B15-JsLo OK

 

NGỮ LỤC BỒ ĐỀ ĐẠT MA

 

Nguyên Hảo (Thị Giới) dịch

 

 

bodhidarma

 

 

 

2. HUYẾT MẠCH LUẬN

Ba cơi (1) hổn độn cùng về một tâm. Phật trước Phật sau lấy tâm truyền tâm, không dựa vào văn tự.

Hỏi: Nếu không dựa vào văn tự, lấy ǵ hiểu được tâm?

Đáp: Ông hỏi ta, đó là tâm ông. Ta trả lời ông, đó là tâm ta. Nếu ta không có tâm, làm sao trả lời ông được? Nếu ông không có tâm, ông làm sao hỏi được? Từ vô thỉ kiếp đến nay, những vận động lớn nhỏ trong mọi lúc, mọi nơi đều là tâm ông, đều là Phật ông. Tâm chính là Phật cũng lại như vậy. Ngoài tâm đó ra, rốt không có Phật nào chứng được. Bỏ tâm mà t́m Bồ Đề (Trí Tuệ) và Niết Bàn (giải thoát) ở bên ngoài th́ không thể được. Tự Tánh (2) chân thật, là pháp không có nhân quả, đó là nghĩa của Tâm. Tâm là Niết Bàn. Nếu cho rằng ngoài tâm có thể t́m thấy Phật và Bồ Đề, thật không có chỗ đó. Phật và Bồ đề ở chỗ nào? Ví như có người lấy tay nắm bắt hư không phỏng có được không? Hư không chỉ có tên gọi, cũng không tướng mạo, cầm không được, thả không được, nên không thể nắm bắt hư không. Bỏ tâm mà t́m Phật bên ngoài th́ không bao giờ t́m được. Phật chính nơi tâm mà được, cớ sao lại bỏ tâm mà t́m Phật bên ngoài? Phật trước Phật sau chỉ nói tâm này. Tâm chính là Phật, Phật chính là tâm, ngoài tâm không có Phật, ngoài Phật không có tâm. Nếu cho rằng ngoài tâm có Phật, Phật ở chỗ nào? Ngoài tâm đă không có Phật, sao lại khởi tâm thấy Phật. Đi theo sự lừa dối, không thấu được tâm ḿnh, bị sự vật vô t́nh ở bên ngoài làm chủ, mất hết tự do. Nếu không tin như thế th́ chỉ lừa dối ḿnh một cách vô ích, đó không phải là lỗi của Phật.

Chúng sinh điên đảo, không tỉnh biết tâm ḿnh là Phật. Nếu biết tâm ḿnh là Phật th́ không theo bên ngoài mà t́m Phật. Phật không độ Phật, đem tâm t́m Phật th́ chẳng biết Phật, chỉ theo bên ngoài mà t́m Phật, đó là chẳng biết tự tâm là Phật. Cũng không có việc đem Phật mà lễ Phật, không có việc dùng tâm mà niệm Phật. Phật không tụng Kinh, Phật không giữ giới, Phật không phạm giới. Phật không giữ, không phạm, cũng không tạo việc lành việc dữ.

Nếu muốn t́m Phật, cần phải thấy Tánh (3). Người thấy Tánh là Phật. Nếu không thấy Tánh, niệm Phật, tụng Kinh, ăn chay, giữ giới cũng đều là những chuyện vô ích. Niệm Phật th́ được hưởng quả báo tốt, tụng Kinh được thông minh, giữ giới được sinh cơi trời, bố thí được hưởng phước, c̣n dùng để t́m Phật th́ trọn không thể được.

Nếu tự ḿnh không thấu rơ, nên t́m gặp bậc thiện trí thức để trừ cho xong cái nền móng của sinh tử. Người không thấy Tánh th́ không thể gọi là thiện trí thức. Nếu không thấy Tánh th́ dù có giảng được mười hai bộ Kinh cũng không khỏi sinh tử luân hồi (4), chịu khổ trong ba cơi không có ngày ra. Xưa có vị tỳ kheo (5) tên là Thiện Tinh tụng thuộc mười hai bộ Kinh cũng không thoát khỏi luân hồi cũng do không thấy Tánh. Thiện Tinh mà c̣n như vậy, người ngày nay giảng được năm ba bản Kinh Luận lại cho đó là Phật Pháp th́ thật là mê mờ. Nếu không biết được tự tâm, giảng giải văn thư suông th́ chỉ là vô dụng.

