B15-JsLo OK

 

GƯƠNG THIỀN

(Thiền  Gia Quy Giám)

 

Hyujeong

 

Tây Sơn Đại Sư ( 1520 ~ 1604 )

Tào Khê Thối Ẩn thuật

Thị Giới dịch Việt

 

 


GƯƠNG THIỀN

(Thiền Gia Quy Giám)

 

(1)

 

Có một vật, từ vô thủy đến nay, sáng sủa ẩn mật, chưa từng sanh, chưa từng diệt, gọi tên không được, diễn tả không được.

 

Một vật đó là vật ǵ?

 

Người xưa có bài tụng:

 

Khi Cổ Phật chưa sanh

Một vật đă toàn nên

Thích Ca cũng không hiểu

Ca Diếp lấy ǵ truyền?

(古佛未生前

凝然一相圓

釋迦猶未會

迦葉豈能傳

Cổ Phật vị sanh tiền

Ngưng nhiên nhất tướng viên

Thích Ca do vị hội

Ca Diếp khởi năng truyền?)

 

Vật đó không sanh, không diệt, gọi tên không được, diễn tả không đuợc.

Lục Tổ dạy chúng: “Ta có một vật không tên không tướng, có ai biết là vật ǵ?” (1) Thiền sư Thần Hội liền trả lời: “Nguồn gốc chư Phật, Phật Tánh của Thần Hội.” (2) Do đó Thần Hội chỉ là con gịng thứ của Lục Tổ (không được truyền tâm ấn).

 

Thiền sư Hoài Nhượng từ Tung Sơn đến, Lục Tổ hỏi: “Vật ǵ từ đâu đến?” (3) Sư không trả lời được. Đến tám năm sau mới trả lời:  “Nói giống một vật là không trúng.” (4)  Do đó Hoài Nhượng trở thành con gịng chính của Tổ.

 

Thánh nhân Tam Giáo

Ra từ câu nầy

Ai muốn tỏ bày

Lông mày rụng sạch.

(三教聖人

從此句出

誰是舉者

惜取眉毛

Tam giáo Thánh nhân

Ṭng thử cú xuất

Thùy thị cử giả

Tích thủ mi mao.)

 

 

(2)
 

Phật, Tổ xuất hiện trong đời, không gió nổi sóng.

 

Phật, Tổ tức Thế Tôn và Ca Diếp. Các ngài xuất hiện trong đời v́ tâm đại bi cứu độ chúng sanh.

 

Nói về một vật th́ đó là khuôn mặt xưa nay người người đều trọn đủ, sao lại mượn bột phấn mà trét thêm vào? Do đó, sự xuất thế của Phật, Tổ giống như không có gió mà sóng khởi lên. Kinh Hư Không Tạng nói: “Chữ nghĩa là nghiệp ma, danh tướng là nghiệp ma, cho đến lời Phật cũng là nghiệp ma.” (1)

 

Ư muốn nói: Tự ḿnh làm tṛn, Phật, Tổ không dính dáng.

 

Đất trời trở tối

Mặt trời mặt trăng không ánh sáng.

(乾坤失色。 

日月無光。

Kiền khôn thất sắc

Nhật nguyệt vô quang.)

 

 

(3)

Pháp có nhiều nghĩa, người có nhiều căn cơ, do đó ứng dụng không ngại.

 

Pháp là Một Vật, người là chúng sanh (do các duyên sinh ra).  Pháp có nghĩa theo duyên mà không biến đổi, người th́ có khả năng nhanh chậm khác nhau. Do đó không ngại áp dụng nhiều phương tiện ngữ ngôn, như câu: “Quan không dung tội gian lận một cây kim nhưng tư thông cả xe.” (1)

 

Chúng sanh tuy đă viên thành nhưng không mở mắt tuệ nên chịu sự luân chuyển (trong sáu đường). Do đó, nếu không dùng kiếm xuất thế (kiếm trí tuệ), làm sao gọt sạch lớp vỏ dày vô minh? Vượt biển khổ để đi đến bờ vui đều nhờ ân đức đại bi (của Phật, Tổ), dùng vô số thân mệnh như cát sông Hằng cũng khó báo đền.

 

Trên đây là nói ân sâu của Phật, Tổ đối với chúng ta.

 

Vua lên điện báu

Già quê hát ca.

(王登寶殿。

野老謳歌。

Vương đăng bảo điện,  

Dă lăo âu ca.)

 

 

(4)

Tạm lập các tên gọi, hoặc Tâm hoặc Phật hoặc chúng sanh, nhưng không nên bám vào danh tự mà hiểu. Thể thật ngay đó, khởi niệm liền sai.

 

Một Vật tạm lập ba tên gọi, Hiển giáo bất đắc dĩ lập ra. Thiền dạy không nên bám vào tên gọi mà hiểu.

 

Nâng lên, hạ xuống, tạo ra, phá đi, đều là hành động tự tại của đấng Pháp Vương.

 

Ở trên là nói về các phương tiện của chư Phật, Tổ.

 

Nắng lâu gặp mưa tốt

Phương xa gặp người xưa.

(久旱逢佳雨。

鄉見故人

Cửu hạn phùng giai vũ 

Tha hương kiến cố nhân)

 

 

(5)

Thế Tôn ba lần (chốn) truyền Tâm lập nên tông chỉ Thiền (1). Những lời dạy suốt đời của Phật lập nên Giáo. V́ vậy nói rằng Thiền là Tâm của Phật, Giáo là Lời của Phật.

 

Ba lần đó là: lần thứ nhất tại tháp Đa Tử khi Đức Phật chia chỗ ngồi cho Ma Ha Ca Diếp, lần thứ hai tại Pháp hội Linh Sơn đưa cành hoa, lần thứ ba dưới hai cây sa la đưa chân ra ngoài quan tài. Đó là truyền riêng cho ngài Ca Diếp ngọn đèn Thiền.

 

Trong bốn mươi chín năm, Phật thuyết gồm Năm Giáo. Thứ nhất là Nhân Thiên giáo, thứ hai là Tiểu Thừa giáo, thứ ba là Đại Thừa giáo, thứ tư là Đốn giáo, thứ năm là Viên giáo. Ngài A Nan lưu thông biển Kinh Giáo nầy.

 

Khởi đầu của Thiền và Giáo là đức Thế Tôn. Phân ra Thiền và Giáo là Ca Diếp và A Nan.

 

Lấy không lời để tỏ bày cái không lời là Thiền. Lấy có lời để tỏ bày cái không lời là Giáo. Tâm là phương pháp của Thiền, Lời là phương pháp của Giáo. Do đó Pháp tuy một vị, sự nhận biết th́ cách nhau như trời với đất.

 

Trên đây là nói về hai con đường Thiền và Giáo.

 

Đừng nên buông thả

Sinh thân ḅ trường.

(不得放過。

艸裏橫身。

Bất đắc phóng quá

Thảo lí hoành thân.)

 

 

(6 )


Do đó nếu chỉ theo lời (lạc mất trong lời) th́ việc đưa hoa mỉm cười (niêm hoa vi tiếu) cũng chỉ là dấu vết của Giáo. Từ Tâm mà được th́ lời dỡ lời hay của thế gian đều là Thiền truyền riêng ngoài giáo.

 

Pháp không có tên nên lời không đến được, Pháp không h́nh tướng nên tâm không đến được. Khi vừa nói ra liền đánh mất tâm vương nguyên thủy. Mất tâm vương nguyên thủy th́ việc Thế Tôn đưa cành hoa ngài Ca Diếp mỉm cười cũng rơi vào lời phô, rốt cuộc rỗng không.

 

Đạt được bằng Tâm th́ không những lời nói khoe khoan ngạo mạn cũng nói lên Pháp yếu, cho đến tiếng chim tiếng thú cũng nói lên Thật Tướng. Do đó, Thiền sư Bảo Tích (1) nghe tiếng khóc giác ngộ vui mừng, Thiền sư Bảo Thọ (2) thấy đánh nhau liền nhận rơ diện mục.

 

Trên là làm rơ sự sâu cạn của Thiền, Giáo.

 

Ngọc sáng trên tay

Mân mê lui tới.

(明珠在手。

弄去弄來。

Minh châu tại thủ

Lộng khứ lộng lai.)

 

 

(7)

 

Ta có một lời:

Dứt nghĩ quên duyên

Tự nhiên vô sự

Xuân về cỏ xanh.

(吾有一言。

絕慮忘緣

兀然無事坐

春來草自青

Ngô hữu nhất ngôn

Tuyệt lự vong duyên 

Ngột nhiên vô sự tọa

Xuân lai thảo tự thanh.)

 

Dứt nghĩ quên duyên đạt được Tâm, gọi là nhàn đạo nhân (đạo nhân không c̣n ǵ phải thực hành). Thật là tuyệt. Xưa nay không vướng bận, xưa nay đều vô sự. Khi đói th́ ăn, khi buồn ngủ th́ ngủ. Nước biếc núi xanh tùy ư tiêu diêu, thôn chài hang rượu tự tại an giấc. Năm tháng trôi qua không cần biết, Xuân đến như xưa cỏ tự xanh.

 

Trên nói về nhất niệm hồi quang (niệm khởi liền biết).

 

Toan bảo không ai

Lại có một người.

(將謂無人。

賴有一箇。

Tương vị vô nhân

Lại hữu nhất cá.)

 

 

(8)

 

Giáo môn chỉ truyền pháp môn Nhất Tâm. Thiền môn chỉ truyền pháp môn Kiến Tánh.

 

Tâm như thể của gương, Tánh như ánh sáng của gương. Tánh tự trong sạch. Ngay lập tức trở lại tâm nguyên thủy.

 

Ở đây nhấn mạnh về nhất niệm.

 

Trùng trùng núi cùng nước

Nếp nhà cũ sạch làu.

(重重山與水。

清白舊家風。

Trùng trùng sơn dữ thủy

Thanh bạch cựu gia phong.)

 

B̀NH:

 

Tâm có hai loại: Tâm bổn nguyên và tâm vô minh chấp tướng. Tánh có hai loại: Pháp Tánh bổn nguyên và tánh đối lại tướng. Do đó cả Thiền và Giáo đều mê khi dựa vào danh để hiều, hoặc lấy cạn làm sâu, hoặc lấy sâu làm cạn. Tất cả đều là bệnh lớn trong cái thấy và việc làm, do đó cần nói rơ.

 

 

(9)

 

Chư Phật nói Kinh, trước phân biệt các pháp, sau nói về tánh Không cứu cánh.  Sự khai mở của Tổ Sư không để dấu vết trên đất ư niệm, chân lư bày rơ ở nguồn Tâm.

 

Chư Phật là nơi nương tựa cho vạn đời nên theo cách có thể truyền đạt. Tổ Sư độ thoát tức thời, do đó trao truyền bí mật. Dấu vết: lời của Tổ Sư gọi là dấu vết. Ư: sự suy nghĩ của người học.

 

Bày tỏ loạn cuồng

Tay không cong ngược.

(胡亂指注。

臂不外曲。

Hồ loạn chỉ chú

Tí bất ngoại khúc)

 

 

(10)

 

Cách chư Phật dạy như cây cung, cách Tổ Sư dạy như dây cung.  Phật nói các pháp vô ngại quy về một vị. Chạm vào dấu vết Một Vị đó, liền hiện Nhất Tâm mà Tổ Sư tỏ bày. Do đó nói: thoại đầu “cây tùng trước sân” không t́m thấy trong hang rồng (nơi giữ Kinh). (1)

 

Nói cung là cong, nói dây là thẳng. Kho Rồng là nơi chứa Kinh ở Long cung. Vị Tăng hỏi ngài Triệu Châu: (2) “Ư của Tổ Sư từ Tây qua là ǵ?” Ngài Triệu Châu đáp: “Cây tùng trước sân.” Cho nên nói tông chỉ của Thiền ở ngoài khuôn mẫu.

 

Cá lội đục nước

Chim bay rụng lông.

(魚行水濁。

鳥飛毛落。

Ngư hành thủy trọc

Điểu phi mao lạc)

 

 

(11)

 

Do đó, người học trước tiên học hiểu giáo lư như thật của Phật, phân biệt rơ ràng hai chân lư bất biến và tùy duyên, là Tánh và Tướng của Tự Tâm. Cả hai môn đốn ngộ và tiệm tu đều là khởi đầu và chung cùng của việc tu tập. Sau đó mới bỏ giáo nghĩa, nơi nhất niệm hiện tiền của Tự Tâm mà tham, cuối cùng tất sẽ có kết quả, đó là thoát thân vào con đường sống (con đường sống để thoát thân).

 

Người trí tuệ căn cơ lớn không cần phải ở trong giới hạn đó. Người căn cơ trung và thấp không thể vượt qua giới hạn đó.

 

Hiển Giáo dạy bất biến mà tùy duyên, đốn ngộ và tiệm tu có trước có sau. Với Thiền, trong một niệm bất biến tùy duyên, Tánh và Tướng, Thể và Dụng vốn cùng một lúc. V́ vậy rời có rời không.

 

Do đó các vị Tổ Sư rời lời nói mà chỉ thẳng, một niệm thấy Tánh thành Phật. Đó là buông bỏ giáo nghĩa.

 

Ngày sáng rỡ ràng

Mây ẩn hố sâu.

Ở nơi sâu kín

Nhật chiếu tạnh không.

(歷歷時

雲藏深谷。
深密密處

日照晴空。

Minh lịch lịch thời

Vân tàng thâm cốc.

Thâm mật mật xứ

Nhật chiếu t́nh không.)

 

 

(12)

 

Người tu Thiền nên tham cứu câu sống (hoạt cú), không nên tham cứu câu chết (tử cú). (1)

 

Từ nơi hoạt cú mà được th́ trở thành bậc ngang hàng với Phật, Tổ. Chạy theo tử cú th́ tự cứu cũng không xong.

 

Do đó chỉ từ hoạt cú mới có hy vọng tự ngộ nhập.

 

Muốn gặp Lâm Tế (2)

Nên là người sắt.

(要見臨濟。

須是鐵漢。

Yếu kiến Lâm Tể

Tu thị thiết hán.)

 

B̀NH:

 

Thoại đầu có hai cửa vào: tham cứu thoại đầu theo con đường trực chỉ gọi là hoạt cú (câu sống), không theo ư niệm, không nương vào lời, không có ǵ để nắm giữ. Tham cứu thoại đầu bằng ư niệm là thực hành giáo lư viên đốn bằng cách bám vào tử cú (câu chết), c̣n lư luận, c̣n ngôn ngữ, c̣n hiểu biết bằng tư tưởng, ư niệm.

 

 

(13)

 

Tham cứu công án phải với tâm khẩn thiết, như gà ấp trứng, như mèo ŕnh chuột, như đói muốn ăn, như khát muốn uống, như con thơ nhớ mẹ, tất sẽ có lúc thấu triệt.

 

Công án của Tổ Sư có một ngh́n bảy trăm tắc. Như các công án: “Con chó không có Phật tánh;” (1) “Cây tùng trước sân;” “Ba cân gai;” (2) “Que dính cứt khô” v.v…  Gà ấp trứng: khí ấm của trứng được giữ liên tục không dứt. Mèo ŕnh chuột: tâm và mắt không động. Cho đến đói nghĩ đến ăn, khát nghĩ đến uống, trẻ thơ nhớ mẹ. Tất cả những thứ đó đều phát ra từ tâm chân thật, không phải từ tâm hời hợt. Cho nên nói là khẩn thiết. Tham Thiền không có tâm khẩn thiết mà có thể thấu triệt th́ không thể có.

 

 

(14)

 

Tham Thiền cần hội đủ ba điều quan trọng: thứ nhứt là có Ḷng Tin lớn, thứ hai là có Ḷng Mong Cầu lớn, thứ ba là có Tâm Nghi lớn. Nếu thiếu một trong ba điều đó th́ giống như chiếc đỉnh găy chân, trở thành vật vô dụng.

