B15-JsLo OK

 

NHỮNG KỶ NGUYÊN ĐẦU CỦA ĐẠO PHẬT

Daisaku Ikeda

Nguyên Hảo (Thị Giới) dịch

meditation

5.

 

SỰ GIAO LƯU VĂN HÓA GIỮA ĐÔNG VÀ TÂY

 

ĐIỂM NGOẶC TRONG SỰ LIÊN HỆ GIỮA ĐÔNG VÀ TÂY

Chính vào thời đại vua A Dục (Ashoka) mà Đạo Phật lần đầu tiên được truyền bá ra ngoài phạm vi lănh thổ Ấn Độ và gieo ảnh hưởng lên các nền văn hóa khác. Nhưng măi đến thế kỷ thứ nhứt sau Tây lịch, quá tŕnh phát triển nầy mới hoàn thành, có nghĩa là sau khi Phật nhập diệt năm trăm năm.

Nên nhắc lại lư thuyết về ba giai đoạn của Giáo Pháp Phật Đà. Theo lư thuyết, chính yếu là theo Đại Thừa, tiếp theo sau khi Phật nhập diệt là thời kỳ Chánh Pháp, thời kế tiếp là Tượng Pháp, và cuối cùng là Mạt Pháp. Như được gọi, lư thuyết nầy đặt nền tảng trên quan điểm rằng sự hiểu và thực hành Giáo Pháp của Đức Phật dần dần suy thoái cho đến khi hoàn toàn biến mất. Có những ư kiến khác nhau về thời gian kéo dài của hai giai đoạn đầu, nhưng ư kiến chung là giai đoạn thứ nhứt kéo dài năm trăm năm. Nói một cách khác, sau khi Đức Thích Ca Mâu Ni nhập diệt năm trăm năm, sự hiểu đúng đắn về Giáo Pháp của Ngài bắt đều suy thoái.

Nghiên cứu một cách sâu xa, ta thấy dường như khởi đầu của lư thuyết về các thời kỳ Giáo Pháp là giai đoạn Chánh Pháp kéo dài năm mươi năm. Trong thời gian nầy, những vị sa môn, những đệ tử trực tiếp nghe giáo lư từ chính Đức Phật, từng vị một rời khỏi thế gian, Đạo Phật bước vào một giai đoạn hoàn toàn mới, và Giáo Đoàn đối diện với sự khủng hoảng đầu tiên. Chúng ta có thể giả thiết rằng Đức Phật đưa ra quan điểm nầy không phải là một lời tiên tri, nhưng Ngài muốn báo động cho những người đệ tử rằng: sau khi Ngài nhập diệt, họ phải đặc biệt cẩn thận để giáo pháp được truyền bá về sau một cách đúng đắn.

Giáo Đoàn Phật Giáo đă vượt qua được lần khủng hoảng đầu tiên không ǵ khó khăn, và từ đó dần dần họ tin tưởng rằng giai đoạn Chánh Pháp không phải là năm mươi năm mà là năm trăm năm. Kinh Milinda Hỏi Đạo ra đời vào khoảng đầu thế kỷ thứ nhứt Tây lịch, và có đoạn sau đây liên quan đến thời gian của Chánh Pháp. Sau khi ngài A Nan nài nỉ Phật cho nữ giới giai nhập Tăng Đoàn, mặc dù Đức Phật lo ngại về việc nầy, Đức Phật nói: "Nầy A Nan, Chánh Pháp đáng lư trụ thế một ngàn năm nếu không có nữ giới gia nhập Tăng Đoàn. Nhưng nay, nầy A Nan, Chánh Pháp chỉ c̣n trụ thế năm trăm năm."

Bất cứ người đàn bà nào trong thời buổi hiện đại đều có thể nỗi giận v́ sự tiên tri nầy, ngay cả khi người đó không phải là người ủng hộ phong trào giải phóng phụ nữ. Nhưng trong thời đại của Đức Thích Ca Mâu Ni đó là quan điểm chung về nữ giới và ảnh hưởng tác hại của họ.

Lư thuyết cho rằng Chánh Pháp trụ thế năm trăm năm dường như nẩy ra từ cảm giác nguy hiểm và sự khủng hoảng xảy ra trong Giáo Đoản Phật Giáo vào thời điểm nầy. Giáo hội, tin rằng ḿnh có bổn phận lưu truyền Chánh Pháp đúng đắn cho thế hệ sau, trong thực tế đă phân chia ra thành những nhóm độc quyền. Sự học hỏi Abhidharma (Luận) trở nên ngày càng phức tạp và tiêu phí th́ giờ, và tăng sĩ càng ngày càng tách rời khỏi quần chúng. Rơ ràng v́ lư do nầy mà Đại Thừa, với sự sự nhấn mạnh vào vai tṛ quan trọng của người tại gia, phát triển mạnh vào khoảng năm trăm năm sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn.