Muốn t́m Phật cần phải thấy Tánh. Tánh tức là Phật. Phật là người tự tại, người không để tâm, không tạo tác. Nếu không thấy Tánh, suốt ngày lang bang đuổi theo bên ngoài mà t́m kiếm, t́m măi cũng không thấy được Phật.

Tuy không một vật có thể được, nhưng nếu muốn thấu rơ cũng cần t́m gặp bậc thiện trí thức, đem hết ḷng khổ cầu làm cho tâm hiểu thấu. Sống chêt là việc lớn, không nên luống để trôi qua, tự lừa dối chẳng ích ǵ. Giả như có trân bảo nhiều như núi, quyến thuộc như cát sông Hằng, mở mắt th́ thấy, nhắm mắt làm sao thấy được? Cho nên biết rằng các pháp hữu vi (6) đều giống như huyễn mộng. Nếu không gấp t́m Thầy, bỏ uổng một đời. Dù rằng Phật Tánh vốn sẵn, nếu không nhờ Thầy rốt cuộc cũng không thấu rơ. Người không Thầy mà ngộ, trong vạn người khó t́m được một. Nếu tự ḿnh hội đủ nhơn duyên mà rơ được ư Thánh nhân không nhờ học hỏi bậc thiện trí thức, đó là người mới sinh đă biết, là bậc đă vượt qua sự học rồi vậy (vô học). Nếu chưa ngộ giải, nên khổ công tham học, nhờ sự dạy dỗ mà được ngộ.

Người chưa ngộ cho rằng không học cũng đắc th́ chẳng khác người mê, không biết phân biệt đen trắng, nói càng là lời dạy của Phật, chỉ là chê Phật, bài Pháp. Những hạng như vậy, nói Pháp như mưa, thảy đều là lời ma, không phải lời Phật, thầy là vua ma, tṛ là dân ma. Người mê chịu chúng sai khiến không biết là ḿnh rơi vào biển sinh tử. Những người không thấy Tánh dối xưng là Phật, những chúng sanh đó là những đại tội phạm, lừa dối hết thảy những chúng sanh khác đi vào cơi ma. Nếu không thấy Tánh có giảng được mười hai bộ Kinh, thảy đều là lời ma, là họ hàng nhà ma, không phải đệ tử nhà Phật. Đă không phân rơ đen trắng, nhờ vào đâu mà khỏi sinh tử!?

Thấy được Tánh là Phật, không thấy Tánh là chúng sanh. Nếu rời tánh chúng sanh, không có Tánh Phật nào bên ngoài. Phật hiện tại ở chỗ nào? Tánh chúng sanh tức là Tánh Phật vậy. Ngoài Tánh không có Phật. Phật tức là Tánh. Ngoài Tánh này ra, không có Phật, ngoài Phật không có Tánh.

Hỏi: Nếu không thấy Tánh, niệm Phật, tụng Kinh, bố thí, giữ giới, tinh tấn, rộng làm việc phúc, có thành Phật được không?

Đáp: Không được.

Hỏi: Tại sao không được?

Đáp: Chỉ được chút ít, những pháp hữu vi đó đều là pháp nhân quả, pháp thọ báo, pháp luân hồi, sinh tử c̣n không thoát, làm sao thành được Phật Đạo? Muốn thành Phật phải thấy Tánh. Nếu không thấy Tánh, bao nhiêu lời nói nhân quả đều là ngoại đạo. Nếu là Phật th́ không theo pháp ngoại đạo. Phật là người không có nghiệp nên không có nhân quả, nếu nói rằng Phật có pháp đạt được dù chút xíu, cũng là báng Phật. Cứ vào đâu mà đắc thành? Dù chỉ trụ trước vào một tâm, một khả năng, một sự hiểu, một sự thấy, Phật cũng không có.

Phật cũng không giữ không phạm, Tâm Tánh vốn rỗng không, cũng không dơ không sạch. Các Pháp không có tu, không có chứng, không nhân không quả. Phật không giữ giới, Phật không làm lành, Phật không tạo ác, Phật không tinh tấn, Phật không giải đăi. Phật là người không tạo tác. Lấy tâm trụ trước mà thấy Phật th́ không thể thấy. Phật không phải là Phật, đừng t́m kiến giải về Phật. Nếu không hiểu nghĩa này, dù ở nơi nào, lúc nào cũng đều không rơ được bản tâm.

