B15-JsLo OK

 

NHỮNG KỶ NGUYÊN ĐẦU CỦA ĐẠO PHẬT

Daisaku Ikeda

Nguyên Hảo (Thị Giới) dịch

meditation

9.

 

TINH THẦN KINH PHÁP HOA

 

NHỮNG HÀNH GIẢ PHÁP HOA

Kinh Pháp Hoa ra đời như thế nào là một vấn đề gây nhiều thắc mắc, ít nhất là trong t́nh trạng hiểu biết ngày nay của chúng ta. Phần lớn là do người Ấn độ có thói quen không thích sưu tập và lưu giữ những ghi chép có tính cách lịch sử.

Nhưng mặc dù chúng ta biết rất ít về nguồn gốc Kinh Pháp Hoa, chúng ta không nghi ngờ rằng đă có vô số người Phật tử dấng thân học hỏi Kinh nầy và áp dụng vào đời sống hàng ngày. Pháp Hoa tượng trưng cho giáo pháp cao tột trong những giáo pháp của Đức Thích Ca Mâu Ni, và trừ phi một người đă vào được tri kiến Phật ở một mức độ nào đó mới có hy vọng hiểu được những chân lư của Kinh. Những Giáo PHáp của Đức Phật ra đời chỉ với một mục đích là lợi ích chúng sanh. Và v́ vậy không dễ ǵ t́m ra một con đường đúng đắn dẫn đến những chân lư đó, và hành giả phải chuẩn bị đối diện với vô số chướng ngại khi bước vào.

Trong quá khứ cũng đă có nhiều người cố gắng t́m hiểu Kinh Pháp Hoa từ quan điểm học thuật, nhưng cuối cùng họ đă thất bại trong việc t́m hiểu ư nghĩa cứu cánh của Phật Pháp. Tri kiến giác ngộ tŕnh bày trong Kinh Pháp Hoa chỉ được hiểu thấu bằng cách đi theo một con đường đúng đắn, một sự dấng thân triệt để, và một quyết tâm thực hành không mỏi mệt. Nói rằng những phương pháp phân tích trí thức có thể phụ giúp cho ba điều trên chỉ là lời nói ngụy biện.

Theo truyền thống, chúng ta thường được nghe rằng Kinh điển Phật Giáo phải được đọc với cả thân, miệng và ư. Điều nầy là sự thật đối với Kinh Pháp Hoa. Bao nhiêu chữ, bao nhiêu lời được ghi nhớ không thành vấn đề, lư giải hùng biện và thông thái cách nào cũng không thành vấn đề, nếu không thể áp dụng những lời dạy của Phật trong Kinh vào đời sống hàng ngày, diễn dịch những giáo pháp nầy thành ngôn ngữ hành động thực tiễn và cụ thể, th́ sự hiểu biết về Kinh không có giá trị.

Nhưng sự thực tiễn của Kinh Pháp Hoa ở chỗ nào? Trong Kinh Pháp Hoa, chúng ta thấy sự thực hành Kinh được định nghĩa bằng năm hành động: lưu giữ, đọc, tụng, giải thích, sao chép. Tuy nhiên chúng ta không thể coi năm việc làm đó được đặt nặng ngang nhau và cần thiết ngang nhau. Ba việc làm đầu tiên là lưu giữ, đọc và tụng thuộc về sở đắc của một cá nhân, trong khi giải thích và sao chép thuộc về việc truyền bá giáo pháp đến người khác và bảo đảm sự lưu truyền. Nhưng đức tin được nhấn mạnh hàng đầu trong suốt Kinh Pháp Hoa, nên việc đầu tiên, nhận lănh và lưu giữ là việc quan trọng nhất.

Những người kết tập bản Kinh mà chúng ta có được ngày nay chỉ tin tưởng và không bao giờ đặt vấn đề có phải bản Kinh tiêu biểu cho giáo pháp cao tột của Đức Thích Ca Mâu Ni trong suốt cuộc đời Ngài. Phẩm thứ hai có câu: "Đức Thế Tôn, sau khi Giáo Pháp có mặt ở thế gian một thời gian, chắc chắc sẽ mở bày Chân Lư." Và ở phẩm thứ mười, Đức Phật dạy: "Kinh điển ta nói ra có vô lượng, kinh điển đă nói ở quá khứ, kinh điển đang được nói, kinh điển sẽ nói trong tương lai. Nhưng trong đó, kinh Pháp Hoa nầy là khó tin, khó hiểu nhất."