 

Phật dạy: “Muốn thành Phật, đức tin là căn bản.” Ngài Vĩnh Gia nói (1): “Người tu đạo trước tiên lập chí.” Ngài Mông Sơn (2) nói: “Người tham Thiền không phát khởi Nghi T́nh là bịnh nặng.” (3) Lại nói: “Nghi lớn tất sẽ có ngộ lớn.” (4)

 

 

(15)

 

Hằng ngày theo duyên chỉ cử câu thoại đầu “Con chó không có Phật Tánh.” Cử tới cử lui, nghi tới nghi lui. Khi giác ngộ rồi th́ không c̣n lư lẽ, không c̣n khái niệm, không c̣n ham thích món ăn ngon. Đó là lúc rũ bỏ thân và mệnh. Cũng là nền tảng để thành Phật, làm Tổ.

 

Một vị Tăng hỏi Triệu Châu: “Con chó có Phật Tánh hay không?” (1) Ngài Triệu Châu đáp: “Vô". (2) Một chữ nầy là cổng vào Tông môn. Nó cũng là dụng cụ phá hủy vô số hiểu biết sai lầm. Cũng là mặt mũi của chư Phật, cũng là cốt tủy của chư Tổ. Qua được cổng nầy sau đó mới có thể thành Phật, thành Tổ.

 

Người xưa có bài tụng:

 

Kiếm bén của Triệu Châu

Sáng lánh như sương băng

Suy nghĩ hỏi thế nào

Cắt thân làm hai khúc.

(趙州露刃劍。

寒霜光燄燄。 

擬議問如何。

分身作兩段。

Triệu Châu lộ nhận kiếm

Hàn sương quang diễm diễm

Nghĩ nghị vấn như hà

Phân thân tác lưỡng đoạn.)

 

 

(16)

 

Khi cử thoại đầu không nên t́m ra giải đáp hợp lư, cũng không nên dùng tư tưởng suy nghĩ, cũng không từ mê trông chờ giác ngộ. Đến lúc ư không c̣n chỗ để suy nghĩ, tâm không c̣n chỗ để bước vào, giống như con chuột già lọt vào chiếc bẫy sừng trâu, lùi không được, tiến không được. Thật là vô minh khi toan tính t́m kiếm, luân lưu trong sinh tử, trong sư sợ hăi kinh hoàng. Người đời nay không biết đó là bịnh, không ngừng ra vào trong đó.

 

Thoại đầu có mười thứ bịnh: dùng ư niệm để suy lường, dương mày nháy mắt (bắt chước Thầy), dùng ngôn ngữ để nắm bắt, t́m bằng chứng trong văn tự, bắt chước sự biểu lộ lấy làm của ḿnh, rơi vào chấp không xả bỏ mọi thứ, phân biệt có không, rơi vào tuyệt đối không, rơi vào lư lẽ, khởi tâm mong cầu giác ngộ.

 

Rũ bỏ mười căn bịnh nầy, khi cử thoại đầu giữ tinh thần phấn chấn, giữ chắc Tâm Nghi (Nghi T́nh), nhắm thẳng vào câu hỏi “cái đó là ǵ?” (1)

 

 

(17)

 

Giống như muỗi chích vào trâu sắt, không thắc mắc làm cách này hay cách kia, cứ cắm ṿi vào chỗ không thể cắm bất kể thân mệnh, toàn thể thân mệnh thấu nhập trong đó.

 

Đây là nói lại ư trên, khiến cho người tham cứu hoạt cú (câu sống) không lùi bước. Một vị Thầy ngày xưa nói: “Tham thiền nên tận ngơ Tổ Sư, diệu ngộ cốt đến chỗ hết đường tâm ư.” (1)

 

 

(18)

 

Tu tập giống như điều chỉnh dây đàn, căng giản để được chỗ quân b́nh. Cần mẫn th́ gần với chấp trước, xao lăng th́ rơi vào vô minh. Chỉ nên giữ tịch tịnh sáng láng, tiếp nối không dừng.

 

Người chơi đàn nói: Giản căng được quân b́nh th́ tiếng đàn sẽ hay. Việc tu tập cũng như vậy. Căng thẳng th́ làm động máu huyết (bị kích thích quá đáng), lơ là th́ rơi vào hang quỉ (lu mờ). Không chậm không nhanh, khéo léo ở chỗ giữa.

 

 

(19)

 

Khi công phu đến chỗ đi không biết là đi, ngồi không biết là ngồi, khi đó bốn vạn tám ngàn thiên ma nơi sáu căn theo tâm mà sanh. Tâm nếu không khởi, nương đâu mà sanh!

 

Ma là tên loài quỉ ưa vui sinh tử. Tám vạn bốn ngàn ma quân là tám vạn bốn ngàn phiền năo của chúng sanh. Ma vốn không có loài, người tu hành đánh mất chánh niệm là nguyên do sinh ra ma. Chúng sanh nương theo cảnh nên ở trong ma cảnh. Người tu đạo không theo cảnh nên nghịch với ma. V́ vậy nói rằng: Đạo cao ma thịnh.

 

Trong  thiền định hoặc thấy người con hiếu (người đưa tang) đẵn vào đùi, hoặc thấy heo kéo mũi (1), cũng là do từ trong tâm khởi lên mà thấy cảnh ma bên ngoài. Tâm nếu không khởi th́ bao nhiêu tài nghệ của ma quân cũng trở thành như chém dao vào nước, như xua đuổi ánh sáng. Người xưa nói: “Lỗ hổng trên vách khiến có gió động, lỗ hổng trong tâm khiến ma lọt vào.” (2)

 

 

(20)

 

Khởi tâm là thiên ma, không khởi tâm là ấm ma (ngũ ấm ma), vừa khởi vừa không khởi là phiền năo ma. Trong Chánh Pháp vốn không có việc như vậy.

 

Vô tâm là Phật Đạo, phân biệt là cảnh giới ma. Do đó cảnh ma giống như chuyện chiêm bao, cần ǵ phải tốn sức luận bàn?

 

 

(21)

 

Công phu khi đă gôm thành một khối, nếu đời nầy không thấu đạt, đến lúc nhắm mắt cũng không bị ác nghiệp dẫn đi.

 

Nghiệp tức là vô minh. Thiền là Bát nhă (Trí Tuệ). Sáng và tối không cùng hiện hữu là lư tự nhiên.

 

 

(22)

 

Người tu Thiền nên luôn tự hỏi: Có biết đến bốn ân sâu dày chăng? Có biết rằng thân thể dơ dáy do bốn đại hợp thành đang suy hoại trong từng niệm niệm chăng? Có biết rằng sinh mệnh con người tùy thuộc vào hơi thở chăng? Sanh ra có được gặp Phật, Tổ chăng? Khi nghe Pháp Vô Thượng có sinh tâm khó gặp chăng? Không rời Tăng đường để giữ hạnh trong sạch chăng? Không cùng người chuyện tṛ tạp nhạp chăng? Có hay bàn chuyện thị phi chăng? Thoại đầu có được rơ ràng không lu mờ liên tục trong mọi lúc chăng? Khi nói chuyện cùng người, thoại đầu có không bị gián đoạn chăng? Khi thấy nghe nhận biết, thoại đầu có gom thành một khối chăng? Sự quán chiếu có bắt được và đánh bại Phật, Tổ chăng? Đời nầy có quyết định tiếp nối tuệ mênh của Phật chăng? Khi đứng ngồi thoải mái có nghĩ đến nỗi khổ địa ngục chăng? Có quyết định thoát khỏi luân hồi trong một báo thân nầy chăng? Đối với cảnh tám ngọn gió (1), tâm có không động chăng?

 

Đó là những điều quan trọng mà người tu Thiền phải quán sát hằng ngày. Người xưa nói:

 

Thân nầy không quyết đời nầy độ

Đợi đến đời nào độ thoát thân?

(Thử thân bất hướng kim sanh độ,

Cánh đăi hà sanh độ thử thân.)

 

Bốn ân là ân cha mẹ, ân nước nhà, ân thầy dạy và ân thí chủ. Thân tứ đại dơ nhớp: tinh cha ḥa với huyết mẹ tạo chất ướt (thủy đại); tinh cha tạo ra xương, huyết mẹ tạo ra da là chất cứng (địa đại); một khối tinh huyết không hư không hủy là hơi ấm của chất nóng (hỏa đại); lỗ mũi trước tiên được sinh ra để hơi thở ra vào thuộc sự động của gió (phong đại).

 

Ngài A Nan nói: “Khí ham muốn thô dơ hôi tanh gặp nhau sinh ra thân dơ nhớp.” (2)

 

Thân thể suy mục từng giây, thời gian trôi đi không ngừng, da mặt nhăn nheo, tóc trở nên trắng. Bây giờ không giống như xưa, về sau không giống bây giờ. Đó là thể của vô thường. Quỉ vô thường lấy sát hại làm vui. Thật là mỗi phút giây đều đáng sợ. Hơi thở ra là lửa, hơi thở vào là gió. Thân mệnh con người chỉ tùy thuộc vào hơi thở ra vào. Tám gió là các cảnh thuận, nghịch trong đời sống. Khổ địa ngục: một ngày một đêm ở địa ngục dài bằng sáu mươi kiếp ở nhân gian, nấu trong nước sôi, đốt trong ḷ lửa, thảy vào rừng kiếm, núi dao, không thể nào diễn tả hết được.

 

Thân người khó được giống như t́m kim trong biển. Cảnh đáng xót thương đó khá nên cảnh tỉnh.

 

B̀NH:

 

Những lời Pháp ở trên giống như người uống nước nóng lạnh tự biết. Dù thông minh cũng không thể chống lại nghiệp. Huệ khô (càn huệ: trí thông minh bằng khái niệm) không giúp thoát khỏi ṿng khổ đau. Quí vị nên suy xét, đừng tự nên tự măn.

 

 

(23)

 

Người học theo chữ nghĩa, khi nói th́ giống như đă giác ngộ, nhưng khi đối diện với sự việc hằng ngày th́ trở lại mê mờ. Đó là lời nói và hành động trái nhau.

 

Ở đây triển khai ư tự măn đề cập ở trên. Lời nói và hành động khác nhau, có thể phân biệt thật, giả.

 

 

(24)

 

Muốn chiến thắng sanh tử, phải từ nơi nhất niệm phá thủng để thấu suốt được sinh tử.

 

Thùng sơn bị phá vỡ phát ra tiếng. Khi phá vỡ thùng sơn th́ sanh tử mới có thể đương đầu. Nhân địa tu hành của chư Phật cũng chỉ như vậy.

 

 

 

(25)

 

Sau khi nhất niệm được phá thủng, nên cầu minh sư chứng minh chánh nhăn (cái thấy đúng).

 

Việc nầy không phải dễ. Cần phải có tâm rất khiêm tốn với cái thấy đầu tiên. Đạo giống như biển lớn, càng vào càng sâu. Cẩn thận đừng lấy chút ít cho là đủ. Sau khi ngộ nếu không t́m thầy chứng minh th́ vị ngon ngọt của đề hồ sẽ trở thành thuốc độc.

 

 

(26)

 

Người xưa nói: “Chỉ trọng cái thấy đúng, không trọng cách hành xử.”

 

Xưa Ngưỡng Sơn khi được thầy là Quy Sơn (1) hỏi, đáp: “Kinh Niết Bàn bốn mươi quyển thảy đều là ma thuyết. Đó là cái thấy chân chánh của Ngưỡng Sơn.” (2) Ngưỡng Sơn lại hỏi về sự hành xử, Quy Sơn đáp: “Chỉ trọng thấy đúng.” (3) Do đó, trước tiên phải có cái thấy đúng, sau đó mới nói đến cách hành xử. Do đó nói: “Nếu muốn tu hành, trước cần đốn ngộ.” (4)

 

 

(27)

 

Nguyện chư vị tu đạo tin sâu Tâm ḿnh, không tự hạ, không tự cao.

 

Tâm nầy b́nh đẳng, vốn không phàm,  thánh. Nhưng người có mê ngộ khác nhau nên gọi là phàm, thánh.  Nhờ Thầy chỉ dạy liền ngộ cái ngă chân thật th́ cùng với chư Phật không khác gọi là đốn (ngộ tức th́.) Do đó không tự hạ. Như nói: “Xưa nay không một vật.”

 

Do ngộ mà dứt trừ các thói quen xấu, chuyển từ phàm sang thánh, đó là tiệm tu (tu từ từ). Do đó không tự cao. Như nói: “Giờ giờ thường lau chùi.”

 

Tự hạ là bịnh của người học theo Giáo, tự cao là bịnh của người tu Thiền.

 

Người tu theo Giáo không tin bí quyết ngộ nhập của nhà Thiền, ch́m sâu trong giáo pháp phương tiện, chấp có thật giả, không tu thiền quán để khám phá ra châu báu nơi chính ḿnh. Do đó sanh tâm yếu kém.

 

Người học Thiền th́ không tin vào Kinh giáo, do đó không tin kinh điển dạy về sự tiệm tu và giảm trừ tập khí, nhiễm tập khởi lên mà không hổ thẹn, quả mới ở bước đầu mà đă sinh nhiều kiêu mạn, lời nói ngạo nghễ.

 

V́ vậy, người tu hành đúng đắn không tự hạ, không tự cao.

 

B̀NH:

 

Nơi sơ tâm, nhân gồm đủ trong quả, chỉ tin vào một vị (tự tánh), không tự hạ không tự cao.  Các vị Bồ tát đạt được quả bằng sự tu tập trải qua năm mươi lăm từng bậc. 

 

 

(28)

 

Dùng tâm mê tu chỉ giúp cho vô minh.

 

Chưa tỏ ngộ làm sao nói được là tu hành chân thật! Giác ngô và tiệm tu như dầu và ánh sáng (lửa) tương quan nhau, mắt và chân nương tựa nhau.

 

 

(29)

 

Nền tảng của sự tu hành chỉ là chấm dứt ư niệm phàm t́nh, không phải đi t́m sự hiểu biết của bậc thánh.

 

Bịnh hết th́ không c̣n cần thuốc. Chỉ cần trở lại con người xưa kia.

 

 

(30)

 

Không từ bỏ tâm chúng sanh, chỉ đừng làm nhiễm ô tự tánh. Cầu Chánh pháp là tà.

 

Từ bỏ hay t́m cầu đều là nhiễm ô.

 

 

(31)

 

Dứt trừ phiền năo là Nhị Thừa. Phiền năo không sanh là Đại Niết bàn.

 

Dứt trừ th́ có chủ (năng) có khách (sở).  Không sanh th́ không chủ không khách.

 


(32)

 

Tỏ rơ sự tự chiếu trống không của tâm, tin rằng một niệm khởi lên là do duyên khởi, vốn không có sanh.

 

Đây là nói làm sao thấy rơ tự tánh.

 

 

(33)

 

Quán sát rơ trộm cắp, tà dâm, nói dối đều từ tâm mà ra. Tâm vốn tịch lặng có ǵ phải dứt trừ!

 

Nói rơ sự tương quan giữa tánh và tướng.

 

B̀NH:

 

Kinh nói: “Một niệm không khởi gọi là đoạn trừ vô minh.” (1) Lại nói: “Niệm khởi liền biết.” (2)

 

 

(34)

 

Biết huyễn tức ĺa, không cần phương tiện. Ĺa huyễn tức giác, không có trước sau.

 

Tâm là thầy huyễn, thân là thành huyễn, ngoại cảnh là áo huyễn, danh tướng là thức ăn huyễn. Cho đến tâm khởi lên một ư niệm, nói chân nói vọng, đều không ra ngoài huyễn.

 

Những cái huyễn vô minh vô thủy nầy đều sanh ra từ tâm giác ngộ, giống như hoa đốm sinh ra trong hư không. Khi huyễn không c̣n th́ gọi là bất động. Trong mơ thấy có nhọt th́ cầu thuốc, thức ra th́ không c̣n bịnh. Biết huyễn cũng giống như vậy.

 

 

(35)

 

Chúng sanh ở trong chỗ không sanh lầm thấy có sinh tử và niết bàn, giống như thấy hoa đốm sinh ra và biến mất trong hư không.

 

Tánh vốn không sanh nên không có sanh, diệt. Không trung vốn không có hoa nên không có sinh ra, biến mất. Khởi vốn thật không khởi, diệt vốn thật không diệt. Hai cái thấy nầy không cần phải luận bàn. Kinh Tư Ích nói: “Chư Phật ra đời không phải để độ chúng sanh, chỉ muốn độ hai cái thấy sinh tử và niết bàn.” (1)

 

 

(36)

 

Bồ Tát độ chúng sanh vào cảnh giới tịch diệt (niết bàn), nhưng thật không có chúng sanh nào được diệt độ.

