B15-JsLo OK

 

NGỮ LỤC BỒ ĐỀ ĐẠT MA

 

Nguyên Hảo (Thị Giới) dịch

 

 

 

 

NGÀI BỒ ĐỀ ĐẠT MA

 

Theo truyền thống Thiền tông, vào thế kỷ thứ năm, ngài Bồ Đề Đạt Ma vào Trung Hoa để dạy Thiền. Cho đến ngày nay, có một số học giả vẫn nghi ngờ về sự hiện hữu của Bồ Đề Đạt Ma, cũng như họ đă từng nghi ngờ về sự hiện hữu của đức Thích Ca Mâu Ni và vua A Dục trước khi những chỉ dụ của vị vua huyền thoại nầy được các nhà khảo cổ t́m thấy và giải mă.

 

Một ngàn năm trăm năm là một khoảng thời gian dài đằng đẵng đối với chúng ta, nhưng một ngàn năm trăm năm đó chẳng qua chỉ là một cái phẩy tay áo trên núi cao của vị tôn sư. Và Thiền đă thật sự đến với thế gian, với loài người.

 

Bồ Đề Đạt Ma ra đời vào khoảng năm 440 tại Kanchi, thủ đô của vương quốc Pallava ở miền Nam Ấn Độ. Ngài thuộc ḍng Bà La Môn, là hoàng tử thứ ba con vua Simhavarman (Hương Chí). Từ trẻ, Ngài đă hâm mộ đạo Phật và về sau thọ Pháp với ngài Prajnataja, vị Tổ thứ hai mươi bảy trong ḍng Thiền, khi vị nầy đến viếng nhà vua. Chính ngài Prajnataja khuyên Bồ Đề Đạt Ma sang truyền Phật Pháp ở Trung Hoa. Lúc bấy giờ đường lục địa mất an ninh nên Bồ Đề Đạt Ma đă đi thuyền và vào miền Nam Trung Hoa.

 

Theo sách Truyền Đăng Lục của Đạo Nguyên, sau ba năm lênh đênh trên biển, Bồ Đề Đạt Ma vào đến miền Nam Trung Hoa vào năm 527 A.D. Vua Lương Vũ Đế mời Ngài vào cung hỏi đạo, Bồ Đề Đạt Ma dùng phương tiện hiển bày giáo lư Đốn Ngộ nhưng vua không hiểu. Cuộc đối đáp được ghi lại như sau:

 

Vua Lương Vũ Đế hỏi: “Thế nào là Thánh đế đệ nhất nghĩa?”

 

Đáp: “Rỗng không không Thánh.”

 

Hỏi: “Trước mặt trẫm là ai vậy?”

 

Đáp: “Không biết.”

 

Lại hỏi: “Trẫm từ khi nối ngôi vua đến nay chuyên giúp người, cứu thế, chép kinh, tạo tượng, được công đức ǵ?”

 

Đáp: “Không có một chút công đức.”

 

Vua nói: “V́ sao không có công đức?”

 

Đáp: “Chỉ được quả nhỏ trong chốn trời người, đó là nhân hữu lậu như h́nh theo h́nh, tuy có nhân lành, không phải tướng chân thật.”

 

Hỏi: “Thế nào là công đức chân thật?”

 

Đáp: “Trí thanh tịnh tṛn đầy rỗng lặng. Công đức ấy không thể lấy việc thế gian mà cầu.”

 

(Nhĩ thời Vũ Đế vấn: Như hà thị Thánh đế đệ nhất nghĩa?

 

Sư viết: Khuếch nhiên vô Thánh.

 

Đế viết: Đối trẫm giả thùy?

 

Sư viết: Bất thức.

 

Hựu vấn: Trẫm tự đăng cửu ngũ dĩ lai, độ nhân, tạo thế, sao kinh, hữu hà công đức?

 

Sư viết: Vô công đức.

 

Đế viết: Hà dĩ vô công đức.

 

Sư viết: Thử thị nhân thiên tiểu quả, hữu lậu chi nhân, như h́nh tùy h́nh, tuy hữu thiện nhân, phi thị thực tướng.

 

Vũ Đế vấn: Như hà thị thật công đức?

 

Sư viết: Tịnh trí diệu viên, thể tự không tịch. Như thị công đức, bất dĩ thế cầu.)