Những đoạn Kinh trích dẫn trên chỉ là đại biểu cho tư tưởng nh́n từ quan điểm tương đối. Những đoạn trích dẫn sau đây sẽ cho chúng ta một cái nh́n đứng từ quan điểm chân lư tuyệt đối. Ở trước chúng ta đă trích đoạn Kinh trong phẩm thứ hai: "Trong các quốc độ chư Phật ở mười phương, chỉ có một giáo lư, không có hai hay ba." Và trong phẩm hai mươi mốt, có đoạn: "Tất cả những giáo pháp Đức Như Lai sở đắc, tất cả những năng lực nhiệm mầu mà Như Lai tự tại sử dụng, tất cả những công hạnh sâu thẳm của Như Lai - mỗi mỗi đều lưu xuất từ Kinh nầy."

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa giống như một đại dương, quy tụ vô số sông ng̣i chảy về, một biểu đồ toàn diện của nguồn sống nằm bên dưới tất cả mọi chúng sanh. Kinh bao hàm trong đó mọi Kinh điển khác và v́ vậy là một bộ Kinh tối thượng. Kinh nêu rơ sự biểu hiện cao tột của Pháp Giác Ngộ, không phải bằng sự so sánh với các Kinh khác, mà v́ nó hàm chứa những nguyên lư triết lư cứu cánh thâm sâu nhất.

Bộ Kinh tuông trào ư nghĩa tối thượng nầy trong từng đoạn Kinh. Điều nầy là thành quả của những tín đồ của ḍng vận động Đại Thừa trong những thế kỷ sau khi Đức Thích Ca Nâu Ni nhập Niết Bàn, họ thực hành giáo lư của Kinh Pháp Hoa và thể nghiệm được sự tối thượng của Kinh, thử thách sự tối thượng nầy vào chính bản thân họ. Những người nầy đă chịu đựng sự lên án của những người thuộc Tiểu Thừa cho rằng Đại Thừa không phải là Phật Pháp, và cũng đă đối diện với những thử thách và khó khăn khác. Và trong quá tŕnh tranh đấu với những khó khăn nầy, họ đă hết người nầy đấn người khác thử nghiệm những chân lư của Kinh Pháp Hoa, những giáo lư sâu xa mà Đức Thích Ca đă truyền lại cho họ từ quá khứ. Những tín đồ Pháp Hoa nầy đă thể nghiệm nơi chính bản thân họ bản Kinh nầy.

 

TINH THẦN PHẬT TỬ ĐẠI THỪA

Một vài học giả cho rằng Kinh Pháp Hoa đại biểu cho giáo lư của một nhóm Phật tử trong vận hành Đại Thừa. Khoảng bốn năm trăm năm sau khi Đức Thích Ca nhập diệt, họ dựng lên kinh nầy và gán cho Đức Phật. Như đă tŕnh bày rơ ở chương trước, tôi không chấp nhận quan điểm nầy, nhưng tin rằng những tư tưởng nền tảng của Kinh, do chính Đức Thích Ca Mâu Ni trao truyền, đă ít được quan tâm cho đến khi những tư tưởng nầy được chấp nhận là giáo lư chính thức của hàng Phật tử Đại Thừa.

Trong gần ba ngàn năm lịch sử Phật Giáo, Đức Thích Ca Mâu Ni nổi bậc lên như một h́nh ảnh vĩ đại không thể so sánh. Chính bởi v́ từ trong sự giác ngộ của Ngài, Ngài đă có thể thấu rơ mọi định luật của vũ trụ cũng như của sự sống. Trong năm mươi năm truyền bá chân lư, ngài đă nỗ lực, với cái nh́n vấn đề từ nhiều góc cạnh, giải thích những định luật nầy, và đưa tất cả chúng sanh đến chỗ giải thoát. Mục đích của Ngài là dẫn dắt chúng sanh đạt đến Phật Tánh như Ngài đă đạt đến.