 

Bồ Tát luôn luôn v́ chúng sanh. Biết thể của niệm là không mà độ chúng sanh. Niệm vốn rỗng lặng, thật không có chúng sanh nào được diệt độ. Đây là nói về tin và hiểu (tín giải).

 

 

(37)

 

Lư tuy đốn ngộ (ngộ ngay), sự không thể đốn trừ (trừ ngay).

 

Văn Thù thấu pháp tánh, Phổ Hiển rơ duyên khởi. Thấu hiểu nhanh như điện chớp, tu như kẻ cùng tử (người nghèo khó). Ở đây luận về tu và chứng.

 


(38)

 

Tu Thiền mà c̣n tà dâm như nấu cát để được cơm, tu Thiền mà c̣n giết hại như bịt tai mà cầu tiếng, tu Thiền mà c̣n trộm cắp như ṛ chảy mà cầu đầy, tu Thiền mà c̣n nói dối như lấy phẩn làm chất thơm. Dù có nhiều trí đều thành ma đạo.

 

Đây là nói rơ về khưôn phép tu hành Tam Vô Lậu Học.  Tiểu Thừa lấy pháp (h́nh tướng bên ngoài) làm giới, chữa thô nơi ngọn. Đại Thừa lấy nhiếp tâm làm giới, khéo trừ tận gốc.

 

Lấy pháp làm giới th́ không phạm nơi thân, nhiếp tâm làm giới th́ không phạm trong ư. Tà dâm th́ dứt sự thanh tịnh, giết hại th́ dứt tâm từ bi, trộm cắp th́ dứt phước đức, nói dối th́ dứt chân thật. Dù có đạt được trí tuệ, chứng được sáu thần thông, nếu không dứt trừ gíết hại, trộm cắp, tà dâm, nói dối th́ cũng sẽ rơi vào đường ma, vĩnh viễn mất con đường Bồ đề chân chính.

 

Bốn giới nầy là căn bản của trăm giới, nói rơ ở đây để không nghĩ và phạm. Không nhớ gọi là Giới, không nghĩ gọi là Định, không lầm lẫn gọi là Tuệ. 

 

Giới để bắt giặc, Định để trói giặc, Huệ để giết giặc. Giới giữ vững, Định lắng trong th́ mặt trăng Trí Tuệ xuất hiện.

 

Ba cửa học nầy là gốc của vạn pháp. Do đó nói rơ để tránh bị rỉ chảy. Hội Linh Sơn lại có Phật khinh suất lời dạy của ḿnh, núi Thiếu lâm lại có Tổ vọng ngữ sao?

 

 

(39)

 

Người không đức không theo giới luật của Phật, không giữ ǵn ba nghiệp, buông lung lười biếng, coi thường người khác, coi nhẹ phải trái.

 

Một khi phá giới dù phá ở trong tâm th́ trăm lỗi lầm liền sanh.

 

B̀NH:

 

Thời mạt pháp các thứ ma thịnh hành làm loạn Chánh Pháp.

 

 

(40)

 

Người học nên rơ: nếu không giữ giới, tái sanh làm thân dă can ghẻ c̣n khó thay huống là chứng quả Bồ đề thanh tịnh!

 

Trọng giới giống như trọng Phật th́ Phật thường hiện tiền. Nên bắt chước vị tăng bị trói vào cỏ (1) và vị tăng thấy ngỗng nuốt châu (2).

 

 

(41)

 

Muốn thoát sinh tử trước phải dứt trừ tham muốn và khát ái.

 

Ái là gốc của luân hồi, tham muốn là duyên của thọ sanh. Phật dạy: “Tâm dâm không trừ th́ không thể ra khỏi thế gian.” (1) Lại dạy: “Sự trói buộc vào ân ái đưa con người vào cửa tội lỗi.” (2) Sự ham muốn t́nh ái rất gắn bó với con người.

 

 

(42)

 

Trí tuệ thanh tịnh không ngăn ngại đều từ thiền định ma ra.

 

Vượt phàm vào thánh, giải thoát trong khi ngồi, chết trong lúc đứng đều do sức của thiền định. Cho nên nói: “Muốn cầu Thánh Đạo, không đi con đường nầy th́ không c̣n đường nào khác.” (1)

 

 

(43)

Tâm định th́ biết được các tướng sinh diệt của thế gian.

 

Ánh sáng qua lỗ hổng, bụi nhỏ lăng tăng

Đáy nước dưới ao trong, ảnh chiếu rơ ràng.

(虛隙日光纖埃擾擾。

清潭水底影像昭昭。

Hư khích nhật quang tiêm ai nhiễu nhiễu.

Thanh đàm thủy để ảnh tượng chiêu chiêu.)

 

 

(44)

 

Thấy cảnh tâm không khởi gọi là không sanh. Không sanh là vô niệm. Vô niệm là giải thoát.

 

Giới Định Tuệ nếu được một liền đủ cả ba, không phải riêng lẻ.

 

 

(45)

 

Tu đạo mà có chỗ chứng (diệt) th́ không phải là chân thật. Tâm và pháp vốn rỗng lặng là tịch diệt chân thật. Do đó nói rằng các pháp xưa nay vốn tướng tịch diệt.

 

Mắt không thể tự thấy, thấy mắt tức là dối. Do đó Văn Thù suy lường, Tịnh Danh không nói.

 

 

(46)

Sau đây nói về tế hạnh:

Người nghèo đến xin tùy thuận ban cho. Tâm đại bi thấy ḿnh và người là một là sự ban cho chân thật.

 

Thấy ḿnh và người là một gọi là đồng thể. Đến tay không và ra đi tay không, đó là sự thật về cuộc đời của chúng ta.

 

 

(47)

 

Có người đến hại, giữ tâm không nóng giận. Một niệm nóng giận nổi lên th́ vô số cửa chướng ngại mở ra.

 

Phiền năo tuy nhiều vô số, nóng giận là nặng nhất. Kinh Niết Bàn dạy: “Được thoa hương hay bị tùng xẻo đều không động tâm.” (1) Ḷng giận giống như lửa sét đánh trong mây lạnh.

 

 

(48)

 

Nếu không có hạnh nhẫn nhục, các hạnh khác đều không thành tựu.

 

Các hạnh tuy vô số, từ và nhẫn là nguồn cội. Tâm nhẫn giống như huyễn mộng th́ cảnh nhục cũng giống như lông rùa.

 

 

(49)

 

Giữ ǵn chân tâm là tinh tấn bậc nhất.

 

Nếu khởi tâm tinh tấn th́ đó là dối không phải thật tinh tấn. Nên nói: “Đừng tưởng lầm đừng tưởng lầm.” (1)

 

Người giải đăi thường ngóng về tương lai, đó là người tự bỏ rơi ḿnh.

 

 

(50)

 

Nói về tŕ chú, nghiệp tạo trong đời nầy dễ chế ngự nên có thể cố gắng để tự trừ, nghiệp tạo từ đời trước khó trừ nên phải nhờ thần lực.

 

Ma Đăng Già đắc quả là chuyện có thật. Do đó không tŕ thần chú mà xa rời được việc ma là chuyện khó có.

 

 

(51)

 

Ư nghĩa của lễ bái là cung kính và khuất phục: cung kính chân tính, khuất phục vô minh.

 

Thân miệng ư thanh tịnh th́ Phật hiện ra trong thế gian.

 

 

(52)

 

Nói về niệm Phật. Ở miệng là tụng, ở tâm là niệm. Tụng mà không niệm th́ vô ích.

 

Pháp môn niệm sáu chữ A Di Đà Phật là con đường tắt ra khỏi luân hồi. Tâm nương vào cảnh giới Phật nhớ giữ không quên, miệng xưng danh hiệu rơ ràng không loạn, tâm và miệng tương ưng gọi là niệm Phật.

 

B̀NH:

 

Ngũ Tổ nói: “Giữ chân tâm hơn niệm chư Phật mười phuơng.” (1) Lục Tổ nói: “Thường niệm Phật bên ngoài không khỏi được sanh tử, giữ bổn tâm th́ đến bờ bên kia.” (2) Lại nói: “Phật từ trong Tánh, không nên huớng ra ngoài mà cầu.” (3) Lại nói: “Người mê niệm Phật cầu văng sanh, người giác ngộ th́ chỉ thanh tịnh tâm ḿnh.” (4) Lại nói: “Chúng sanh ngộ được tâm th́ cứu được ḿnh, Phật không cứu chúng sanh” (5) vân vân. Các bậc nói trên chỉ thẳng vào Tâm, không nương vào phương tiện. Lư thật là như vậy.

 

Tuy nhiên với Tích môn th́ thật có Cực Lạc Thế Giới, Phật A Di Đà có bốn mươi tám nguyện lớn, niệm được mười tiếng nương vào nguyên lực đó được văng sanh vào hoa sen, thoát khỏi luân hồi, chư Phật ba đời khác miệng cùng lời, các Bồ tát trong mười phương đều nguyện văng sanh, huống chi chuyện ghi chép về những người được văng sanh từ xưa đến nay thật rơ ràng. Xin các vị tu hành nên thận trọng đừng lầm lẫn.

 

Trong Phạn ngữ, A Di Đà có nghĩa là thọ mạng không cùng, cũng có nghĩa là ánh sáng không cùng, danh hiệu Phật cao quí bậc nhất trong mười phương ba đời. Nguyên do tỳ kheo Pháp Tạng, ở trước đức Phật Thế Tự Tại Vương phát bốn mươi tám nguyện rằng: Khi tôi thành Phật, các loài trời người cho đến các loài bọ trên không côn trùng dưới nước, nếu niệm tên tôi mười niệm th́ được sanh vào nước của tôi. Nếu không thành tựu nguyện nầy, tôi sẽ không thành Phật....

 

Chư Thánh ngày xưa nói: “Xướng danh hiệu Phật một tiếng, thiên ma vỡ mật, tên được xóa trong quỷ bộ, hoa sen mọc trong ao vàng (văng sanh).” (6) Sám Pháp cũng nói: “Tự lực và tha lực, một chậm một mau. Muốn vượt qua biển, trồng cây để làm thuyền th́ chậm, đó là tự lực, mượn thuyền vượt biển th́ nhanh, đó là Phật lực.” (7)

 

Lại nói: “Trẻ con ở thế gian khi bị lửa nước bức bách cất tiếng kêu gào, cha mẹ nghe tiếng chạy nhanh đến cứu. Người đến giờ lâm chung cao tiếng niệm Phật th́ Phật có đủ thần thông nhất định đến đón. Ḷng từ bi của đức Đại Thánh hơn cả cha mẹ, sự khổ sanh tử của chúng sanh nặng nề hơn nạn nước lửa.”

 

Có người nói: “Tự tâm là Tịnh độ, Tịnh độ không thể sanh. Tự Tánh là Di Đà, Di Đà không thể thấy.” Lời nói cũng có phần có lư, nhưng cũng không phải hoàn toàn đúng. Đức Phật (A Di Đà) th́ không tham không sân, c̣n chúng ta có được không tham không sân chưa? Đức Phật biến địa ngục thành hoa sen dễ như trở bàn tay, c̣n chúng ta do nghiệp lực thường lo sợ đọa vào địa ngục, huống là biến thành hoa sen! Đức Phật nh́n thấy thế giới mười phương như ở trước mắt c̣n chúng ta th́ việc bên kia vách cũng không biết, huống là nh́n thấy thế giới trong mười phương như ở trước mắt!

 

Do đó, mặc dù Tánh của mọi người đều là Phật, hành động của chúng ta là hành động chúng sanh. Nói về tướng và dụng th́ xa nhau như trời với đất. Ngài Khuê Phong (8) nói: “Đốn ngộ xong rồi th́ tu theo tiệm hạnh.” (9) Lời nầy chân thật làm sao!

 

Giờ xin hỏi người nói rằng Tự Tánh là Di Đà: Đức Thích Ca sanh ra tự nhiên là A Di Đà chăng? Xin hăy suy nghĩ.

 

Há không tự biết rằng, khi giờ lâm chung đến, nơi biên giới đau khổ giữa sống và chết, có thể tự tại quyết định hay không? Nếu không được như vậy, đừng cống cao nhất thời, không suy nghĩ chín chắn, để bị đắm ch́m nhiều kiếp.

 

Các ngài Mă Minh (10), Long Thọ (11) đều là Tổ Sư, cũng dạy rơ khuyên tu văng sanh. Chúng ta v́ sao lại không muốn văng sanh? Đức Phật cũng lại nói: “Tây Phương cách đây mười vạn thế giới và tám ngàn xứ sở.” Đó là đối với người căn chậm mà nói về tướng. Lại nói: “Tây Phương cách đây không xa, tức Tâm là Phật.” Đó là đối với người căn tánh lanh lẹ mà nói về Tánh.

 

Giáo lư có quyền (phương tiện) và thật. Lời có hiển và mật. Nếu hiểu và hành tương ưng, xa gần đều thông. Do đó các bậc trong Thiền tông, hoặc khuyên niệm A Di Đà (như ngài Huệ Viễn (12)) hoặc dạy t́m Chủ Nhân Ông (như ngài Thụy Nham (13).)

 

 

(53)

 

Nghe Kinh tạo mối liên hệ giữa Kinh và tai (nhĩ căn), được hưởng phước vui. Thân huyễn có ngày mất, thực hành theo sự chân thật th́ không mất.

 

Ở đây nói rơ sự học sáng suốt (trí học) giống như nuốt kim cương (1), hơn hẳn việc bố thí bảy món trân quí. Thọ Sư (2) nói: “Nghe mà không tin vẫn tạo được hạt giống Phật. Học mà không thành vẫn có ích được phước cơi trời, cơi người.” (3)

 


(54)

 

Xem Kinh nếu không hướng vào bên trong mà thực hành, dù xem hết vạn tạng cũng không ích ǵ.

 

Ở đây nói rơ sự học ngu muội (ngu học) giống như chim kêu trong ngày Xuân, côn trùng kêu trong đêm Thu (không có ư hướng). Mật Sư (1) nói: “Theo chữ nghĩa mà xem Kinh th́ không chứng ngộ được. Nghiền ngẫm câu văn, t́m ṭi ư nghĩa chỉ làm tăng thêm tham, sân và tà kiến.” (2)

 

 

(55)

 

Học chưa đến nơi, dùng lời hùng biện miệng lưỡi để khoe sự hiểu biết của ḿnh giống như sơn vẽ nhà xí làm cho giống ngôi chùa.

 

Nói về sự học ngu si của thời mạt pháp. Học vốn để thấy Tánh, nhưng lại toàn lấy của người khác làm của ḿnh.

 

 

(56)

 

Người xuất gia mà học ngoại điển giống như dùng dao chém bùn. Bùn không dùng được vào việc ǵ mà dao bị tổn hại.

 

Ngoài cửa con trưởng giả

Lại trở vào nhà lửa.

(門外長者子。

還入火宅中。

Môn ngoại trưởng giả tử,

Hoàn nhập hỏa trạch trung)

 

 

(57)

 

Xuất gia làm Tăng lại là việc nhỏ sao? Không phải để cầu sự ẩn dật an nhàn, không phải để cầu lợi danh, nhưng là v́ chuyện sinh tử, v́ muốn cắt dứt phiền năo, v́ muốn tiếp nối tuệ mệnh của Phật, v́ muốn ra khỏi ba cơi để độ chúng sanh.

 

Có thể nói là bậc đại trượng phu có chí khí ngất trời.

 

 

(58)

 

Phật dạy: “Lửa vô thường thiêu đốt thế gian.” Lại dạy: “Lửa khổ của chúng sanh bốn phương thiêu đốt.” Lại dạy: “Các giặc phiền năo thường t́m dịp để hại người. Người tu đạo nên tự biết mà pḥng ngừa, như cứu lửa cháy trên đầu.”

 

Thân có sanh già bịnh chết. Thế giới có thành trụ hoại không. Tâm th́ có sanh trụ dị (biến đổi) diệt. Lửa khổ vô thường đó thiêu đốt bốn bề. Xin người tham cứu lẽ huyền đừng hao phí thời gian, tham danh rỗng của thế gian chỉ uổng công nhọc xác.