Nếu không thấy Tánh mà cho rằng ḿnh trong mọi lúc thực hành hạnh không tạo niệm tưởng là người có tội lớn, là người ngu si, rơi vào trong cái không vô kư (7), ngây ngất như người say, không phân tốt xấu. Nếu muốn theo tu pháp vô tác, trước phải thấy Tánh, sau mới dừng các tưởng nghĩ. Nếu không thấy Tánh mà thành được Phật Đạo là chuyện không có. Có người cho rằng không có nhân quả, hung hăng tạo nghiệp ác, nói xằng rằng v́ hết thảy vốn không, nên tạo ác không có lỗi lầm. Hạng người như vậy đọa vào địa ngục vô gián hắc ám không có ngày ra. Là người trí th́ không nên có kiến giải đó.

Hỏi: Mọi vận động lớn nhỏ trong mọi lúc đều là bản tâm, trong thời khắc biến dịch không ngừng của thân xác này, tại sao không thấy được bản tâm?

Đáp: Bản tâm thường ngay trước mắt, tại ông không thấy mà thôi.

Hỏi: Tâm ngay trước mắt, do đâu không thấy?

Sư hỏi: Ngươi đă từng nằm mộng chưa?

Đáp: Đă từng.

Hỏi: Trong lúc ngươi nằm mộng có phải là thân ngươi không?

Đáp: Chính là bản thân.

Lại hỏi: Các lời nói, vận động lớn nhỏ của ngươi với ngươi là riêng khác hay không riêng khác?

Đáp: Không riêng khác.

Sư nói: Đă không riêng khác th́ thân này là bản Pháp Thân của ngươi, Pháp Thân này là bản tâm của ngươi. Tâm này từ kiếp vô thủy xa xôi đến nay không khác nhau, chưa hề sinh tử, không sinh không diệt, không tăng không giảm, không dơ không sạch, không tốt không xấu, không đến không đi, cũng không phải quấy, không có tướng nam nữ, cũng không tăng tục, già trẻ, không Thánh không phàm, cũng không Phật không chúng sanh, cũng không tu chứng, cũng không nhân quả, cũng không gân sức, cũng không tướng mạo, giống như hư không, giữ không được, bỏ không được, núi sông vách đá không ngăn ngại được, đến đi hiện ẩn thần thông tự tại, xuyên qua núi năm uẩn, vượt qua sông sinh tử. Không nghiệp nào giữ được Pháp Thân này. Cái Tâm này vi diệu khó thấy. Tâm đó không giống tâm cảm thọ. Tâm đó người người đều muốn thấy. Số người ở trong ánh sáng kia khua tay động chân nhiều như cát sông hằng, khi gặp người hỏi đều nói rằng không thể được, giống hệt như người gỗ, chỉ tự riêng dùng. Do đâu mà không hay biết? Phật nói hết thảy chúng sanh đều là người mê, do đó tạo nghiệp, rơi vào gịng sông sinh tử, muốn ra lại đắm chỉ v́ không thấy Tánh. Chúng sanh nếu không mê, sao hỏi sự việc trước mắt lại không có một người hiểu rơ. Tự ḿnh khua tay động chân tại sao lại không biết? Do đó biết rằng lời của bậc Thánh nhân không lầm lẫn, là do người mê không hiểu. Cho nên biết rằng cái đó khó hiểu thấu, chỉ Phật mới thấu được pháp đó, ngoài ra người trời cùng các loại chúng sanh đều không hiểu được. Nếu có trí tuệ soi rơ, Tâm này được gọi là Pháp Tánh (8), cũng gọi là giải thoát, sống chết không giam hăm được. Không pháp nào giam hăm được người này, gọi là Đại Tự Tại Vương Như Lai, cũng gọi là Bất Tư Ngh́ (không thể suy lường), cũng gọi Thánh Thể, là Trường Sanh Bất Tử, là Đại Tiên. Tên tuy không đồng, thể th́ là một. Thánh Nhân nhiều loại khác nhau thảy đều không ĺa Tự Tâm. Lượng Tâm rộng lớn, ứng dụng không cùng, theo mắt thấy sắc, theo tai nghe tiếng, theo mũi ngửi mùi, theo lưỡi biết vị, cho đến vận động lớn nhỏ đều là tự tâm. Ngay trong mọi lúc, chỗ ngôn ngữ không đến được, đó là Tâm. Cho nên nói "Sắc tướng của Như Lai là vô tận, Trí Huệ của Như Lai cũng như vậy." Sắc vô tận là Tự Tâm.

Tâm thức khéo phân biệt được hết thảy, cho đến mọi vận động đều là trí tuệ. Tâm không có h́nh tướng, trí tuệ cũng không cùng tận, cho nên nói "Như Lai sắc vô tận, Trí tuệ diệc phục nhiên."