Nguyên lư tất cả chúng sanh đều có khả năng thành Phật như chính Đức Thích Ca Mâu Ni đă được nói đến đầu tiên trong Kinh Pháp Hoa. V́ vậy, nếu Đức Thích Ca không giảng dạy Pháp Hoa, chúng ta có thể nói rằng Ngài đă không giảng dạy Giáo Pháp một cách đầy đủ, có nghĩa là Ngài đă không làm trọn sứ mạng của Ngài khi hạ sanh vào thế gian nầy. Điều nầy không thể chối căi, và v́ vậy tôi tin rằng, là Phật tử, chúng ta phải chấp nhận quan điểm rằng chính Đức Thích Ca Mâu Ni đă giảng dạy Diệu Pháp Liên Hoa.

Từ đó, chúng ta thấy các Kinh điển A Hàm của Tiểu Thừa và những kinh điển khác thuộc Đại Thừa đại biểu cho những giáo pháp mà Đức Thích Ca Mâu Ni đă giảng dạy trong nhiều năm trước khi Ngài tỏ bày chân tâm ḿnh trong Pháp Hoa ở giai đoạn cuối cùng. Đều nầy không có nghĩa rằng Ngài đă phạm những sai sót nào đó. Các giáo pháp kia cũng biểu thị những phương diện nào đó của sự giác ngộ, và do đó cũng chứa đựng chân lư, những mỗi giáo pháp kia đều chỉ biểu hiện giới hạn một phần nào của giáo lư tṛn đầy trong kinh Pháp Hoa.

Một vấn đề được đặt ra là v́ sao khi những lời dạy của Đức Phật được kết tập sau khi Ngài nhập diệt, chỉ có giáo pháp A Hàm của Tiểu Thừa được kết tập trước tiên thay v́ kết tập những giáo pháp trong Kinh Pháp Hoa là những giáo pháp quan trọng hơn? Tôi đă có lần đề cập đến một vài nguyên do về vấn đề nầy, mà lư do quan trọng nhất là tính chất của tổ chức nhận lănh trách nhiệm kết tập.

Trong những năm tiếp theo sau Đức Như Lai nhập Niết Bàn, việc cần thiết đầu tiên là một kết tập những quy luật rơ ràng và khúc chiết cần thiết cho sự điều hành Tăng đoàn, sao cho tổ chức nầy có thể giữ được mạng mạch của một tôn giáo mới thành lập và bảo vệ nó vượt qua những công kích và hiểm nguy gặp phải. Điều nầy có thể giải thích lư do tại sao những kinh điển A Hàm, với sự quan tâm nhiều về những vấn đề giới luật, là những kinh điển được kết tập trước tiên. Về sau, khi tôn giáo này bảo đảm một vị thế vững mạnh và ổn cố hơn, và số lượng tín đồ tại gia tiếp tục gia tăng, th́ sự chú tâm nhắm vào việc kết tập những Kinh điển cho người tại gia, có nghĩa là, sắp xếp rơ ràng và minh bạch những Kinh điển Đại Thừa, với thông điệp giải thoát tất cả chúng sanh.

Hoặc chúng ta có thể nh́n sự việc bằng cái nh́n như sau. Những vị đệ tử Thanh Văn của Đức Phật, mặc dầu cuối cùng được nghe những giáo pháp cứu cánh và chắc chắn rằng ḿnh sẽ thành Phật, trước đó đă được nghe giảng dạy về một số những giáo pháp phương tiện. Chỉ sau một thời gian dài học hỏi và thực hành họ mới cuối cùng tỏ ngộ giáo pháp cứu cánh của Pháp Hoa. Họ tiến về mục đích thành Phật một cách không miễn cưỡng và từng bước một. Mặt khác, những cư sĩ tại gia, gia nhập vào hàng ngũ tu hành về sau nầy, cùng với những người tiếp nối theo họ, trở thành rường cột của Phật Giáo Đại Thừa trong những thế kỷ tiếp theo, được trao cho ngay những giáo lư Pháp Hoa, không phải trải qua một thời gian chuẩn bị như giới tăng sĩ. Chắc chắc nhờ có được thiện nghiệp, họ có thể đốn ngộ được Phật Tánh.

Điều đó phải chăng có nghĩa là những vị Thanh văn kết tập Kinh điển sau khi Phật nhập diệt chỉ chú trọng đến kinh điển A Hàm v́ các vị nầy không biết sự quan trọng của Kinh Pháp Hoa hay những kinh điển Đại Thừa khác?