 

 

(59)


Mưu cầu thế lợi như chất thêm củi vào ngọn lửa nghiệp.

 

Về việc ham tiếng tăm hư ảo của thế gian, có thơ rằng:

 

Chim hồng bay lưu dấu chân trên cát

Người chết rồi để tiếng tại nhà.

(鴻飛天末跡留沙。

人去黃泉名在家。

Hồng phi thiên mạt tích lưu sa

Nhân khứ hoàng tuyền danh tại gia.)

 

Về việc mưu cầu lợi lộc thế gian, có thơ rằng:

 

Sau khi lấy mật trăm hoa

Ai người nếm ngọt chẳng hay nhọc nhằn?

(采得百花成蜜後。

不知辛苦為誰甜。

Thải đắc bách hoa thành mật hậu

Bất tri tân khổ vi thùy điềm?)

 

Tốn công mệt xác, giống như sự khéo léo chạm trổ trên băng, chẳng có ích lợi ǵ. Thêm củi vào lửa nghiệp: Sắc hương thô lậu giống như dụng cụ chứa lửa.

 

 

(60)

 

Người mặc áo nhà tu mà mưu cầu danh lợi chẳng bằng người quê mùa áo vải.

 

Bỏ ngai vàng t́m vào núi tuyết, đó là phép tắc của các đức Thế Tôn. Trong đời mạt pháp, những người thực chất là dê mà đội lốt cọp không biết xấu hổ, đón gió theo thời, ch́u nịnh để giữ được ân huệ. Ôi hạng người như vậy làm sao răn bảo!

 

Người có tâm nhiễm lợi lộc thế gian, dua nịnh theo người có quyền, chạy theo cát bụi ở đời, cả người thế tục cũng cho là đáng cười. Việc làm của người mặc áo nhà tu nầy cho thấy thực chất của họ.

 

 

(61)

 

Phật dạy: “Kẻ giặc trộm mặc y phục của ta, buôn bán Như Lai, tạo các thứ nghiệp.”

 

Thời mạt pháp, có nhiều danh từ để gọi các tỳ kheo (phạm lỗi): hoặc là con dơi, hoặc dê câm, hoặc cư sĩ ngốc, hoặc đồ nhơ nhớp trong địa ngục, hoặc giặc mặc cà sa. Đó là buôn bán Như Lai vậy.

 

B̀NH:

 

Bài bát nhơn quả, không tin tội phúc, thân và miệng sục sôi, không ngừng khởi tâm thương ghét, thật là đáng thương.

 

Không ra tăng không ra tục cho nên gọi là con dơi, lưỡi không thuyết Pháp gọi là dê câm, bề ngoài là tăng mà tâm thế gian nên gọi là cư sĩ ngốc, tội nặng không đổi nên gọi là đồ dơ trong địa nguc, buôn Phật để mưu sống nên gọi là giặc mặc cà sa. Nói chung là giặc mặc cà sa.

 

 

(62)

 

Người đệ tử Phật mặc một bộ y, ăn ngày một bữa, không coi thường máu huyết của nhà nông, sự khổ cực của người thợ dệt, nếu đạo nhăn chưa tỏ làm sao tiêu được.

 

Truyền Đăng (1): “Một đạo nhân đạo nhăn chưa tỏ, thân sinh làm nấm để trả lại cho tín thí.” (2)

 

 

(63)

 

Nên nói: “Muốn biết v́ sao sinh làm loài mang lông đội sừng, đó là do ngày nay nhận không không từ tín thí.” Có người không đói mà ăn, không lạnh mà mặc, không biết họ nghĩ thế nào? Không biết rằng cái vui trước mắt sẽ là nỗi khổ về sau.

 

Trí Luận viết: “Một vị đạo sĩ v́ phí phạm chỉ năm hạt gạo mà phải đầu thai làm thân trâu, sống th́ đền bù bằng xương gân, chết th́ trả bẳng da thịt.” Nhận không không từ tín thí, báo ứng nhanh như tiếng vang.

 


(64)

 

Thà dùng sắt nóng che thân, không nhận áo của người tín tâm. Thà rót đồng vào miệng, không nhận thức ăn của người tín tâm. Thà vào ḷ nấu sắt, không nhận chỗ ở của người tín tâm.

 

Kinh Phạm Vơng nói: “Không dùng thân phá giới mà nhận các vật cúng dường và bố thí của người tín tâm. Bồ Tát nếu không phát nguyện nầy tức bị tội khinh cấu.” (1)

 

 

(65)

 

V́ vậy nói rằng: “Người tu đạo nhận thực phẩm như nhận thuốc độc, nhận của ban cho như bị tên bắn. Xử tốt, lời ngọt là điều sợ hăi của người tu đạo.”

 

“Nhận thức ăn như nhận thuốc độc” là sợ mất đạo nhăn. “Nhận thí nhự bị tên bắn” là sợ mất đạo quả.

 

 

(66)

 

Cho nên nói rằng: “Người tu đạo giống như tảng đá mài dao. Trương Tam đến mài, Lư Tứ đến mài. Mài tới mài lui, dao của người th́ trở nên bén, nhưng đá nhà dần ṃn. Thế nhưng có người lại sợ không ai đến mài dao trên đá của ḿnh, thật là đáng thương!

 

Người tu đạo như vậy suốt đời chỉ nhắm đến sự ấm thân no bụng.

 

 

(67)

 

Do đó người xưa có câu: “Nỗi khổ trong ba đường chưa đáng gọi là khổ. Người mặc áo cà sa khi mất thân người mới thật là khổ.”

 

Người xưa nói: “Đời nầy không được minh tâm, một giọt nước cũng khó tiêu.” (1) Đó là lư do người mặc áo cà sa bị mất thân người (sau khi chết.) Người Phật tử nên đem ḷng phấn khích.

 

 

(68)

 

Thật đáng kinh sợ cho cái thân nầy. Chín lỗ thường chảy ra (những chất dơ), trăm ngàn loại ung nhọt mọc ra trên làn da mỏng. Lại nói: Túi da chứa đầy phẩn và máu mủ, dơ bẩn đáng gớm, không đáng yêu thích, huống lại trăm năm nuôi nấng, trong một hơi thở liền bỏ đi.

 

Các nghiệp đề cập từ trước đến đây đều do có thân nầy. Nh́n kỹ vào thân sẽ sợ hăi kêu lên tiếng lớn, làm cho chúng ta cảnh tỉnh. Cội rễ của thân nầy là ḷng yêu thích. Biết rơ sự hư dối th́ ḷng yêu thích sẽ được tiêu trừ. Nếu cứ mê giữ sẽ sinh ra vô số lỗi lầm ân hận. V́ vậy tỏ rơ điều nầy để mở con mắt đạo.

 

B̀NH:

 

Bốn đại không sanh (sự kết hợp của đất nước gió lửa không có thật) nên gọi là bốn kẻ oán. Bốn đại không biết nhớ ơn nên gọi là bốn con rắn. Chúng ta v́ không biết thân nầy là hư vọng nên nổi ḷng sân si cao ngạo với người khác. Người khác cũng không biết thân nầy là hư vọng nên cũng sanh sân si ngạo mạn với ta. Việc đó cũng giống như hai con quỷ tranh giành xác chết. Thây chết là thân thể của chúng ta, tựa như bọt nước, như chiêm bao, đau khổ và dơ nhớp, dễ bị hư hoại lại rất xấu xa. Trên th́ bảy lỗ thường chảy nước mắt nước mũi, dưới th́ hai lỗ thường ra phẩn tiểu. Ngày đêm thường lo giữ thân sạch sẽ để tiếp xúc với người. Cơ thể không sạch th́ thiện thần cũng tránh xa.

 

Kinh Nhân Quả nói: “Dùng tay không sạch mà cầm kinh điển, khạt nhổ trước tượng Phật sẽ chịu quả báo sinh làm loài trùng trong cầu tiêu.” (1) Kinh Văn Thù nói: “Khi đại tiểu tiện th́ giữ thân tâm như cây như đá, không nói năng, không gây tiếng động, không vẽ viết trên tường, không khạt nhổ đàm trong nhà cầu. Đi cầu mà không rửa ráy sạch sẽ th́ không được ngồi vào nệm thiền, không được vào điện thờ.” (2) Luật nói: “Khi vào nhà xí, trước tiên phài búng móng tay ba lần để làm cho loài quỷ sống trong chổ dơ nhớp biết, rồi niệm thầm các thần chú mỗi câu bảy lần…” (3)

 

 

(69)

 

Có tội th́ sám hối, có lỗi th́ hổ thẹn, đó là khí tượng của người trượng phu. Sửa đổi lỗi lầm tự làm mới ḿnh, tội theo tâm mà tiêu diệt.

 

Sám hối tức ăn năn lỗi trước, nguyện chừa những sai lầm về sau. Tàm quư tức bên trong tự trách, bên ngoài hổ thẹn. Tâm vốn rỗng lặng, tội nghiệp không có chỗ nương.

 


(70)

 

Người tu đạo nên giữ tâm đoan chánh, lấy đơn giản và ngay thắng làm nền tảng. Một bầu một áo, không bị trói buộc vào nơi trọ nghỉ.

 

Phật dạy: “Tâm như dây đàn thẳng.” (1) Lại dạy: “Tâm ngay là đạo tràng.” (2) Nếu không dính bám vào sự vui về thân th́ không bị trói buộc vào nơi trọ nghỉ.

 

 

(71)

 

Người phàm theo cảnh, người tu theo tâm. Tâm cảnh đều quên là pháp chân thật.

 

Người theo cảnh giống như con nai chay theo hoa đốm trong hư không. Người theo tâm giống như con khỉ t́m bắt mặt trăng dưới nước. Cảnh và tâm tuy khác nhưng đều là bịnh như nhau. Đây nói về phàm phu và Nhị thừa.

 

Cả trời đất không mặt trời mặt trăng nước Tần

Khắp núi sông không thấy vua tôi nhà Hán.

(天地尚空秦日月。

山河不見漢君臣。

Thiên địa thượng không Tần nhật nguyệt,

Sơn hà bất kiến Hán quân thần.)

 

 

(72)

 

Thanh văn ngồi yên trong núi ma vương t́m được. Bồ tát dạo chơi trong thế gian ngoại ma không nh́n thấy.

 

Thanh văn lấy tĩnh làm hạnh nên tâm động, tâm động th́ quỷ thấy được. Bồ tát tánh vốn rỗng lặng nên không dấu vết, không dấu vết th́ ngoại ma không thấy. Ở đây luận về Nhị thừa và Bồ tát.

 

Tháng ba ngại đi đường hoa rụng

Một nhà buồn đóng cửa trong mưa.

(三月懶遊花下路。

一家愁閉雨中門。

Tam nguyệt lăn du hoa hạ lộ,

Nhất gia sầu bế vũ trung môn.)

 

 

(73)

 

Người phàm khi đến lúc sắp ĺa đời chỉ quán năm ấm là không, bốn đại  không có tự tánh, Tâm chân thật không có h́nh tướng, không đi không đến, khi sanh Tánh cũng không sanh, khi chết Tánh cũng không mất, tỏ im tṛn lặng, tâm và cảnh cùng một thể.

 

Chỉ cần ngay lập tức thông sụốt được như vậy, không bị ba đời ràng buộc (ràng buộc vào nhân quả), liền là người tự do ở ngoài thế gian. Khi đó, thấy chư Phật không khởi tâm theo nương, thấy địa ngục không khởi tâm sợ hăi. Chỉ tự vô tâm th́ cùng với pháp giới (không khác). Đó là điều quan trọng. Sinh hoạt trong đời sống hằng ngày là nhân, khi chết là quả. Người tu đạo nên đem mắt quán sát.

 

Đến tuổi già sợ chết th́ thân cận đức Thích Ca.

 

Lúc nầy nên hướng soi tự kỷ

Trăm năm bóng sáng lướt qua đầu.

(如向此時明自己。

百年光影轉頭非。

Như hướng thử thời minh tự kỉ,

Bách niên quang ảnh chuyển đầu phi)

 

 

(74)

 

Người phàm đến giờ lâm chung, nếu có một mảy may phân biệt phàm thánh, nghĩ ngợi không dứt, sẽ bị kéo vào thai lừa, bụng ngựa, bị nấu trong chảo nước sôi, cho đến sinh làm con kiến con muỗi.

 

Ngài Bạch Vân (1) nói: “Giả như một mảy ư niệm phàm thánh cũng không c̣n, cũng không khỏi nhập vào thai lừa bụng ngựa.” (2) C̣n một tâm niệm chia hai th́ c̣n có thể bị lôi kéo tái sinh vào đường xấu.

 

Lửa lớn mênh mông

Gươm báu ngăn che.

(烈火茫茫

寶劍當門。

Liệt hỏa mang mang

Bảo kiếm đương môn.)

 

B̀NH:

 

Hai tiết nầy đặc biệt mở bày cửa vô tâm hợp đạo của Thiền, phương tiện ngăn chận pháp môn niệm Phật cầu văng sanh trong Giáo môn.

 

Tuy nhiên căn khí không giống nhau, chí nguyện cũng khác. Hai pháp môn nẩy không ngăn ngại nhau.

 

Xin các người học đạo thường ngày tùy theo phận sự mà cố gắng, để đến phút cuối không sinh nghi ngờ.

 

 

(75)

 

Người học Thiền nếu chưa thấu rơ được bổn tâm rỗng sáng th́ làm sao thấu được cái cửa chót vót huyền diệu? Người ta thường lấy cái ‘không’ đoạn diệt cho là Thiền, cái ‘không’ vô kư cho là Đạo, ‘hết thảy đều không’ cho là cao kiến.

 

Cái ngoan không u tối đó là một chứng bịnh sâu xa. Những người gọi là tu Thiền ngày nay mấy ai không bị chứng bịnh đó!?

 

Con đường đi lên không có chỗ để đặt chân. Vân Môn (1) nói: “Về việc ánh sáng không thấu thoát có hai thứ bệnh. Về việc thâm nhập pháp thân cũng có hai thứ bịnh.” (2) Do đó lúc nào cũng ở trong tự tánh (thủy đắc).

 

Không đi đường cỏ thơm

Khó đến thôn hoa rơi.

(不行芳草路。

難至落花村。

Bất hành phương thảo lộ,

Nan chí lạc hoa thôn.)

 

 

(76)

 

Các bậc thầy cũng có nhiều bịnh. Bịnh tại tai mắt như dương mày nhướng mắt nghiêng tai gật đầu cho là Thiền. Bịnh tại miệng lưỡi như miệng nói lời đảo điên vô nghĩa, hô hoán lung tung cho là Thiền. Bệnh tại tay chân như đi tới đi lui, chỉ vẽ lung tung cho là Thiền. Bệnh trong tâm như nghĩ t́m điều huyền diệu, cho ḿnh ở trên phàm t́nh, xa rời sự thấy biết cho là Thiền.

 

Giết cha mẹ th́ có thể sám hối Phật, chê Bát nhă th́ không có cách ǵ sám hối.

 

Bắt bóng không trung không tài khéo

Bên ngoài t́m dấu há người tài?

(空中撮影非為玅。

物外追蹤豈俊機。

Không trung toát ảnh phi vi diệu

Vật ngoại truy tung khởi tuấn ki.)

 

 

(77)

 

Việc của các bậc Thầy giác ngộ chỉ là bày tỏ câu nầy. Như người gỗ gơ nhịp, ḷ hồng điểm tuyết. Lại như ánh sáng lửa đá. Người học thật khó thể suy lường. Do vậy người xưa nhớ ơn Thầy mà nói rằng: “Không trọng đạo đức của Thầy, chỉ trọng Thầy dạy dỗ không vị ngă.” (1)

 

Đừng nói! Đừng nói.

Viết ra gây hoang mang.

(不道不道。

恐上紙墨

Bất đạo bất đạo

Khủng thượng chỉ mặc.)

 

Tên xuyên qua bóng trăng dưới sông

Hẳn đến từ người bắn chim điêu.

(箭穿江月影。

須是射鵰人。

Tiễn xuyên giang nguyệt ảnh,

Tu thị xạ điêu nhân.)