Thân xác tứ đại (9) là phiền năo. Sắc thân th́ có sinh diệt. Pháp Thân th́ thường c̣n mà không có chỗ nương, v́ Pháp Thân của Như Lai không biến đổi vậy. Kinh nói: "Chúng sanh nên biết rằng Phật Tánh vốn tự sẵn." Ca Diếp (10) chỉ là ngộ được Bản Tánh.

Bản Tánh tức là Tâm, Tâm tức là Tánh. Tánh này đồng với Tâm chư Phật. Phật trước Phật sau chỉ truyền Tâm này, ngoài Tâm này ra không có Phật. Chúng sanh điên đảo (11) không biết Tâm ḿnh là Phật, hướng ra ngoài mà đuổi t́m, suốt ngày hoang mang niệm Phật lễ Phật, không biết Phật ở đâu. Không nên có các cái thấy như vậy. Chỉ biết Tự Tâm, ngoài Tâm ra không có Phật khác. Kinh dạy: "Phàm cái ǵ có tướng đều là hư dối." (Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng.) Cũng dạy: "Ngay chỗ đang ở tức thời có Phật."

Tâm ḿnh là Phật. Không cần đem Phật lễ Phật. Như có h́nh tướng Phật và Bồ Tát bỗng hiện trước mắt, cũng không cần kính lễ. Tâm ta rỗng lặng, vốn không có h́nh tướng. Nếu bám vào tướng tức là ma, rơi vào tà đạo, đó là huyễn do tâm khởi, không cần lễ. Người lễ th́ không biết, người biết th́ không lễ. Lễ là bị ma giam cầm. Sợ người học không biết nên nói ra. Tính thể của chư Phật Như Lai thảy không có cái tướng như vậy. Cần ghi nhớ điều này. Như có cảnh giới khác lạ cũng không nên chọn giữ, cũng không sợ hăi. Không nên nghi ngờ rằng tâm ta xưa nay vốn thanh tịnh, làm sao có h́nh trạng như vậy. Cho đến các h́nh tướng thiên, long, dạ xoa, quỷ thần, Đế Thích, Phạm Vương, cũng không khởi tâm kính trọng, cũng không sợ hăi. Tâm ta vốn rỗng lặng. Hết thảy các h́nh tướng đều là hư dối, cho nên đừng chấp giữ h́nh tướng.

Nếu khởi sự hiểu biết về Phật, sự hiểu biết về Pháp, cùng tướng Phật, Bồ Tát mà sinh kính trọng, tự ḿnh rơi vào địa vị chúng sinh. Nếu muốn trực tiếp hiểu rơ, chỉ đừng bám giữ bất cứ một h́nh tướng nào, không có lời nào khác. V́ vậy Kinh dạy: "Phàm cái ǵ có h́nh tướng đều là hư vọng." Rốt ráo không có cái chân, cái huyễn (12) cố định, không có h́nh tướng cố định, đó là pháp vô thường (13). Chỉ không bám giữ h́nh tướng là hợp Thánh ư. Kinh dạy: "Rời hết thảy tướng th́ gọi là Phật."

Hỏi: Tại sao không lễ Phật, Bồ Tát?

Đáp: Thiên Ma Ba Tuần, A Tu La hóa hiện thần thông đều có thể làm ra h́nh tướng Bồ Tát, các loại biến hóa, đó là ngoại đạo, chẳng phải Phật ǵ cả, v́ Phật là Tự Tâm, đừng lầm lễ lạy. Phật là tiếng Ấn Độ, nghĩa là Tính Biết (Giác Tính), Người Biết, Linh Giác. Tùy thời đối việc, đưa mày, nháy mắt, khua tay, động chân đều là tính linh giác của ḿnh. Tính tức là Tâm, Tâm tức là Phật, Phật là Đạo, Đạo tức là Thiền. Một chữ Thiền không phải là chỗ phàm Thánh đo lường. Lại dạy: "Thấy Bản Tánh là Thiền." Nếu không thấy Tánh ḿnh th́ không phải là Thiền. Giả như có giảng được ngàn quyển kinh, vạn cuốn luận mà không thấy Tánh ḿnh th́ cũng chỉ là phàm phu, không phải là Phật Pháp. Đạo lớn thâm sâu mầu nhiệm, không thể dùng lời mà hiểu, điển giáo làm sao chỉ tới?