Tôi không nghĩ như vậy. Bởi v́ nếu các vị nầy không hiểu sự quan trọng của giáo lư Đại Thừa, họ khó có thể chứng ngộ Phật Tánh. Và chúng ta cũng không thể quên rằng những tư tưởng nền tảng về sau được sử dụng và khai triển trong Phật Giáo Đại Thừa đă có trong các kinh A Hàm. Tôi nghi ngờ rằng những vị đệ tử Thanh Văn, không phải không biết ǵ cũng không phải không tôn trọng giáo pháp Đại Thừa của Đức Phật. Nhưng các ngài cảm thấy rằng không phải nhiệm vụ của họ truyền bá giáo pháp nầy, hoặc nghĩ rằng chưa đến lúc truyền bá chúng. Do đó những giáo pháp đầu tiên được truyền bá rộng răi là những giáo pháp Tiểu Thừa, trong khi giáo pháp Đại Thừa c̣n giữ trong bóng tối.

Nhưng như chúng ta thấy, vài trăm năm sau khi Đức Phật nhập diệt, giáo hội Phật Giáo truyền thống, lấy tăng chúng làm trung tâm, trở thành một nhóm độc quyền và khắc khe. Những vị tu sĩ thành viên thay v́ cố gắng truyền bá giáo pháp rộng răi trong quần chúng, chỉ để hết trọng tâm vào việc nghiên cứu những vấn đề chi li trong giáo pháp. Và kết quả là những tín đồ Phật Giáo, phần lớn là cư sĩ, những người thực hành lư tưởng Bồ Tát, lần lần cảm thấy bị cắt đứt với tổ chức chính thống v́ những khác biệt không thể kết nối trong phương pháp và mục tiêu tu tập.

Những sự nghiên cứu kinh viện của giới tăng lữ, tựu thành trong những luận A Tỳ Đàm, vây quanh những khái niệm về Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, Thập Nhị Nhân Duyên, và được theo đuổi một cách nhiệt thành, c̣n việc giải thoát cho người khác không màng đến. Kết quả của khuynh hướng nầy là sự giác ngộ bị coi như chỉ có ở b́nh diện tối cao, và việc chứng ngộ Phật Tánh được coi như ngoài tầm của những tu sĩ b́nh thường hay cư sĩ.

Mặt khác, những tín đồ Đại Thừa nh́n Đức Phật như là một người rất gần gũi trong đời sống của họ. Bất cứ người nào thực hành hạnh Bồ Tát, đem đến lợi ích và giải thoát đều hầu như có thể thành Phật. Trong kinh điển Đại Thừa, rất nhiều vị Phật được đề cập đến, bởi v́ tín đồ Đại Thừa có thể thấy được nhiều vị Phật khác nhau ngay trong tâm họ.

Cũng có thể nh́n sự phân chia giữa Đại Thừa và Tiểu Thừa trong giai đoạn khởi đầu với một cái nh́n khác. Chúng ta có thể giả thiết rằng, trong khi Đức Thích Ca Mâu Ni c̣n tại thế, có những người đến với tôn giáo mới nầy v́ một lư do chính là nhân cách xuất chúng của người sáng lập và lănh đạo nó, và v́ những mục đích và giá trị tín ngưỡng đặc thù mà tôn giáo nầy biểu hiện. Lại cũng có những người để ư đến tôn giáo nầy v́ nội dung triết lư của nó. Sau khi Đức Thích Ca Mâu Ni nhập diệt, khuynh hướng tríết học trở thành tinh thần chỉ đạo cho giáo hội, đưa đến sự nghiên cứu A Tỳ Đàm, trong khi những hoạt động thuần túy tôn giáo hơn về tu học và giải thoát cho quần sanh bị xao lăng. Và khi những người Phật tử không c̣n nh́n thấy những mục tiêu tôn giáo nầy, họ đánh mất sự giao tiếp với với nguồn sinh lực từ đầu đă rót vào Đạo Phật, lư tưởng Phật Tánh và sự cố gắng đạt đến Phật Tánh nầy.

Nhưng người ta cũng không nên quá khắc khe với những đệ tử của Tiểu Thừa, chỉ v́ những vị nầy đă gắn bó với những tin tưởng riêng của ḿnh. Một cách đại thể chẳng hạn, họ dường như chấp nhân tư tưởng rằng chỉ có một vị Phật xuất hiện cho một thế giới nhất định. Sau khi Đức Thích Ca Mâu Ni, vị Phật duy nhất được ấn định xuất hiện ở thế gian nầy, nhập diệt, các ngài không có một chọn lựa nào khác hơn là gắn chặc đời ḿnh vào những lời dạy mà Đức Phật để lại. Nhưng như chúng ta đă đề cập, sự dấng thân quá mức nầy vào kinh điển và giới luật mà các ngài có đă đưa đẩy các ngài vào một thứ nghiên cứu và giải thích có tính cách giáo điều, để cuối cùng đă tỏ ra khô khan vô vị, trong khi ḷng nhiệt thành và sức sống tôn giáo của giáo đoàn càng ngày càng xuống thấp.