 


(78)

 

Người học trước tiên nên hiểu rơ về đường lối của Tông môn. Xưa Mă Tổ (1) hét một tiếng, tai của Bách Trượng điếc, lưỡi của Hoàng Bá rụng. Một tiếng hét đó là tiêu tức đưa hoa, cũng là khuôn mặt của Đạt Ma lúc mới qua. Đó là đầu mối của tông Lâm Tế.

 

Người biết pháp th́ la, mở miệng th́ đánh.

 

Gậy gỗ một cây không đốt mắt

Ân cần giao phó kẻ đi đêm.

(杖子一枝無節目。

慇懃分付夜行人。

Trượng tử nhất chi vô tiết mục,

Ân cần phân phó dạ hành nhân.)

 

Xưa Mă Tổ hét một tiếng làm cho Bách Trượng (2) được đại cơ, Hoàng Bá (3) được đại dụng. Đại cơ là hoàn toàn ứng hợp, đại dụng là cắt đứt không vướn ngại. Những câu chuyện trên là từ sách Truyền Đăng Lục.

 

 

(79)

 

Tổng quát, Thiền có năm phái là Lâm Tế, Tào Động, Vân Môn, Quy Ngưỡng, Pháp Nhăn.

 

LÂM TẾ TÔNG:

 

Từ đức Bổn Sư Thích Ca cho đến đời thứ ba mươi ba Lục Tổ Huệ Năng trực tiếp truyền thọ gồm các Thiền Sư: Nam Nhạc Hoài Nhượng, Mă Tổ Đạo Nhất, Bách Trượng Hoài Hải, Hoàng Bá Hy Vận, Lâm Tế Nghĩa Huyền, Hưng Hóa Tồn Tưởng, Nam Viện Thủ Ngung, Phong Huyệt Diên Chiểu, Thủ Sơn Tỉnh Niệm, Phần Dương Thiện Chiêu, Từ Minh Sở Viên, Dương Ḱ Phương Hội, Bạch Vân Thủ Đoan, Ngũ Tổ Pháp Diễn, (Viên Ngộ Khác Cần, Kính Sơn Tông Cảo).

 

Lâm Tế gia phong, tay không đơn đao giết Phật giết Tổ, xét huyền nhiệm của xưa nay, nghiệm chủ khách nơi sâu kín. Cầm thanh gươm báu kim cương, trừ loài tinh mị nơi bờ bụi, đoạt uy của sư tử, làm khiếp đăm loài hồ li.

 

Nên biết Lâm Tế tông:

 

Trời trong rền sấm sét,

Đất bằng nổi sóng to.

(青天轟霹靂。

平地起波濤。

Thanh thiên oanh phích lịch,

B́nh địa khởi ba đào.)

 

 

(80)

 

TÀO ĐỘNG TÔNG:

 

Gồm những vị Thiền sư sau Lục Tổ không được truyền trực tiếp. Đó là các Thiền Sư: Thanh Nguyên Hành Tư, Thạch Đầu Hi Thiên, Dược Sơn Duy Nghiễm, Vân Nham Đàm Thịnh, Động Sơn Lương Giới, Tào Sơn Đam Chương, Vân Cư Đạo Ưng.

 

Tào Động gia phong, mở phương Ngũ Vị tiếp ba căn, đưa ngang kiếm báu chém sạch rừng rậm tà kiến, rộng truyền vi diệu cắt dứt vạn mối xuyên tạc, bờ Oai Âm đầy mắt ánh mây, trước Không kiếp một bầu trăng gió.

 

Nên biết Tào động tông:

 

Phật Tổ chưa sanh ngoài Không kiếp,

Chủ- Khách chẳng lạc chốn có-không.

(佛祖未生空劫外。

正偏不落有無機。

Phật Tổ vị sanh không kiếp ngoại,

Chánh thiên bất lạc hữu vô cơ.)

 

 

(81)

 

VÂN MÔN TÔNG:

 

Bàng truyền từ Mă Tổ, gồm các Thiền sư: Thiên Vương Đạo Ngộ, Long Đàm Sùng Tín, Đức Sơn Tuyên Giám, Tuyết Phong Nghĩa Tồn, Vân Môn Văn Yển, Tuyết Đậu Trọng Hiển, Thiên Y Nghĩa Hoài.

 

Vân Môn gia phong, gió kiếm có đường, tường sắt không cửa. Mở ra lộ rơ tơ ṿ, dứt bỏ thường t́nh kiến giải, điện chớp không đợi nghĩ suy, lữa dữ chứa an thuyền đỗ.

 

Nên biết Vân Môn tông:

 

Chống gậy nhảy lên trời cao,

Trong chén chư Phật thuyết Pháp.

(拄杖子跳上天。

盞子裏諸佛說法。

Trụ trượng tử khiêu thượng thiên,

Trản tử lí chư Phật thuyết Pháp.)

 


(82)

 

QUI NGƯỠNG TÔNG:

 

Bàng truyền từ Bách Trượng, gồm các Thiền Sư: Qui Sơn Linh Hữu, Ngưỡng Sơn Huệ Tịch, Hương Nghiêm Trí Nhàn, Nam Tháp Quang Lậu, Ba Tiêu Huệ Thanh, Hoắc Sơn Cảnh Thông, Vô Trước Văn Hỉ.

 

Quy Ngưỡng gia phong, thầy tṛ ḥa ca, cha con một nhà. Bỏ chữ bỏ nghĩa xuất chúng tài ba, ở trong nhà biết được kẻ bẽ găy lưng sư tử. Ĺa bốn câu, dứt trăm phi, một chùy đập nát. Hai miệng không lưỡi, chín đoạn châu thông.

 

Nên biết Quy Ngưỡng Tông:

 

Phá bia che đường xưa,

Trâu sắt ngũ Thiếu Thất.

(斷碑橫古路。

鐵牛眠少室。

Đoạn bi hoành cổ lộ,

Thiết ngưu miên Thiếu thất.)

 

 

(83)

 

PHÁP NHĂN TÔNG:

 

Bàng truyền từ ngài Tuyết Phong, gồm các Thiền Sư: Huyền Sa Sư Bị, Địa Tạng Quế Sâm, Pháp Nhăn Văn Ích, Thiên Thai Đức Thiều, Vĩnh Minh Diên Thọ, Long Tể Thiệu Tu, Nam Thai Thủ An.

 

Pháp nhăn gia phong, trong lời có tiếng vang, trong câu chứa mũi nhọn. Đầu lâu đi lại trong thế giới, lỗ mũi chạm xát nếp nhà. Cành gió bến trăng hiển lộ chân tâm, trúc xanh hoa vàng rơ bày diệu pháp.

 

Nên biết, Pháp Nhăn tông:

 

Gió đẩy đám mây xuôi đỉnh núi,

Trăng ḥa nước chảy qua cầu về.

(風送斷雲歸嶺去。

月和流水過橋來。

Phong tống đoạn vân quy lĩnh khứ,

Nguyệt ḥa lưu thủy quá kiều lai.)

 

 

(84)

 

Lâm Tế hét, Đức Sơn gậy đều chứng suốt vô sinh, thấu ngọn thấu gốc, đại cơ đại dụng, tự tại không cùng, toàn thân hiện mất, toàn thân đảm đương, nắm giữ cảnh giới của Văn Thù, Phổ Hiền.

 

Tuy nhiên, hai vị Thầy nầy cũng không tránh khỏi loài ma quỷ bắt hồn.

 

Gió buốt thổi lông, không phạm đầu nhọn.

 

Rạng rỡ hàn quang, châu đẹp nước

Không không mây tản, nguyệt qua trời.

(爍爍寒光珠媚水。

寥寥雲散月行天。

Thước thước hàn quang châu mị thủy

Liêu liêu vân tán nguyệt hành thiên.)

 

 

(85)

Bậc đại trượng phu gặp Phật gặp Tổ như gặp oán thù. Cầu Phật liền bị Phật trói, cầu Tổ liền bị Tổ trói. Có cầu có khổ, không bằng vô sự.

 

“Gặp Phật Tổ như oán thù”: Ở trên nói “Không gió mà nổi sóng.” “Có cầu có khổ”: Ở trên nói “Thể thật ngay đó.” “Không bằng vô sự”: Ở trên nói “Khởi niệm liền sai.”

 

Đạt đến chỗ đó th́ có thể cắt đứt hết đầu lưỡi của người trong thiên hạ, bánh xe sinh tử sẽ dừng lại.

 

Cứu giúp nguy khốn, dẹp yên loạn lạc, như Đan Hà đốt Phật (1), Vân Môn cho chó ăn (2), Lăo bà không gặp Phật (3). Thảy đều là thủ đoạn dẹp tan tà kiến, làm rơ chánh kiến. Cuối cùng th́ như thế nào?

 

Thường nhớ bờ nam trong tháng Ba

Chá cô kêu hót giữa trăm hoa

(常憶江南三月裏。

鷓鴣啼處百花香。

Thường ức giang nam tam nguyệt lí,

Chá cô đề xứ bách hoa hương.)

 

 

(86)

 

Thần quang không mờ, vẫn tự ngàn xưa. Vào trong cửa nầy, không c̣n tri giải.

 

“Thần quang không mờ” ở trên nói là “chiêu chiêu linh linh”. “Vẫn tự ngàn xưa” ở trên nói là “vốn không sinh diệt.” “Không c̣n tri giải” ở trên nói “không thể theo danh mà hiểu.” “Cửa” là chỉ sự ra vào của phàm Thánh, như Thần Hội nói: “Một chữ biết là cửa vào của các điều huyền diệu.” (1)

 

Toàn giáo pháp bắt đầu với cái không thể gọi tên tả h́nh, kết thúc với việc không c̣n tri giải. Bao nhiêu vướng mắc, một câu phá hết.

 

Trước sau một nghĩa, giữa nêu vạn hạnh. Như ba nghĩa trong sách vở thế gian, hai chữ tri giải (biết hiểu) là mối nguy lớn của Phật Pháp. Do đó, đưa ra rồi chấm dứt. Thiền sư Hà Trạch Thần Hội cũng do đây mà không được coi là đích tử (con chính, tức đệ tử được ấn chứng) của Lục Tổ Tào Khê.

 

Tụng rằng:

 

Như muốn nêu bày rơ tông chỉ

Cười ngất Tây Tăng cặp mắt xanh.

(如斯舉唱明宗旨。

笑殺西來碧眼僧。

Như tư cử xướng minh tông chỉ

Tiếu sát Tây lai bích nhăn tăng.)

 

Rốt ráo th́ thế nào?

 

Trăng đơn riêng chiếu sông núi lặng

Cười lên một tiếng trời đất kinh.

(孤輪獨照江山靜。

自笑一聲天地驚。

Cô luân độc chiếu giang sơn tĩnh

Tự tiếu nhất thanh thiên địa kinh.)

 

(Thiền Gia Quy Giám hết)

 



 

CHÚ THÍCH

 

Chương 1: Hữu nhất vật ư thử, ṭng bổn dĩ lai chiêu chiêu linh linh, bất tằng sanh bất tằng diệt, danh bất đắc, trạng bất đắc.

( 有一物於此。從本以來昭昭靈靈。不曾生不曾滅。名不得狀不得。)

 

(1) Ngô hữu nhất vật vô danh vô tự, chư nhân hoàn thức phủ?

(吾有一物無名無字。諸人還識否。)

(2) Chư Phật chi bổn nguyên, Thần Hội chi Phật Tánh.

(諸佛之本源。神會之佛性。)

(3) Thập ma vật, y ma lai?

(什麼物。伊麼來。)

(4) Thuyết tự nhất vật tức bất trúng.

(說似一物即不中。)

 

Chương 2: Phật Tổ xuất thế, vô phong khởi lăng.

(佛祖出世。無風起浪。)

 

(1) Văn tự thị ma nghiệp, danh tướng thị ma nghiệp, chí ư Phật ngữ diệc thị ma nghiệp.

(文字是魔業。名相是魔業。至於佛語亦是魔業。)

 

Chương 3: Nhiên pháp hữu đa nghĩa, nhân hữu đa cơ, bất phương thi thiết.

(然法有多義。人有多機。不妨施設。)

 

(1) Quan bất dung châm tư thông xa mă giả dă.

(官不容針私通車馬者也。)

 

Chương 4: Cưỡng lập chủng chủng danh tự, hoặc Tâm hoặc Phật hoặc chúng sanh, bất khả thủ danh nhi sanh giải. Đương thể tiện thị, động niệm tức quai.

(強立種種名字。或心或佛或眾生。不可守名而生解。當體便是。動念即乖。)

 

Chương 5: Thế Tôn tam xứ truyền Tâm giả vi Thiền chỉ, nhất đại sở thuyết giả vi Giáo môn. Cố viết Thiền thị Phật tâm, Giáo thị Phật ngữ.

(世尊三處傳心者為禪旨。一代所說者為教門。故曰禪是佛心。教是佛語。)

 

(1) Ba lần truyền Tâm:

- Lần thứ nhất: Khi Phật thuyết Pháp tại Tháp Đa Tử, ngài Ma Ha Ca Diếp là người xuất gia sau đáng lư ngồi phía sau nhưng ngài lại tiến thẳng đến trước Phật và Phật nhích qua chia chỗ ngồi cho ngài. Với việc im lặng cho phép một vị tăng trẻ ngồi chung với ḿnh, đức Phật hiển bày cho đại chúng sự b́nh đẳng của Phật tánh.

- Lần thứ hai: tại núi Linh Thứu, đức Phật đưa lên một đóa hoa udambara trước đại chúng, đại chúng im lặng, chỉ có ngài Ma Ha Ca Diếp ngồi xa phía sau nh́n Phật mỉm cười.

- Lần thứ ba: Trong lễ trà tỳ đức Phât, ngài Ma Ha Ca Diếp đi ṿng quanh giàn thiêu ba ṿng và lạy ba lần. Lúc đó, bàn chân của đức Phật bỗng ló ra, biểu thị cho đại chúng biết rằng dù thân xác vật chất của Phật không c̣n, Phật tánh không có sống chết.

 

Chương 6: Thị cố nhược nhân thất chi ư khẩu, tắc niêm hoa vi tiếu giai thị Giáo tích. Đắc chi ư Tâm, tắc thế gian thô ngôn tế ngữ giai thị giáo ngoại biệt truyền Thiền chỉ.

(是故若人失之於口。則拈花微笑皆是教跡。得之於心。則世間麤言細語皆是教外別傳禪旨。)

 

(1) Bảo Tích: Từng làm thầy của Lương Vũ Đế. Một hôm, có một đám tang đi qua chỗ ngài tham thiền, khi nghe tiếng tiếng khóc than, ngài bỗng đại ngô.

(2) Bảo Thọ: Có một vị trường lăo hỏi Bảo Thọ: “Khuôn mặt xưa nay trước khi sinh ra là ǵ?” ngài không trả lời được. Trăi qua nhiều tháng miên mật tham thiền cũng không cho ngài ánh sáng nào. Một hôm, khi đang đi trong chợ, ngài gặp một nhóm người ẩu đả nhau. Khi cuộc ẩu đả chấm dứt, một người thốt lên: “Hôm nay ta thật là mất mặt.” Khi nghe câu đó, ngài Bảo Thọ bỗng ngộ.

 

Chương 7:

Ngô hữu nhất ngôn

Tuyệt lự vong duyên

Ngột nhiên vô sự tọa

Xuân lai thảo tự thanh.

(吾有一言。

絕慮忘緣

兀然無事坐

春來草自青)

 

 

Chương 8: Giáo môn duy truyền Nhất Tâm pháp. Thiền môn duy truyền Kiến Tánh pháp.

( 教門惟傳一心法。禪門惟傳見性法。)


Chương 9: Nhiên chư Phật thuyết kinh, tiên phân biệt chư pháp, hậu thuyết tất cánh không. Tổ Sư thị cú, tích tuyệt ư ư địa, lí hiện ư Tâm nguyên.

(然諸佛說經。先分別諸法。說畢竟空。祖師示句。絕於意理顯於心源)

 

Chương 10: Chư Phật thuyết cung, Tổ Sư thuyết huyền. Phật thuyết vô ngại chi pháp phương quy nhất vị. Phật thử Nhất Vị chi tích, phương hiện Tổ Sư sở thị Nhất Tâm. Cố vân đ́nh tiền bách thụ tử thoại, long tàng sở vị hữu để.