Tôi sẽ thảo luận chi tiết hơn về những nguyên nhân đưa đến sự khởi dậy của Đại Thừa sau. Nhưng trước khi thông qua vấn đề ba giai đoạn của Giáo Pháp, tôi có thể ghi nhận rằng lối giải thích về ba giai đoạn như trên rất thịnh hành ở Nhật, làm cho người Nhựt vào thời Heian tin tưởng rằng họ đă bước vào thời kỳ Mạt Pháp. Quan niệm nầy chắc chắn là do t́nh trạng bất ổn của xă hội lúc đó, và ngược lại nó cũng ảnh hưởng đến thái độ về tôn giáo và cuộc đời. Ở Trung Hoa cũng vậy, quan điểm cho rằng thế giới đă đi vào thời kỳ Mạt Pháp xảy ra trong những lúc đất nước ở vào t́nh trạng xă hội bất ổn và sa đọa.

Giờ đây tôi muốn thảo luận về những sự giao lưu văn hóa giữa Ấn Độ và những nước làng giềng vào thời gian năm trăm năm sau khi Phật nhập diệt. Chúng ta đă biết rằng, trong thời đại vua Ashoka vào thế kỷ thứ ba trước Tây lịch, các sứ thần đă được gởi đi các nước phương Tây để truyền bá tư tưởng Phật Giáo, và từ đó trở đi, Ấn Độ đă giữ sự trao đổi văn hóa với các nước nầy một cách tương đối tích cực. Để t́m hiểu những bước làm cho Phật Giáo trở nên một tôn giáo chính trên thế giới, chúng ta rất cần lưu ư đến những sự trao đổi văn hóa giữa Đông và Tây nầy.

Kinh Milinda Hỏi Đạo (Na Tiên Tỳ Kheo) cho ta một điển h́nh về ảnh hưởng của tư tưởng Phật Giáo vào thế giới La Mă. Nhưng chúng ta cũng đừng quên rằng sự ảnh hưởng cũng c̣n đi theo chiều ngược lại, là Tây phương cũng đă ảnh hưởng mạnh vào thế giới Ấn Độ lúc bấy giờ. Đại Đế Alexander xâm chiếm Ấn Độ vào thế kỷ thứ Tư trước Tây lịch, và những sự ảnh hưởng lúc bấy giờ được thấy qua nhiều phương diện trong lối sống của người Ấn Độ. Và sau sự sụp đổ của những đế quốc La mă, người Scyths, giống người ảnh hưởng văn hóa Hy lạp, tiếp tục cai trị trên nhiều phần đất của Ấn Độ trải qua nhiều thế kỷ. Kết quả những sự xâm lăng của La mă và người Scyth là Đạo Phật đă tiếp xúc vào thế gới Tây phương. Một trong những hệ quả đó là nghệ thuật tạc tượng Phật nổi danh của trường phái Gandhara, mọc lên ở miền Tây Bắc Ấn Độ dưới thời người Scyths cai trị.

Điểm thích thú tôi muốn nêu ra ở đây là trong nghệ thuật Phật Giáo vào những thế kỷ trước khi có sự ảnh hưởng của Hy lạp, Đức Thích Ca Mâu Ni chưa bao giờ được họa thành tượng. Thí dụ như trong bức điêu khắc diễn tả sự giác ngộ của Đức Phật, ta chỉ thấy cây Bồ đề và chiếc toạ cụ mà ngài ngồi khi giác ngộ, hai thứ nầy tượng trưng sự có mặt của Đức Thích Ca Mâu Ni. Nhưng trong nghệ thuật Gandhara, Đức Thích Ca Mâu Ni được điêu khắc cùng kiểu cách như những vị thần của người Hy lạp hay La mă. Đó là một điển h́nh của những lề lối tư tưởng Tây phương ảnh hưởng vào tâm hồn Ấn Độ. Cũng xin nói rằng một số h́nh thái của giáo lư Đại Thừa cũng bắt nguồn từ tư tưởng Tây phương, nhưng chúng ta sẽ bàn thảo về vấn đề nầy trong chương sau.