Chỉ thấy Bản Tánh, người không biết một chữ cũng đắc. Thấy Tánh tức là Phật. Thánh thể xưa nay vốn thanh tịnh, không có uế tạp. Mọi lời nói ra đều là Thánh nhân từ tâm khởi dụng. Thể của dụng xưa nay vốn rỗng không, lời nói, tên gọi không đến được, mười hai bộ Kinh làm sao nói hết được.

Đạo vốn trọn đủ, không cần tu chứng. Đạo không có âm thanh, h́nh dáng, vi diệu khó thấy. Như người uống nước, nóng lạnh tự biết, không thể nói cho người khác. Chỉ Như Lai biết được, c̣n các loài trời người đều không hay biết. Trí phàm phu đến không tới v́ bám giữ vào h́nh tướng, không biết rằng Tâm ḿnh xưa nay vốn rỗng lặng, chấp lầm h́nh tướng cùng hết thảy các pháp, rơi vào ngoại đạo. Nếu biết rằng các pháp đều do Tâm sinh, th́ không c̣n bám giữ. Bám giữ th́ không c̣n hay biết.

Nếu thấy được Tánh ḿnh, hết thảy mười hai bộ Kinh chỉ là văn tự suông. Ngàn Kinh vạn luận chỉ làm cho sáng tỏ Tâm. Nếu bên sau lời nói mà hiểu được, cần ǵ đến giáo tướng (kinh luận.) Chân Lư tột cùng dứt đường nói năng. Giáo lư chỉ là ngôn ngữ, thật không phải là đạo. Đạo vốn không lời, nói ra là lầm lẫn. Như trong mộng thấy có lâu đài, cung điện, voi ngựa, cùng các loại h́nh tướng như cây cối, ṭng lâm, ao, nhà, không dấy khởi một niệm vui chấp. Đó thảy đều là những cái tạo ra luân hồi. Nên ghi nhớ điều này.

Đến khi sắp chết, không bám vào h́nh tướng th́ không bị che mờ. Tâm nghi một thoáng khởi lên, liền bị ma dắt dẫn. Pháp Thân xưa nay vốn thanh tịnh không thọ nhận, chỉ do mê mờ, không biết không hay, do đó vọng chịu thọ báo. V́ ôm giữ cái vui, không được tự do. Nay nếu ngộ được cái Thân Tâm thường c̣n th́ không c̣n bị ô nhiễm.

C̣n nếu từ Thánh vào phàm, hiện ra các các thứ chủng loại, là v́ chúng sanh. Cho nên biết rằng Thánh nhân ngược xuôi đều tự tại. Không có nghiệp nào câu thúc được. Thánh nhân vốn có oai đức lớn, hết thảy các nghiệp đều bị vị Thánh nhân đó chuyển. Thiên đường địa ngục không làm ǵ được. Thần thức (14) của người phàm mờ tối, không giống Thánh nhân trong ngoài đều sáng tỏ.

Nếu có điều nghi ngờ th́ không làm. Làm th́ trôi theo sinh tử, sau dù hối hận cũng không có chỗ cứu. Bần cùng khốn khổ đều do vọng tưởng sinh ra. Muốn rơ Tâm này, chỉ cần nơi không làm mà làm, tức vào Tri Kiến của Như Lai.

Người mới phát tâm, thần thức không ổn định, nếu trong mộng hay thấy các cảnh lạ, không cần phải nghi ngờ đó đều do tâm ḿnh khởi ra, không phải từ ngoài vào. Nếu trong mộng thấy ánh sáng xuất hiện, sáng hơn mặt trời, các thói quen c̣n lại sẽ liền dứt tận, thấy Pháp Giới Tánh (15). Nếu việc đó xảy ra, đó là nhân thành Đạo, chỉ tự biết, không nên nói cho người khác. Hay trong vườn yên rừng vắng, đi đứng ngồi nằm, mắt thấy ánh sáng, hoặc lớn hoặc nhỏ, đừng nói với người khác, cũng không nhận giữ, đó là quang minh của Tự Tánh. Hoặc khi đi đứng nằm ngồi trong đêm tối yên tĩnh, mắt thấy ánh sáng, giống như ban ngày không khác, đừng nghi ngờ lo sợ, thảy là Tự Tâm hiển lộ. Hoặc ban đêm trong mộng thấy trăng sao rơ ràng, ấy là các duyên của Tự Tâm sắp dứt, cũng không nên nói cho người ngoài biết. Mộng nếu mơ hồ, giống như đi trong bóng tối, là phiền năo chướng trong tâm c̣n nặng, cũng tự biết.

