả, ngài Nagasena trở về căn lều của ngài. Hai người đều nghĩ đến cuộc tranh luận và đều cảm thấy vui với những kết quả đạt được. Cả hai đều kết luận rằng nhà vua đă hỏi những câu hỏi hay ho và nhà vị tu sĩ đă đáp lại bằng những câu trả lời thích đáng. Cũng nên ghi nhận ở đây rằng vị vua không phải vui v́ những câu hỏi thông minh hay sắc sảo của ḿnh, cũng không phải ngài Nagasena vui v́ sự sâu sắc và hùng biện mà ngài đạt được khi trả lời những câu hỏi khó khăn của vị vua. Niềm vui của hai người nằm ở chỗ họ đă để ra ngoài những thành kiến và cảm t́nh cá nhân để có một tinh thần nghiêm chỉnh trong viêc t́m cầu chân lư. Điều nầy nói nhiều với chúng ta về ư nghĩa của ḷng thành khẩn và tính chất của một sự đối thoại chân chính.

 

CÁCH TRANH LUẬN CỦA NHỮNG NHÀ HIỀN TRIẾT VÀ CỦA NHỮNG BẬC VUA CHÚA

Trước khi khởi sự cuộc tranh luận lịch sử với vua Milinda, ngài Nagasena đầu tiên xác định vị thế mà họ sẽ đứng trên đó, như được ghi lại trong đoạn Kinh sau đây:

"Nhà vua nói: 'Thưa Đại Đức, ngài sẽ tranh luận với tôi chăng?'"

"'Nếu Bệ Hạ sẽ tranh luận như một hiền giả, tôi sẽ tuân theo; c̣n nếu Bệ Hạ tranh luận như một vị vương giả, tôi sẽ không tuân theo.'"

"'Những người hiền giả tranh luận như thế nào?'"

"'Khi những người hiền giả tranh luận về một vấn đề, mục đích là để giải quyết, làm sáng tỏ vấn đề; khi một trong hai người thấy sự sai sót của ḿnh, liền thừa nhận là ḿnh sai lầm; những khác biệt và trái nghịch được vạch ra; và v́ vậy họ không sân giận. Thưa đức vua, những nhà hiền giả tranh luận như vậy."

"'Và các vị vua chúa th́ tranh luận như thế nào?"

"'Thưa Bệ Hạ, khi một vị vương giả tranh luận một vấn đề, vị vương giả đặt trước một quan điểm, nếu ai trái ngược lại quan điểm ấy, người ấy có thể bị trừng phạt. Thưa Bệ Hạ, các bậc vương giả tranh luận như vậy.'"

"'Hay lắm. Tôi sẽ tranh luận trên cương vị một hiền giả, không trên cương vị một vương giả. Xin ngài hăy đối thoại một cách thoải mái như ngài nói chuyện với anh em, hay với một người sơ học, hay với một người đệ tử tại gia, hoặc ngay cả như đối với một người tôi tớ. Xin ngài đừng ngại!"

"'Thưa Bệ Hạ, thế th́ tốt lắm,' ngài Nagasena nói."

Ngài Nagasena muốn bảo đảm ngay từ đầu rằng những vị thế triết lư và thẩm quyền chính trị cần được phân biệt một cách rơ ràng. Những người nắm trong tay quyền lực chính trị thường có khuynh hướng muốn áp đặt quan điểm của họ lên người khác dựa vào quyền hành của họ, nếu thất bại, họ sẽ dùng áp lực để ép đối phương quy phục. Nhưng cách thế nầy không bao giờ có thể đưa đến chỗ mở bày của chân lư và không thể được gọi là một cuộc chân tranh triết lư hay cuộc tranh luận của người minh triết. Trong thực tế, nó cũng không phải là cách thế đúng cho những vị vua chúa, bởi v́ một sự tán đồng do bị ép buộc không phát xuất từ con tim và vô giá trị.