(諸佛說弓。祖師說絃。佛說無礙之法方皈一味。拂此一味之跡。方現祖師所示一心。故云庭前柏樹子話。龍藏所未有底。)

 

(1) Thoại đầu: thường dùng như chữ “công án,” là một chữ, một câu, lời đối đáp, hay một sự việc xảy ra đánh thức tâm nghi của hành giả tu Thiền để đưa vào mức độ sâu hơn. Ư nghĩa của chữ và câu không quan trọng, cốt làm cho hành giả chấm dứt lối suy nghĩ phân biệt để đưa đến đốn ngộ.

(2) Triệu Châu Ṭng Thẩm (778-897): Một trong những bậc Thầy có nhiều ảnh hưởng nhất trong Thiền Tông. Ngài đắc Pháp với Tổ Nam Tuyền Phổ Nguyện, sau đó tiếp tục hành tŕ dưới sự hướng dẫn của Tổ thêm 20 năm. Ngài tịch lúc 120 tuổi. Một ngày kia, có một vị tăng hỏi ngài Triệu Châu: “Thế nào là ư của Tổ sư từ Tây qua?” (Như hà thị Tổ Sư Tây lai ư?), cũng có nghĩa: “Thế nào là ư nghĩa của Phật Pháp?” Triệu Châu trả lời: “Cây tùng ngoài sân.” (Đ́nh tiền bách thụ tử.) Vị tăng ngay đó liền ngộ. Đây là một một trong những mẫu đối thoại kinh điển trong Thiền Tông, và là một thoại đầu cho nhiều hành giả.

 

Chương 11: Cố học giả tiên dĩ như thật ngôn giáo ủy biện bất biến tùy duyên nhị nghĩa, thị tự tâm chi tánh tướng. Đốn ngộ tiệm tu lưỡng môn thị tự hành chi thủy chung. Nhiên hậu phóng hạ giáo nghĩa, đăn tương tự tâm hiện tiền nhất niệm tham tường Thiền chỉ, tắc tất hữu sở đắc, sở vị xuất thân hoạt lộ.

( 故學者先以如實言教委辨不變隨緣二義。是自心之性相。頓悟漸修兩門是自行之始終。然後放下教義。但將自心現前一念參詳禪旨。則必有所得。所謂出身活路。)

 

Chương 12: Đại để học giả tu tham hoạt cú mạc tham tử cú.

(大抵學者須參活句莫參死句。)

 

(1) Hoạt cú/ tử cú (câu sống/ câu chết): Hoạt cú là những câu chỉ thẳng vào thực tại đang hiển bày. Tử cú là câu hay lời chỉ dựa vào trí thông minh, lư lẽ, hoặc ư niệm.

(2) Lâm Tế (? – 867): Một trong những vị đại sư Thiền tông. Đệ tử của ngài đă xây dựng một tông phái đươc gọi là Lâm Tế Tông. Ngài xuất gia từ rất sớm và chuyên nghiên cứu kinh điển. Về sau ngài thọ giáo với ngài Hoàng Bá Hy Vận.

 

Chương 13: Phàm bổn tham công án thượng thiết tâm tố công phu, như kê băo noăn, như miêu bộ thử, như cơ tư thực, như khát tư thủy, như nhi ức mẫu, tất hữu thấu triệt chi ḱ.

(凡本參公案上切心做工夫。如雞抱卵。如貓捕鼠。如飢思食。如渴思水。如兒憶母。必有透徹之期。)

 

(1) “Con chó không có Phật tánh.” Đức Phật dạy rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, có nghĩa là tất cả chúng sanh đều có khả năng giác ngộ. Một vị tăng hỏi Thiền sư Triệu Châu: “Con chó có Phật tánh hay không?” Ngài Triệu Châu liền trả lời: “Không!” Từ đó, cuộc đối thoại trở thành một câu thoại đầu cho nhiều hành giả tu Thiền.

(2) Ngài Động Sơn Lương Giới đang cân gai, một vị tăng đến bên hỏi: “Thưa thầy, thế nào là Phật?” Ngài Động Sơn đáp: “Ba cân gai.”

(3) Thiền sư Vân Môn Văn Yển (862 hay 864-949) vừa ra khỏi nhà xí, một vị tăng hỏi: “Thưa Thầy, thế nào là Phật?” Ngài Vân Môn trả lời: “Que dính cứt khô!”

 

Chương 14: Thiền tham tu cụ tam yếu: nhất hữu đại tín căn, nhị hữu đại phấn chí, tam hữu đại nghi t́nh. Cẩu khuyết ḱ nhất, như chiết túc chi đỉnh, chung thành phế khí.

( 禪須具三要。一有大信根。二有大憤志。三有大疑情。苟闕其一。如折足之鼎。 終成廢器。)

 

(1) Vĩnh Gia Huyền Giác (665-713): Ngài xuất gia lúc lên tám tuổi. Đầu tiên, ngài theo học Thiên Thai tông. Ngài ngộ đạo khi đang tụng kinh Duy Ma Cật, sau được Lục Tổ ấn chứng. Ngài tịch vào năm bốn mươi chín tuổi trong khi đang tham thiền.

(2) Mông Sơn (không biêt năm sinh và mất): Một vị tăng sống vào triều nhà Nguyên.

(3)Tham thiền giả bất nghi ngôn cú thị vi đại bệnh.

(4) Đại nghi chi hạ tất hữu đại ngộ.

 

Chương 15: Nhật dụng ứng duyên xứ chỉ cử cẩu tử vô phật tính thoại. Cử lai cử khứ, nghi lai nghi khứ. Giác đắc một lí lộ, một nghĩa lộ, một tư vị tâm đầu nhiệt muộn thời. Tiện thị đương nhân phóng thân mệnh xứ. Diệc thị thành Phật tác Tổ để cơ bổn dă.

(日用應緣處只舉狗子無佛性話。舉來舉去疑來疑去。覺得沒理路沒義路沒滋味心頭熱悶時。便是當人放身命處。亦是成佛作祖底基本也。)

 

(1) Cẩu tử hoàn hữu Phật tính dă vô?

(狗子還有佛性也無。)

(2) Vô

 

Chương 16: Thoại đầu bất đắc cử khởi xứ thừa đương, bất đắc tư lượng bốc độ. Hựu bất đắc tương mê đăi ngộ. Tựu bất khả tư lượng xứ tư lượng, tâm vô sở chi.  Như lăo thử nhập ngưu giác tiện kiến đảo đoạn dă. Hựu tầm thường kế giảo an bài để thị thức t́nh, tùy sanh tử thiên lưu để thị thức t́nh, phạ bố chương hoàng để thị thức t́nh. Kim nhân bất tri thị bệnh, chỉ quản tại lí hứa đầu xuất đầu một.

(話頭不得舉起處承當。不得思量卜度。又不得將迷待悟。就不可思量處思量。心無所之。如老鼠入牛角便見倒斷也。又尋常計較安排底是識情。隨生死遷流底是識情。怕怖慞惶底是識情。今人不知是病。只管在裏許頭出頭沒。)

 

(1)Thị cá thậm ma?

(是箇甚麼)

 

Chương 17: Thử sự như văn tử thượng thiết ngưu. Cánh bất vấn như hà nhược hà. Hạ chủy bất đắc xử khí mệnh, nhất toàn ḥa thân thấu nhập.

(此事如蚊子上鐵牛。更不問如何若何。下嘴不得處棄命。一攢和身透入。)

 

(1) Tham thiền tu thấu Tố Sư quan, diệu ngộ yếu cùng tâm lộ tuyệt.

(參禪須透祖師關。玅悟要窮心路絕。)

 

Chương 18: Công phu như điều huyền chi pháp, khẩn hoăn đắc ḱ trung. Cần tắc cận chấp trước, vong tắc lạc vô minh. Hoàng hoàng lịch lịch, mật mật miên miên.

(工夫如調絃之法。緊緩得其中。勤則近執著。忘則落無明。惶惶歷歷。密密綿綿。)

 

Chương 19: Công phu đáo hành bất tri hành, tọa bất tri tọa, đương thử chi thời, bát vạn tứ thiên ma quân tại lục căn môn đầu tí hậu tùy tâm sanh thiết. Tâm nhược bất khởi tranh như chi hà!

(工夫到行不知行坐不知坐。當此之時。八萬四千魔軍在六根門頭伺候隨心生設。)

 

(1) Thấy hiếu tử đẵn vào đùi: Một vị tăng ngồi tham thiền thấy một người trẻ tuổi mặt đồ tang đi theo ḥm đến bên cạnh réo lên: “Tại sao ông giết mẹ tôi? Tại sao ông giết mẹ tôi?” và lấy ra một chiếc riều nhỏ. Để tự vệ, vị tăng giựt chiếc riều. Khi vị tăng nh́n xuống th́ thấy chân ḿnh chảy máu, mới nhận ra rằng tất cả sự việc xảy ra chỉ là do vọng tưởng của tâm.

Thấy heo kéo mũi: Một vị tăng ngồi tham thiền bỗng bị một con heo hoang tấn công. Vị tăng cố gắng chụp con heo nhưng không thành, cố gắng níu cái b́u tay, nhưng chỉ có thể nắm được mũi con vật. Vị tăng siết mạnh vào mũi làm cho con vật kêu ré lên. Lúc đó vị tăng cũng thét lên và nhận ra rằng ông đang túm vào mũi của chính ḿnh.

Hai câu chuyện trên được dùng để chỉ hoạt động của ma vương (mara), hay vọng tưởng, trong một khoảnh khắc không sáng tỏ. Nói cách khác, ma là từ trong tâm mà khởi.

(2) Bích khích phong động, tâm khích ma xâm.

(壁隙風動。心隙魔侵)

 

Chương 20: Khởi tâm thị thiên ma, bất khởi tâm thị ấm ma, hoặc khởi hoặc bất khởi thị phiền năo ma. Nhiên ngă Chánh Pháp trung bổn vô như thị sự.

(起心是天魔。不起心是陰魔。或起或不起是煩惱魔。然我正法中本無如是事。)

 

Chương 21: Công phu nhược đả thành nhất phiến, tắc túng kim sanh thấu bất đắc, nhăn quang lạc địa chi thời bất vi ác nghiệp sở suất.

(工夫若打成一片。則縱今生透不得。眼光落地之時。不為惡業所率。)

 

Chương 22: Đại để tham thiền giả hoàn tri tứ ân thâm hậu ma, hoàn tri tứ đại xú thân niệm niệm suy hủ ma, hoàn tri nhân mệnh tại hô hấp ma, sanh lai trị ngộ Phật Tổ ma, cập văn Vô Thượng Pháp sanh hi hữu tâm ma, bất li tăng đường thủ tiết ma, bất dữ lân đan tạp thoại ma, thiết kị cổ phiến thị phi ma, thoại đầu thập nhị thời trung minh minh bất muội ma, đối nhân tiếp thoại thời vô gián đoạn ma, kiến văn giác tri thời đả thành nhất phiến ma, phản quan tự kỉ tróc bại Phật Tổ ma, kim sanh quyết định tục Phật tuệ mệnh ma, khởi tọa tiện nghi thời hoàn tư địa ngục khổ ma, thử nhất báo thân định thoát luân hồi ma, đương bát phong cảnh tâm bất động ma. Thử thị tham thiền nhân nhật dụng trung điểm, để đạo lí. Cổ nhân vân: Thử thân bất hướng kim sanh độ, cánh đăi hà sanh độ thử thân.

(大抵參禪者還知四恩深厚麼。還知四大醜身念念衰朽麼。還知人命在呼吸麼。生來值遇佛祖麼。及聞無上法生希有心麼。不離僧堂守節麼。不與鄰單雜話麼。切忌鼓扇是非麼。話頭十二時中明明不昧麼。對人接話時無間斷麼。見聞覺知時打成一片麼。返觀自己捉敗佛祖麼。今生決定續佛慧命麼。起坐便宜時還思地獄苦麼。此一報身定脫輪迴麼。當八風境心不動麼。

此是參禪人日用中點撿底道理。古人云。此身不向今生度。更待何生度此身。

 

(1) Tám sự thăng trầm của cuộc sống: lợi, suy, hủy (chê), dự (khen), xưng (ca tụng), cơ (chế diễu), khổ, lạc (sướng).

(2) (Dục khí thô trọc tinh tao giao cấu thử sở dĩ xú thân dă.

(欲氣麤濁腥臊交遘此所以醜身也。)

 

Chương 23: Học ngữ chi bối, thuyết thời tự ngộ, đối cảnh hoàn mê. Sở vị ngôn hành tương vi giả dă.

(學語之輩。說時似悟對境還迷。所謂言行相違者也。)

 

Chương 24: Nhược dục địch sanh tử, tu đắc giá nhất niệm tử bạo địa nhất phá, phương liễu đắc sanh tử.

(若欲敵生死。須得這一念子爆地一破。方了得生死。)

 

Chương 25: Nhiên nhất niệm tử bạo địa nhất phá, nhiên hậu tu phỏng minh sư quyết trạch chánh nhăn.

(然一念子爆地一破。然後須訪明師決擇正眼。)

 

Chương 26: Cổ đức vân: Chỉ quư tử nhăn chánh, bất quư nhữ hành lí xứ.

(古德云。只貴子眼正。不貴汝行履處。)

 

(1) Thiền Sư Quy Sơn Linh Hựu (771-853); Thiền sư Ngưỡng Sơn Huệ Tịch (803-887).

(2) Niết Bàn Kinh tứ thập quyển tổng thị ma thuyết, thử Ngưỡng Sơn chi chánh nhăn dă.

(涅槃經四十卷總是魔說。此仰山之正眼也。)

(3) Chỉ quư tử nhăn chánh.

(只貴子眼正)

(4) Nhược dục tu hành tiên tu đốn ngộ.

(若欲修行先須頓悟。)

 

Chương 27: Nguyện chư đạo giả thâm tín tự tâm, bất tự khuất bất tự cao.

(願諸道者深信自心。不自屈不自高。)

 

 

Chương 28: Mê tâm tu đạo đăn trợ vô minh.

(迷心修道但助無明。)

 

Chương 29: Tu hành chi yếu, đăn tận phàm t́nh, biệt vô thánh giải.

(修行之要。但盡凡情別無聖解。)

 

Chương 30: Bất dụng xả chúng sanh tâm, đăn mạc nhiễm ô tự tính. Cầu chánh pháp thị tà.

(不用捨眾生心。但莫染污自性求正法是邪)

 

Chương 31: Đoạn phiền năo danh Nhị Thừa. Phiền năo bất sanh danh Đại Niết bàn.

(斷煩惱名二乘。煩惱不生名大涅槃。)

 

Chương 32: Tu hư hoài tự chiếu, tín nhất niệm duyên khởi vô sanh.

(虛懷自照。信一念緣起無生。)

 

Chương 33: Đế quán sát đạo dâm vọng ṭng nhất tâm thượng khởi. Đương xứ tiện tịch, hà tu cánh đoạn.

(諦觀殺盜婬妄從一心上起。當處便寂。何須更斷。)

(1) Bất khởi nhất niệm danh vi vĩnh đoạn vô minh. (不起一念名為永斷無明)

(2) Niệm khởi tức giác. (念起即覺)

 

Chưong 34: Tri huyễn tức li bất tác phương tiện. Li huyễn tức giác diệc vô tiệm thứ.

(知幻即離不作方便。離幻即覺亦無漸次。)

 

Chương 35: Chúng sanh ư vô sanh trung vọng kiến sanh tử niết bàn, như kiến không hoa khởi diệt.

(眾生於無生中妄見生死涅槃。如見空花起滅。)

 

(1) Chư Phật xuất thế phi vị độ chúng sanh, chỉ vị độ sanh tử niết bàn nhị kiến nhĩ.

(諸佛出世非為度眾生。只為度生死涅槃二見耳。)

 

Chương 36: Bồ Tát độ chúng sanh nhập diệt độ, hựu thật vô chúng sanh đắc diệt độ.

(菩薩度眾生入滅度。又實無眾生得滅度。)

 

Chương 37: Lư tuy đốn ngộ, sự phi đốn trừ.