Vào thời gian mà chúng ta đang đề cập đến, một tôn giáo thế giới khác là Ky Tô Giáo cũng ra đời tại Palestine. Đối với cả hai, thế giới Đông phương mà tâm điểm là Ấn Độ và thế giới Tây phương mà tâm điểm là đế quốc La mă, dường như đó là một giai đoạn náo động và quá độ. Ở Ấn độ, các nhà xâm lăng khác thay thế các vua La mă, và cả Bà la môn giáo và Phật Giáo đều đánh mất sinh khí và khô cứng trong chủ nghĩa h́nh thức. Về Tây phương, Đế quốc La mă thay thế Cộng Ḥa La Mă và khuyếch trương thế lực trên toàn vùng Địa Trung Hải và ra bên ngoài, đặt ách thống trị nặng nề hơn lên dân chúng các nước bị trị, nhứt là những nước bị chiếm đóng dọc theo biên giới.

Trong thời buổi dâu bể và bất ổn nầy, người ta mong chờ sự xuất hiện một vị anh hùng, hay t́m kiến một sự cứu rỗi tâm hồn. Ở Ấn Độ, người ta chờ đợi sự xuất hiện của Bồ Tát Di Lặc (Maitreya), người mà Đức Thích Ca Mâu Ni nói trước sẽ đến thế giới nầy trong tương lai để cứu độ chúng sanh, người Do Thái nóng ḷng mong đợi thánh Messiad của họ.

Đó là một thời đại đen tối và vô vọng của tinh thần. Nhưng trong một thời đại như vậy, khi sự đen tối đi đến chỗ cùng cực và khi nền văn minh của nhân loại đứng trước sự diệt vong, là lúc mà con người nóng ḷng mong mỏi nhất một triết lư hay tôn giáo lớn lao mới. Và để đáp ứng với nhu cầu đó, một nhà tư tưởng lớn hay một nhà lănh đạo tôn giáo sẽ ra đời để soi sáng cho nhân loại.

Ở Palestine, một tôn giáo mới, đặt nền tảng trên những giáo lư Do Thái Giáo nhưng với mục đích cho khắp cả mọi người ở mọi nơi, đă ra đời. Ở Ấn Độ, Đại Thừa Phật Giáo cũng xuất hiện tương tự. Nếu Phật Giáo vẫn giữ ở mức phát triển như trường phái Tiểu Thừa đại diện lúc bấy giờ, nó sẽ không thể trở thành một tôn giáo chính của thế giới. Nhưng nhờ sức đẩy của phong trào Đại Thừa, Đạo Phật đă trở thành một tôn giáo tích cực kết nạp, lan rộng về phương Đông cho đến Trung Hoa và Nhật Bản, và đến các nước phương Tây nữa.

 

PHẬT GIÁO VÀ CƠ ĐỐC GIÁO

Hầu hết những nghiên cứu tỷ giảo giữa Phật Giáo và Cơ Đốc Giáo trong quá khứ đều có khuynh hướng nhắm vào những điểm khác nhau giữa hai tôn giáo, như Fumio Masutani. Môi trường văn hóa và trí tuệ của Đông phương và Tây phương đương nhiên khác nhau ở những mức độ nào đó, và đương nhiên là những tôn giáo thoát thai từ hai miền khác nhau nầy phải khác nhau.

Tuy nhiên một điều rất thú vị tôi muốn nêu ra đây là khuynh hướng nầy gần đây đă bắt đầu thay đổi và các học giả bắt đầu nhấn mạnh vào những điểm chung của hai tôn giáo. Dĩ nhiên không c̣n là lúc chúng ta có thể tiếp tục suy nghĩ về sự nhị nguyên giữa Đông và Tây. Điều mà chúng ta muốn trong thời đại hôm nay là ư thức về sự hợp nhứt của thế giới. Như vậy, dù chúng ta có thể tiếp tục thảo luận về sự khác nhau giữa Đông và Tây dưới một mức độ nào đó, đều quan trọng hơn nhiều là t́m những sự tương đồng nền tảng và những điểm phù hợp. Tôi cũng rất muốn nói thêm rằng trong một thời điểm như ngày nay, sự đi quá đà trong việc thảo luận những sự khác nhau và đặt tôn giáo nầy hơn tôn giáo kia là một việc làm hoàn toàn vô nghĩa.

Chúng ta đừng quên rằng Ấn Độ từ rất sớm đă là nơi gặp gỡ của những nền văn hóa Đông phương và Tây phương, và về nhân chủng nó cũng đại biểu cho sự pha trộn dân chúng giữa hai vùng. Như vậy, người Ấn Độ có thể không bao giờ có ư thức về "Đông phương" sâu đậm như người Nhật Bản thường có.