Nếu thấy Bản Tánh, không cần đọc Kinh niệm Phật. Học rộng biết nhiều chẳng có ích ǵ, c̣n làm cho thần thức thành mờ tối. Lập ra giáo lư chỉ là để nêu ra cái Tâm, nếu biết được Tâm, cần ǵ coi giáo lư.

Muốn bỏ phàm vào Thánh, cần nên dứt nghiệp, dưỡng thần, tùy phận sống qua ngày. Nếu có nhiều sân giận là làm cho Tánh chuyển thành trái nghịch với Đạo, là tự dối một cách vô ích.

Bậc Thánh ở trong sinh tử đến đi một cách tự tại, ẩn hiển không bị hạn định, không một nghiệp nào trói buộc được. Bậc Thánh nhân dẹp được các loại tà ma.

Chúng sanh chỉ cần thấy Tánh ḿnh, các dư tập (16) liền tiêu diệt, thần thức không c̣n mê mờ, trong thoáng chốc liền lănh hội, chỉ ngay trong giờ khắc hiện tại. Muốn thật sự hiểu Đạo, đừng bám vào một pháp nào. Dứt nghiệp, dưỡng thần th́ dư tập cũng dứt, tự nhiên rơ ràng, không phải dụng công xa xôi.

Ngoại đạo không hiểu ư Phật, đem hết sức dụng công, càng xa ư Thánh. Suốt ngày lăng xăng niệm Phật, chuyển Kinh, làm thần tính hôn mờ, không khỏi luân hồi.

Phật là người an nhàn, cần ǵ lăng xăng cầu t́m danh lợi. Làm thế có ích ǵ về sau? Chỉ người không thấy Tánh mới đọc Kinh, niệm Phật, học hỏi tinh tấn, sáu thời hành đạo, ngồi măi không nằm, học nhiều nghe nhiều, coi đó là Phật Pháp. Những chúng sanh như vậy thảy là những người phỉ báng Phật Pháp. Phật trước Phật sau chỉ nói Thấy Tánh. Các hành (17) th́ vô thường. Nếu không thấy Tánh nói càng rằng đă đắc A Nậu Bồ Đề là đại tội nhân.

Trong mười đệ tử lớn của Phật, A Nan học rộng nghe nhiều bậc nhất mà không hiểu được Phật, chỉ suông học rộng nghe nhiều. Nhị Thừa, ngoại đạo đều không hiểu Phật, phân biệt các việc tu chứng, rơi vào nhân quả. Đó là nghiệp báo chúng sanh, không khỏi sinh tử. Trái xa ư Phật đó là loại chúng sanh báng Phật, giết đi không có tội. Kinh dạy: "Người xiển đề không có ḷng tin, giết đi không có tội." Nếu có ḷng tin, ấy là người dự vào Phật vị.

Nếu không thấy Tánh không nên đem ḷng phân biệt phỉ báng những người lương thiện, tự dối vô ích. Thiện ác rành mạch, nhân quả phân minh. Thiên đựng địa ngục ở ngay trước mắt. Người ngu không tin ngay đó rơi vào địa ngục hắc ám cũng không hay biết. Chỉ do nghiệp nặng nên không khởi ḷng tin. Thí như người không mắt không tin rằng có ánh sáng, như có nói cho nghe th́ cũng không tin. Chỉ v́ mù ḷa, vin vào đâu để phân biệt được ánh sáng? Người ngu cũng giống như vậy, ngày nay rơi vào các loài súc sinh, sinh ra trong hạng bần cùng hạ tiện, muốn sống không được, muốn chết cũng không được. Tuy chỉ chịu các sự khổ, nếu có ai hỏi cũng nói rằng tôi nay vui sướng chẳng khác thiên đường. Cho nên biết rằng hết thảy chúng sanh dù chỗ sinh được coi là cơi vui cũng đều là những kẻ không có tri giác. Những kẻ ác này chỉ v́ nghiệp chướng nặng nề, không khởi được ḷng tin, không được tự do.

Nếu thấy Tâm ḿnh là Phật, không cạo bỏ râu tóc, người bạch y cũng chính là Phật. Nếu không thấy Tánh, cạo bỏ râu tóc cũng là ngoại đạo.

Hỏi: Người bạch y có vợ con, không bỏ dâm dục, làm sao mà thành Phật?