(理雖頓悟。事非頓除。)

 

Chương 38: Đái dâm tu thiền như chưng sa tác phạn, đái sát tu thiền như tắc nhĩ khiếu thanh, đái thâu tu thiền như lậu chi cầu măn, đái vọng tu thiền như khắc phẩn vi hương. Túng hữu đa trí giai thành ma đạo.

(帶婬修禪如蒸沙作飯。帶殺修禪如塞耳叫聲。帶偷修禪如漏卮求滿帶妄修禪如刻糞為香縱有多智皆成魔道。)

 

Chương 39: Vô đức chi nhân bất y Phật Giới, bất hộ tam nghiệp, phóng dật giải đăi, khinh mạn tha nhân, khinh lượng thị phi nhi vi căn bổn.

(無德之人不依佛戒不護三業。放逸懈怠輕慢佗人。輕量是非而為根本。)

 

Chương 40: Học giả tường chi. Nhược bất tŕ giới, thượng bất đắc giới lại dă can chi thân, huống thanh tịnh Bồ đề quả khả kí hồ.

(學者詳之。若不持戒。尚不得疥癩野干之身。況清淨菩提果可冀乎。)

 

(1) Có một vị tăng bị một băng cướp chận cướp. Bọn chúng kéo vị tăng vào trong đám cỏ cao, giựt lấy b́nh bát, tràng hạt, và lột sạch quần áo. Sau đó chúng trói tay chân vị tăng vào cỏ sát đất. Bọn cướp biết với tinh thần bất bạo động tuyệt đối của tu sĩ Phât giáo, vị tăng sẽ không làm bật cỏ để đứng dậy. Và chúng đă có lư. Vị tăng nằm yên không động đậy, sợ cử động sẽ làm bật gốc cỏ. Vị tăng nằm suốt ngày dưới nắng gắt và chịu đựng suốt đêm lạnh lẽo, nhưng vẫn không làm bật gốc cỏ. Sau đó, vị vua và đoàn tùy tùng đi săn ngang qua nh́n thấy. Kích động v́ ḷng từ bi của vị tăng, nhà vua đích thân mở trói cho ngài và từ đó từ bỏ săn bắn, quy y Tam Bảo.

(2) Một vị tăng đi khất thực đến trước cửa một người thợ ngọc. Người thợ ngọc lúc đó đang cắt một viên ngọc quí theo lệnh nhà vua. Khi người thợ rời bàn làm việc trong thời gian ngắn, một con ngỗng quanh quẩn ở đó nh́n thấy và nuốt viên ngọc. Người thợ trở lại không thấy viên ngọc, cho rằng vị tăng đă lấy cắp nó. Vị tăng vẫn yên lặng mặt dù ngài nh́n thấy con ngỗng nuốt viên ngọc ngay trước mắt. Vị tăng biết rằng nếu nói ra, con ngỗng sẽ bị giết ngay lập tức. Thấy vị tăng im lặng, người thợ ngọc lại càng điên tiết, bắt vị tăng trói lại và đánh đập, thét lên rằng nếu vị tăng muốn sống th́ phải trả lại viên ngọc. Sau một lúc bị hành hạ, vị tăng để ư thấy con ngỗng bài tiết và nói với người thợ ngọc t́m trong phẩn của nó. Và quả nhiên anh ta t́m thấy viên ngọc.

 

Chương 41: Dục thoát sanh tử tiên đoạn tham dục cập chư ái khát.

(脫生死先斷貪欲及諸愛渴。)

 

(1) Dâm tâm bất trừ, trần bất khả xuất.

(婬心不除塵不可出)

(2) Ân ái nhất phược trứ suất nhân nhập tội môn.

(恩愛一縛著率人入罪門)

 

Chương 42: Vô ngại thanh tịnh tuệ giai nhân thiền định sanh.

(無礙清淨慧。皆因禪定生。)

 

(1) Dục cầu Thánh đạo li thử vô lộ.

(欲求聖道離此無路)

 

Chương 43: Tâm tại định tắc năng tri thế gian sanh diệt chư tướng.

(心在定則能知世間生滅諸相。)

 

Chương 44: Kiến cảnh tâm bất khởi danh bất sanh, bất sanh danh vô niệm,  vô niệm danh giải thoát.

(見境心不起名不生。不生名無念。無念名解脫。)

 

Chương 45: Tu Đạo chứng diệt thị diệc phi chân dă. Tâm pháp bổn tịch năi chân diệt dă. Cố viết chư pháp ṭng bổn lai, thường tự tịch diệt tướng.

(修道證滅是亦非真也。心法本寂乃真滅也。故曰諸法從本來。常自寂滅相。)

 

Chương 46: Thử hạ tán cử tế hạnh.

Bần nhân lai khất tùy phận thí dữ. Đồng thể đại bi thị chân bố thí.

(此下散舉細行。

貧人來乞隨分施與。同體大悲是真布施。)

 

Chương 47: Hữu nhân lai hại, đương tự nhiếp tâm vật sanh sân hận. Nhất niệm sân tâm khởi, bách vạn chướng môn khai.

(有人來害。當自攝心勿生嗔恨。一念嗔心起。百萬障門開。)

 

(1) Trà cát lưỡng vô tâm.

(塗割兩無心)

 

Chương 48: Nhược vô nhẫn hạnh, vạn hạnh bất thành.

(若無忍行。萬行不成。)

 

Chương 49: Thủ bổn chân tâm đệ nhất tinh tấn.

(守本真心第一精進。)

 

(1) “Mạc vọng tưởng”: Thiền sư Vô Nghiệp (762-823) mỗi khi có người hỏi th́ trả lời: “Đừng vọng tưởng.”  (莫妄想莫妄想)

 

Chương 50: Tŕ chú giả: Hiện nghiệp dị chế tự hành khả vi, túc nghiệp nan trừ tất tá thần lực.

(持咒者。現業易制自行可違。宿業難除必借神力。)

 

Chương 51: Lễ bái giả kính dă phục dă, cung kính chân tính, khuất phục vô minh.

(禮拜者敬也伏也。恭敬真性。屈伏無明。)

 

Chương 52: Niệm Phật giả tại khẩu viết tụng, tại tâm viết niệm. Đồ tụng thất niệm, ư đạo vô ích.

(念佛者在口曰誦。在心曰念。徒誦失念。於道無益。

 

(1)Thủ bổn chân tâm thắng niệm thập phương chư Phật.

(守本真心勝念十方諸佛)

(2)Thường niệm tha Phật bất miễn sanh tử, thủ ngă bổn tâm tức đáo bỉ ngạn.

(常念佗佛不免生死。守我本心即到彼岸。)

(3) Phật hướng tính trung tác, mạc hướng thân ngoại cầu.

(佛向性中作。莫向身外求。)

(4) Mê nhân niệm Phật cầu sanh, ngộ nhân tự tịnh ḱ tâm.

(迷人念佛求生。悟人自淨其心。)

(5) Đại để chúng sanh ngộ Tâm tự độ, Phật bất năng độ chúng sanh.

(大抵眾生悟心自度。佛不能度眾生)

(6) Xướng Phật nhất thanh thiên ma táng đảm, danh trừ quỷ bộ, liên xuất kim tŕ.

(唱佛一聲天魔喪膽。名除鬼簿蓮出金池。)

(7) Tự lực tha lực nhất tŕ nhất tốc. Dục việt hải giả, chủng thụ tác thuyền tŕ dă, bỉ tự lực dă. Tá thuyền việt hải tốc dă, bỉ Phật lực dă.

(自力佗力一遲一速。欲越海者。種樹作船遲也。比自力也。借船越海速也。比佛力也。)

(8) Khuê Phong Tông Mật (780-841): Ngài đốn ngộ tự tánh khi đang tụng kinh Viên Giác tại nhà một cư sĩ, về sau trở thành Tổ thứ năm của Hoa Nghiêm Tông.

(9)Thiết thật đốn ngộ chung tu tiệm hạnh.

(設實頓悟終須漸行。)

(10) Mă Minh (Asvaghosa - ca.100-160): Một thi sĩ sống dưới thời vua Kanishka (Ca Nhị Sắc Ca) triều đại Kushan. Từ nhỏ, ngài được rèn luyện để trở thành một học giả Bà la môn. Về sau, ngài đuợc đại đức Parsva chuyển hóa về Phật giáo và được coi là một vị Bồ tát sống. Ngài rất rành về văn học cổ Phạn ngữ, và trước tác nhiều luận sớ. Một trong những tác phẩm quan trọng nhất của ngài c̣n được truyền đọc đến ngày nay là Luận Đại Thừa Khởi Tín.

(11) Long Thọ (Nagarjuna – ca. 150-250): Ngài là một người có ảnh hưởng nhất trong Phật giáo sau đức Phật. Ban đầu ngài tu theo Tiểu Thừa, về sau ngài học Đại Thừa với một vị ḥa thượng sống trong Hy Mă Lạp Sơn. Ngài viết rất nhiều sớ giải về nhiều bộ kinh và được coi là người khai triển giáo lư Bát Nhă. Ngài đóng một vai tṛ trọng yếu trong việc truyền bá Phật pháp và do đó được coi là “vị Phật thứ hai.”

(12) Huệ Viễn (334-416): Lúc đầu ngài học Nho và Lăo. Về sau, khi nghe ngài Đạo An (314-385) giảng kinh Bát Nhă, ngài được khai ngộ và xuất gia. Ngài cùng với 123 vị đại đức và cư sĩ lập ra Bạch Liên Xă chuyên lấy việc tụng kinh làm phương tiện khai ngộ.

(13) Thụy Nham (?): Ngài là đệ tử của ngài Nham Đầu Toàn Ngộ (828-887). Mỗi ngày, ngài thường tự thốt rồi tự trả lời: “Thầy hả?” “Phải.” “Giữ tâm trong sáng!” “Vâng.” “Đừng để bị dối gạt bất cứ lúc nào, nơi nào!” “Vâng.”

 

Chương 53: Thính Kinh hữu Kinh nhĩ chi duyên, tùy hỉ chi phúc. Huyễn khu hữu tận, thật hành bất vong.

(聽經有經耳之緣。隨喜之福。幻軀有盡。實行不亡。)

(1) Như nuốt kim cương: Theo kinh Hoa Nghiêm, giống như nuốt kim cương, viên kim cương sẽ không bị vỡ ra và tiêu hóa nhưng nó sẽ xuyên qua đường tiêu hóa rồi trở ra nguyên vẹn. Người tạo nhân duyên dù rất nhỏ với Phật pháp, nhân duyên đó sẽ không bị tiêu hủy, nó sẽ cắt xuyên qua vô minh, phá trừ nghiệp chướng khổ đau do vô minh và phiền năo tạo ra, và sẽ đưa đến sự giải thoát cao thượng nhất.

(2) Vĩnh Minh Diên Thọ (904-975): Tổ thứ ba của Pháp Tướng Tông và cũng là Tổ thứ sáu Tịnh Độ Tông.

(3) Văn nhi bất tín thượng kết Phật chủng chi nhân. Học nhi bất thành do ích nhân thiên chi phúc.

(聞而不信尚結佛種之因。學而不成猶益人天之福。)

 

Chương 54: Khán Kinh nhược bất hướng tự kỉ thượng tố công phu, tuy khán tận vạn tạng do vô ích dă.

(看經若不向自己上做工夫。雖看盡萬藏猶無益也。)

(1) Khuê Phong Tông Mật: Xem chú thích chương 52.

(2) Thức tự khán Kinh nguyên bất chứng ngộ, tiêu văn thích nghĩa duy sí tham sân tà kiến.

(識字看經元不證悟。銷文釋義唯熾貪嗔邪見。)

 

Chương 55: Học vị chí ư Đạo, huyễn diệu kiến văn đồ dĩ khẩu thiệt biện lợi tương thắng giả, như xí ốc trà đan hoạch.

(學未至於道。衒耀見聞徒以口舌辨利相勝者。如廁屋塗丹雘)

 

Chương 56: Xuất gia nhân tập ngoại điển như dĩ đao cát nê, nê vô sở dụng nhi đao tự thương yên.

(出家人習外典。如以刀割泥。泥無所用而刀自傷焉。)

 

Chương 57: Xuất gia vi tăng khởi tế sự hồ, phi cầu an dật dă, phi cầu ôn băo dă, phi cầu lợi danh dă, vị sanh tử dă, vị đoạn phiền năo dă, vị tục phật tuệ mệnh dă, vị xuất tam giới độ chúng sanh dă.

(出家為僧豈細事乎。非求安逸也。非求溫飽也。非求利名也。為生死也。為斷煩惱也。為續佛慧命也。為出三界度眾生也)

 

Chương 58: Phật vân: Vô thường chi hỏa thiêu chư thế gian. Hựu vân: Chúng sanh khổ hỏa tứ diện câu phần. Hựu vân: Chư phiền năo tặc thường tứ sát nhân, đạo nhân nghi tự cảnh ngộ, như cứu đầu nhiên.

(佛云。無常之火燒諸世間。又云。眾生苦火四面俱焚。又云。諸煩惱賊常伺殺人。道人宜自警悟。如救頭燃。)

 

Chương 59: Doanh cầu thế lợi nghiệp hỏa gia tân.

(營求世利業火加薪。)

 

Chương 60: Danh lợi nạp tử bất như thảo y dă nhân.

(名利衲子不如草衣野人。)

 

Chương 61: Phật vân: Vân hà tặc nhân, giả ngă y phục, b́ phiến Như Lai, tạo chủng chủng nghiệp.

(佛云。云何賊人。假我衣服。裨販如來。造種種業。)

 

Chương 62: Ô hô, Phật tử nhất y nhất thực, mạc phi nông phu chi huyết, chức nữ khổ, đạo nhăn vị minh, như hà tiêu đắc.

(於戲。佛子一衣一食。莫非農夫之血織女苦。道眼未明。如何消得。)

 

(1) Truyền Đăng Lục: gồm 30 quyển do ngài Đạo Ngạn hệ thống vào năm 1004 (thuộc thời nhà Tống), ghi chép sự truyền thừa từ bảy vị Phật cho đến ngài Pháp Nhăn Văn Ích (885-958), gồm 1701 vị. 1700 công án Thiền được rút ra từ tác phẩm nầy.

(2) Nhất đạo nhân đạo nhăn vị minh cố, thân vi mộc khuẩn dĩ hoàn tín thí.

(一道人道眼未明故。身為木菌以還信施。)

 

Chương 63: Cố viết: Yếu thức phi mao đái giác để ma, tức kim hư thụ tín thí giả thị. Hữu nhân vị cơ nhi thực vị hàn nhi y, thị thành hà tâm tai. Đô bất tư mục tiền chi lạc, tiện thị thân hậu chi khổ dă.

(故曰要識披毛戴角底麼。即今虛受信施者是。有人未飢而食未寒而衣。是誠何心哉。都不思目前之樂。便是身後之苦也)

 

Chương 64: Cố viết: Ninh dĩ nhiệt thiết triền thân, bất thụ tín tâm nhân y. Ninh dĩ dương đồng quán khẩu, bất thụ tín tâm nhân thực. Ninh dĩ thiết quán đầu thân, bất thụ tín tâm nhân pḥng xá đẳng.

(故曰。寧以熱鐵纏身。不受信心人衣。寧以洋銅灌口。不受信心人食。寧以鐵鑵投身。不受信心人房舍等。)

 

(1) Bất dĩ phá giới chi thân thụ tín tâm nhân chủng chủng cung dưỡng năi chủng chủng thí vật. Bồ tát nhược bất phát thị nguyện tắc đắc khinh cấu tội.

(不以破戒之身受信心人種種供養乃種種施物。菩薩若不發是願則得輕垢罪。)

 

Chương 65: Cố viết: Đạo nhân tiến thực như tiến độc, thụ thí như thụ tiển. Tế hậu ngôn cam, đạo nhân sở úy.

(故曰。道人進食如進毒。受施如受箭。弊厚言甘。道人所畏)

 

Chương 66: Cố viết: Tu đạo chi nhân như nhất khối ma đao chi thạch. Trương Tam dă lai ma, Lư Tứ dă lai ma, ma lai ma khứ, biệt nhân đao khoái nhi tự gia thạch tiệm tiêu. Nhiên hữu nhân cánh hiềm tha nhân bất lai ngă thạch thượng ma, thật vi khả tích!