Nhà văn hóa nhân loại học Tadao Umesao đă chứng minh rằng khu vực miền Tây Châu Á từ Ấn Độ đến Địa Trung Hải được coi như "Vùng Trung Tâm," khác biệt hẳn với cả hai miền Đông và Tây. Như chúng ta được biết khi thảo luận về Kinh Milinda Hỏi Đạo, khu vực Tây Á nầy từ thời rất xa xưa đă là nơi trao đổi văn hóa thường xuyên, và trong thực tế có thể được coi như một Vùng Trung Tâm duy nhất. Nếu chúng ta công nhận ư kiến của Umaseo, th́ Phật Giáo và Cơ Đốc Giáo là sản phẩm của cùng một xă hội.

Dù ta có chấp nhận quan điểm nầy hay không, chúng ta không thể không nhận rằng Cơ Đốc Giáo và Phật Giáo giống nhau trong việc truyền bá cho khắp nhân loại thông điệp chung về con đường sống. Nguồn gốc của hầu hết các tôn giáo đều gắn liền với sự hiến dâng và cầu khẩn sức mạnh siêu nhiên, và những tôn giáo đó thường có liên hệ mật thiết với những cơ quan thống trị của những xă hội bộ tộc xưa kia. Nhưng trong sự h́nh thành của Cơ Đốc Giáo và Phật Giáo, chúng ta không t́m thấy một yếu tố chính trị nào. Ngược lại, cả hai dường như đă phát sinh trong không khí đối nghịch với quyền lực chính trị. Và v́ lư do nầy, lịch sử của chúng thường bị ngược đăi dưới bàn tay của những người nắm quyền hành.

Hai tôn giáo lớn nầy, chúng ta có thể nói, hiện hữu trên một b́nh diện cao cả hơn những tôn giáo khép ḿnh trong việc thi hành những bổn phận cho một guồng máy chính trị nào đó, chúng hướng đến việc triển khai những giá trị chung cho toàn thể loài người. Đây là điều mà cả Đức Thích Ca Mâu Ni và Jesus đă cố gắng thực hiện trong những giáo lư của các ngài, và những đệ tử của họ, những người có bổn phận thực hành những giáo lư đó, v́ tính chất toàn thể của những lời dạy kia, đă nghĩ đến và đem những giáo lư đó đến cho tất cả mọi người.

Một số học giả Phật Giáo đă cho rằng khái niệm về cứu rỗi của Cơ Đốc Giáo thoát thai từ lư tưởng Bồ tát, những vị có khả năng thành Phật nhưng muốn tŕ hoăn sự giải giải thoát riêng tư để giúp đỡ người khác, trong Phật Giáo Đại Thừa. Cũng có giả thuyết là Jesus có thể đă có vài quan hệ với người Essene, một giống dân Do Thái khoảng bốn ngàn người sống trên bờ biển Chết (Dead Sea) vào kỷ nguyyên trước Jesus, họ sống từng nhóm tu sĩ rất giống như những Tăng Đoàn Phật Giáo. Khởi nguyên, v́ Do Thái Giáo là một tôn giáo của nhà nước và xă hội Do Thái, trong đó không có một khái niệm nào về tu sĩ sống cách biệt ngoài xă hội để sống đời sống khổ hạnh và tu tập. Việc những người Essenes làm như vậy cho ta thấy rằng, mặc dù được coi như một chi phái thuộc Do Thái Giáo, họ đă chịu ảnh hưởng tư tưởng về Tăng Già của Phật Giáo.

Giáo sư Hajime Nakamura đưa ra một số điển h́nh về ảnh hưởng có thể có của Phật Giáo vào Tây phương. Theo ông, những tàn tích của những ngôi chùa Phật Giáo được t́m thấy ở miền Bắc Châu Âu, và vào năm 1954 một tượng Phật nhỏ được khám phá ở Thụy Sĩ. Ngay cả việc Phật Giáo được truyền đến những đảo nhỏ thuộc Anh trước khi Cơ Đốc Giáo truyền đến cũng đă được chứng minh. Luận điểm nầy trong lời phát biểu của Origen trong luận đề của ông về Cuốn Sách của Ezekiel, viết ra vào khoảng năm 230, có nói: "Trong đảo nầy (Ái Nhĩ Lan), những cố đạo Druid và những tín đồ Phật Giáo đă truyền bá giáo lư về sự nhất thể của Thần, và v́ lư do nầy người dân ở đây đă sẵn sàng hướng về nó (Cơ Đốc Giáo)." Chúng ta chỉ có thể ngạc nhiên về việc Phật Giáo cũng có thể đă được truyền bá ngay cả đến người Celt ở những đạo nhỏ thuộc Anh dọc biên giới miền Tây Châu Âu.