 

(Tổ Đưởng Tập)

 

Bồ Đề Đạt Ma biết nhân duyên chưa đủ, ngài bí mật vượt sông Dương Tử, tương truyền trên một nhành lau. Cũng theo truyền thuyết, Ngài lên ngọn Thiếu Thất cách chùa Thiếu Lâm núi Tung Sơn khoảng một dặm để ngồi “Bích Quán” chín năm.

 

Theo sách Truyền Đăng Lục của Đạo Nguyên, Bồ Đề Đạt Ma mất vào ngày 5 tháng 10 năm 536 do một vị tu sĩ v́ ganh tỵ ám hại bằng thuốc độc. Theo Tục Cao Tăng Truyện của Đạo Tuyên, Bồ Đề Đạt Ma mất trên bờ sông Lô. Cũng theo Đạo Tuyên, ba năm sau khi Bồ Đạt Ma mất, một vị sứ thần đă gặp Ngài trong vùng núi Trung Á. Ngài vác trên vai cây gậy có treo một chiếc dép, nói rằng Ngài đang đi về Thiên Trúc. Các tăng sĩ nghe tin nầy, đào mộ Ngài và thấy chỉ c̣n một chiếc dép trong quan tài.

 

Bồ Đề Đạt Ma được coi là người đầu tiên truyền Thiền vào Trung Hoa. Phương pháp và giáo lư mà Bồ Đề Đạt Ma dạy cho môn đồ cũng vẫn là con đường nhận ra bản tâm để thành Phật. Nhưng với Bồ Đề Đạt Ma, Thiền - hay sự sống trong mỗi khoảnh khắc - với Phật là một, Phật với Tâm – B́nh Thường Tâm – không hai. Thay v́ dạy môn đồ lắng trong tâm thức, Ngài chỉ cho họ “nh́n thấy” một ḥn đá, một nhành lau trôi trên sông, một chiếc dép lẽ không mang… Và v́ vậy Bồ Đề Đạt Ma được coi như một ngọn đèn thắp sáng từ nụ cười của Ngài Ma Ha Ca Diếp trước cành hoa Phật đưa lên, để thắp sáng măi những ngọn đèn khác về sau.

 

Vả lại, trước khi Bồ Đề Đạt Ma vào Trung Hoa, Phật giáo ở đây chỉ chú trọng nhiều vào nghiên cứu, giảng luận kinh điển. Đại Thừa Bích Quán do Ngài truyền dạy lấy thiền quán thực tiễn làm tinh yếu tu học. Bích Quán không phải là một loại “thiền chết” như có người hiểu là ngồi quay mặt vào vách. Bích Quán là dừng tâm trong chỗ “không thấy có ḿnh có người, phàm thánh là một, không phân biệt, tịch diệt vô vi.” Đó là “an tâm,” lập mệnh.

 

Huệ Khả đến cầu an tâm, an tâm là mục đích của Bích Quán. Và chỉ khi đến với Bồ Đề Đạt Ma, Huệ Khả mới được “an tâm.” Đó là sứ mệnh của Thiền mà Bồ Đề Đạt Ma đem đến cho thời đại.

 

Khi Bồ Đề Đạt Ma đến Đông Kinh, có một vị sư tên Thần Quang đi theo  xin thờ làm thầy. Thần Quang là đại biểu cho mẫu người trí thức thời bấy giờ. Thần Quang trước đă nghiên cứu thâm sâu triết lư Lăo Trang và Khổng, về sau không thỏa măn và trở về nghiên cứu Phật giáo. Ông là người uyên bác, học rộng hiểu nhiều nhưng tâm vẫn bất an. Mỗi khi Thần Quang hỏi Pháp, Bồ Đề Đạt Ma đều không trả lời.

 

Thần Quang tự nhủ: “Người xưa v́ cầu Pháp có thể đập đầu rơi tủy, cắt máu họa tượng, xả tóc che bùn, thí thân cho cọp. Người xưa như vậy sao ta lại tiếc thân?” Rồi đứng suốt đêm ngoài trời mưa tuyết.

 

Sáng hôm sau, Bồ Đề Đạt Ma thấy vậy, hỏi: “Ngươi đứng ngoài tuyết muốn cầu việc ǵ?”

 

Thần Quang rơi lệ thưa: “Nguyện xin Ḥa Thượng mở cho con đường mưa móc, rộng độ quần sanh.”