Các học giả Phật Giáo thường đề cập đến đoạn Kinh nầy như là một điển h́nh của tinh thần tự do ngôn luận và thẩm vấn. Ngựi ta thường có khuynh hướng nghĩ rằng sự tư do ngôn luận là một lư tưởng của chế độ dân chủ chỉ được nhận thức rơ ràng ở châu Âu trong những kỷ nguyên gần đây. Nhưng như chúng ta thấy, ở Ấn Độ thời xa xưa đă có một diễn đàn cho sự trao đổi tự do về tư tưởng. Chúng ta không chối căi là do ở tính khí của người Ấn Độ, với sự sùng kính lư tưởng về dharma (Pháp) hay sự công chính, nhưng ư niệm nầy được đẩy mạnh với sự tỏa rộng của tư tưởng Phật Giáo.

Bản Kinh ghi lại tất cả 262 câu hỏi do vua Milinda và ngài Nagasena nêu ra. Chúng ta cũng được cho biết rằng có một số câu hỏi không được ghi lại. Toàn bộ là 304 câu.

Ngài Nagasena trả lời một cách rơ ràng, chính xác, và hoàn toàn thích hợp từng câu hỏi của vua Milinda, và khi kết thúc một phần, ngài đưa ra một câu hỏi, và nhà vua đều trả lời: "Ngài nói đúng. Thưa ngài Naganesa, tôi nhận chân được đúng điều ngài muốn nói." Theo chiều hướng nầy, người đọc được đưa đi từng bước từng bước qua nhiều phương diện của tín ngương Đạo Phật, cho đến khi nhận chân ra là ḿnh đă sở đắc được những chân lư sâu xa và nền tảng nhất của Đạo Phật.

V́ vậy, cuốn Kinh được coi như một dẫn lối vào Đạo Phật, và được phái Theravada (Phật Giáo Nguyên Thủy) dùng làm tài liệu học hỏi của chư Tăng. Có thể với những mục đích như vậy, nhà sưu tập (hay những nhà sưu tập) đă gom chung thành một tập ghi chép về cuộc chân tranh.

Theo bản Kinh, cuối cùng vị vua tràn trề niềm vui, mọi nghi ngờ về Ba Ngôi Báu Phật, Pháp và Tăng được giải quyết. Không c̣n kiêu hănh và ngạo mạn, nhà vua đạt được sự trong sạch cao cả của niềm tin. Nhà vua trở nên một tín đồ Phật Giáo tại gia và cúng dường một ngôi chùa đặt tên là Milinda. Thêm nữa, chúng ta được nghe kể rằng, về cuối đời, nhà vua truyền ngôi cho con trai rồi xuất gia, chứng quả A La Hán.

Đây là thời kỳ chuyển tiếp khi Phật Giáo Đại Thừa, với sự nhấn mạnh vào vai tṛ quan trọng của người Phật tử tại gia, vươn ḿnh ở Ấn Độ, và có thể với ảnh hưởng của Đại Thừa, tinh thần "phá", một tinh thần năng động và xông pha, t́m đường cho sự tựu thành những con người đổi mới trong niềm tin, phản ảnh qua toàn bản Kinh mà chúng ta vừa thảo luận. Chắc chắn tư tưởng ngài Nagasena, xuyên qua tinh thần "phá," đă thành tựu trong việc biến cải một vị vua, có liên quan trực tiếp với tinh thần của những tín đồ Đại Thừa về sau. Và cuộc tranh luận giữa hai triết gia Đông Phương và Tây Phương tiêu biểu cho một sự đối chất công cộng về tín ngưỡng. Như vậy chúng ta có thể thấy rằng vào thế kỷ thứ hai trước Tây lịch, Đạo Phật đă có một ảnh hưởng lớn lao vào thế giới Hy lạp ở Phương Tây.

Trong chương kế tiếp, tôi sẽ xin cống hiến khảo cứu về tính chất của sự ảnh hưởng nầy một cách chi tiết hơn, cũng như thảo luận về sự phát triển của Đạo Phật về Phương Nam đến Tích Lan và Miến điện, và về Phương Đông đến Trung Hoa.

 

sen 5 OK2