Mặc dù một số tăng sĩ và sứ thần có nhiệm vụ truyền bá Phật Pháp trên một vùng rộng lớn như vậy có thể đi thuyền hay ngựa, chúng ta không nghi ngờ là phần đông họ đă đi bộ. Đọc về cuộc đời của Đức Thích Ca Mâu Ni và Jesus, người ta có ấn tượng sâu xa về những đoạn đường hai người đă đi bộ. Và những người đệ tử truyền bá giáo pháp của họ đă phải đi bộ c̣n nhiều hơn nữa. Những tu sĩ Phật Giáo, bị thiêu đốt với quyết tâm đem sự giải thoát đến cho mọi người, trải ra trên khắp bốn phương từ bán đảo Ấn Độ, tiếp tục vượt qua những vùng đất bị cấm đoán nhất. Với ḷng nhiệt thành đó để giữ vững tâm chí, chúng ta không ngạc nhiên họ đă đem giáo pháp của Đạo Phật đến tận những xứ xa xôi như những đảo nhỏ thuộc Anh.

Những cuộc khai quật ở một địa điểm thuộc một thành phố cổ ở miền Nam Wales được báo cáo là đă t́m thấy những đồng tiền La mă, trong số đó có một đồng từ vương quốc của vua Milinda (Di Lan Đà). Như chúng ta đă biết, Vua Milnda hay Menader đă cai trị một vùng thuộc miền Bắc Ấn Độ vào thế kỷ thứ hai trước Tây lịch. Rất thích thú nếu chúng ta có thể theo dấu cuộc hành hành của đồng tiền khi nó đi từ Ấn Độ qua Đế quốc La mă, rồi đi đến miền Tây thuộc Ái Nhĩ Lan.

Khi đồng tiền vẫn c̣n ở tại Ấn Độ, có thể nó đă chứng kiến rơ ràng sự phát triển của Đại Thừa Phật Giáo. Rồi chuyển sang tay của một thương nhân giàu có nào đó, một loại người, như người cư sĩ tại gia, đă giúp đỡ tài chánh rất nhiều cho những tăng sĩ Đại Thừa, và nó bắt đầu cuộc hành tŕnh về phương Tây. Trên đường đi, có thể nó đă nghe những lời đồn về cái chết bi thương của một bậc cứu thế ở vùng Palestine. Có thể nó đă lọt vào tay của một thương nhân hay quân nhân La mă sưu tầm những đồng tiền hiếm, và như thế trở thành một trong nhóm những đồng tiền t́m thấy ở Wales.

Dù trường hợp nào đi nữa, nếu Phật Giáo đă truyền đến những xứ xa như Anh trong giai đoạn rất sớm nầy th́ đó là một việc rất đáng chú ư. Nước Anh đă rất tích cực trong việc nghiên cứu Đạo Phật trong giai đoạn gần đây, và mặc dù điều nầy một phần phát xuất từ Ấn Độ với những địa danh Phật giáo và xá lợi của nó, một thời đă ở dưới sự cai trị của Anh, tôi không thể không phân vân rằng đó không phải là hậu quả của một sự gắn liền kỳ dị từ trong quá khứ.

Một số triết gia châu Âu trong những thế kỷ gần đây cũng đặc biêt lưu tâm đấn Phật Giáo Ấn Độ. Trong lời bạt cho một tác phẩm của Kenshi Hori, tác giả đă trích những gịng sau đây của triết gia tầm vóc Đức là Schopenhauer: "Một ngày nào đó, một nhà nghiên cứu Thánh kinh cũng hoàn toàn thành thạo về những tôn giáo Ấn Độ, với sự làm việc cẩn thận và chi tiết, sẽ thành tựu trong việc làm sáng tỏ những mối liên hệ giữa Cơ Đốc Giáo và những tôn giáo Ấn Độ." Những lời nầy gây một ấn tượng sâu sắc lên Giáo sư Hori khi ông c̣n là một thanh niên, và ông đă tiếp tục dấng thân trong ba mươi năm để làm sáng tỏ sự liên hệ nầy.

Kết quả sự nghiên cứu của ông đă được công bố trong tác phẩm Bukkỵ to Kirisutokỵ. Trong đó, ông có đề cập đến việc vào năm 1958 một đoàn thám hiểm khảo cổ Pháp làm việc tại Afganistan có t́m được một câu khắc chỉ dụ của vua Ashoka (A Dục) được viết cả bằng chữ Hy Lạp và chữ Xy-ri. Sự khám phá nầy gây một sự sôi nổi trong giới hàn lâm và đặc biệt làm giáo sư Hori lưu tâm v́ sự xử dụng chữ Xy-ri. Chữ Xy-ri được xử dụng rộng răi trong đế quốc Ba tư, và có thời đă bao gồm từ Thung Lũng Ấn Độ ở miền Đông chạy tận đến miền Tây Nam Á Châu và xa đến tận Nubia thuộc Ai Cập. Đó cũng là ngôn ngữ thông dụng hàng ngày của Palestine vào thời Jesus. Chúng ta có thể suy đoán rằng Jesus đă tiếp thu kiến thức Phật Giáo qua những tác phẩm viết bằng chữ Xy-ri đó và có thể chịu ảnh hưởng những giáo lư đó.