 

Sư nói: “Trí tuệ cao tột của chư Phật phải trải qua vô số kiếp tu hành. Người tâm ư nhỏ hẹp không thể đạt được.”

 

Thần Quang nghe nói tự chặc cánh tay trái đặt trước mặt Sư.

 

Sư bảo Thần Quang: “Chư Phật và Bồ tát cầu Pháp không lấy thân làm thân, không lấy tánh mệnh làm tánh mệnh. Ngươi chặc tay cầu Pháp là một việc làm xứng đáng.” Rồi đổi tên Thần Quang thành Huệ Khả.

 

Huệ Khả thưa: “Xin Ḥa thượng an tâm.”

 

Sư bảo: “Đưa tâm ra đây, ta sẽ v́ ngươi mà an cho!”

 

Thưa: “Con t́m tâm không được.”

 

Sư bảo: “T́m được là tâm của ngươi chăng? Ta đă v́ ngươi mà an tâm cho rồi.”

 

Sư lại hỏi Huệ Khả: “Ta đă v́ ngươi mà an tâm cho rồi, thấy chăng?”

 

Huệ Khả nghe xong đại ngộ, nói: “Ngày nay mới biết rằng tất cả các pháp từ xưa đều vốn rỗng lặng; ngày nay mới biết rằng bồ đề vốn chẳng xa xôi. V́ vậy Bồ tát không động niệm mà đến bờ Bát Nhă, không động niệm mà chứng Niết Bàn.”

 

Sư bảo: “Đúng vậy! đúng vậy!”

 

Huệ Khả lại hỏi: “Pháp của Ḥa Thượng có ghi chép bằng văn tự hay không?”

 

Sư đáp: “Pháp của ta lấy tâm truyền tâm, không lập văn tự.”

 

(Tổ Đường Tập)

 

Thiền của Bồ Đề Đạt Ma cũng gọi là Tổ Sư Thiền để phân biệt với Như Lai Thiền. Sự phân biệt nầy được đề cập trong cuộc vấn đáp giữa Bồ Đề Đạt Ma và Thái thú Dương Diễn như sau:

 

Thái thú Dương Diễn hỏi: “Ở các nước Thiên Trúc bên phương Tây, người được truyền Pháp được gọi là Tổ, tôi chưa rơ ư nầy, xin hỏi nghĩa như thế nào?”

 

Sư đáp: “Thấu rơ căn bản Phật Tâm không một chút lầm lẫn, tu và hiểu tương ưng, gọi là Tổ.”

 

Lại hỏi: “Chỉ như vậy hay c̣n ǵ khác nữa?”

 

Sư đáp: “Thấu rơ Tâm người th́ biết khắp xưa nay, không bỏ có không, cũng không bám giữ. Không hiền không ngu, không mê không ngộ. Nếu thấu được việc đó th́ gọi là Tổ.”

 

Dương Diễn lại hỏi: “Đệ tử từ lâu trong chốn ác nghiệp, không gần gũi người trí thức để tỏ ḷng cung kính, bị chút trí huệ nhỏ trói buộc hóa ra ngu mê nên không tỏ ngộ được đạo. Nguyện xin Sư chỉ bày Đạo lớn, thông đạt Tâm Phật, tu hành dụng tâm. Xin hỏi thế nào gọi là Pháp Tổ?”

 

Sư nói kệ như sau:

 

Không thấy việc ác mà hiềm ghét,

Không quán việc thiện mà ham theo,

Không bơ chỗ ngu mà cầu hiền,

Cũng không bơ mê để cầu ngộ.

Đạt đạo lớn siêu việt suy lường,

Thông Tâm Phật ra ngoài đo đếm,

Không ở trong phàm cùng Thánh,

Siêu nhiên gọi đó là Tổ.

 

(Diệc bất đồ ố nhi sanh hiềm, diệc bất quán thiện nhi sanh thố;

Diệc bất xả ngu nhi cận hiền, diệc bất tha mê nhi tựu ngộ.

Đạt đại đạo hề quá lượng, thông Phật Tâm hề xuất độ;

Bất dữ phàm Thánh đồng triền, siêu nhiên danh chi viết Tổ.)

 

(Tổ Đường Tập).

 

 

sen 5 OK2