Trong khi đó, những tín đồ Đại Thừa, khi so sánh tính chất của giáo đoàn và giáo lư của nó với những truyền thống hoàn toàn khác được truyền giữ trong giới cư sĩ, đă có những mối nghi ngờ nghiêm chỉnh về sức sống của giáo đoàn. Đối với những vị nầy, Đức Phật ở trong tâm của tất cả mọi chúng sanh và xuất hiện trong mỗi pháp giới. Với niềm tin vững chắc vào sự gần gũi với Đức Phật và sự có thể chứng quả Phật, họ truyền bá giáo pháp Đại Thừa và đem lại sự phục sinh cho Phật Giáo.

 

KHÁI NIỆM VỀ ĐỨC PHẬT TRONG KINH PHÁP HOA

Khái niệm chỉ có một Đức Phật cho một thế giới của Tiểu Thừa bị phản đối kịch liệt trong phẩm thứ bảy kinh Pháp Hoa, khi một bảo tháp xuất hiện trên không trung trước đại chúng, trong đó có Đức Phật Thích Ca và Đức Phật Đa Bảo ngồi bên nhau. Chúng ta không nghi ngờ rằng những đệ tử Thanh văn và những tín đồ khác của Tiểu Thừa trong Pháp hội đă phải nghi ngờ dụi mắt khi nh́n thấy h́nh ảnh đó.

Việc nh́n thấy tháp báu lơ lững trên không cũng soi sáng một khía cạnh khác của Kinh Pháp Hoa đă làm bối rối những đọc giả có tinh thần bám vào chữ nghĩa, đó là yếu tố không tưởng và vô lư. Về điểm nầy, chúng ta có thể ghi nhớ những lời của Jaspers, ông viết: "Để tạo ra một h́nh ảnh rơ ràng về Đức Phật, việc cần thiết đầu tiên là tâm thức phải được những biến cố kích động làm khởi dậy và khuấy động tính chất khả tín nền tảng nơi Đức Phật. Chỉ bằng cảm giác hoang mang và sợ hăi nầy mới có thể làm cho chúng ta thấy được Ngài." Nói một cách khác, sự rộn ră của niềm vui khởi lên trong ḷng người đọc hay người nghe mang đến cho đời sống hiện tại Đức Phật ở bên trong tâm thức họ.

Đặt câu hỏi về việc những hiện tượng phi thường đó có thật sự xảy ra khi đức Thích Ca Mâu Ni nói Kinh Pháp Hoa hay không là một câu hỏi vô ích. Thông điệp quan trọng của đoạn kinh là cảnh giới Phật hiện diện ngay trong nguồn sống của mỗi người, và khi những cảm giác tôn kinh đối với đức Phật đủ mạnh, những cảnh giới Phật ở trong mỗi cá nhân nầy sẽ nhô lên dưới h́nh tướng có thể thấy được. Đối với những tín đồ Đại Thừa sau khi đức Thích Ca Mâu Ni nhập diệt nhiều trăm năm, vào thời gian mà Giáo Pháp hầu như gặp phải nguy cơ hủy diệt khỏi thế gian, th́ không có con đường nào khác hơn là cố gắng vẽ ra và quán tưởng vị Phật sống ngự trị bên trong tâm thức của mỗi người. Và sự t́m cầu đức Phật của tâm một cách tha thiết và hết ḿnh nầy đưa họ đến việc kết tập những giáo lư Đại Thừa đă được lưu truyền qua các thế hệ, đặt chúng vào những câu, những lời ổn định, và làm thành bản Kinh mà chúng ta gọi là Kinh Pháp Hoa.

Việc thấy bảo tháp vọt lên và lơ lửng trên bầu trời là muốn phô bày nguyên lư về khả năng của tất cả mọi chúng sanh có thể nh́n thấy các cảnh giới Phật bên trong qua nguồn sống của họ. Đồng thời phẩm nầy, và được giải thích trong những phẩm tiếp theo, được dùng để bác bỏ quan niệm "một vị Phật cho một thế giới."