Chúng ta có khuynh hướng tự nhiên là nghĩ đến tôn giáo toàn bộ của Tây phương, trung Á và Ấn Độ theo danh từ ngày nay. Nhưng những điều kiện hoàn toàn khác trong những thế kỷ ngay trước và sau kỷ nguyên Cơ Đốc. Trung Á đặc biệt trong thời kỳ đó là nơi giao lưu trao đổi thương măi và văn hóa giữa Đông và Tây, Bắc với Nam. Những thành phố dọc theo những trục giao thông trở nên những trung tâm phổ biến những tư tưởng và văn hóa, và Con Đường Tơ Lụa nổi tiếng nối liền Trường An của Trung Hoa với La mă của Tây Phương đi xuyên qua khu vực nầy. Cuộc viễn chinh của Mông Cổ do Thành Cát Hăn lănh đạo đă tàn phá khu vực nầy và làm cho nó trở thành một vùng hoang vu như ngày nay, nhưng những khai quật đă chứng minh t́nh trạng của nó vào thời xa xưa.

Toàn khu vực từ Ba Tư (Persia) đến Trung Á trong thời kỳ đó có một bầu không khí văn hóa lớn lao chưa từng có, về miền Đông th́ liên hệ với Trung Hoa, miền Nam th́ liên hệ với Ấn Độ, miền Tây th́ liên hệ với La mă, và kết quả là có thể tiến bộ và có tính cách quốc tế hơn bất cứ nơi nào khác. V́ vậy không ǵ ngạc nhiên khi giả thiết rằng người ở Palestine, nằm sát khu vực văn hóa đó về phương Tây, đă tiếp nhận một số tin tức về phong trào Đại Thừa Phật Giáo khởi lên ở miền Tây Bắc Ấn Độ, giáp giới khu vực đó về phương Đông. Điều đáng ngạc nhiên phải là nếu việc đó đă không xảy ra.

 

NHỮNG ĐIỀU KIỆN CHO MỘT NỀN TÔN GIÁO THẾ GIỚI

Trong các nghiên cứu của ông, giáo sư Hajime Nakamura không chỉ thảo luận về sự ảnh hưởng của Phật Giáo vào Cơ Đốc Giáo nhưng c̣n đề cập đến vấn đề ảnh hưởng của Phật Giáo đối với triết học Hy lạp. V́ Hy Lạp được coi như nơi phát sinh của Triết Học Tây Phương, chúng ta có thể nghĩ rằng, dưới quan điểm trao đổi văn hóa giữa hai khu vực như đă được tŕnh bày, triết học Tây Tây phương trong mức độ nào đó đă chịu sự ảnh hưởng của Phật Giáo, mặc dù không trực tiếp. Chúng ta có thể bắt đầu với sự việc rằng cả Phật Giáo và triết học Hy lạp đều chia xẻ sự lưu tâm đối với những vấn đề như tính chất thật sự của đời sống, của hiện hữu, và của cá nhân.

Huấn thị "Hăy biết ḿnh" của Socrate quả thật nổi tiếng, nhưng Đức Thích Ca Mâu Ni cũng đă nói: "Hăy cố gắng quan sát và quán chiếu chính ḿnh." Trong kinh điển Phật Giáo không thể kể hết những câu tương tự như vậy. "Ta nói với ông, này A Nam. Ông hăy lấy chính ḿnh làm ngọn đèn, lấy chính ḿnh làm điểm nương tựa, không nương tựa vào người khác. Hăy lấy Chánh Pháp làm ngọn đèn, lấy Chánh Pháp làm nơi nương tựa, không nương tựa vào cái ǵ khác." Lại như, "Điểm nương tựa cho ḿnh không ǵ khác hơn là chính ḿnh. Có điểm nương tựa nào khác hơn nữa hay sao? Khi tự ḿnh đă được kiểm soát và điều phục, th́ người ta sẽ có được điểm nương tựa không ǵ khó có hơn."

Nói một cách rộng răi, cả triết học và tôn giáo đều phát sinh từ sự phản tỉnh về bản chất của thế giới và sự hiện hữu của con người, và trên ư thức của nó về chính nó là một con người. Ư niệm về Tội Lỗi Nguyên Thủy trong Cơ Đốc Giáo và đạo sống của người Phật tử t́m kiếm sự giải thoát khỏi những tật xấu do dục vọng sinh ra đều là những biểu hiện từ tinh thần nồng nhiệt của con người trong nỗ lực giải thoát. Họ gắn bó mật thiết với với lư tưởng con người và trong sự t́m kiếm một con đường có giá trị chung cho cuộc sống.