(故曰。修道之人如一塊磨刀之石。張三也來磨。李四也來磨。磨來磨去。別人刀快而自家石漸消。然有人更嫌佗人不來我石上磨。實為可惜。)

 

Chương 67: Cố cổ ngữ diệc hữu chi viết: Tam đồ khổ vị thị khổ, ca sa hạ thất nhân thân thủy thị khổ dă.

(故古語亦有之曰。三途苦未是苦。袈裟下失人身始是苦也。)

 

(1) Kim sanh vị minh tâm, tích thủy dă nan tiêu.

(今生未明心。滴水也難消。)

 

Chương 68: Đốt tai thử thân. Cửu khổng thường lưu bách thiên ung thư nhất phiến bạc b́. Hựu vân: Cách nang thịnh phẩn nùng huyết chi tụ, xú uế khả bỉ, vô tham tích chi, hà huống bách niên tương dưỡng nhất tức bội ân.

(咄哉此身。九孔常流百千癰疽一片薄皮。又云革囊盛糞膿血之聚。臭穢可鄙。無貪惜之。何況百年將養一息背恩。)

 

(1) Tương bất tịnh thủ chấp kinh quyển, tại Phật tiền thế thóa giả, tất đương hoạch xí trùng báo.

(將不淨手執經卷。在佛前涕唾者。必當獲廁虫報。)

(2) Đại tiểu tiện thời trạng như mộc thạch, thận vật ngữ ngôn tác thanh, hựu vật họa bích thư tự, hựu vật thổ đàm nhập xí trung. Hựu vân: Đăng xí bất tẩy tịnh giả, bất đắc tọa thiền trạng, bất đắc đăng bảo điện.

(大小便時狀如木石。慎勿語言作聲。又勿畫壁書字。又勿吐痰入廁中。又云登廁不洗淨者。不得坐禪狀。不得登寶殿。)

(3) Sơ nhập xí thời, tiên tu đàn chỉ tam hạ, dĩ cảnh tại uế chi quỷ, mặc tụng thần chú các thất biến…

(初入廁時。先須彈指三下。以警在穢之鬼。默誦神咒各七遍。初誦入廁咒曰。

 

Chương 69: Hữu tội tức sám hối, phát nghiệp tức tàm quư, hữu trượng phu khí tượng. Hựu cải quá tự tân tội tùy tâm diệt.

(有罪即懺悔。發業即慚愧有丈夫氣象。又改過自新罪隨心滅。)

 

Chương 70: Đạo nhân nghi ứng đoan tâm dĩ chất trực vi bổn. Nhất biều nhất nạp lữ bạc vô lụy.

(道人宜應端心以質直為本。一瓢一衲旅泊無累。)

 

(1) Tâm như trực huyền. (心如直絃)

(2) Trực tâm thị đạo tràng. (直心是道場)

 

Chương 71: Phàm phu thủ cảnh, đạo nhân thủ tâm. Tâm cảnh lưỡng vong năi thị chân pháp.

(凡夫取境。道人取心。心境兩忘乃是真法。)

 

Chương 72: Thanh văn yến tọa lâm trung bị ma vương tróc. Bồ tát du hí thế gian ngoại ma bất kiến.

(聲聞宴坐林中被魔王捉。菩薩遊戲世間外魔不見。)

 

Chương 73: Phàm nhân lâm mệnh chung thời, đăn quán ngũ uẩn giai không, tứ đại vô ngă, chân tâm vô tướng bất khứ bất lai, sanh thời Tánh diệc bất sanh, tử thời Tánh diệc bất khứ, trạm nhiên viên tịch, tâm cảnh nhất như.

凡人臨命終時。但觀五蘊皆空四大無我。真心無相不去不來。生時性亦不生。死時性亦不去。湛然圓寂心境一如。

 

Chương 74: Phàm nhân lâm mệnh chung thời, nhược nhất hào mao phàm thánh t́nh lượng bất tận, tư lự vị vong, hướng lư thai mă phúc lí thác chất, nê lê hoạch thang trung chử sáp, năi chí y tiền tái vi lâu nghĩ văn manh.

(凡人臨命終時。若一毫毛凡聖情量不盡。思慮未忘。向驢胎馬腹裏托質。泥犁鑊湯中煮煠。乃至依前再為螻蟻蚊虻。)

 

(1) Bạch Vân Thủ Đoan (1025-1072).

(2) Thiết sử nhất hào mao phàm thánh t́nh niệm tịnh tận, diệc vị miễn nhập lư thai mă phúc trung. Nhị kiến tinh phi tán nhập chư thú.

 

Chương 75: Thiền học giả bổn địa phong quang nhược vị phát minh, tắc cô tiễu huyền quan nghĩ ṭng hà thấu? Văng văng đoạn diệt không dĩ vi Thiền, vô kí không dĩ vi đạo, nhất thiết câu vô dĩ vi cao kiến.

(禪學者本地風光若未發明。則孤峭玄關擬從何透。往往斷滅空以為禪。無記空以為道。一切俱無以為高見。)

 

(1) Vân Môn Văn Yển (862 hay 864-949): Ngài sinh ở tỉnh Chiết Giang, xuất gia theo học Luật khi c̣n nhỏ. Ngài ngộ đạo khi bị găy chân v́ bị đẩy ra khỏi cửa chùa. Sau đó, ngài theo tu học với Thiền sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn, được đại ngộ và trở thành truyền nhân của Thiền sư. Ngài tiếp tục xiển dương Phật pháp ở núi Vân Môn nên được gọi là Thiền sư Vân Môn. Ngài có 88 người đệ tử đắc Pháp.

(2) Quang bất thấu thoát hữu lưỡng chủng bệnh. Thấu quá pháp thân diệc hữu lưỡng chủng bệnh.

(光不透脫有兩種病。透過法身亦有兩種病。須一一透得始得)

 

Chương 76: Tông sư diệc hữu đa bệnh. Bệnh tại nhĩ mục giả, dĩ mi nỗ mục trắc nhĩ điểm đầu vi Thiền. Bệnh tại khẩu thiệt giả, dĩ điên ngôn đảo ngữ hồ hát loạn hát vi Thiền. Bệnh tại thủ túc giả, dĩ tiến tiền thối hậu chỉ đông họa tây vi Thiền.

(宗師亦有多病。病在耳目者以[*]眉努目側耳點頭為禪。病在口舌者以顛言倒語胡喝亂喝為禪。病在手足者以進前退後指東畫西為禪。)

 

Chương 77: Bổn phận Tông Sư toàn đề thử cú. Như mộc nhân xướng phách, hồng lô điểm tuyết. Diệc như thạch hỏa điện quang. Học giả thật bất khả nghĩ nghị dă. Cố cổ nhân tri sư ân viết: Bất trọng tiên sư đạo đức, chỉ trọng tiên sư bất vị ngă thuyết phá.

(V本分宗師全提此句。如木人唱拍紅爐點雪。亦如石火電光。學者實不可擬議也。故古人知師恩曰。不重先師道德。只重先師不為我說破。)

 

(1) Thiền sư Động Sơn Lương Giới (807-868).

 

Chương 78: Đại để học giả tiên tu tường biện Tông đồ. Tích Mă Tổ nhất hát dă Bách Trượng nhĩ lung, Hoàng Bá thổ thiệt. Giá nhất hát tiện thị niêm hoa tiêu tức, diệc thị Đạt Ma sơ lai để diện mục. Hu thử Lâm Tể Tông chi uyên nguyên.

(大抵學者先須詳辨宗途。昔馬祖一喝也百丈耳聾黃檗吐舌。這一喝便是拈花消息。亦是達磨初來底面目。吁此臨濟宗之淵源。)

 

(1) Mă Tổ Đạo Nhứt (709-788): Ngài xuất gia từ nhỏ và là một hành giả chuyên cần nhất trong chúng của ngài Hoài Nhượng núi Nam Nhạc. Một hôm, ngài Hoài Nhượng thấy Đạo Nhất đang tham thiền, hỏi: “Ông đang làm ǵ đó?”

- Thưa Thầy con đang tham thiền.

- Ông tham thiền muốn cầu ǵ?

- Thưa làm Phật.

Ngài Hoài Nhượng bỏ đi. Một lúc sau, ngài Đạo Nhất giật ḿnh v́ những tiếng ồn chói tai. Nh́n lên, ngài Đạo Nhất thấy vị Thầy đang cọ hai miếng ngói vào nhau. Đạo Nhất hỏi:

- Thầy mài hai miếng ngói để làm ǵ vậy?”

- Để làm gương.

- Làm như vậy sao có thể thành gương?

- Ông cũng như vậy. Ông nghĩ là cứ ngồi thiền th́ sẽ thành Phật sao?

- Thưa Thầy, vậy phải làm thế nào?

Ngài Hoài Nhượng nói:

- Nếu xe không chịu đi th́ đánh ḅ hay đánh xe?

- Thưa đánh ḅ.

- Cũng vậy, Thiền không phải là dừng thân mà là dừng tâm, cũng không phải là ngồi măi không nằm. Không ai thành Phật nhờ ngồi măi. Thiền là không bám chấp, không có ǵ để được, không có ǵ để mất.

Nghe lời đó, ngài Đạo Nhất liền đại ngộ và được ngài Hoài Nhượng ấn chứng. Về sau, ngài đào tạo được 139 đệ tử đắc Pháp.

(2) Bách Trượng Hoài Hải (720 hay 749-814): Ngài theo học với Mă Tổ. Sau khi ngộ với tiếng hét của Mă Tổ và được ấn chứng, ngài thu nạp đồ chung rất đông. Từ trước, các chùa viện Thiền Tông ở Trung Hoa được tổ chức theo truyền thống từ Luật Tạng. Đến ngài Bách Trượng, ngài tạo một truyền thống mới. Ngài chế ra luật lệ và thiết lập một nền tảng kinh tế mới thích hợp với văn hóa và tinh thần thời đại lúc đó ở Trung Hoa. Từ đó, bộ Bách Trượng Thanh Quy đă ảnh hưởng sâu rộng vào sinh hoạt ở các chùa viện Thiền Tông. Một trong những câu nói của ngài được nhiều người biết đến là “Một ngày không làm, một ngày không ăn.” (Nhứt nhựt bất tác, nhứt nhựt bất thực.)

(3) Hoàng Bá Hy Vận (?-850): Ngài vào núi Hoàng Bá ở tỉnh Giang Tây xuất gia khi c̣n nhỏ. Khi hỏi Thầy là ngài Bách Trượng về nhân duyên ngộ đạo, ngài Bách Trượng trả lời: “Tiếng hét của Mă Tổ làm tai ta điếc ba ngày.” Nghe thế, ngài Hoàng Bá há miệng kinh ngạc, lưỡi rơi xuống đến tận cằm, đại ngộ.

 

Chương 79: Đại phàm Tổ Sư tông đồ hữu ngũ. Viết Lâm Tế tông, viết Tào Động tông, viết Vân Môn tông, viết Qui Ngưỡng tông, viết Pháp Nhăn tông.

(大凡祖師宗途有五。曰臨濟宗。曰曹洞宗。曰雲門宗。曰溈仰宗曰法眼宗)

 

Lâm Tế gia phong xích thủ đơn đao sát Phật sát Tổ, biện cổ kim ư huyền yếu, nghiệm long xà ư chủ tân, thao kim cương bảo kiếm, tảo trừ trúc mộc tinh linh, đoạt sư tử toàn uy, chấn liệt hồ li tâm đảm.

(臨濟家風赤手單刀殺佛殺祖。辨古今於玄要。驗龍蛇於主賓。操金剛寶劍。掃除竹木精靈。奪獅子全威。震裂狐狸心膽。)

 

Chương 80: Tào Động gia phong quyền khai Ngũ Vị thiện tiếp tam căn, hoành trừu bảo kiếm trảm chư kiến trù lâm, diệu hiệp hoằng thông tiệt vạn cơ xuyên tạc, Oai Âm na bạn măn mục yên quang, không kiếp dĩ tiền nhất hồ phong nguyệt.

(曹洞家風權開五位善接三根。橫抽寶劍斬諸見稠林。妙[-+]弘通截萬機穿鑿。威音那畔滿目煙光。空劫已前一壺風月。)

 

Chương 81: Vân Môn gia phong kiếm phong hữu lộ thiết bích vô môn, hân phiên lộ bố cát đằng, tiễn khước thường t́nh kiến giải, tấn điện bất cập tư lương, liệt diễm ninh dung thấu bạc. (雲門家風劍鋒有路鐵壁無門。掀翻露布葛藤。剪卻常情見解。迅電不及思量。裂焰寧容湊泊。)

 

Chương 82: Qui Ngưỡng gia phong sư tư xướng ḥa phụ tử nhất gia, hiếp hạ thư tự đầu giác tranh vanh (tranh vanh: cao ngất), thất trung nghiệm nhân sư tử yêu chiết, li tứ cú tuyệt bách phi nhất chùy phấn toái. Hữu lưỡng khẩu vô nhất thiệt cửu khúc châu thông.

(溈仰家風師資唱和父子一家。脅下書字頭角崢嶸。室中驗人獅子腰折。離四句絕百非一槌粉碎有兩口無一舌九曲珠通。)

 

Chương 83: Pháp Nhăn gia phong ngôn trung hữu hưởng cú lí tàng phong, độc lâu (độc lâu:đầu lâu) thường vu thế giới, tị khổng ma xúc gia phong, phong kha nguyệt chử hiển lộ chân tâm, thúy trúc hoàng hoa tuyên minh diệu pháp.

(法眼家風言中有響句裡藏鋒。髑髏常于世界。鼻孔磨觸家風。風柯月渚顯露真心。翠竹黃花宣明妙法。)

 

Chương 84: Lâm Tế hát, Đức Sơn bổng, giai triệt chứng vô sanh, thấu đính thấu để, đại cơ đại dụng, tự tại vô phương, toàn thân xuất một, toàn thân đam hà, thối thủ Văn Thù Phổ Hiền đại nhân cảnh giới.

(臨濟喝。德山棒。皆徹證無生。透頂透底大機大用。自在無方。全身出沒全身擔荷。退守文殊普賢大人境界。)

 

Chương 85: Đại trượng phu kiến Phật kiến Tổ như oan gia. Nhược trước Phật cầu bị Phật phược. Nhược trước Tổ cầu bị Tổ phược. Hữu cầu giai khổ, bất như vô sự.

(大丈夫見佛見祖如冤家。若著佛求被佛縛。若著祖求被祖縛。有求皆苦。不如無事。)

 

(1) Ngài Đơn Hà ngụ trong một ngôi chùa trong một ngày mùa Đông lạnh lẽo. Ngôi chùa nghèo nàn xơ xác, không có thức ăn cũng không có củi sưởi. Ngài Đơn Hà vào chánh điện rinh tượng Phật gỗ trên bàn thờ đem ra ngoài đốt. Khi ngài đang hong tay sưởi ấm, một vị tăng khác bước đến, thấy vậy nói:

- Ông điên rồi sao? Sao dám lấy tượng Phật làm củi đốt?

- “Củi đốt?” Ngài Đơn Hà trả lời. “Tôi đâu lấy Phật làm củi. Tôi chỉ đốt để lấy xá lợi trong đó.”

-  Thật là khó nghe. Làm sao có được xá lợi từ gỗ.

Ngài Đơn Hà nói:

- Nếu chỉ là gỗ th́ tại sao lại không thể dùng để sưởi?

(2) Theo truyền thuyết, khi đức Thích Ca đản sinh, ngài bước đi bảy bước, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất, nói: “Trên trời dưới trời, chỉ có “ngă’ là tôn quí.” Ngài Vân Môn Thiền sư nói: “Nếu ta có mặt lúc ấy, ta sẽ cho ăn đ̣n rồi liệng thây cho chó đói. Khi đó thế giới mới thật sự thanh b́nh.”

(3) Một lăo bà từ chối gặp đức Phật.

 

Chương 86: Thần quang bất muội vạn cổ huy du, nhập thử môn lai mạc tồn tri giải.

(神光不昧萬古徽猷。入此門來莫存知解。)

 

(1) Tri chi nhất tự chúng diệu chi môn.

(知之一字眾妙之門)

 

 

 


 

sen 5 OK2