Đáp: Chỉ nói Thấy Tánh. Không nói dâm dục chỉ v́ chưa thấy Tánh. Khi thấy được Tánh, dâm dục gốc vốn rỗng lặng, tự đoạn trừ vậy, cũng không vui đắm. Như c̣n dư tập cũng không làm hại được. V́ sao? V́ Tánh vốn thanh tịnh vậy. Tuy ở trong xác thân ngũ uẩn nhưng Tánh vốn gốc thanh tịnh, không thể bị nhiễm ô. Pháp thân vốn không nhận, không đói không khát, không lạnh nóng, không bịnh hoạn, không ân ái, không quyến thuộc, không khổ vui, không tốt xấu, không ngắn dài, không mạnh yếu. Xưa nay chưa hề có một vật. Chỉ do chấp có thân xác nầy nên có đói khát lạnh nóng bịnh chướng các thứ. Nếu không chấp, dù làm bất cứ việc ǵ, ở trong sinh tử đều được tự tại, chuyển hết thảy các Pháp, cùng với bậc Thánh nhân thần thông tự tại vô ngại, không nơi nào không phải là nơi an vui. Nếu tâm c̣n nghi ngờ, nhất định sự hiểu các cảnh giới sẽ không tới nơi, tốt nhất là đừng làm, làm rồi không tránh khỏi luân hồi sinh tử. Nếu thấy Tánh, chiên đà la (18) cũng thành Phật được.

Hỏi: Chiên đà la giết hại sinh mạng tạo nghiệp làm sao thành Phật?

Đáp: Chỉ nói Thấy Tánh, không nói tạo nghiệp. Như có tạo nhiều nghiệp khác nhau nhưng không nghiệp nào trói buộc được. Từ kiếp lâu xa, chỉ có người không thấy Tánh đọa địa ngục, v́ tạo các nghiệp nên luân hồi trong sinh tử. Từ khi ngộ được Bản Tánh th́ không c̣n tạo nghiệp. Nếu không thấy Tánh, niệm Phật mà khỏi quả báo cũng không thể được, không luận giết hại sinh mạng hay không. Nếu thấy Tánh, tâm nghi liền trừ, giết sinh mạng cũng chẳng can ǵ.

Từ hai mươi bảy vị Tổ ở Tây Thiên chỉ lần truyền Tâm Ấn (19). Ta nay sang nước này, chỉ truyền Đại Thừa Đốn Giáo (20), tức Tâm là Phật, không dạy giữ giới, tinh tấn, khổ hạnh. Những việc vào lửa vào nước, đi trên kiếm luân, ăn một bữa, ngồi hoài không nằm thảy đều là pháp hữu vi của ngoại đạo. Nếu rơ biết tánh linh giác của mỗi mỗi vận động lớn nhỏ, Tâm ngươi tức là Tâm của chư Phật. Phật trước Phật sau chỉ nói truyền Tâm, không có pháp khác. Nếu rơ được pháp này, người phàm phu không biết một chữ cũng là Phật. Nếu không biết Tánh linh giác của ḿnh, thân dù tan ra thành tro bụi t́m Phật cũng không thể thấy.

Phật cũng được gọi là Pháp Thân, cũng gọi là Bản Tâm. Tâm này không có h́nh tướng, không nhân quả, không gân cốt, giống như hư không, giữ không được, không đồng vật chất, không đồng ngoại đạo. Tâm này ngoài Như Lai hiểu được, c̣n những chúng sanh khác mê mờ không rơ được. Tâm này không ở bên ngoài sắc thân tứ đại. Nếu bỏ Tâm này, th́ không thể vận động, thân này thành vô tri. Giống như cỏ cây ngói gạch, thân là vô tính, làm sao vận động được? Nếu Tâm động th́ các việc nói năng vận động, thấy nghe hiểu biết đều là do sự động tâm khởi ra. Động là Tâm động, động tức dụng. Ngoài sự động dụng th́ không có Tâm, ngoài Tâm không có động. Động không phải là Tâm, Tâm không phải là động. Động vốn là không tâm, Tâm vốn là vô động. Động không ĺa Tâm, Tâm không ĺa động. Động không phải là ĺa Tâm mà có, Tâm không phải là ĺa động mà có. Động là dụng của Tâm, dụng là cái động của Tâm. Không động không dụng, thể của dụng vốn là không, không vốn không động. Động với dụng cùng với Tâm là một. Tâm vốn không động. V́ vậy Kinh dạy: "Động mà không có chỗ động." Suốt ngày tới lui mà chưa từng đi, suốt ngày thấy mà chưa từng thấy, suốt ngày cười mà chưa từng cười, suốt ngày nghe mà chưa từng nghe, suốt ngày biết mà chưa từng biết, suốt ngày vui mà chưa từng vui, suốt ngày đi mà chưa từng đi, suốt ngày đứng mà chưa từng đùng. V́ vậy Kinh dạy: "Dứt bặt ngữ ngôn, dập tắt tâm thức. Thấy, nghe, hiểu, biết vốn rỗng lặng." Cho đến giận, vui, đau, ốm chẳng khác người gỗ, chỉ do duyên tạo, t́m kiếm đau ốm chẳng thể được. V́ vậy Kinh dạy: "Ác nghiệp th́ chịu quả báo khổ, thiện nghiệp th́ được quả báo vui." Chẳng những sân đọa địa ngục, vui được sinh thiên, nhưng nếu biết sân và hỉ tánh không, không chấp th́ ra khỏi nghiệp. C̣n nếu không thấy Tánh, giảng Kinh chẳng ích ǵ."