Sự biểu hiện có thể dường như chỉ là một, nhưng tôi không tin rằng một mức độ đổi thay nào đó trong những hệ thống xă hội hay tổ chức sẽ đem lại tiến bộ cho xă hội, trừ phi chính con người, kẻ sáng tạo và cầm cương cho những hệ thống và tổ chức đó, thay đổi. Tôn giáo và triết học, thay v́ nhắm đến sự cải cách những thể chế, đúng hơn nên biết rằng điều cốt tủy đầu tiên là làm một cuộc cách mạng bên trong của mỗi cá nhân. Có nghĩa là biết rằng nếu không có cuộc cách mạng cá nhân th́ không có cuộc cách mạng xă hội.

Nh́n qua những công cuộc cách mạng trong lịch sử thế giới, chúng ta thấy rằng những cuộc cách mạng được thành h́nh trên nền tảng của cuộc cách mạng đi trước, cuộc cách mạng về ư thức của toàn khối dân tộc, là những cuộc cách mạng toàn hảo nhất về mục tiêu và dài lâu nhất về hiệu quả. Ngược lại, những thứ áp đặt trên dân chúng bằng sức mạnh và vũ lực đă đưa đến nhiều hy sinh và khổ đau nhưng thường tồn tại ngắn ngủi. Về điểm nầy, chúng ta đặt biệt lưu tâm đến Phật Giáo và Cơ Đốc Giáo, hai tôn giáo nầy đă tồn tại hai ngàn hay trên hai ngàn năm để phục vụ cho vô số người ở Đông phương và Tây phương và định nghĩa cho họ những lư tưởng về đời sống.

Lafcadio Hearn trong tác phẩm Phê B́nh Văn Học Đông Tây đưa ra quan niệm cho rằng hầu hết những truyện cổ tích và những ngụ ngôn Cổ Đại có thể t́m dấu vết từ những nguồn gốc Phật Giáo. Trong thực tế, việc nghiên cứu tỷ giảo về văn học dân gian chứng tỏ rằng nhiều truyện thần tiên Tây phương phát xuất tử nguồn gốc Phật Giáo và Ấn Độ Giáo. Xa hơn nữa, câu chuyện người con hoang trong Kinh Thánh, như thường được nêu ra, có một sự trùng hợp khít khao với câu chuyện trong Kinh Pháp Hoa. Những trùng hợp nầy một lần nữa chứng tỏ có sự liên hệ giữa Phật Giáo và Cơ Đốc Giáo.

Với một sự dè dặt, tôi suy nghĩ rằng cho dù nếu không có những mối liên hệ trực tiếp, chúng ta có thể xác nhận điều sau đây. Bất cứ khi nào con người khát khao đi t́m bản chất thật sự của cuộc sống, mặc dù khác nhau trong phương pháp hay chiều hướng, họ đều đi đến một số kết luận chung. Sự phát triển của cả Phật Giáo và Cơ Đốc Giáo để trở thành nhữmng tôn giáo thế giới cho tôi thấy rằng chúng cùng có một số chân lư chung. Theo cách hiểu về bản chất của con người và sự đào sâu vào bản thể của thế giới hiện tượng, chúng đă có thể thuyết phục hàng triệu người tin vào giá trị của những giáo lư của chúng, và chính khả năng nầy đă cho phép chúng trở thành những tôn giáo của thế giới.

Triết học Tây phương, và đặc biệt là Cơ Đốc Giáo, đă trải qua thời gian dài bận rộn trong việc khảo sát nghiên cứu những khái niệm khó khăn như vấn đề bất tử và chứng minh sự hiện hữu của Thượng Đế. Tương tự, những khái niệm Phật Giáo như luân hồi, nghiệp, và duyên khởi đă đưa đến sự sung túc cho suy tư triết lư. Nếu hai tôn giáo nầy đă không có mặt để thách thức con người bước vào ngưỡng cửa của tranh luận và suy tư triết lư, lịch sử trí thức của nhân loại chắc chắn sẽ nông cạn hơn nhiều.