Phẩm mười lăm và mười sáu, cùng một cách thức, tŕnh bày những tư tưởng cách mạng cao độ và hoàn toàn tách bỏ khỏi những quan niệm xưa. Phần đầu của Kinh, đặc biệt là ở phẩm Phương Tiện, cốt yếu là phô bày chân lư chính đầu tiên của Kinh, đó là, tất cả mọi chúng sanh trong chín cảnh giới trừ cảnh giới Phật đều có Phật Tánh và có sẵn bên trong họ những cảnh giới Phật. Trong phẩm mười sáu, Như Lai Thọ Lượng, chân lư thứ hai được khai thị khi đức Thích Ca Mâu Ni nói rằng ngài đă thành Phật vô lượng kiếp về trước bằng cách thực hành hạnh Bồ tát. Và pháp tu của ngài lúc bấy giờ là Pháp Một Thừa (Nhất Thừa) nói trong Kinh Pháp Hoa.

Chỗ nầy là giáo pháp quan trọng nhất trọng toàn bộ Kinh. Ở đây chúng ta hiểu rằng chính qua đức tin vào sự tu hành Kinh Pháp Hoa mà chư Phật trong ba cơi và mười phương có thể thành Phật. Đó là nguồn của tất cả Phật, và nếu không biết đến Kinh nầy, không bao giờ có thể thành Phật.

Trước khi đức Thích Ca Mâu Ni dạy phần nầy của Kinh, những đệ tử của Ngài cho rằng Ngài thành Phẫt lần đầu tiên khi rời bỏ cung điện của vua cha, tu tập khổ hạnh, và ngồi dưới cây Bồ đề. Giờ đây Ngài nói với họ rằng: "Nầy các thiện nam, thật sự ta thành Phật đến nay đă qua đă vô lượng vô biên trăm ngh́n muôn ức na do tha kiếp." Ta có thể tưởng tượng sự kinh ngạc của họ khi nghe những lời nầy.

Thay v́ tin chắc điều nầy, những vị sa môn rơ ràng đă tiếp tục nghĩ rằng sự giác ngộ của đức Thích Ca Mâu Ni là một biến cố lịch sử duy nhất và coi Ngài như là vị Phật duy nhất hiện ra để giảng dạy Chánh Pháp trong thế gian nầy. Như vậy, sau khi ngài nhập diệt, họ cảm thấy rằng họ không có người lănh đạo và kết luận rằng chỗ cao nhất mà họ hy vọng đạt đến là cảnh giới A La Hán bằng sự tinh tấn thực hành giới luật.

Ngược lại với quan điểm rụt rè và thiếu sáng tạo của Tiểu Thừa, tín đồ Đại Thừa, đặc biệt những người theo giáo pháp Kinh Pháp Hoa, nhấn mạnh rằng tất cả chúng sanh đều có khả năng thành Phật và đức Thích Ca Mâu Ni đă hiện ra trong thế gian để giúp họ đạt mục đích nầy. Hơn nữa, họ khẳng định rằng đức Thích Ca Mâu Ni đă hiện ra nhiều lần và nhiều nơi trong quá khứ, như khi Ngài thị hiện làm một vị Phật tên là Nhiên Đăng, và mặc dù ngài dường như đă nhập Niết Bàn như một phương pháp giáo hóa, thực tế ngài luôn luôn có mặt trong ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai. Như được tŕnh bày trong phần kệ phẩm mười sáu kinh Pháp Hoa:

V́ độ chúng sanh vậy

Phương tiện hiện Niết Bàn

Mà thiệt chẳng diệt độ

Thường trụ đây nói Pháp.

Đó là cách Kinh Pháp Hoa tŕnh bày khái niệm về Phật. Qua khái niệm nầy, Phật Giáo có thể trở thành một ánh sáng vô tận để hướng dẫn nhân loại trải qua các thời đại, một tín ngưỡng đáng được trải rộng đến mọi nơi trên thế giới. Đó là tầm rộng lớn của nhận thức làm Kinh Pháp Hoa trở thành một kinh độc đáo trong các kinh điển Phật Giáo.