Nói th́ vô cùng, nay lược nói như vậy, không nói hết được một hai phần!

Chú thích:

(1) Ba cơi (Tam giới): Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới.

(2) Tự Tánh: Tính thật của mỗi người, mỗi chúng sanh. Tánh này b́nh đẳng, cũng là Chân Tánh, Phật Tánh.

(3) Tánh: Bản thể. Thấy Tánh là thấy được bản thể chân thực của ḿnh (thấy được Tự Tánh) vốn sáng suốt, thanh tịnh.

(4) Luân hồi (Samsàra): Chúng sanh chịu sanh tử trong sáu đường phàm, phu xoay vần không bao giờ dừng như bánh xe quay không không có điểm ngừng nghỉ.

(5) Tỳ kheo (Bikhu): Khất sĩ, người ăn xin. V́ chấm dứt sinh nghiệp nên khất thực để nuôi thân, v́ muốn giải thoát nên cầu Pháp nuôi tâm.

(6) Pháp hữu vi: Những pháp sinh ra do nhân duyên, những pháp này là pháp sinh ra do tạo tác nên gọi là pháp hữu vi.

(7) Vô kư (abyakrta): không thiện, không bất thiện.

(8) Pháp Tánh: Thể tánh của các pháp, thường tồn bất biến, là Chân Như. Pháp Tánh c̣n gọi là Pháp trụ, Pháp Thân, Pháp Giới, Chân Tế, Thật Tướng v.v...

(9) Tứ đại: Bốn yếu tố lớn tạo nên sắc thân con người: dất, nước, gió, lửa.

(10) Ca Diếp (Kacyapa): Một trong mười đệ tử lớn của Phật, chuyên tu hạnh đầu đà. Theo truyền thống Thiền Tông, Ngài là vị Tổ đầu tiên của Tông Thiền, được Phật truyền Tâm Ấn.

(11) Điên đảo: Trái nghịch với chân lư, như lấy khổ làm vui, cho giả là thật, cho vô thường là thường...

(12) Huyễn (Maya): giả, không có thật.

(13) Vô thường (Anicca):Mọi sự vật trong thế gian luôn luôn đổi thay, biến dịch, không có tính cố định.

(14) Thần Thức: Tâm thức linh diệu không thể nghĩ bàn của tất cả loài hữu t́nh. Phật Giáo không chấp nhận một linh hồn bất biến, nhưng cho rằng thần thức là động lực chỉ đạo sự tái sinh của mọi chúng sinh.

(15) Pháp Giới Tánh: Pháp Tánh (xem ở trên).

(16) Dư Tập: Những thói quen c̣n sót lại sau khi đă dứt trừ được phiền năo (ngộ đạo, kiến Tánh), c̣n gọi là Tàn tập, Tập khí, Dư khí. Những tập khí này sẽ dần dần tự tiêu diệt.

(17) Hành: Những tạo tác của thân, miệng, ư, những tạo khởi trong pháp hữu vi, lưu chuyển trong sinh tử luân hồi.

(18) Chiên đà la (Cadàla): Hạng người bị coi là hạ tiện, không được liệt vào bốn giai cấp của xă hội Ấn độ ngày xưa là Sát Đế Lỵ, Bà La Môn, Phệ Xá, Thủ Đà La.

(19) Tâm Ấn: Thiền Tông không dựa vào văn tự, truyền riêng ngoài giáo, vị Thầy chỉ ấn định ư nghĩa chân thật của Phật Pháp cho đệ tử, gọi là truyền Tâm Ấn.

(20) Đốn Giáo: Giáo pháp chỉ dạy con đường trực tiếp nhanh chóng thấy được Tự Tánh, chứng đắc quả Phật.

 

sen 5 OK2