Giáo sư Nakamura đă đưa ra ba nguyên nhân mà ông tin là đă làm cho Phật Giáo và Cơ Đốc Giáo phát triển thành những tôn giáo toàn cầu. Thứ nhất chúng đă cố gắng một cách ư thức chiến đấu với những yếu tố bùa chú và những tín ngưỡng, những sự phù phép ma thuật của những tôn giáo nguyên thủy. Thứ hai, chúng loại trừ những chế độ tế thần được các tôn giáo có uy thế ủng hộ. Ngay cả luận điệu bác bỏ của hai tôn giáo này cũng tương tự, người Phật Giáo so sánh những người Bà la môn với những kẻ mù ḷa, người Cơ Đốc Giáo dùng cùng một luận điệu tương tự đối với những người theo phái Pha-ri (Do Thái Giáo xưa, rất câu nệ h́nh thức.) Thứ ba, chúng đều vượt qua giới hạn hạn hẹp của chủng tộc, giai cấp, và quốc gia. Trong Phật Giáo chúng ta thấy nhấn mạnh vào sự b́nh đẳng của bốn giai cấp ttruyền thống trong xă hội Ấn Độ cổ thời, trong khi ở Cơ Đốc Giáo, ta thấy họ chối bỏ sự phận biệt giữa người Do Thái và người ngoại giáo.

Chúng ta đă đề cập đến hai nguyên nhân đầu trong những thảo luận ở trên. Nguyên nhân thứ ba, khả năng vượt lên trên những phân biệt chủng tộc và quốc gia, dĩ nhiên là điều kiện cần thiết cho một tôn giáo được truyền bá rộng ra ngoài địa phương gốc của nó. Điều kiện nầy, cho phép Phật Giáo truyền đến phương Đông đến Trung Hoa và Đông Nam Á Châu, và truyền về phương Tây đến tận thế giới Hy Lạp, đă có mặt như một giáo lư nền tảng từ hai ngàn năm về trước, như sẽ được tŕnh bày trong đoạn văn sau đây được trích từ Kinh Milinda Hỏi Đạo: "Nếu sống trong đức hạnh, và giữ ǵn chánh niệm - dù cho sống ở Sythia hay Hy lạp, dù ở Trung Hoa hay Tartar, dù ở Alexandria (thủ đô xưa của Ai Cập) hay ở Nikumba dù ở Benares (Ba La Nại) hay ở Kosala (Kiều Tất La), dù ở Kashmire hay ở Gandhara, dù ở đỉnh núi hay ở trên những cơi trời cao nhất - bất cứ ở nơi nào, một người biết sống đời sống đúng sẽ chứng được Niết Bàn."

Ngược lại với Bà La Môn Giáo, giữ chặc sự phân chia bốn giai cấp trong xă hội Ấn Độ, Phật Giáo từ đầu đă chứng tỏ vượt lên trên sự phân chia giai cấp và quốc gia và do đó đă có thể trở thành một tôn giáo toàn cầu. Hơn nữa, việc chối bỏ sự phân chia giai cấp, quốc gia của nó không phải chỉ ở h́nh thức. Nói một cách chính xác hơn, bởi v́ mục đích cứu cánh của tôn giáo và nền tảng giáo lư của nó nằm ở chỗ truyền dạy sự b́nh đẳng và giá trị của mọi người, và áp dụng nguyên tắc đó vào thực hành, nó cần phải vượt lên trên mọi sự phân chia đó trên cả h́nh thức lẫn tinh thần.

Như lịch sử đă chứng minh, ánh sáng của sự nội chiếu thâm sâu của Đức Phật đă chứng tỏ có khả năng chiếu rọi xa ra ngoài những biên giới của quốc gia hay chủng tộc, và soi sáng đời sống của con người trên khắp thế giới và đem đến cho họ niềm hy vọng tràn đầy. Điều nầy xảy ra không đơn giản chỉ v́ thông điệp của Phật Giáo đă được truyền đạt từ những người của một quốc gia hay chủng tộc đến một quốc gia hay chủng tộc khác, nhưng do v́ Phật Giáo đă sở hữu những chân lư khái quát siêu vượt những dị biệt quốc gia và có năng lực thuyết phục cho con người ở bất cứ địa phương nào, sức thuyết phục mà từ đó tôn giáo đă được h́nh thành với những nhu cầu và khát khao của họ từ trong tâm khảm.

Trong sự cao vời nầy của trí tuệ, mạch sống và chiều sâu của giáo pháp nầy, và sự quyết tâm từ chối những phân chia giai cấp và những ư niệm nhỏ hẹp về chủng tộc và quốc gia, đă làm cho Phật Giáo và Cơ Đốc Giáo trở thành những tôn giáo hoàn cầu. Và nếu cố gắng xác định sức mạnh và hiệu năng nào mà hai tôn giáo nầy có thể đổi thay cho phù hợp với thế giới ngày nay, th́ chính những tính chất cơ bản nầy, chứ không phải là những nghi thức hay giáo điều tôn giáo cạn cợt, cần phải được lưu tâm.

 

sen 5 OK2