Khái niệm về Đức Phật Vĩnh Hằng và vô số hiện thân của ngài trong nhiều thời đại trong Kinh Pháp Hoa là một khái niện rất phức tạp, và những nhà chú giải Kinh Pháp Hoa đă mất nhiều th́ giờ công sức trong việc tŕnh bày những khía cạnh tế nhị của giáo pháp. Tuy nhiên, không phải là những vấn đề giáo pháp làm cho tôi thích thú ở đây hay là một cái thấy về Đức Phật như là một khuôn mặt hoàng kim sáng rỡ của sự vĩnh hằng. Tôi thích mường tượng đức Thích Ca Mâu Ni như là cái mà một con người và một nhà lănh đạo tôn giáo phải giống như vậy, một con người đă chịu đựng những nhọc nhằn và khổ đau hơn là điều mà Ngài đă biểu lộ ra cho người khác, và là người biết rơ những giới hạn của ḿnh.

V́ chính Ngài là một vị vương tử của bộ tộc Thích Ca (Shakya), nhiều đệ tử của Ngài cũng là thành phần của nhóm người quí tộc trong xă hội hay những thanh niên thuộc giai cấp Bà La Môn. Với sự h́nh thành từ phần lớn những người thuộc giai cấp cao trong xă hội, tổ chức tôn giáo mới nầy đă có thể xây dựng một vị trí vững chắc trong xă hội bấy giờ, chắc chắn là một ưu thế lớn lao cho nó. Đồng thời, sự việc rằng quá nhiều tu sĩ trong Giáo Đoàn Phật Giáo là những nhà trí thức thuộc giai cấp Bá la môn, có nghĩa rằng giáo đoàn, trong một số phương diện, đă tách rời và cô lập khỏi nhu cầu và sở thích của tín đồ tại gia, những người phầnn lớn thuộc vào giai cấp thấp hơn.

Đức Thích Ca Mâu Ni đă hiện ra trên thế gian trong nước Ấn Độ xưa để đem lại sự giải thoát cho tất cả chúng sanh, và tổ chức tôn giao Ngài dựng nên được tạo thành với đa số thành phần thuộc gia cấp Bà la môn (Brhaman) và Sát Đế Lợi (Kshatriya) hay là những giai cấp lănh đạo. Mặc dù Ngài tuyên bố sự b́nh đẳng của mọi giai cấp, căn bản quư tộc của đức Thích Ca Mâu Ni không tránh khỏi việc tô vẽ tư tưởng về đoàn nhóm và làm cho việc thực hiện những nguyên lư b́nh đẳng vào hành động trở nên khó khăn. Đây là một trong những giới hạn của Phật Giáo tiền kỳ khi được đức Thích Ca Mâu Ni thành lập, và nó tiếp tục là một sự giới hạn của Phật Giáo do những đệ tử của Ngài lănh đạo trong những năm tiếp theo sau khi Ngài nhập diệt.

Khi đức Thích Ca Mâu Ni, trải qua nhiều năm và đến khi gần chấm dứt sứ mệnh của Ngài, đă dạy Kinh Pháp Hoa, có lẽ Ngài đă biết sự giới hạn đó. Trong phẩm mười lăm của Kinh, đức Phật nói với các vị Bồ tát rằng họ không cần giữ và bảo vệ Kinh, v́ có vô số Bồ tát sẽ từ dưới mặt đất lên để làm công việc bảo vệ, giữ ǵn, đọc, tụng và giải thích Kinh. Chắc chắn ư của đức Thích Ca Mâu Ni là muốn nói rằng Giáo Đoàn Phật Giáo phải chờ đợi sự xuất hiện của những vị lănh đạo đầy khí lực từ những từng lớp thấp trong xă hội, th́ giáo pháp về sự b́nh đẳng của tất cả chúng sanh và khả năng ngang nhau của họ trong việc chứng ngộ Phật Tánh mới được thiết lập một cách rơ ràng và vững chăi.

Giống như hoa sen, mặc dầu nó nở ra những bông hoa xinh đẹp, gốc rễ của nó mọc lên từ bùn, như vậy người thực hành Giáo Pháp chân chính sống và làm việc giữa sự hỗn độn và lăng xăng của đời sống hằng ngày, chia xẻ những niềm vui và những nỗi gian nan của người đời và thể hiện trong cách sống tinh thần chân thật của Kinh Pháp Hoa. Chỉ bằng cách nầy y mới thể hiện được sứ mệnh chân thật của Phật Giáo.

 

sen 5 OK2